1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên

95 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại nhiều kỳ Đại hội Đảng vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông nghiệp đã được đề cập đến, cụ thể tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Thao Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học viên nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Huệ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân

Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Đình Thao, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh, Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp cùng toàn thể các cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ UBND quận, Phòng Lao động TB&XH, Trung tâm dạy nghề Quận Long Biên, chính quyền các phường Phúc Lợi, Phúc Đồng, Cự Khối, Thạch Bàn các doanh nghiệp và các hộ gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu và hoàn thành bài luận văn

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Huệ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục các bản đồ, biểu đồ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 5

1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp 5

1.1.1 Những quan điểm chung về thực trạng, giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp 5

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm của lao động nông nghiệp 14

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp 19

1.2.1 Trên thế giới 19

1.2.2 Việt Nam 27

1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM QUẬN LONG BIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đặc điểm cơ bản của quận Long Biên 30

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - phường hội của quận 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 36

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 37

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

Trang 4

3.1 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp quận Long Biên trong quá trình đô thị hóa 41 3.1.1 Thực trạng việc làm của lao động nông nghiệp quận Long Biên 41 3.1.2 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình

đô thị hóa trên địa bàn quận Long Biên 45 3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn quận Long Biên\ 51 3.3 Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp quận Long Biên trong quá trình đô thị hóa 59 3.3.1 Định hướng chung 60 3.3.2 Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quận trong thời gian tới 61 3.3.3 Một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Quận Long Biên 65 3.3.4 Đề xuất giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quận 67 3.3.5 Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp 72 3.3.6 Cần thực hiện đồng bộ các chính sách và giải pháp tạo điều kiện và hỗ trợ

cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp 76 3.3.7 Triển khai một số dự án, đề án thuộc chương trình giải quyết việc làm ở Quận Long Biên 79 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Biến động các chỉ tiêu dân số theo thời gian của quận Long Biên 35

3.1 Cơ cấu số người đủ 15 tuổi trở lên theo nhóm tuổi khu vực nông

3.2 Thực trạngbiến động lao động nông nghiệp kiêm và thuần nông 44 3.3 Ngành nghề khác người lao động nông nghiệp tham gia 45 3.4 Thực trạng đào tạo nghề qua 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013 46

3.5 Nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém về chất lượng nguồn nhân

3.6 Một số chỉ tiêu thu nhập, mức sống qua một số năm 51

3.8 Đánh giá tác động của chính sách quản lý nguồn lao động nông

3.9 Ý kiến đánh giá của cán bộ phường về một số bất cập chủ yếu

trong chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ

2.1 Diện tích một số loại đất trên địa bàn quận 32

2.2 Số lượng cơ sở sản xuất và giá trị sản xuất công nghiệp ngoài

3.1 Thực trạng dân số, lao động và việc làm trên địa bàn quận năm

3.4 Đánh giá mức độ tác động của chính sách đào tạo, bồi dưỡng

3.5 Đánh giá mức độ tác động của chính sách đào tạo, bồi dưỡng

3.6 Đánh giá về chất lượng công tác khuyến nông 56

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp thuần túy nghèo nàn và lạc hậu do phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, mặc dù chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả để lại nặng nề Đến nay nền kinh tế đang từng bước phát triển Tuy nhiên với dân số khoảng 90 triệu người, việc giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề cấn thiết không chỉ quan trọng đối với Việt Nam nói chung và giải quyết việc làm của quận Long Biên nói riêng

Ở Việt Nam, giải quyết việc làm cho người lao động là một nhiệm vụ trọng tâm đã được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm giải quyết Tại nhiều kỳ Đại hội Đảng vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông nghiệp đã được đề cập đến, cụ thể tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra nghị quyết: “ Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định phát huy yếu

tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh phường hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng cuả nhân dân” Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước

đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, với định hướng phát triển nền kinh tế theo hướng CNH- HĐH đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người lao động Mặc dù vậy vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vẫn đang cần sự quan tâm, giải quyết của toàn phường hội

Thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trở quá trình vận động và phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là vấn để nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, địa phương và từng gia đình Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm một mặt nhằm phát huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế- phường hội, mặt khác là hướng cơ bản để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn phường hội, tạo động lực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 8

Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững cần phải chú trọng đến việc nâng cao chất lượng lao động cho lao động nông nghiệp như các chương trình: Xóa đói giảm nghèo 134, 135; các chương trình vay vốn hộ nghèo; chương trình vay vốn giải quyết việc làm 120, chương trình định canh định cư, chương trình đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp theo Quyết định 1956 của Thủ Tướng Chính phủ

Với đặc điểm dân số đông và trẻ nên có nguồn lao động phong phú, dồi dào, đặc điểm đó là thế mạnh trong phát triển kinh tế- phường hội của chúng ta, song đồng thời nó cũng luôn tạo ra sức ép về việc làm cho toàn phường hội Vì vậy, quan tâm giải quyết việc làm, ổn định việc làm cho người lao động luôn là một trong những giải pháp về phát triển phường hội và là chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế -phường hội mà Đảng ta đã đề ra

Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, lao động Việt Nam có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm Người lao động có thể vươn lên nắm bắt tri thức và tự do làm giàu bằng tri thức của mình Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những thách thức đặt ra cho người lao động Việt Nam, đó là yêu cầu về chất lượng lao động, người lao động không biết nghề, hoặc biết không đến nơi đến chốn thì rất khó tìm được việc làm Mặt khác, kinh nghiệm các nước cho thấy, khi gia nhập WTO, ngành

dễ bị tổn thương nhất là nông nghiệp, nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất là nông dân Chính vì vậy, quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở nông nghiệp vẫn luôn là vấn đề mang tính cấp bách

Nước ta lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở vùng nông nghiệp, đặc biệt là khu vực miền núi, do nền sản xuất nông nghiệp phần lớn là độc canh và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ, nhỏ lẻ nên đã dẫn đến vấn đề

dư thừa thời gian lao động trong khu vực nông nghiệp

Long Biên là quận có lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp, vấn

đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp những năm gần đây đã được

Trang 9

tỉnh quan tâm và đã có một số chương trình, biện pháp nhằm giải quyết vấn đề này, nhưng qua thực tiễn cho thấy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm của lao động nông nghiệp

