Tuy nhiên, các giống lúa mới như lúa lai, các giống lúa thuần nhập nội thường có năng suất cao nhưng về chất lượng sản phẩm thì lại không cao; do vậy giá bán trên thị trường thấp; trong
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin đảm bảo số liệu trong luận văn được chính bản thân tôi thu thập
và thông tin trích dẫn đều được chú thích một cách cụ thể, nguồn gốc rõ ràng
Kết quả nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sự chỉ bảo thầy hướng dẫn và sự giúp đỡ tận tình của bạn bè, đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bắc
Trang 2bổ ích trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS,
TS Đỗ Văn Viện đã tận tình chỉ dẫn, định hướng, truyền thụ kiến thức trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Ninh Bình, Trung tâm khuyến nông tỉnh, Công ty Cổ phần giống cây trồng tỉnh Ninh Bình, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Yên Khánh, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Yên Khánh, cấp uỷ, chính quyền và bà con nhân dân các xã trong huyện Yên Khánh đặc biệt là xã Khánh Thành, Khánh Mậu, Khánh Nhạc đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Một lần nữa tôi xin trân trọng cám ơn !
Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bắc
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA CHẤT LƯỢNG CAO 5
1.1 Cơ sở lý luận của phát triển sản xuất lúa chất lượng cao 5
1.1.1 Tăng trưởng, phát triển kinh tế và phát triển sản xuất 5
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây lúa 9
1.1.3 Khái niệm lúa chất lượng cao 10
1.1.4 Phân loại lúa chất lượng cao 11
1.1.5 Nhận dạng sản xuất lúa chất lượng cao 12
1.1.6 Những đặc điểm của lúa chất lượng cao 15
1.1.7 Quy trình sản xuất lúa chất lượng cao 19
1.1.8 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa chất lượng cao 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Sản xuất lúa ở Thái Lan 23
1.2.2 Ở Trung Quốc 24
1.2.3 Ở Ấn Độ 25
1.2.4 Ở Philipines 26
1.2.5 Ở Bangladesh 26
Trang 41.2.6 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam 27
1.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan 30
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 33
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội 40
2.1.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Yên Khánh 45
2.1.4 Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến phát triển sản xuất lúa chất lượng cao 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 48
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 49
2.2.3 Phương pháp tổng hợp số liệu 50
2.2.4 Phương pháp phân tích 50
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.1 Thực trạng sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình 53
3.1.1 Điều kiện phát triển sản xuất lúa chất lượng cao của huyện 53
3.1.2 Tình hình phát triển sản xuất lúa chất lượng cao của huyện 57
3.1.3 Tình hình sơ chế, bảo quản sau thu hoạch và tiêu thụ lúa chất lượng cao 62 3.1.4 Chi phí sản xuất lúa và sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh 65
3.2 Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh 66
3.2.1 Tổng quan sản xuất lúa chất lượng cao ở các xã điều tra 66
3.2.2 Thông tin cơ bản về hộ điều tra 69
3.2.3 Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao ở các hộ điều tra 71
Trang 53.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa chất lượng
cao ở huyện Yên Khánh 75
3.2.5 Đánh giá chung về phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình 82
3.3 Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh những năm tới 88
3.3.1 Quan điểm về phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện 88
3.3.2 Định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở Yên Khánh 90
3.3.3 Giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất lúa chất lượng cao 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng phân bón khuyến cáo tham khảo theo từng vùng canh tác 20
Bảng 1.2 Diện tích và cơ cấu diện tích lúa chất lượng cao cả nước 28
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 39
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 41 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 46
Bảng 3.1 Diện tích lúa của huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 53
Bảng 3.2 Tình hình lao động tham gia sản xuất lúa chất lượng cao của Yên Khánh (2010 - 2012) 54
Bảng 3.3 Hệ thống thuỷ lợi của huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 55
Bảng 3.4 Hệ thống giao thông nội đồng và tình hình cơ giới hoá của huyện Yên Khánh (2010-2012) 56
Bảng 3.5 Diện tích lúa chất lượng cao theo mùa vụ ở Yên Khánh (2003 - 2012) 59 Bảng 3.6 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao của huyện Yên Khánh theo cơ cấu giống và theo mùa vụ 60
Bảng 3.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Yên Khánh (2010- 2012) 61
Bảng 3.8 Tình hình tiêu thụ lúa của huyện Yên Khánh (2010 - 2012) 63
Bảng 3.9 Chi phí sản xuất lúa và sản xuất lúa chất lượng cao trên 1 ha 65
Bảng 3.10 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở các xã điều tra (2010 - 2012) 68
Bảng 3.11 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra năm 2013 70
Bảng 3.12 Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao theo xã 72
Bảng 3.13 Chi phí đầu tư bình quân 1 sào bắc bộ năm 2013 72
Bảng 3.14 Kết quả và hiệu quả của lúa chất lượng cao LT2 và lúa Q5 73
Bảng 3.15 Kết quả và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao QR1 và giống lúa thuần Q5 74
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của 1 số yếu tố đến năng suất lúa ở Yên Khánh 77
Bảng 3.17 Tình hình tiêu thụ lúa chất lượng cao ở các hộ điều tra 79
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cơ cấu GDP huyện Yên Khánh (2010 - 2012 45 Hình 3.1: Diễn biến diện tích lúa CLC huyện Yên Khánh (2003 - 2012) 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là một nguồn luơng thực chính cung cấp cho hơn 3 tỷ người trên toàn thế giới Chỉ tính riêng tại châu Á, hơn 2 tỷ người tiêu dùng lúa gạo và 70% năng lượng calo của họ từ lúa gạo Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng nhất đối với người nghèo, có thu thập thấp và trung bình Hiện nay biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu nên nguy cơ thiếu lương thực là điều không thể tránh khỏi
Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời nền văn minh lúa nước; cùng với sự đa dạng về văn hóa, tài nguyên khí hậu và tập quán canh tác Việt Nam có sự đa dạng về cơ cấu giống cây trồng địa phương, đặc biệt là giống lúa địa phương cổ truyền
Vùng Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng sản xuất lúa lớn của cả nước Đây cũng chính là vùng có thế mạnh truyền thống về các sản phẩm lúa đặc sản truyền thống và có chất lượng cao Do sức ép về dân số, an ninh lương thực, trong những năm trước đây nông dân đã chuyển sang phát triển sản xuất lúa chất lượng cao nhập khẩu giống từ Trung Quốc Tuy nhiên, các giống lúa mới như lúa lai, các giống lúa thuần nhập nội thường có năng suất cao nhưng về chất lượng sản phẩm thì lại không cao; do vậy giá bán trên thị trường thấp; trong khi chi phí sản xuất các giống lúa đạt năng suất cao lớn hơn so với chi phí sản xuất lúa chất lượng cao và đặc biệt không được người tiêu dùng ưa chuộng nhất là tại các thành phố lớn và không thể cạnh tranh xuất khẩu được Thực tế hàng năm, Việt Nam nhập một khối lượng lớn sản phẩm gạo chất lượng cao từ Thái Lan, Bănglađét,… trong khi Việt Nam lại có tiềm năng rất lớn để phát triển