Quận Long Biên là quận có nền kinh tế mạnh, số dân đông Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, cùng với việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ngày càng nhiều và có hiệu quả, nên đã dẫn tới tình trạng giảm đi rõ rệt về nhu cầu sử dụng lao động Thêm vào đó, nguồn lực đất đai hạn chế do nhu cầu phát triển của các khu kinh tế và một số mục đích khác đã dẫn tới tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp, cùng với những tồn tại của phường hội đang là vấn đề bất cập cần được giải quyết này, Long Biên vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề việc làm ở nông nghiệp, vì vậy, để góp phần vào việc nghiên cứu những giải pháp

chung đó, tôi chọn vấn đề "Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Quận Long Biên" làm đề tài luận văn thạc

sĩ, chuyên Ngành kinh tế Nông nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng lao động và việc làm để đề xuất phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp nước ta trong quá trình đô thị hóa ở Quận Long Biên

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá vấn đề lý luận về việc làm của lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Quận Long Biên

- Đánh giá thực trạng lao động, việc làm của lao động ở Quận Long Biên

- Phân tích ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến việc làm của lao động nông nghiệp ở Quận Long Biên

- Đề xuất những giải pháp tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Quận Long Biên

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu giải

pháp giải quyết lao động nông nghiệp; việc làm cho lao động nông nghiệp; tạo việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Quận Long Biên

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về mặt thời gian: Từ năm 2009 đến năm 2013

- Phạm vi về mặt không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn quận Long Biên ( 4 phường Thạch Bàn, Phúc Đồng, Cự Khối và Phúc Lợi) là quận có lao động nông nghiệp và tỷ lệ hộ nông dân bị mất đất chiếm tỷ lệ cao

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

1.1.1 Những quan điểm chung về thực trạng, giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

*Khái niệm việc làm

- Việc làm theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam là những hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm Theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và phường hội điều 13 quy định: Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước và toàn phường hội [11, tr12]

- Trong cơ chế thị trường hiện nay ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được phường hội thừa nhận, trân trọng là người là người làm việc trong thành phần kinh tế phường hội chủ nghĩa ( Quốc doanh, tập thể ) Theo cơ chế đó, phường hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp Ngày nay các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà không bị pháp luật cấm

- Điều 13, chương II Bộ luật lao động quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo

ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" Theo

quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau [12, tr4]

- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó

- Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật

Trang 12

- Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:

Một là,hoạt động phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và

các thành viên trong gia đình

Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị

pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm

Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm

* Khái niệm và đặc điểm của nông nghiệp

Xét về bản chất kinh tế - phường hội, định nghĩa nông nghiệp cần được xem xét trên nhiều mặt và từ đó hình thành nên những tiêu chí tổng hợp để xác định khái niệm nông nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất một số tiêu chí

cơ bản sau đây:

- Về địa lý, nông nghiệp là vùng đất đai rộng lớn tạo thành vành đai bao quanh các khu vực đô thị

- Về kinh tế, nông nghiệp là địa bàn trên đó diễn ra chủ yếu các hoạt động nông, lâm , thủy sản và các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn kết khá chặt chẽ với nông, lâm, thủy sản

- Về dân số học, gia đình nông dân là bộ phận chủ yếu của cơ cấu dân cư

Trang 13

- Về cơ sở hạ tầng, là nơi mà cơ sở hạ tầng thấp kém hơn đô thị, cả về hạ tầng phường hội và hạ tầng vật chất - kỹ thuật

- Về kinh tế, khu vực này có những đặc thù nhất định, mà đặc thù lớn nhất

là gắn liền với những đặc điểm riêng có của nông nghiệp Xét về phương diện ngành kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông nghiệp cũng bao gồm ba nhóm ngành kinh

tế là: nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản), công nghiệp nông nghiệp (bao gồm cả xây dựng) và dịch vụ Xét về phương diện thành phần kinh tế, kinh tế nông nghiệp bao gồm các thành phần kinh tế chủ yếu: kinh tế hộ nông dân, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh

tế tư nhân, tuy nhiên, thành phần kinh tế phổ biến vẫn là kinh tế hộ và kinh tế trang trại

Đặc trưng cơ bản của kinh tế nông nghiệp là các ngành trong kinh tế nông nghiệp có mối quan hệ gắn bó với nhau trong hoạt động của các chủ thể kinh tế nông nghiệp (các hộ gia đình, các đơn vị sản xuất) và nhiều khi có thể chia tách được Chẳng hạn, một hộ nông dân vừa hoạt động sản xuất nông nghiệp, vừa nuôi trồng thủy sản và tham gia các hoạt động chế biến nông, thủy sản(sơ chế), các hoạt động dịch vụ khác

(vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp ) Vì vậy, trong thống kê khó có thể chia tách kết quả sản xuất kinh doanh cho từng ngành một cách chính xác được

Các ngành trong kinh tế nông nghiệp gắn liền với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, phường hội, lịch sử truyền thống của từng vùng nông nghiệp, nên các vùng nông nghiệp khác nhau, các ngành kinh tế nông nghiệp sẽ khác nhau Kinh tế nông nghiệp, từ trước đến nay chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chủ thể trong hoạt động của kinh tế nông nghiệp chủ yếu là các hộ gia đình, trong đó chủ yếu là các hộ gia đình nông dân, nên nhiều vùng nông nghiệp hiện nay tính thuần nông và tự cấp tự túc vẫn khá phổ biến

Trang 14

* Khái niệm và đặc trưng của lao động nông nghiệp

Khái niệm về lao động mà đề tài nghiên cứu ở đây là nói về bản thân người lao động (hay nguồn lao động) chứ không phải nói về hoạt động của người lao động (hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đôi tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của minh)

Nguồn lao động là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định, thực

tế có tham gia lao động và những người không có việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm

Theo Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam ( 2002) độ tuổi lao động được quy định đối với nữ là từ 15 đến 55 tuổi, đối với nam là từ 15 đến 60 tuổi

Trong thực tế, nguồn lao động còn bao gồm cả những người ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế có tham gia lao động Đối với những người dưới độ tuổi quy định của luật pháp các cơ sở sản xuất, kinh doanh muốn huy động phải tuân thủ các quy định của luật lao động (chỉ một số ngành nghề luật pháp cho phép sử dụng lao động dưới độ tuổi quy định)