Trang 10Ninh Bình là một trong những tỉnh sản xuất lúa lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng Từ năm 2010 - 2013 huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình đã chủ động đưa vào phát triển sản xuất lúa chất lượng cao như giống lúa LT2, Bắc thơm số7, QR1 Với mục tiêu tạo ra những sản phẩm lúa có năng suất cao, có chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu dùng và đặc biệt đem lại lợi ích kinh tế cho hộ nông dân trên địa bàn toàn huyện Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trong những năm gần đây với sự phát triển của kinh tế - xã hội, gắn khoa học kỹ thuật nhu cầu về năng suất và chất lượng sản phẩm của thị trường ngày càng cao, sự chuyển biến tích cực của nông dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đang sử dụng diện tích của mình để phát triển sản xuất các giống lúa chất lượng cao, giống lúa thơm có năng suất, chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh còn gặp nhiều khó khăn
Quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn; lực lượng lao động không thiết tha với đồng ruộng do thu nhập thấp, lao động mang tính chất thời vụ, trình độ lao động qua đào tạo còn hạn chế Tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn vì chưa hình thành vùng chuyên canh lớn, làng nghề thủ công chưa phát triển mạnh thu hút lao động lúc nông nhàn; trình độ nhận thức tiếp thu khoa học công nghệ áp dụng vào sản xuất lúa chất lượng cao của nông dân Huyện Yên Khánh còn hạn chế
Phát triển sản xuất lúa chất lượng cao áp dụng khoa học và công nghệ như máy móc, trình độ thâm canh, công nghệ sinh học được đưa vào ứng dụng chưa cao, do đó năng suất chất lượng lúa còn thấp Cơ cấu chủng loại lúa chất lượng cao đưa vào sản xuất theo quy mô hàng hóa còn ít chưa tạo ra một lượng hàng hóa đủ lớn tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu
Trang 11Để giải quyết những vấn đề khó khăn trong phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh cần phải xây dựng được chiến lược phát triển sản xuất lúa chất lượng cao đặc biệt về quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được sự cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới; đồng thời phát huy những lợi thế của vùng về điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của đia phương Nhằm góp phần giải quyết khó khăn, thúc đẩy phát
triển sản xuất lúa chất lượng cao tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Từ nghiên cứu tình hình phát triển sản xuất lúa chất lượng cao tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình những năm gần đây, luận văn đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất lúa chất lượng cao tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
- Định hướng và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những hoạt động phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu, thực hiện trên
địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh
4.2 Hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
4.3 Tiềm năng phát triển sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
4.4 Giải pháp phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đế, phần kết luận và tài liệu tham khảo kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển sản xuất chất lượng cao Chương II: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu phát triển sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
LÚA CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Cơ sở lý luận của phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
1.1.1 Tăng trưởng, phát triển kinh tế và phát triển sản xuất
* Tăng trưởng
Tăng trưởng và phát triển là hai khái niệm đôi khi được coi là đồng nghĩa nhưng thực chất chúng có nội dung khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không những nhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải
Tăng trưởng là khái niệm mà các nhà kinh tế học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động chính trị thường xuyên sử dụng Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật hiện tượng nhất định Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ (sản lượng) của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) [8], [18] Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một ngành tăng lên điều đó được coi là tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Như vậy, Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập quốc dân và sản xuất quốc dân hoặc thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân tính theo đầu người Tăng trưởng cũng được áp dụng để đánh giá cụ thể đối
Trang 14với từng ngành sản xuất, từng vùng của một quốc gia
Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để khắc phục đói nghèo lạc hậu; cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân; là điều kiện để tăng thêm việc làm, giảm thất nghiệp; củng cố quốc phòng an ninh… Tăng trưởng kinh tế được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển Do
đó, nếu không đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức độ cần thiết thì trong xã hội sẽ có khả năng nảy sinh hàng loạt vấn đề rất nan giải
Tuy nhiên, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh
tế - xã hội như mong muốn Nếu tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn nền kinh tế đến "trạng thái quá nóng", lạm phát sẽ xảy ra, làm cho kinh tế xã hội thiếu bền vững
Để đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức cần thiết thì phải có sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành vĩ mô và điều khiển vi mô, kết hợp nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, vận dụng các quy luật kinh tế và sử dụng các công
cụ đòn bẩy như thuế, tiền tệ, lãi suất, việc làm Trong điều kiện kinh tế thị trường toàn cầu như hiện nay, mỗi nước không thể tự đóng khung mình lại
mà phải trao đổi, giao lưu và hội nhập với thế giới bên ngoài, mở rộng quan
hệ kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất - nhập khẩu, tổ chức kinh tế theo hướng mở
có kiểm soát
* Phát triển
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong Phạm trù phát triển thể hiện một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy Điều đó có nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống
Trang 15nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái
đã có, bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hiện tượng nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi
về lượng thành những thay đổi về chất Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc
Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Theo Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” [18] Còn theo Lưu Đức Hải: “Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, kỹ thuật, văn hoá, ” [8]
Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra nhiều lý thuyết về sự phát triển Mặc
dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nói chung đều cho rằng Phát triển kinh
tế là khái niệm toàn diện hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế Đối với mỗi xã hội, thông thường nói tới phát triển là nói tới sự đi lên, sự tiến bộ của toàn xã hội một cách toàn diện
Ngày nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất: "Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và
sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia" [17]
Trang 16* Sản xuất
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội [12]
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trong sản xuất con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống
Phát triển sản xuất là bộ phận của phát triển, đó là sự sản xuất ngày
càng nhiều sản phẩm, năng suất lao động cao hơn, ổn định hơn, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, cuối cùng mang lại lợi nhuận cao hơn Phát triển sản xuất gồm cả phát triển theo chiều rộng và chiều sâu
Phát triển sản xuất theo chiều rộng: Phát triển sản xuất bằng cách tăng
số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển sản xuất theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển sản xuất theo chiều sâu Tuy nhiên, phát triển sản xuất theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh
tế - xã hội thấp Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu
Phát triển sản xuất theo chiều sâu: Phát triển sản xuất chủ yếu nhờ đổi
mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến
tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát
Trang 17triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển sản xuất theo chiều sâu Kết quả phát triển sản xuất theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người
Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan
có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển sản xuất theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, phát triển sản xuất theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có cho phép
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố của cây lúa
Người ta cho rằng tổ tiên của chi lúa Oryza là một loài cây hoang dại trên siêu lục địa Gondwanna cách đây ít nhất 130 triệu năm và phát tán rộng khắp các châu lục trong quá trình trôi dạt lục địa Hiện nay có khoảng 21 loài cây hoang dại thuộc chi này và 2 loài lúa đã được thuần hóa là lúa châu Á (Oryza sativa) và lúa châu Phi (Oryza glaberrima) [39]
Lúa châu Phi đã được gieo trồng trong khoảng 3.500 năm Trong khoảng thời gian từ 1500 TCN đến 800 TCN thì Oryza glaberrima đã lan rộng
từ trung tâm xuất phát của nó là lưu vực châu thổ sông Niger và mở rộng tới sennegal;
Tổ tiên của lúa châu Á Oryza sativa là một loại lúa hoang phổ biến (Oryza rufipogon) có nguồn gốc tại khu vực xung quanh chân núi Himalaya,
Trang 18với Oryza sativa thứ indica ở phía Ấn độ và Oryza sativa thứ japonica ở phái Trung Quốc Hiện nay đây là giống lúa chính được gieo trồng làm cây lương thực trên khắp thế giới
Oryza sativa đã thích nghi với việc gieo trồng tại Trung Đông và địa Trung Hải của châu Âu vào khoảng 800 TCN Thời gian nửa sau của thế ký
15, thì lúa đã trải rộng tới Ý và sau đó là Pháp và tất cả châu lục khác [39]
Tuy chưa có thống nhất nhưng nhiều tài liệu đều chứng minh nghề trồng lúa có từ lâu đời, nguồn gốc cây lúa có từ vùng đầm lầy Đông Nam Á,
có thể từ nhiều nước khác nhau, từ đó lan truyền sang những nước khác [17] Cây lúa thích nghi rất nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhiệt đới, xích đạo, cận nhiệt đới Lúa trồng châu Á có khả năng thích nghi rất rộng nên đã
sớm phát triển trên địa bàn của nó sang châu Âu, châu Mỹ, châu Đại Dương và cả châu phi Lúa trồng châu Phi chỉ thu hẹp địa bàn của nó ở Tây Phi và Guyana (Nam Mỹ)
Lúa trồng ở Tây Bắc Trung Quốc ở vĩ độ 53B, ở miền Trung Xumatra trên đường xích đạo và ở cả Neusouth Wales (châu Úc) là 35N Lúa cũng được trồng ở Kerala (Ấn Độ) thấp hơn mặt biển hoặc bằng mặt biển và cũng được trồng ở vĩ độ cao 2000m ở Kasmia và Nepan (Ấn Độ) Nó có thể trồng trên cạn, dưới nước sâu trung bình hoặc nước sâu khoảng 1,5 -5m [17]
Ở Việt Nam lúa được trồng khắp cả nước đặc biệt là khu vực đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
1.1.3 Khái niệm lúa chất lượng cao
Lúa chất lượng cao là lúa được sản xuất từ những giống có chất lượng cao theo tiêu chí và danh mục của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn như cho gạo hạt dài, mềm cơm, ít bạc bụng, gạo có vị ngọt, thơm, mềm dẻo Lúa chất lượng cao được sản xuất theo quy trình (3 giảm, 3 tăng, 1 phải, 5 giảm) đảm bảo các chỉ tiêu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng một
Trang 19số kim loại nặng, hàm lượng Nitrat, và các chỉ tiêu côn trùng, nấm mốc chủ yếu có trong hạt gạo dưới mức giới hạn tối đa (MRL) đăng ký trong quy trình
Lúa chất lượng cao là lúa cho năng suất cao, chất lượng cao Hiện nay giống lúa chất lượng cao như HT1, BC15, Bắc thơm số 7, LT2, QR1, Nếp 87, Nếp 97
1.1.4 Phân loại lúa chất lượng cao
Lúa chất lượng cao được phân loại theo các tính trạng đặc trưng, tập đoàn lúa chất lượng cao là tập hợp các giống có chất lượng gạo cao theo yêu cầu của từng vùng khác nhau trên thế giới Tập đoàn này cung cấp nguồn gen cho chọn tạo các giống có chất lượng gạo cao hoặc các giống đặc sản
Lúa chất lượng cao phân thành mấy nhóm, thứ nhất là lúa thơm hạt dài thon
có mùi thơm, hàm lượng amylose thấp dẻo cơm Còn loại chất lượng cao là loại hạt dài không bạc bụng có hàm lượng amylose trung bình thấp khoảng 20% tới 24% trở lại, nhưng mềm cơm dẻo xuất khẩu được Còn lại loại trung bình thấp có hàm lượng amylose tương đối cao cứng cơm, hạt gạo ngắn
Đặc điểm của nhóm lúa chất lượng cao
Thứ nhất là nhóm giống lúa cao sản ngắn ngày Có thời gian sinh trưởng từ 90 - 100 ngày, chiều coa cây từ 90 - 115cm, năng suất trung bình đạt 5-8 tấn/ha
Thứ hai là nhóm giống lúa mùa, đặc sản địa phương Nhóm giống này thích nghi rộng, dễ canh tác, gạo phẩm chất cao Tỷ lệ gạo trắng cao thường
60 – 70%, tỷ lệ gạo nguyên 50-60% cao hơn hẳn giống lúa cao sản ngắn ngày Hàm lượng amylose là chỉ tiêu quan trọng quyết định phẩm chất cơm Các giống lúa mùa địa phương phần lớn có hàm lượng amylose từ trung bình đến thấp, một số có mùi thơm Nhược điểm của các giống lúa mùa địa phương là tiềm năng cho năng suất thấp, đa số không kháng rầy nâu
Các giống lúa chuyên mùa phản ứng với ánh sáng ngày ngắn Nó chỉ
Trang 20phân hóa đòng khi độ chiếu sáng trong ngày xuống dưới 12 giờ 30 phút Dù cấy sớm hay cấy muộn thì các giống lúa chuyên mùa cũng phải đợi đến thời
kì “ngày tháng mười chưa cười đã tối” mới trổ bông
Các yếu tố cần thiết để hoàn thành chu kì sinh trưởng gồm 3 yếu tố: Yếu tố ngắn ngày, sinh trưởng đủ số lá tối thiểu và không gặp nhiệt độ quá thấp ở giai đoạn trỗ đến chín
Yếu tố ngày ngắn thỏa mãn trong khoảng thời gian 23/9 đến 21/3 năm sau Số lá tối thiểu là 14-15 lá Trổ khi 11-12 lá gặp thời tiết lạnh thì năng suất thấp Do đó cần bố trí thời vụ sao cho sinh trưởng được 15 lá (7,5 - 8,5 lá thời
kì mạ)
Giai đoạn trổ gặp nhiệt độ quá thấp (dưới 150C) thì các giống chuyên mùa rất khó hoặc không trổ bông Sau trỗ ở miền Bắc gặp nhiệt độ thấp kéo
dài dẫn đến hạt lúa không vào chắc, lép lững Ở miền Nam muốn đạt năng