Vì vậy, trong thông kê ở Việt Nam hiện nay có khái niệm: lao động trong

độ tuổi và lao động ngoài độ tuổi

Lao động trong độ tuổi là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động hiện hành có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình ra làm việc

Lao động ngoài độ tuổi là những người chưa đến hoặc đã quá tuổi lao động theo quy định của Luật lao động hiện hành nhưng thực tế vẫn tham gia lao động Định nghĩa trên đây mới phản ánh về mặt số lượng, chưa nói lên mặt chất lượng lao động Chất lượng của nguồn lao động được phản ánh thông qua yếu tố làm cho lao động có hiệu quả hơn Ở từng người lao động cụ thể, chất lượng lao động được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe; trình độ học vấn; kiến thức, trình

Trang 15

độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được; ý thức, thái độ, tác phong của người lao động Ở tổng thể nguồn lao động, chất lượng lao động không chỉ xem xét dưới góc độ cá nhân từng người lao động, mà còn thể hiện ở cơ cấu của nguồn lao động xét theo ngành nghề và cơ cấu lao động trong từng ngành cụ thể, cũng như cơ cấu xét theo tính chất lành nghề của chất lượng chuyên môn và trình độ tổ chức của lao động

Lao động nông nghiệp là một bộ phận của nguồn lao động phường hội hoạt động trong hệ thống kinh tế nông nghiệp Đó là một bộ phận dân số trong và ngoài độ tuổi lao động, thuộc trong khu vực nông nghiệp, có khả năng lao động và

có nhu cầu lao động

Lao động nông nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau:

Đối với Việt Nam hiện nay một bộ phận lớn lao động phường hội đang tập trung ở khu vực nông nghiệp Đây vừa là lợi thế cho phát triển kinh tế đất nước nói chung và từng vùng nông nghiệp nói riêng, vừa là gánh nặng của phường hội trong giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp có rất nhiều khó khăn so với khu vực đô thị bởi lao động nông nghiệp có những đặc trưng khác với lao động đô thị, đó là:

- Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng nghề nghiệp có nhiều hạn chế và phần lớn hoạt động thuần nông

- Thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp Điều này ảnh hưởng đến năng xuất lao động và trình độ phát triển kinh tế

- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thj trường thấp Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động

- Lao động nông nghiệp của nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

Tất cả những hạn chế trên cần được xem xét kỹ khi đưa ra giải pháp tạo việc làm cho lao động nông nghiệp

Trang 16

* Khái niệm về thất nghiệp

- Ở Việt Nam:

+ Theo "thực trạng lao động việc làm" của Bộ lao động-Thương phường hội: Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu về việc làm nhưng không tìm được việc làm

+ Quan điểm của các nhà kinh tế học

Thất nghiệp là tình cảnh của những người có khả năng lao động, có nhu cầu lao động nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc Người thất nghiệp, theo khái niệm dùng trong hệ thống kê lao động- việc làm ở Việt Nam là người đủ 15 tuổi trở lên thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm và có nhu cầu làm việc nhưng không tìm được việc

Có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua, hoặc không có hoạt động trong

4 tuần qua vì lý do không viết tìm việc ở đâu hoặc tìm mãi mà không được Hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn sẵn sàng làm thêm những không tìm được việc

Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng phức tạp cần được phân loại để hiểu rõ về nó Thất nghiệp là một gánh nặng nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào cần biết những điều đó để hiểu rõ về đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại của thất nghiệp trong thực tế Theo tiêu thức này ta có:

+ Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)

+ Thất nghiệp chia theo lứa tuổi ( tuổi nghề)

+ Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ ( thành thị, nông nghiệp)

+ Thất nghiệp chia theo ngành nghề ( nông nghiệp, công nghiệp )

+ Thất nghiệp chia theo thành phần kinh tế ( quốc doanh, tư nhân ) + Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

Trang 17

Căn cứ vào thời gian thất nghiệp, người thất nghiệp được chia thành: Thất nghiệp ngắn hạn và thất nghiệp dài hạn

- Thất nghiệp ngắn hạn: Là thất nghiệp liên tục từ dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước

- Thất nghiệp dài hạn: Là người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước

Phần lớn các nước đều sử dụng khái niệm trên để xác định người thất nghiệp Tuy nhiên cũng có sự khác biệt khi xác định mức thời gian không có việc làm Trong khi phân loại cơ cấu các thị trường lao động hiện nay, thất nghiệp phân ra thành 3 loại khác nhau: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu kỳ và thất nghiệp có tính cơ cấu

Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một số chuyển động nào đó do người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường, hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới Hay phụ nữ có thể quay trở lại lực lượng lao động sau khi có con Do những công nhân thất nghiệp tạm thời do chuyển công việc hoặc tìm những công việc mới tốt hơn, cho nên người ta thường cho rằng họ là những người thất nghiệp “tự nguyện”

Thất nghiệp chu kỳ: là thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi mức cầu chung

về lao động giảm xuống Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu Loại thất nghiệp này thường gắn với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh

Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm đi, trong khi đó mức cung không được điều chỉnh nhanh chóng Như vậy trong thực tế xảy ra sự mất cân đối trong các ngành nghề hoặc các vùng do một số lĩnh vực phát triển so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đổi mới công nghệ Nếu tiền lương rất

Trang 18

linh hoạt trong những khu vực có nguồn cung cao và tăng lên trong những khu vực có mức cầu cao

* Khái niệm về thiếu việc làm

Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc ít hơn giờ quy định đối với các công việc theo quy định hiện hành của Nhà nước Họ có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm, hoặc họ có nhu cầu làm việc và sẵn sãng làm việc nhưng không tìm được việc làm

Việc làm là phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế phường hội và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống phường hội Tùy theo cách tiếp cận mà người ta có những cách định nghĩa khác nhau về việc làm

Theo H.A Gowlop thì “ việc làm là mối quan hệ sản xuất nảy sinh do sự kết hợp giữa cá nhân người lao động và phương tiện sản xuất”

Theo Huyhanto (Viện Hải ngoại Luân Đôn) thì “việc làm theo nghĩa rộng

là toàn bộ hoạt động kinh tế của một phường hội, là tất cả những gì liên quan đến cách kiếm sống của con người kể cả quan hệ sản xuất và các tiêu chuẩn hành vi tạo ra khuôn khổ của quá trình kinh tế”