suất cao chú ý cung cấp đủ nước giai đoạn cuối, đảm bảo điều kiện các giống lúa đạt số lá cần thiết
1.1.5 Nhận dạng sản xuất lúa chất lượng cao
Việt Nam vốn là một nước có truyền thống sản xuất lúa gạo, đã từ lâu ông cha ta từ sử dụng lúa gạo là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính trong các bữa ăn hàng ngày, từ đó cây lúa trở thành cây lương thực chính ở nước ta.Tình hình sản xuất và giá thành lúa gạo đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập và đời sống của hàng trục triệu của người dân Việt Nam, cũng như ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị - xã hội trong nước Ngành sản xuất lúa gạo không chỉ tạo ra kinh tế, ổn định chính trị - xã hội mà còn tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần và tạo ra môi sinh
Trong những thập niêm 60 miền Bắc có phong trào phấn đấu đạt 5 tấn/ha/năm và cho đến năm 1974 đã đạt được mục tiêu này năng suất lúa trung bình đạt 51,4 tạ/ha/năm Còn ở miền Nam các giống lúa của viện nghiên
Trang 21cứu lúa quốc tế (IRRI) như: IR8, IR5, Đài Trung, Chân Châu Lùn đã được nhập nội và đưa vào sản xuất; cho tới năm 1973 miền Nam đã có diện tích trồng lúa mới là 890 nghìn ha với năng suất 35,8 tạ/ha, cao hơn năng suất toàn vùng là 11,0 tạ/ha
Trong vòng 18 năm (1980- 1996), diện tích gieo trồng lúa trong toàn quốc tăng khá nhanh (24,5 %) nhưng chủ yếu tăng ở các tỉnh miền Nam, còn miền Bắc chỉ tăng được khoảng 5%, mà phần tăng chủ yếu nằm ở khu vực Trung du miền núi, đồng bằng sông Hồng
Nhờ có những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công tác lai tạo giống mới
đã làm cho tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã
có nhiều thay đổi đáng khích lệ Từ một nước phải nhập khẩu gạo thường xuyên đến nay đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 rồi thứ 2 trên thế giới Năm 1997 nước ta mặc dù gặp nhiều thiên tai nhưng sản lượng lúa vẫn đạt 27,52 triệu tấn tăng 8,3 triệu tấn so với năm 1990 Năm 1999 sản lượng lúa toàn quốc đạt 31,39 triệu tấn tăng 3,87 triệu tấn so với năm 1997 Cho tới năm 2004 diện tích trồng lúa là 7.44 triệu ha, năng suất đạt 4,82 tấn/ha đưa tổng sản lượng lúa toàn quốc lên 35.87 triệu tấn
Như vậy, trong những năm qua Việt Nam chú trọng về sản xuất lúa thường trong nước làm sao để đạt được năng suất phục vụ nhu cầu lương thực trong nước, ngoài ra lương thực dư thừa mới đem xuất khẩu; về mặt chất lượng của lúa gạo Việt Nam các viện nghiên cứu chưa đi sâu để nghiên cứu giống lúa vừa đem lại năng xuất vừa đem lại chất lượng của lúa gạo Đây là nguyên nhân sản xuất lúa gạo lớn nhưng hiệu quả kinh tế đem lại thấp, chính nguyên nhân đó làm cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực lao động, quy hoạch vùng, cơ chế chính sách, tiêu thụ sản phẩm, các doanh nhiệp tập trung đầu tư kinh doan sản xuất
Trang 22Đưa giống lúa chất lượng cao vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng của hạt gạo đem lại bữa ăn cho mọi người Từ đó sẽ làm tăng khả năng tiêu thụ của khách hàng trong nước và nước ngoài; giá thành đem lại giá thóc, gạo của lúa chất lượng cao gấp 1,5 đến hai lần so với sản xuất lúa thường
Tính kinh tế của giống lúa chất lượng cao như LT2, QR1, Bắc thơm số 7… được thể hiện khá rõ là cấy một sào lúa chỉ cần đầu tư 1kg giống, còn một sào lúa thường thì mất 5 kg thóc giống như vậy đã có sự chênh lệnh lớn
về số kg thóc giống lúa, Trong khi đó, chi phí về thóc giống lúa thường cũng lớn hơn so với giống lúa chất lượng cao, năng suất sản xuất lúa chất lượng cao bình quân đạt 180 - 220kg thóc/sào, đối với lúa thường hoặc lúa cao sản, năng suất lúa thường bình quân đạt 200 – 260 kg/ sào; Năng suất lúa chất lương cao không thua kém giống lúa thường là bao Trồng lúa chất lượng cao
sẽ làm thay đổi cơ cấu mùa vụ do đặc tính sinh trưởng ngắn hơn so với lúa thường từ 15 – 20 ngày là cơ hội tăng diện tích trồng trà xuân muộn và vụ mùa sớm để có đất phát triển sản xuất cây vụ đông trên đất hai lúa
Tuy nhiên, trồng lúa chất lượng cao cần những quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, đó là hệ thống kênh mương thoát nước phải cứng hóa bảo đảm chống úng và cấp nước chống hạn Quá trình canh tác sản xuất lúa chất lượng cao đòi hỏi người nông dân thay cách thức canh tác cũ, phải tuân thủ quá trình hướng dẫn của các nhà chuyên môn Ngoài ra, trồng lúa chất lượng cao còn đòi hỏi việc gieo mạ, điều tiết nước, chăm sóc cũng như bảo vệ thực vật khi
có sâu bệnh theo đúng quy trình
Bên cạnh đó, cần có sự liên kết chặt chẽ với cơ chế "bốn nhà": Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông (bao gồm chủ nhiệm hợp tác xã, trưởng thôn) Nhà nước chỉ đạo vĩ mô, quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng, khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân Các nhà khoa học chiếm vị trí quan trọng là nghiên cứu thổ nhưỡng tìm tổ hợp giống thích hợp
Trang 23giúp nông dân canh tác hiệu quả Nhà nông có nhiệm vụ thực hiện ý kiến chỉ đạo của Nhà nước, các nhà khoa học và doanh nghiệp để sản xuất đạt năng suất, chất lượng như mong muốn Như vậy, chỉ một trong "bốn nhà" kém sự liên kết sẽ dẫn tới kết quả phát triển sản xuất lúa chất lượng cao không đạt mục tiêu đề ra
1.1.6 Những đặc điểm của lúa chất lượng cao
đã giảm đáng kể Tỷ lệ gạo của lúa chất lượng cao tốt hơn, hạt gạo dài, đều nhau, khi xát không bị gãy
* Đặc điểm rễ lúa chất lượng cao
Rễ lúa chất lượng cao phát triển sớm và mạnh, khi có lá thứ nhất xuất hiện thì có 3 rễ mới hình thành, khi lá thứ hai xuất hiện thì có 7 rễ hình thành, khi có 3 lá đã hình thành được 8 - 12 rễ (so với 6 - 8 rễ ở lúa thường), sau đó
số lượng rễ tăng rất nhanh, các rễ có đường kính to hơn dòng bố mẹ, sự phân nhánh nhiều hơn, rễ ăn sâu và tỏa rộng ra xung quanh, tạo ra một lớp rễ đan
Trang 24dày ở tầng sát mặt đất Lông hút của rễ lúa chất lượng cao nhiều và dài (0.1 - 0.25mm) hơn hẳn lúa thường (0.01 - 0.13mm) Vì số lượng rễ nhiều nên diện tích tiếp xúc lớn, làm cho khả năng hấp thụ tăng cao gấp 2 - 3 lần lúa thường Khi gặp điều kiện thiếu nước rễ lúa chất lượng cao ăn sâu hơn lúa thường nên khả năng chịu hạn tốt hơn Đường kính rễ lớn giúp cho quá trình vận chuyển nước và dinh dưỡng thuận tiện Rễ lúa phát triển mạnh trong suốt quá trình của cây vì vậy chất lượng cao lại có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất, tận dụng được phân bón trong đất, sinh trưởng và phát triển mạnh, ít bị đổ, sau khi thu hoạch, gốc có khả năng tái sinh mạnh do bộ rễ lâu già hoặc có khả năng hình thành rễ liên tục
* Đặc điểm về nhánh
Lúa chất lượng cao mọc nhánh, đẻ sớm và đẻ khỏe, nếu có đầy đủ dinh dưởng và ánh sáng thì đạt 4 lá, lúa chất lượng cao đã bắt đầu đẻ nhánh thứ nhất, sau đó số nhánh tiếp tục được tăng thêm theo quy luật: khi cây lúa chất lượng cao có 4 lá đã có nhánh con thứ nhất xuất hiện ở nách lá thứ nhất, khi
có 5 lá thì nhánh con thứ 2 được đẻ ra từ nách lá thứ 2, khi có 6 lá thấy nhánh
mẹ đẻ ra nhánh con thứ 3 ở nách lá thứ 3 đồng thời nhánh con thứ nhất đẻ ra nhánh cháu 1; khi đạt 7 lá nhánh mẹ đẻ ra nhánh con thứ 4 song song nhánh con thứ nhất đẻ cháu 2 và nhánh con thứ 2 đẻ cháu 3; cây lúa chất lượng cao