Đối với Việt Nam, Bộ luật lao động đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua đã khẳng định: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không

bị luật pháp ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Với khái niệm về việc làm như trên thì hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền và bằng hiện vật

- Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật cho công việc đó

Phân loại việc làm

Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc Tổ chức lao động quốc tế phân

“việc làm” thành các loại:

Trang 19

- Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc

làm thường xuyên trong một năm

- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số giờ

thực hiện công việc trong một tuần

- Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó [11, tr12-13]

* Khái niệm về giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp ở Việt Nam

Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giưã sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa

và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường Vấn đề tạo việc làm cho người lao động

là một vấn đề rất phức tạp nhưng rất cần thiết cho mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải luôn quan tâm Việc tạo việc làm cho người lao động chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy khi xem xét để đưa chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến nhiều nhân tố

Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động Do vậy vấn đề tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể không kể đến vai trò của Nhà nước Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước Để có quan

hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có những điều kiện nhất định Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn, công nghệ, kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ, Còn người lao động phải có sức khỏe, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với kinh nghiệm của mình

Để có việc làm, được trả công theo ý muốn của mình thì người lao động phải học hỏi, trau dồi kiến thức cho mình để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ngoài ra người lao động phải luôn tự đi tìm việc làm phù hợp với mình để đem lại thu nhập cho gia đình Trong vấn đề này, Nhà nước có vai trò quản lý

Trang 20

quan hệ lao động bằng các chính sách khuyến khích động viên nhằm đem lại lợi ích cho cả 2 bên Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động để họ phát huy tối đa năng lực của mình Ngoài ra Nhà nước cũng đã ra các chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo phân

bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý Vì vậy, khi nghiên cứu tạo việc làm cần chú

ý đến vấn đề đầu tư của nhà nước cũng như của khu vực tư nhân chủ yếu tập trung ở thành thị và các khu công nghiệp vì ở những nơi này sản xuất tạo ra tỷ xuất lợi nhuận cao hơn và có khả năng liên kết với nhau hơn Chính vì điều này sẽ gây ra hiện tượng người lao động từ nông nghiệp ra thành thị và cũng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nông nghiệp, do đó cần phải có chính sách tạo việc làm phù hợp cho

cả người lao động ở thành thị và nông nghiệp

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm của lao động nông nghiệp

* Nguyên nhân khách quan

+ Điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái: Các yếu tố này ảnh hưởng

trực tiếp tới việc làm tại chỗ cho lao động nông nghiệp Các nhân tố điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái là nền tảng của sản xuất nông nghiệp, quyết định quy mô, hướng đầu tư đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, khai thác tốt các yếu tố này là tiền đề tạo việc làm bền vững

Tư liệu sản xuất bao gồm đất đai, vốn, máy móc, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, trong đó các yếu tố như vốn, đất đai, sức lao động ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết việc làm cho người lao động

* Nguyên nhân chủ quan

Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Tùy theo góc độ tiếp cận có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đó theo từng nhóm nhân tố như: các nhân tố tác động đến sự thay đổi trong phân bố lại các nguồn lực, các nhân tố tác động bên trong và các nhân tố tác động bên ngoài, các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp là

Trang 21

nhằm chủ động tạo các điều kiện tiền đề cần thiết thúc đẩy quá trình này một cách hiệu quả Ngược lại, nếu bất chấp tất cả các điều kiện môi trường, hoặc không nhận thức đầy đủ tính khách quan của các nhân tố ảnh hưởng, chúng ta sẽ

có những chủ trương duy ý chí đối với quá trình giải quyết việc làm và khó tránh khỏi thất bại

Để có cơ sở cho sự lựa chọn và thực hiện các giải pháp đồng bộ trong giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp có thể chia các nhân tố ảnh hưởng thành các nhóm sau:

- Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói chung theo hướng công nghiệp hóa

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam theo hướng CNH

đã thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng Quá trình này đã dẫn đến xu hướng một bộ phận lao động nông nghiệp di chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào việc lựa chọn cơ cấu ngành công nghiệp và dịch

vụ Nếu trong chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp và dịch vụ ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, ít vốn thì xu hướng chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành này sẽ nhanh hơn Ngược lại, phát triển các ngành

sử dụng ít lao động, nhiều vốn thì quá trình chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ chậm hơn

Khi cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, lao động nông nghiệp có thể chuyển dịch theo hai hướng Một là, lao động nông nghiệp sẽ chuyển khỏi khu vực nông nghiệp sang phát triển các khu công nghiệp và đô thị Hai là, sự di chuyển lao động trong nội bộ khu vực nông nghiệp, theo hướng chuyển lao động nông nghiệp sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp Xu hướng này sẽ diễn ra nhanh chóng ở các vùng nông nghiệp có các làng nghề truyền thống và có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên

- Nhân tố khoa học và công nghệ

Sự phát triển của các ngành kinh tế ở khu vực nông nghiệp không chỉ phụ

thuộc vào trình độ phát triển của khoa học công nghệ quốc gia, mà còn phụ

Trang 22

thuộc rất lớn ở trình độ tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ của các chủ thể kinh tế nông nghiệp và hệ thống chuyển giao khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế nông nghiệp

Đứng trên góc độ nền kinh tế, khi trình độ khoa học và công nghệ phát triển sẽ có khả năng hỗ trợ cho nông nghiệp, nông nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó đảm bảo cho kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa và phát triển bền vững Khoa học và công nghệ phát triển sẽ giúp nông nghiệp, nông nghiệp khai thác có hiệu quả các nguồn lực và các lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, từ đó làm thay đổi số lượng cũng như vị trí của từng ngành trong kinh tế nông nghiệp Đối với từng vùng nông nghiệp, nhân tố khoa học và công nghệ thật sự có ảnh hưởng đến sự phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp khi các chủ thể trong kinh tế nông nghiệp có khả năng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ (bao gồm các tiến bộ khoa học và công nghệ mà đất nước tạo ra và các công nghệ nhập khẩu) và có hệ thống chuyển giao công nghệ phát triển đến từng vùng nông nghiệp

Trong điều kiện nước ta hiện nay, với tình trạng lạc hậu của các chủ thể kinh tế nông nghiệp và sự yếu kém của hệ thống chuyển giao công nghệ đến các vùng nông nghiệp đang là trở ngại lớn đối với sự ra đời và phát triển các ngành theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại Vì vậy, nếu không tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế nông nghiệp có khả năng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ thì các tiến bộ khoa học công nghệ được tạo ra khó có thể đưa vào phục vụ cho phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm tạo nhiều việc làm mới ở khu vực nông nghiệp

Trong thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta những năm qua cho thấy, do hệ thống chuyển giao công nghệ chưa phát triển nên nhiều vùng nông nghiệp các chủ thể kinh tế nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc ứng dụng các công nghệ mới Từ đó nhiều ngành mới ra đời nhưng không đứng

Trang 23

vững trên thị trường do người sản xuất chưa được chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp, thậm chí nhiều cơ sở sản xuất phải tiếp nhận cả công nghệ lạc hậu

- Vai trò của Nhà nước

Vai trò của Nhà nước có ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp thể hiện ở việc lựa chọn mục tiêu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế- phường hội của cả nước cũng như trong từng ngành, lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ cho đến việc xây dựng và thực thi hệ thống chính sách, các công cụ kinh tế, luật pháp.v.v để thực hiện các mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển đã được đề ra

+ Lựa chọn đúng mục tiêu phát triển kinh tế, cũng như việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - phường hội nói chung, chiến lược, quy hoạch phát triển từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ nói riêng mới có cơ sở cho việc đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh phù hợp với tiềm năng và lợi thế của từng vùng địa phương, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư từ đó tạo ra nhiều việc làm mới

Thực tiễn phát triển kinh tế đất nước hàng chục năm qua cho thấy, quá trình phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn hiện đại chịu ảnh hưởng rất lớn ở việc xác định mục tiêu phát triển kinh tế và ở việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển tưng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ Nhiều ngành kinh tế, nhiều vùng lãnh thổ phát triển chậm, hiệu quả thấp và thiếu tính bền vững là do xác định mục tiêu phát triển kinh tế không phù hợp, do công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, nhiều khi mang tính hình thức và áp đặt theo ý muốn chủ quan

+ Hệ thống chính sách kinh tế và hệ thống luật pháp cũng có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Chính sách của nhà nước tác động đến khả năng thu hút các nguồn lực đầu

tư cho phát triển các ngành, các vùng cần ưu tiên Chẳng hạn các chính sách ưu

Trang 24

đãi về thuế, về tiền thuê đất, hay chính sách hỗ trợ của nhà nước về đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho các vùng quy hoạch, các vùng trọng điểm sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư đầu tư theo yêu cầu của Nhà nước

Các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp được xây dựng đồng

bộ, có cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ có tác dụng định hướng phát triển cho các ngành, các doanh nghiệp, tạo môi trường cho các nhà đầu tư phát triển theo hướng bền vững Đồng thời chính sách và luật pháp còn có tác dụng điều tiết sản xuất và giúp các ngành, các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn do cơ chế thị trường gây ra

Ngược lại, nếu chính sách và luật pháp xây dựng chưa đồng bộ, không phù hợp với thực tiễn phát triển của kinh tế thị trường sẽ có tác động tiêu cực đến quá trình phát triển, có thể gây thiệt hại cho cả Nhà nước và người dân Vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp còn được thể hiên trên các mặt, như: Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu

hạ tầng kinh tế - phường hội, đầu tư nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ, đào tạo nghề phục vụ chương trình giải quyết việc làm

Ngoài ra, vai trò của Nhà nước đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp còn được thể hiện ở việc thực hiện các chính sách và chương trình tài trợ cho phát triển nông nghiệp, nông dân và nông nghiệp

- Tác động của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của quốc gia nói chung, có ảnh hưởng trực tiếp đến từng ngành và từng vùng cụ thể khác nhau nói riêng Tùy theo những cơ hội và thách thức do hội nhập mang lại, mà ngành này, vùng này có cơ hội phát triển hơn, ngược lại, ngành khác, vùng khác, lại khó khăn trong phát triển do yếu kém về nội lực, làm cho năng lực cạnh tranh thấp Nhờ tác động của hội nhập quốc tế mà có điều kiện phát triển mạnh về công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp và từ đó sẽ chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ

Trang 25

Những cơ hội mà hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mang lại cho những nước đang phát triển - những nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó chính là khả năng tiếp cận và thu hút các nguồn vốn cho phát triển, tiếp cận các tiến bộ công nghệ hiện đại, các kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển các hình thức hợp tác kinh doanh, liên kết trong sản xuât kinh doanh Xét riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông nghiệp, việc tham gia các quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn tiêu thụ các sản phẩm từ kinh tế nông nghiệp, từ đó tạo điều kiện kích thích và phát triển các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh Mặt khác, hội nhập quốc tế còn giúp cho khu vực nông nghiệp, nông nghiệp tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài, phát triển các công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công truyền thống Điều đó sẽ tạo nhiều cơ hội trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế ngày càng có những thách thức lớn đối với nước ta trong phát triển kinh tế đất nước Đó là cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, trong lúc khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là hàng hóa và dịch vụ ở khu vực nông nghiệp còn rất hạn chế Trong điều kiện nước ta, do trình độ của sản xuất nông nghiệp và trình độ của nông dân còn có hạn nên muốn thúc đẩy các ngành trong kinh tế nông nghiệp tồn tại và phát triển ổn định đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách và giải pháp đồng bộ trong việc hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông nghiệp

1.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

Trang 26

1.2.1.1 Để thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, các nước đặc biệt coi trọng đầu tư phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở khu vực nông nghiệp

Xu hướng chung của các nước trong quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp là đa dạng hóa sản xuất trong phát triển kinh tế nông nghiệp, như phát triển công nghiệp nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp Cụ thể:

- Đối với Trung Quốc, [12, tr25-26] ngay từ năm 1978 (sau cải cách và

mở của kinh tế) đã thực hiện phương châm "li nông bất li hương, nhập xưởng bất nhập thành" Chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương và có chính sách

khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn, coi phát triển công nghiệp nông nghiệp là con đường chính để giải quyết việc làm Nhờ vậy, từ năm