có 8 lá: nhánh mẹ đẻ con 5, nhánh con thứ nhất đẻ cháu 4, nhánh con thứ 2 đẻ cháu 5, nhánh con thứ 3 đẻ cháu 6 Như vậy, ở giai đoạn 7 - 8 lá cây lúa chất lượng cao có thể đẻ được 12 nhánh = 1 mẹ + 5 con + 6 cháu, các nhánh này đều có khả năng phát triển thành bông vì thế trong gieo cấy lúa chất lượng cao cần tránh cấy dày, cấy to khóm, nhiều dảnh vừa tốn hạt giống vừa không phù hợp với quy luật đẻ nhánh của lúa
* Đặc điểm về bộ lá, quang hợp và hô hấp
Lá lúa chất lượng cao dài và rộng hơn lá lúa bình thường, lá đòng dài 30
Trang 25- 45 cm, rộng 1.5 - 2.0 cm, một số tổ hợp lá có lòng mo và có chiều rộng to hơn Một số kết quả nghiên cứu cho rằng phiến lá lòng mo có thể hứng ánh sáng cả hai mặt, như vậy năng lượng mặt trời được hấp thụ nhiều hơn, hiệu suất quang hợp cao hơn Thịt phiến lá lúa chất lượng cao có 10 - 11 lớp tế bào, số lượng bó mạch nhiều hơn (13 - 14 bó) hơn các giống bố mẹ Diện tích
lá lớn hơn lúa thường 1.2 - 1.5 lần trong suốt quá trình sinh trưởng Ba lá trên cùng đứng, bản lá chứa nhiều diệp lục nên có màu xanh đậm hơn, do vậy hoạt động quang hợp diễn ra mạnh hơn Trái lại, cường độ hô hấp của lúa chất lượng cao thấp hơn lúa thường, do đó hiệu suất quang hợp thuần càng cao, khả năng tích lũy chất khô cao hơn đáng kể Do bộ lá lúa chất lượng cao phát triển mạnh nên hấp dẫn các loại côn trùng khá mạnh, thịt lá dày, mô lá xốp nên các loại nấm bệnh dễ dàng xâm nhập, phát triển, cần nắm vững đặc điểm này trong suốt quá trình canh tác lúa chất lượng cao để ngăn chặn kịp thời sâu bệnh gây hại
* Đặc điểm bông lúa
Lúa chất lượng cao có số bông trên khóm, số hạt/bông nhiều và tỷ lệ lép thấp: nhờ đặc tính đẻ sớm, đẻ khỏe và tỷ lệ thành bông cao nên tính theo một hạt thóc được gieo cấy ra thì trong cùng một khoảng thời gian tồn tại lúa chất lượng cao tạo được nhiều bông hơn, bông lúa to hơn và tỷ lệ lép thấp hơn so với lúa thường Để đạt được số bông cần thiết trên một khóm lúa cần căn cứ vào mật độ cấy và đặc biệt phụ thuộc vào độ lớn của bông Các tổ hợp gieo cấy lúa chất lượng cao hiện nay được chia thành 3 nhóm: nhóm bông trung bình: số hạt/bông thường đạt 130 - 140 hạt/bông; nhóm bông to: có 160 - 200 hạt/bông và loại hình bông rất to: trên 300 hạt/bông, thường đạt 210 - 260 hạt/bông, bông to nhất có thể đạt trên 400 hạt/bông, với tỷ lệ lép 8 - 12% Loại hình lúa chất lương cao bông to có thể cho năng suất khá cao (trên 8 tấn/ha/vụ) mà không phải bố trí có nhiều bông trên đơn vị diện tích gieo cấy
Trang 26* Đặc điểm về sinh trưởng
Cũng giống như lúa thường, lúa chất lượng cao trải qua ba thời kỳ sinh trưởng và 10 giai đoạn phát triển, tuy nhiên ở mỗi thời kỳ và giai đoạn lúa chất lượng cao có những nét đặc biệt Các giống lúa chất lượng cao có thời gian sinh trưởng khác nhau chủ yếu do sự dài ngắn khác nhau ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưởng, hai giai đoạn sau nhìn chung là ổn định không phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của giống dài hay ngắn Thời kỳ sinh trưởng sinh thực ở lúa thường kéo dài khoảng 35 ngày, còn các giống lúa chất lượng cao thì ngắn hơn khoảng 33 ngày, thời kỳ chín kéo dài 30 ngày ở các giống lúa thường, riêng lúa chất lượng cao thời kỳ này dài hơn (32-33 ngày); có một số giống lúa chất lượng cao có thời kỳ chín kéo dài tới 35 ngày
Khả năng đẻ nhánh rất khỏe, đẻ thấp, đẻ liên tục; trong sản xuất đại trà lúa chất lượng cao có thể đẻ 18 - 20 nhánh, bình thường đẻ 12 - 14 nhánh, tỷ
lệ thành bông hữu hiệu đạt 65% - 70% có số bông hữu hiệu cao, năng suất cao
* Đặc điểm về tính thích ứng, khả năng chống chịu
Lúa chất lượng cao có thế sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu tốt biểu hiện ở nhiều mặt như có thể trồng ở mọi chân đất của đất lúa, chống rét khá, nhất là ở thời kỳ mạ; khả năng phục hồi sau ngập úng nhánh; chống đổ khá; thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi tăng vụ, chống chịu sâu bệnh đặc biệt là đạo ôn (vào loại khá), phù hợp với các vùng vốn bị đạo ôn gây nhiều tổn thất như Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương v.v
Tuy lúa chất lượng cao đòi hỏi thâm canh cao mới có năng suất 7 - 8 tấn/ha/vụ trở lên, song vì thế mà bón quá nhiều phân, nhất là phân đạm; lúa chất lượng cao không cần giữ nước liên tục trong ruộng, có lúc phải rút nước phơi ruộng, giai đoạn trổ chín thiếu nước lúa bị nghẹn đòng, lép cao
Trang 27Lúa chất lượng cao ưu việt vượt trội ở đây đó là về chất lượng gạo trong quá trình sử dụng mọi người đều khẳng định chất lượng đem nấu ăn ngon, có mùi thơm, hạt cơm mềm, màu trắng; lúa chất lượng cao đã đem lại được uy tín đối với mọi người khi sử dụng
1.1.7 Quy trình sản xuất lúa chất lượng cao
Mặt ruộng phải được san bằng phẳng, đánh rãnh thoát nước và dọn
sạch cỏ dại trước khi sạ, cấy
Chọn các giống lúa trong danh mục khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở từng thời điểm và có chất lượng gạo trắng đáp ứng yêu cầu chất lượng cao theo tiêu chuẩn qui định (xem bảng 5, bảng 6 phần phụ lục); Lúa giống phải có độ đồng đều cao, không có lẫn cỏ dại, lúa cỏ và giống khác Tốt nhất nên sử dụng lúa giống xác nhận theo Thông tư số 42/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 7 năm 2009 của Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định quản lý sản xuất, kinh doanh
và sử dụng hạt giống lúa siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận, giống lúa bố mẹ lúa lai và hạt lúa lai (Quy định ở bảng 3, bảng 4, phần phụ lục)
Tùy theo giống, mùa vụ, độ bằng phẳng của mặt ruộng và khả năng
thoát nước của từng thửa ruộng để quyết định mật độ sạ, mật độ sạ thích hợp
từ 80kg - 100kg/ha Tất cả các vụ đều được sạ bằng công cụ sạ hàng Ngoài
ra, nếu có điều kiện thì có thể cấy, tuổi mạ từ 10 - 20 ngày, không để mạ quá
20 ngày tuổi, cấy 2-3 tép/buội, khoảng cách 15 x 20cm
Giống được ngâm trực tiếp vào dung dịch nước muối nồng độ 15%
trong vòng 15-30 phút vớt bỏ hạt lép lửng nổi phía trên, phần chìm còn lại vớt
ra rửa và ngâm tiếp với nước sạch 48 giờ, ủ kỹ trong thời gian 24 giờ cho đến khi hạt giống nẩy mầm Sau đó tiến hành gieo sạ bằng công cụ sạ hàng Nếu cấy thì gieo mạ, diện tích đất mạ bằng 1/10 diện tích đất cấy Lượng lúa giống dùng để gieo mạ không quá 30-50kg để cấy cho một hécta Ở vụ mùa và vụ
Trang 28vụ xuân nếu sử dụng nguồn giống mới thu hoạch dưới 30 ngày phải dùng hóa chất ngâm lúa giống để kích thích nẩy mầm tốt bằng Nitrica (đây là sản phẩm mới, có tác dụng phá miên trạng hạt lúa giống, sản phẩm dạng bột, dễ sử dụng, an toàn hơn so với việc dùng acid Nitric đậm đặc), liều lượng khuyến cáo trên bao bì
Bón theo nhu cầu của cây vào các thời điểm sinh trưởng (mạ, đẻ nhánh,
tượng đòng); bón đúng liều lượng; không bón thừa phân đạm Thời kỳ bón cho cây lúa, có thể chia làm 3 đợt bón chính: Đợt 1: 7 – 10 ngày sau sạ, đợt 2:
18 – 22 ngày sau sạ, đợt 3: 40 – 45 ngày sau sạ
Bảng 1.1: Lượng phân bón khuyến cáo tham khảo theo từng vùng canh tác
(Nguồn: Trung tâm khuyến nông tỉnh)
Trên cơ sở áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp như chuẩn bị đất kỹ, mặt ruộng bằng phẳng, xuống giống theo lịch thời vụ, sử dụng giống có độ đồng đều cao, sạ thưa, bón phân cân đối, hợp lý và quản lý nước tốt sẽ giúp cho cây lúa khỏe mạnh với tán lúa không dày đặc, đây sẽ là điều kiện không thuận lợi cho sâu bệnh phát triển nên không cần sử dụng thuốc trừ sâu và chỉ sử dụng thuốc trừ cỏ, trừ bệnh cháy bìa lá, đạo ôn và đốm vằn là chủ yếu