1978 đến năm 1992 các xí nghiệp hương trấn và các loại hình công nghiệp và dịch vụ khác đã thu hút trên 100 triệu lao động nông nghiệp vào làm việc ngay trong địa bàn nông nghiệp, góp phần quan trọng làm tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ hơn 70% xuống còn 50% Chính phủ luôn tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp nông nghiệp phát triển, như thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hạn chế ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước để tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp nông nghiệp Để huy động vốn và lao động cho công nghiệp nông nghiệp, Chính phủ đã quan tâm thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn và lao động cho các doanh nghiệp nông nghiệp Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiêp Nhà nước Thông qua liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp doanh nghiệp nông nghiệp giải quyết những khó khăn trong tiếp cận thông tin, trong tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị và những khó khăn về công nghệ, về nâng cao chất lượng sản phẩm Mối quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp nhà nước được thực hiện trên cơ sở thị trường

Trang 27

Sau 20 năm cải cách, Trung Quốc đã tiến rất nhanh trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, đuổi kịp và vượt qua hầu hết các nước Đông Á khác trên lĩnh vực này Đặc biệt, sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp Đến nay, Trung Quốc đã có trên 20 triệu doanh nghiệp nông nghiệp phi quốc hữu, thu hút 130 triệu lao động, đóng góp 58% tổng sản phẩm quốc dân, 46% tổng xuất khẩu và tạo ra 34% thu nhập ở nông nghiệp

- Đối với Đài Loan [12], ngay từ năm 1953 đã thực hiện phương châm công nghiệp bồi dưỡng và hỗ trợ nông nghiệp phát triển Chính phủ Đài Loan đã giành nhiều ưu tiên về vốn đầu tư của Nhà nước, về các chính sách ưu đãi cho nông nghiệp, nông nghiệp, khuyến khích thành lập các khu công nghiệp chuyên ngành, xây dựng các nhà máy ở nông nghiệp Chính phủ còn chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lấy công nghệ sử dụng nhiều vốn là chính chứ không phải công nghệ sử dụng nhiều lao động

Giai đoạn đầu chủ yếu là các ngành công nghiệp truyền thống như: thực phẩm, dệt và sau đó mở rộng sang các ngành công nghiệp khác, như hóa chất, chế tạo máy móc, thiết bị Công nghiệp nông nghiệp phát triển theo hướng phân tán, phi tập trung nhưng có liên kết với nhau và liên kết với các cơ sở công nghiệp (các công ty) lớn ở đô thị Để thúc đẩy công nghiệp nông nghiệp phát triển, Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy ở nông nghiệp, chú ý phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực ở nông nghiệp

- Đối với Nhật Bản [27], là nước tiến hành CNH sớm nhất Châu Á Trước khi tiến hành CNH, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở Nhật về cơ bản cũng nặng

về thuần nông, với tỷ lệ dân số sống và làm việc bằng nghề nông còn khá cao

Để đẩy nhanh quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, Nhật Bản

đã chủ trương duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống và ngành nghề mới ở nông nghiệp Theo thông kê, ở Nhật Bản có 867 nghề thủ công truyền thống khác nhau, các nghề này không những không bị mai một trong quá trình CNH, mà trái lại còn được giữ vững và phát triển Chính phủ

Trang 28

Nhật Bản còn chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động nông nghiệp Các loại hình dịch vụ phi nông nghiệp ở nông nghiệp như: Tín dụng, bảo hiểm, cung ứng vật tư kỹ thuật cũng được quan tâm phát triển Chính các cơ sở dịch vụ phi nông nghiệp ở nông nghiệp đã tạo điều kiện cho nông nghiệp nâng cao năng xuất lao động, giải phóng lao động, mặt khác tạo khả năng để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp (theo số lượng thống kê 1994 riêng dịch vụ buôn bán máy nông nghiệp đã thu hút được 45.700 lao động làm việc) Vì vậy, chỉ sau 4 thập kỷ tỷ trọng lao động nông nghiệp của Nhật Bản đã giảm được 39,8% (từ 45,2% năm 1950 xuống còn 6,3% năm 1990) Điều đáng quan tâm là chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp ở

Nhật Bản chủ yếu diễn ra theo xu hướng "li nông bất li hương" nên không xảy ra

tình trạng lao động nông nghiệp ồ ạt chạy ra thành thị

- Kinh nghiệm nổi bật của Hàn Quốc là thực hiện chương trình đồng bộ để CNH, HĐH nông nghiệp như: Chương trình phát triển các ngành nghề ngoài nông nghiệp của các hộ nông dân, chương trình phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, chương trình phát triển các xí nghiệp, phong trào cộng đồng mới (xí nghiệp Sameul) ở nông nghiệp

- Đối với Thái Lan [27], là quốc gia có đặc điểm giống Việt Nam, đã có nhiều thành công trong giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Trong vòng 30 năm ( 1960- 1990) tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm được 27, 4% Để chuyển lao động nông nghiệp sang phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã chủ trương mở mang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó chú ý bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống như: nghề kim hoàn, đá quý, gốm sứ Mặt khác, Chính phủ quan tâm đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp ở nông nghiệp như phát triển mạng lưới các xí nghiệp

Trang 29

1.2.1.2 Quan tâm đào tạo và đào tạo lại đội ngũ người lao động theo yêu cầu giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp

Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động theo hướng vừa đáp ứng nhu cầu lao động cho các ngành nghề mới (các ngành nghề phi nông nghiệp) vừa đáp ứng cho nhu cầu lao động cho quá trình CNH-HĐH các ngành đã có ở nông nghiệp (nhất là ngành nông nghiệp)

- Chẳng hạn, ở Đài Loan trong quá trình CNH- HĐH nông nghiệp, nông nghiệp, Chính phủ rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực Hệ thống giáo dục cơ

sở được phát triển cả ở các vùng nông nghiệp và ngày càng quan tâm hơn đến giáo dục trung học và đào tạo chuyên môn thích nghi với những yêu cầu mới

- Đối với Philipin, là nước có tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao nên Chính phủ rất quan tâm tới hệ thống thôn tin nguồn nhân lực, khuyến khích tự tạo việc làm thông qua các chương trình giáo dục và đào tạo định hướng phát triển nông nghiệp, giáo dục kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng cung cấp những hiểu biết về kinh doanh và quản lý trong giáo dục cao đẳng và giáo dục phổ thông trung học