Làm đất kỹ và san bằng mặt ruộng, giữ ruộng ngập nước trong giai đoạn đầu để khống chế cỏ dại Khi sử dụng thuốc tiền nẩy mầm hoặc hậu nẩy mầm sớm có thể chọn các sản phẩm sau: Sofit 300EC (Pretilachlor 300 g/l + Fenclorim 100 g/l), Meco 60EC (Butachlor), Cantanil 550EC (Butachlor 27,5
Trang 29% + Propanil 27,5 %), Sunrice 15WDG (Ethoxysulfuron), Nominee 10SC (Bispyribac-Sodium),… áp dụng theo liều khuyến cáo trên nhãn và ruộng phải đủ ẩm; nên luân phiên các loại thuốc cỏ có hoạt chất khác nhau để hạn chế tính kháng của cỏ dại
Áp dụng Phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM (nguyên tắc chính: cây
lúa khỏe, bảo vệ thiên địch, thăm đồng thường xuyên, nông dân trở thành chuyên gia) và không sử dụng thuốc trong 40 ngày đầu sau sạ vì cây lúa lúc này có khả năng phục hồi Sử dụng thuốc hoá học theo 4 đúng (đúng lúc, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng cách)
Tuỳ theo đặc tính giống (giống nhiễm) và điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh cháy lá gây hại (sương mù nhiều và trời lạnh vào ban đêm) thì phải bơm nước vào ruộng và sử dụng thuốc có nhóm hoạt chất Tricyclazole để trị
Để phòng trị bệnh khô cổ bông cần phải chú ý phun thuốc phòng ngừa trước
và sau trổ vì bệnh này ngoài việc làm giảm năng suất còn làm giảm rất đáng kể chất lượng gạo khi xay xát như tăng tỷ lệ gạo gãy và gạo bạc bụng Không phơi mớ ngoài đồng, sân phơi phải có lưới lót bên dưới, tuyệt đối không phơi lúa trên lộ giao thông
Lúa giống nhiệt độ không quá 400C, lúa hàng hoá sấy không quá 450C Đối với nếp tươi sau khi suốt xong vận chuyển ngay về lò sấy và tiến hành sấy nhiệt độ giống như trên, trong thời gian từ 18 đến 24 giờ (trong điều kiện không thể sấy kịp có thể chờ sấy không quá 3 ngày sau khi ra hạt tươi)
Trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí ở ẩm độ không quá 12%, lúa hàng hoá không quá 14% trong kho kín có hệ thống thông gió và chiếu sáng theo
Trang 30tiên mà người ta phải kể đến đó là điều kiện đất đai, ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Chính những điều kiện này ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của lúa chất lượng cao, đồng thời cũng là nhân tố
cơ bản để dẫn đến quyết định đưa ra định hướng sản xuất, hướng đầu tư thâm canh, lịch trình chăm sóc và thu hoạch Do vậy, muốn phát triển bền vững sản xuất lúa chất lượng cao cần phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, nhất là đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng, từ đó tạo tiền đề cho việc bố trí các giống lúa đưa vào sản xuất cho phù hợp, đạt hiệu quả cao
+ Nhân tố về kỹ thuật
Các nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của các vùng chuyên môn hóa sản xuất cây trồng vật nuôi nói chung và lúa chất lượng cao nói riêng, được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đó là những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống lúa chất lượng cao Các loại giống lúa chất lượng cao mới có tính thích nghi, sức kháng bệnh cao, ổn định năng suất, ổn định sản lượng;
Thứ hai, bên cạnh tiến bộ công nghệ trong sản xuất giống mới, hệ thống qui trình kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa chất lượng cao cũng được hoàn thiện
và phổ biến nhanh đến người sản xuất;
Thứ ba, đó là sự phát triển của qui trình công nghệ bảo quản và chế biến lúa chất lượng cao
+ Nhân tố về kinh tế, tổ chức sản xuất
Nhóm nhân tố này gồm nhiều vấn đề nhưng có thể chia ra như sau: Thứ nhất, trình độ, năng lực của người sản xuất: nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất Năng lực của người sản xuất được thể hiện qua trình độ khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý; khả năng ứng xử trước những biến động của thị trường; khả năng vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất;
Trang 31Thứ hai, quy mô sản xuất: quy mô càng hợp lý thì sản xuất có hiệu quả, mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm, còn nếu quy mô sản xuất không hợp lý thì sản xuất sẽ kém hiệu quả; Thứ ba, tổ chức công đoạn sau thu hoạch: tổ chức bảo quản, chế biến,
tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề quan trọng quyết định đến tính bền vững của sản xuất lúa chất lượng cao, nhất là lúa chất lượng cao giống
+ Nhân tố về chính sách
Chính sách có vai trò quan trọng trong phát triển các ngành sản xuất nói chung và nông nghiệp nói riêng Các chính sách hợp lý sẽ khuyến khích người dân đầu tư phát triển sản xuất, đồng thời góp phần tăng hiệu quả trong sản xuất Với các chính sách về thuế, khuyến nông, chính sách tín dụng, chính sách thị trường, chính sách về nghiên cứu, hỗ trợ đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nước ta tăng nhanh, tạo ra được các vùng sản xuất hàng hoá, tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm đến phát triển sản xuất lúa nói chung và lúa chất lượng cao nói riêng, nhất là chính sách về khoa học công nghệ, chính sách về khuyến nông, chính sách về hỗ trợ từ đó đã góp phần phát triển trồng lúa chất lượng cao thương phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Sản xuất lúa ở Thái Lan
Từ những năm 90 trở lại đây Thái Lan đã chuyển mạnh sang hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng vào xuất khẩu khai thác lợi thế đất đai, lao động , khí hậu lấy nông nghiệp làm điểm tựa cho sự phát triển kinh tế đất nước Mục tiêu đề ra của nhà nước là phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hoá, phát triển công nghiệp chế biến nông sản phục vụ cho xuất khẩu Thái Lan coi nông nghiệp nông thôn là xương sống của đất nước và đặc biệt có
Trang 32chớnh sỏch đầu tư khuyến khớch phỏt triển vựng sản xuất lỳa chất lượng cao mang tớnh hàng hoỏ Đến nay Thỏi Lan là một nước đứng đầu về sản xuất lỳa gạo trờn thế giới; chất lượng sản phẩm gạo ngon đó đỏp ứng được yờu cầu tiờu thụ của khỏch hàng trờn thế giới và đó tạo được thương hiệu gạo ngon Thỏi Lan
- Về sản xuất: Thỏi Lan đặc biệt coi trọng từ khõu sản xuất việc lựa chọn giống tốt, cú chất lượng cao, đỏp ứng với thị hiếu người tiờu dựng của cỏc thị trường khỏc nhau trờn thế giới
- Đầu tư khoa học và cụng nghệ nhất là cụng nghệ sinh học, cụng nghệ chế biến hiện đại để sản phẩm qua chế biến phải phong phỳ, đa dạng mẫu mó đẹp và đặc biệt là chất lượng đảm bảo cho cỏc định hướng khỏc nhau theo yờu cầu
- Về tiờu thụ: Cú chớnh sỏch phự hợp khuyến khớch nụng dõn sản xuất hàng hoỏ xuất khẩu như đầu tư vào nụng nghiệp, cơ sở hạ tầng, chuyển giao khoa học cụng nghệ cho sản xuất Với cỏc hàng xuất khẩu thỡ bỏ hạng ngạch, khụng thu thuế xuất khẩu, tạo nguồn vốn vay với lói suất ưu đói, nhà nước khụng can thiệp ký hợp đồng lớn
- Đào tạo nguồn nhõn lực, cỏn bộ lónh đạo, lao động cú tri thức, cú trỡnh độ tiếp thu khoa học cụng nghệ cao cho nụng nghiệp
- Huy động nguồn vốn của nhà nước và nhõn dõn đúng gúp xõy dựng
hạ tầng cơ sở Chỳ trọng củng cố mở rộng cỏc nụng trại sản xuất nụng nghiệp, khuyến khớch phỏt triển doanh nghiệp phi nụng nghiệp ở nụng thụn
- Cú thời kỳ Nhà nước mua đất nụng nghiệp của nụng dõn sau đú lại bỏn cho những người dõn cú nhu cầu kinh doanh sản xuất lỳa chất lượng cao
1.2.2 Ở Trung Quốc
Trung Quốc: Là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng lúa chất l-ợng cao trong sản xuất đại trà, có diện tích lúa chất l-ợng cao nhất đạt 18 triệu ha,
Trang 33năng suất bình quân riêng lúa lai 6,9 tấn/ha so với lúa thuần năng suất bình quân là 5,4 tấn/ha, tăng 1,5 tấn/ha trên toàn bộ diện tích Diện tích sản xuất hạt giống là 140.000 ha, năng suất hạt giống bình quân 2,5 tấn/ha
Theo chiến lược mang tính kỹ thuật cao Trung Quốc đã chọn tạo thành công một vài tổ hợp phù hợp với kiểu cây siêu lúa như: Peiai 64S/E32, Liangyou Peijiu (Peiai 64S/9311) Ngoài ra, các nhà khoa học Trung Quốc còn
áp dụng nhiều kỹ thuật công nghệ cao nh- nuôi cấy bao phấn, chuyển gen
Đặc biệt là sau khi Trung Quốc ra nhập WTO 11/2/2001, các nhà chọn giống lúa chất lượng cao Trung Quốc chú trọng hơn tới chất lượng của các tổ hợp lúa có năng suất cao
Sự thành cụng của khoa học cụng nghệ cựng với việc phỏt triển cơ sở
hạ tầng và sự hỗ trợ của Chớnh phủ trong việc phỏt triển sản xuất lỳa chất lượng cao, Trung Quốc là quốc gia thành cụng nhất về siờu lỳa (Super hybrid rice)
Hiện nay, Trung Quốc đã có hàng chục giống lúa chất l-ợng cao đạt năng suất nh- vậy Lúa chất l-ợng cao năng suất siêu cao trồng trên diện tích
tổng cộng 7,47 triệu ha trong những năm qua cho thấy năng suất tăng 10% so
với những giống lúa chất l-ợng cao hiện có Khi đạt đ-ợc năng suất 12 tấn/ha của giai đoạn hai, năng suất trung bình cao hơn năng suất của lúa thuần là 2,2 tấn/ha
1.2.3 Ở Ấn Độ
Bắt đầu nghiờn cứu lỳa ưu thế chất lượng cao từ 1970, nhưng đến 1989 mới được hệ thống húa và tăng cường thực sự Sau năm năm đó phúng thớch được sỏu giống ưu thế, tớnh đến thỏng 12/2001 đó phúng thớch 18 giống Việc phỏt triển lỳa chất lượng cao đang được phỏt triển ở Ấn Độ, tuy gặp một số khú khăn do chất lượng gạo thấp, giỏ lỳa giống cao, nhưng phần lớn nụng dõn vẫn muốn tiếp tục canh tỏc lỳa thường
Trang 34Năm 1996, Ấn Độ đã sản xuất được 1.300 tấn hạt giống lai F1 và gieo cấy khoảng 500.000 ha lúa lai thương phẩm, năng suất hạt lai chỉ đạt 1,5 – 2 tấn/ha Trong nghiên cứu phát triển lúa lai hai dòng Ấn Độ cũng đã gây tạo và xác định được 12 dòng TGMS, tạo ra hai tổ hợp lai chuẩn bị đưa ra sản xuất Hiện nay Ấn Độ đang rất tích cực trong công tác nghiên cứu và phát triển các giống lúa lai năng suất, chất lượng cao Gạo do Ấn Độ sản xuất có chất lượng rất cao
và được thị trường ưa chuộng tiêu biểu là sản phẩm gạo Basmati nổi tiếng
1.2.4 Ở Philipines
Bắt đầu thương mại hóa lúa lai từ năm 2002, với sự nỗ lực của chính phủ, năm 2003 lúa chất lượng cao đã phát triển vượt bật, diện tích tăng lên từ 25.232 ha trong mùa nắng lên đến 56.802 ha trong mùa mưa, năng suất bình quân 6 tấn/ha Chính quyền Philipines đã có những hỗ trợ cần thiết về mặt thị trường cho sự phát của các chương trình lúa chất lượng cao như: cho vay vốn sản xuất, bù một phần giá hạt giống, hỗ trợ hạt giống, thu mua lúa chất lượng cao của nông dân với giá cao Với nỗ lực này, chương trình lúa chất lượng cao sẽ được phát triển mạnh trong thời gian tới
1.2.5 Ở Bangladesh
Bangladesh là một đất nước của lúa gạo Ở đây lúa gạo được coi trọng còn hơn cả một loại lương thực, hạt lúa có ảnh hưởng lớn đến bữa ăn, kinh tế, văn hóa và lối sống của người dân nơi đây Nó cung cấp tinh bột cho toàn bộ
140 triệu người Bangladesh, 70% lượng calo là do từ gạo Lúa gạo chiếm khoảng 90% sản lượng ngũ cốc của đất nước Khoảng 11,23 triệu ha trong tổng
số đất canh tác được dùng để trồng lúa Mỗi năm khoảng 29,75 triệu tấn lúa gạo được sản xuất sử dụng các giống lúa truyền thống, các loại giống HYV được phát triển bởi Viện Nguyên cứu lúa Bangladesh, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp hạt nhân Bangladesh, trường Đại học Nông nghiệp Bangladesh và các giống lúa lai nhập nội được nhập bởi công ty giống tư nhân Bangladesh là một
Trang 35trong những nước có dân số đông nhất trên thế giới Do việc dân số tăng nhanh
và giới hạn năng suất của các giống lúa hiện tại cho nên mỗi năm đất nước thiếu từ 2 – 3 triệu tấn lương thực Để giải quyết vấn đề thiếu lương thực, cần phải chọn tạo các giống lúa mới có năng suất cao để thay thế cho các giống hiện đang được sử dụng Sử dụng các giống lúa lai có thể là một hướng đi đúng nhằm tăng sản lượng lúa và bảo đảm về tự túc lương thực Các nghiên cứu về lai tạo các giống lúa lai đã được tiến hành tại Viện Nghiên cứu lúa Bangladesh
từ năm 1983 Nhưng những nghiên cứu chính thức về các giống lúa lai phù hợp với quốc gia này được bắt đầu từ năm 1993 trong khuôn khổ hợp tác với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) Các kết quả nghiên cứu trong giai đoạn này không được như mong muốn do thiếu sự tập trung và nguồn nhân lực được đào tạo Các nỗ lực mang tính hệ thống chỉ được bắt đầu từ năm 1996 với sự hỗ trợ về tài chính từ Hội đồng nghiên cứu Bangladesh
1.2.6 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Sau khi cấy thử lúa lai ở vụ mùa năm 1994 trên diện tích 100ha, đến vụ đông xuân 1995 - 1996 lúa chất lượng cao đã đưa vào sử dụng đại trà và từng bước được mở rộng ra 36 tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau, bao gồm cả miền núi, đồng bằng, trung du Bắc bộ, Duyên Hải miền Trung, Tây nguyên và cả đồng bằng sông Cửu Long Đến nay, diện tích lúa chất lượng cao ở Việt Nam được phát triển với tốc độ khá nhanh, từ 100 ha (năm 1994) tăng lên 436 nghìn ha năm 2003 và 706.817 ha năm 2012, tốc độ phát triển bình quân là 27,68%/năm Năm 2007 so với năm 2006 diện tích gieo trồng lúa lai vụ mùa có giảm so với năm 2006 và năm 2011 giảm so với năm 2010
là do lụt ở vụ mùa của các tỉnh duyên Hải miền Trung và rét hại rét đậm ở các tỉnh miền Trung Các tổ hợp giống được sử dụng rộng rãi hiện nay là: HT1, BC15, Bắc thơm số 7, LT2, QR1, Nếp 87, Nếp 97 cho vụ mùa vùng đồng bằng miền Bắc Những năm mới đưa vào sản xuất, lúa chất lượng cao thường
Trang 36gieo cấy chủ yếu ở vụ mùa, sau đó thì diện tích lúa chất lượng cao gieo trồng chủ yếu ở vụ đông xuân nhiều hơn, nguyên nhân chủ yếu là ở vụ đông xuân lúa chất lượng cao phát triển tốt hơn và cho năng suất cao hơn
Bảng 1.2 Diện tích và cơ cấu diện tích lúa chất lượng cao cả nước
Cả năm Vụ xuân Vụ mùa Vụ xuân Vụ mùa
(Nguồn: Cục trồng trọt Bộ nông nghiệp & PTNT)
Tính đến năm 2012 tổng diện tích lúa chất lượng cao đạt 706.816 ha, tăng khoảng 84 nghìn ha so với năm 2009, trong đó vụ xuân đạt 401 nghìn ha
và vụ mùa là 305 nghìn ha
Từ năm 1999, nông nghiệp bắt đầu tập trung triển khai chương trình
mở rộng diện tích trồng lúa chất lượng cao nhằm tăng giá trị hàng hóa và thu nhập cho người dân, phấn đấu đạt tổng sản lượng 40 triệu tấn/năm trong đó 3-
Trang 374 triệu tấn xuất khẩu Nhà nước đặt chỉ tiêu gieo trồng lúa chất lượng cao cho đồng bằng sông Cửu Long là 1 triệu tấn và đồng bằng sông Hồng là 300.000
ha [12]
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ yêu cầu khả năng xuất khẩu gạo cao năm 2007, Bộ chọn 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, Kiên Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ) tổ chức mô hình sản xuất lúa chất lượng cao Các tỉnh này sẽ phối hợp với Tổng công ty Lương thực miền Nam tổ chức mô hình sản xuất 1 triệu ha lúa chất lượng cao trong vụ Đông xuân 2006 -2007, chế biến 500.000 tấn gạo chất lượng cao xuất khẩu [33]