1.2.1.3 Có chính sách thích hợp hỗ trợ nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp như: chính sách tín dụng, thuế, đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp

Để tạo điều kiện và khuyến khích nông nghiệp cũng như các ngành công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp phát triển, chính phủ các nước đã có nhiều chính sách khác nhau như: chính sách hỗ trợ gia nông sản, trợ cấp xuất khẩu, cho vay ưu đãi, miễn giảm thuế, hỗ trợ đầu tư vào xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp (giao thông, thủy lợi ), hỗ trợ ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất

Để thúc đẩy quá trình giải quyết việc làm cho lao đông nông nghiệp, ngoài các chính sách hỗ trợ nông nghiệp (trợ giá, trợ cấp cho nông dân, trợ cấp xuất khẩu ), chính phủ các nước còn thực hiện chính sách tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông nghiệp

Trang 30

Chẳng hạn, ở Nhật Bản từ năm 1995, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp

đã có nhiều thay đổi, các hình thức trợ cấp sản xuất và lưu thông được chuyển sang trợ cấp thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp, như: xây dựng hệ thống tưới tiêu, hệ thống giao thông nông nghiệp, chi cho hoạt động nghiên cứu, phổ biến kỹ thuật (khoảng 20 tỷ USD vào năm 1997) Các chính sách hỗ trợ đã tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, các ngành dịch

vụ nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp

Đối với Trung Quốc [12], trong quá trình cải cách mở cửa, chính phủ dùng thuế như một công cụ bảo hộ quan trọng đối với nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông nghiệp Chính phủ Trung Quốc cam kết sẽ giảm thuế cho nông dân, tăng trợ cấp nông nghiệp và cải thiện đời sống cho khoảng

800 triệu nông dân Vào cuối năm 2005 Chính phủ Trung Quốc đã bãi bỏ thuế nông nghiệp trên phạm vi cả nước Đồng thời Chính phủ Trung Quốc cũng đang đẩy nhanh tiến độ thí điểm và áp dụng việc giảm hoặc bỏ các loại thuế đánh vào nông dân, như thuế đánh vào các nông phẩm thương mại không phải là ngũ cốc

và vật nuôi (nông phẩm đã qua chế biến)

Chính phủ Trung Quốc còn áp dụng cơ chế phân cấp ngân sách theo hướng giao quyền thu và giữ lại phần lớn các khoản thu từ các doanh nghiệp đã khiến các chính quyền địa phương nhiệt tình ủng hộ sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp

Để hỗ trợ cho quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, chính quyền địa phương ở Trung Quốc còn giúp các doanh nghiệp nông nghiệp tiếp cận các nguồn tín dụng của Hợp tác phường tín dụng Tỷ trọng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nông nghiệp của các Hợp tác phường tín dụng nà đã tăng từ 27% năm 1978 lên 37% năm 1983 và 63% năm 1992 39% nguồn đầu tư vào tài sản cố định đã là nguồn cung cấp của Hợp tác phường tín dụng

- Ở Thái Lan [12], Chính phủ lại đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện chính sách tín dụng, người nông dân Thái Lan tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn

Trang 31

vay chính thức và không chính thức Những ưu đãi về tín dụng thường là lãi xuất

và thời hạn Chính phủ Thái Lan đã thực hiện "chương trình hoãn nợ cho nông dân vay tiền" của Ngân hàng nông nghiệp (BAAC) Theo chương trình này,

người nông dân nợ khoản tiền vay đến 100.000 Bath từ ngân hàng BAAC sẽ được hoãn nợ trong vòng 3 năm, được Nhà nước hỗ trợ 3% lãi xuất vay vốn, được dự các khóa huấn luyện về tiếp thị, đa dạng hóa và tìm các nguồn thu nhập

bổ sung Đã có trên 2 triệu nông dân tham gia chương trình này với tổng số nợ gần 100 tỷ Bath Đối với những nông dân không vay được tiền từ Ngân hàng BAAC thì sẽ được vay từ quỹ làng Chính phủ cấp cho mỗi làng 1 triệu Bath để cho nông dân vay theo chương trình " Mỗi làng 1 triệu Bath"

Ngoài ra Chính phủ Thái Lan còn có chương trình hỗ trợ "Mỗi làng một sản phẩm" Theo chương trình này, Chính phủ sẽ hỗ trợ cho mỗi làng làm ra một

sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Sự hỗ trợ này chủ yếu là tiếp thị, xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân (chủ yếu là các sản phẩm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp) Chương trình này đã mang lại cho nông dân hơn 84 triệu USD lợi nhuận

- Đối với Hàn Quốc, chính phủ đã thực hiện các ưu đãi về tài chính bằng 2 công cụ chính là cấp tín dụng ưu đãi và trợ cấp Sử dụng các ưu đãi có điều kiện như là công cụ để thực hiện các mục tiêu định hướng của Nhà nước Cụ thể:

+ Khuyến khích về tài chính (ưu đãi thuế, trợ cấp, hỗ trợ chi phí) để chuyển một số ngành công nghiệp từ các đô thị lớn về các vùng nông nghiệp có

số dân dưới 20.000 người

+ Các hộ nông dân được Nhà nước hướng dẫn tổ chức ra các cơ sở sản xuất nhỏ, liên kết khoảng 10 hộ gia đình sẽ được ngân hàng cung cấp vốn tín dụng ưu đãi để mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm

+ Hỗ trợ nông dân cơ giới hóa, khuyến khích nông dân lập các tổ chức cơ giới hóa nông nghiệp, Nhà nước cho vay ưu đãi 60% với thời hạn cho vay 5 năm

và trợ cấp 40% tiền mua máy

Trang 32

- Kinh nghiệm của Philipin cũng là kinh nghiệm về việc đưa ra và thực hiện một chương trình đồng bộ, tổng hợp nhiều giải pháp về phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nông nghiệp Về tài chính, sử dụng 2 công cụ: ưu đãi thuế và tín dụng ưu đãi Cụ thể:

+ Miễn thuế cho các xí nghiệp công nghiệp nông nghiệp quy mô dưới 20 lao động và thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước

+ Cung cấp vốn tín dụng lãi xuất thấp cho các xí nghiệp nhỏ Điều đáng chú ý là chính sách khuyến khích công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp với kỹ thuật thích hợp phục vụ sản xuất của các hộ nông dân quy mô nhỏ bằng một chương trình lớn Trong đó về tài chính có chính sách miễn thuế nhập khẩu thiết

bị chế tạo và một số loại linh kiện, cung câp vốn tín dụng ưu đãi và trợ giá

- Tại Malaysia [12], kinh nghiệm đặc thù nhất là chương trình phát triển các vùng đất mới theo hướng sản xuất các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo thiếu đất gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Đặc thù của chương trình này là Chính phủ chủ động tài trợ trước cho việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin, trường học, cơ sở y tế, cơ sở tôn giáo, kiến thiết đồng ruộng, xây dựng nhà ở Sau đó, mới kết hợp di dân với kêu gọi đầu tư tư nhân để phát triển

Thực chất đây chính là kinh nghiệm sử dụng công cụ đầu tư ngân sách để tạo nên những chuyển biến lớn về việc chuyển lao động nông nghiệp sang phát triển các ngành nghề phi thông nghiệp theo định hướng của Chính phủ Bằng cách này, Malaysia tạo ra những vùng chuyên canh có khối lượng nông sản hàng hóa lớn, vừa có khả năng tạo ra nông sản xuất khẩu cao, vừa thuận tiện cho việc phát triển công nghiệp chế biến Từ thập niên 50 của thế kỷ 20, Malaysia đã thành lập cơ quan phát triển công nghiệp nông nghiệp (sau đó, chức năng được

mở rộng và đổi tên là Hội đồng trách nhiệm nhân dân) Từ năm 1970, thành lập tập đoàn đảm bảo tín dụng và tài chính phục vụ việc phát triển công nghiệp nông nghiệp Trong nhiều chức năng của các cơ quan này, có một chức năng quan trọng là tạo khuôn khổ hỗ trợ tài chính cho công nghiệp nông nghiệp

Trang 33

Ngoài ra, để giảm sức ép về lao động và việc làm, nhất là ở khu vực nông nghiệp, Chính phủ các nước còn quan tâm thực hiện chính sách dân số và xuất khẩu lao động Nhờ áp dụng đúng đắn chính sách phát triển dân số nên nhiều nước đã giảm được tốc độ tăng dân số Các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin, Malaysia đã rất thành công lĩnh vực này Cụ thể, ở Hàn Quốc trước năm 1985 tốc độ tăng dân số là 2,7% bình quân năm, thì đến năm 2003 xuống còn 0,7%, còn Thái Lan cũng đạt được kết quả tương tự

1.2.2 Việt Nam

Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư cho khu vực này Trong nhiều năm qua, nhất là khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, tại hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng đã ban hành nghị quyết 26- NQ/ TƯ ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông nghiệp [27, tr 21-22]

Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết là: Không ngừng nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần của dân cư nông nghiệp, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng khó khăn, nông dân đươc đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông nghiệp mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông nghiệp mới có kết cấu hạ tầng kinh tế- phường hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp , dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; phường hội nông nghiệp ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân- nông dân- trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế- phường hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH - HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phường hội chủ nghĩa

Trang 34

Đối với những vấn đề liên quan đến lao động, việc làm và thu nhập của

cư dân nông nghiệp, NQ 26- NQ/ TƯ đã đưa ra mục tiêu đến năm 2020 đảm bảo giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông nghiệp gấp 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% tổng số lao động phường hội, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%

Để tạo điều kiện và thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/ QĐ-

TTg về đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp đến năm 2020"

Mục tiêu tổng quát của đề án là: Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông nghiệp, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức phường Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phường có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ chính trị, quản lý, điều hành kinh tế - phường hội và thực thi công

vụ phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH nông nghiệp, nông nghiệp

Mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2011-2015 là: Đào tạo cho 200.000 lao động khu vực nông nghiệp, trong đó: đào tạo nghề cho khoảng 150.000 lao động khu vực nông nghiệp (100.000 người học nghề nông nghiệp, 50.000 người học nghề phi nông nghiệp) Đào tạo nâng cao trình độ kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - phường hội cho khoảng 1000 lượt cán bộ, công chức

phường

Để đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, ngày 30 tháng 7 năm 2010, Bộ tài chính và Bộ Lao động - Thương binh

và Phường hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 112/2010/TTLT - BTC -

BLĐTBXH về việc hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp đến năm 2020"

1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan

- Triệu Đức Hạnh (2012), "Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên" , Luận văn Tiến sĩ , trường

Trang 35

Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả có đưa ra các giải pháp tạo việc làm bền vững tại tỉnh Thái Nguyên, định hướng đến năm 2015 [11].

- Nguyễn Kiều Hưng (2012), "Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp quận Hương Sơn-Hà Tĩnh" , Luận văn Thạc sĩ,

trường Đại học Lâm nghiệp Tác giả đề cấp tới các nguyên nhân, thực trạng thiếu việc làm của lao động nông nghiệp quận Hương Sơn - Hà Tĩnh, các giải pháp khắc phục [12]

- Lê Hồng Sơn (2010), "Giải pháp việc làm cho lao động nông nghiệp

khu vực Đồng bằng sông Hồng", Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh

tế quốc dân Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng thiếu việc làm trong nông nghiệp, nguyên nhân và giải pháp khắc phục [20]

- Thái Ngọc Tịnh (2003), Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm ở nông nghiệp Hà Tĩnh, Luận án Tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Nông

nghiệp I Hà Nội Nghiên cứu này đề cập tới 1 số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông nghiệp tại Hà Tĩnh [27]

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM QUẬN LONG BIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của quận Long Biên

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Quận được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, trên cơ sở tách 10 phường: Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn,

Cự Khối và 3 thị trấn: Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng thuộc quận Gia Lâm

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Bi%C3%AAn) Long Biên là một quận thuộc

Hà Nội, nằm dọc phía bờ bắc của sông Hồng Đông giáp Sông Đuống, Tây giáp Sông Hồng, Nam giáp quận Gia Lâm, Bắc giáp Sông Đuống Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía đông – bắc của Thủ đô, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, phường hội của Thành phố Hà Nội, có nhiều đường giao thông lớn nối liền các tỉnh phía Bắc (Lạng Sơn, Bắc Ninh), các tỉnh phía đông bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh); có sân bay Gia Lâm, khu vực quân sự, nhiều khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