Vụ lúa Đông xuân 2006-2007 tỉnh Đồng Tháp xuống giống được hơn 125.000 ha lúa chất lượng cao, chiếm 60,20% diện tích trồng lúa toàn tỉnh, bình quân mỗi ha sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận từ 20 đến 30 triệu đồng, cao hơn sản xuất lúa bình thường từ 5 đến 15 triệu đồng/ha [32]
Vụ mùa 2009, toàn huyện Lương Tài (Bắc Ninh) gieo trồng 866,2 ha giống lúa chất lượng cao, chiếm 20% diện tích, bằng 14% so với cùng kỳ Các Giồng lúa chất lượng cao như: HT1, BC15, Bắc thơm số 7, LT2, QR1, Nếp
87, Nếp 97, gieo trồng ở một số xã Bình Định, Phú Hòa, Quảng Phú, Mỹ Hương [28]
Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Vụ thu đông và mùa 2009 tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ canh tác bằng giống lúa chất lượng cao và hạn chế đến mức thấp nhất giống lúa IR50404 và
OM 576
Bên cạnh việc ứng dụng sản xuất lúa chất lượng cao, nước ta bắt đầu nghiên cứu để tạo giống lúa có chất lượng tốt kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu chất lượng và di truyền chất lượng Hệ thống các cơ quan nghiên cứu gồm Viện Khoa học kỹ thuật và nông nghiệp Việt Nam, Viện cây Lương thực
và thực phẩm, Viện công nghệ sau thu hoạch, Viện Nông nghiệp Miền Nam, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Bảo vệ thực vật đã góp phần quan
Trang 38trọng trong phát triển ngành sản xuất lúa gạo nói chung và lúa gạo chất lượng cao nói riêng cho Việt Nam
* Bài học kinh nghiệm phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
1 Các nước trên chủ yếu chú trọng vào phát triển số lượng chưa chú trọng đến chất lượng của lúa gạo
2 Sự phát triển sản xuất lúa chất lượng cao của các nước chú trọng phát huy lợi thế về quy mô, hình thành những vùng chuyên canh tập trung sản xuất lớn, có tỷ suất hàng hoá cao
3 Việc phát triển sản xuất lúa chất lượng cao chủ yếu tập trung vào khâu giống, lấy đó làm điểm đột phá để phát triển sản xuất
4 Ở mỗi địa phương có những Trung tâm nghiên cứu phát triển sản xuất lúa chất lượng cao riêng để nghiên cứu và giải quyết kịp thời những khó khăn từ thực tế sản xuất
5 Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt với tổ chức FAO, IRRI để đưa các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
1.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan
Hiện nay có rất nhiều những công trình nghiên cứu sản xuất lúa chất lượng cao Bên cạnh năng suất, chất lượng được xem là một chỉ tiêu quan trọng không thể bỏ qua khi đánh giá một giống Các giống lúa mới bên cạnh chỉ tiêu năng suất có chỉ tiêu protein, amylose, amylopectin, nhiệt độ hồ hóa chất lượng là một tổ hợp các yếu tố khác nhau, mỗi một yếu tố được điều khiển bởi một hoặc nhiều gen Để tạo giống lúa có chất lượng tốt, tất nhiên phải kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu chất lượng và di tuyền chất lượng
Hệ thống các cơ quan nghiên cứu gồm Viện Khoa học và Kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Công nghệ sau thu hoạch, Viện Nông nghiệp Việt Nam, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Bảo vệ thực vật, Viện Nông hóa thổ nhưỡng đã góp phần quan trọng trong phát triển ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam nói chung và vấn đề chất lượng nói riêng Nhiều thế hệ các nhà khoa học trong nghiên cứu trong
Trang 39lĩnh vực lúa gạo: Bùi Duy Đáp, Lương Định Của, Võ Tông Xuân, Bùi Bá Bồng, Tạ Minh Sơn cũng đã quan tâm đến vấn đề chất lượng lúa gạo và việc nghiên cứu chất lượng lúa gạo
Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng nông sản nói chung
và chất lượng lúa gạo nói riêng những năm qua nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về chất lượng lúa gạo và đã có nhiều công trình được công bố
Để tăng năng suất, phẩm chất cây trồng thì công tác giống là biện pháp tối ưu nhất Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nước ta đã có những bước tiến nhảy vọt trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo
Ở miền Bắc, sau khi được thành lập, trường Đại học Nông nghiệp I
đã tiến hành thu thập, đánh giá và bảo quản được 750 mẫu giống lúa có tiềm năng năng suất, phẩm chất tốt, phản ứng khá với sâu bệnh và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh
Hiện nay, nước ta có khoảng 6.000 giống lúa địa phương được lưu giữ tại ngân hàng gen Hà Nội, trong đó có 167 giống lúa nếp và 108 giống lúa thơm Ở Đại học Cần Thơ cũng có hơn 5.000 giống lúa trong đó có 1.552 giống địa phương, 498 giống lúa rẫy được thu thập từ miền Bắc đến Tây Nguyên {33} Hiện Viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long đang tồn trữ 1.826 mẫu giống lúa mùa gồm 219 giống lúa sớm, ít cảm quang và 1.617 giống lúa
lỡ và muộn có tính cảm quang {7} Trung tâm tài nguyên di truyền Thực vật của Viện khoa học nông nghiệp kĩ thuật Việt Nam đã thu thập và bảo quản trên 5000 mẫu giống lúa địa phương Đó thực sự là những gen quý trong công tác tạo giống {4}
Viện nghiên cứu lúa Đồng Bằng sông Cửu Long đã sử dụng phương pháp ứng dụng CNSH(6) kết hợp với phương pháp khảo nghiệm đồng ruộng
để chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt như: OM1490, OM2517, OM3536 {21}
Trần Duy Quý, Hoàng Tuyến Minh, Bùi Huy Thủy thuộc Viện Di Truyền nông nghiệp giai đoạn 1996-2000 đã chọn tạo thành công một số giống
Trang 40năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh, tạo giống lúa lai 2 dòng, 3 dòng trong đó, có giống DT17, DT21 là giống chất lượng cao, xuất khẩu {14}.
Vũ Tuyên Hoàng và CTV(7), giai đoạn 1997 – 2000 đã thu thập và đánh giá 1621 dòng giống và kết quả cho thấy: 73 giống địa phương/1621 dòng giống thu thập có hàm lượng protein cao như Nếp cẩm (Sơn La) 10,3%, Lốc hạt tròn (Hà Tĩnh) 9,5%, Tám thơm (Hải Dương) 8,1% một số dòng nhập nội có hàm lượng protein gạo lật cao: IR 1529 – 680: 8,7%, IR64: 7,8%, IET2938: 8,3% {4}
- Trường Đại học Thành Tây (Hà Đông, Hà Nội) vừa nghiên cứu thành công hai giống lúa mới là giống thơm MHT và giống thơm RVT Đây là hai giống lúa thơm, ngon, chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc {28}
- Tác giả Vũ Thiện Quý, năm 2005 đề tại khoa học “Quy hoạch vùng sản xuất lúa lai và lúa chât lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Tác giả Vũ Văn Toan, năm 2006 luận văn thạc sỹ “Giải pháp chủ yếu nhăm tiêu thụ lúa, gạo chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Tác giả Đinh Quốc trị, năm 2009 luận văn thạc sỹ “Khảo nghiệm một
số giống lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” đã phản ánh giông lúa chất lượng cao và triển vọng lúa chất lượng cao, chưa đề xuất đề xuất được phát triển sản xuất lúa chất lượng cao
Tóm lại, Trong thời gian qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về lúa chất lượng cao Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã làm sáng tỏ mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương thức quản lý hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào về “Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất lúa chất
lượng cao trên địa bàn huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình”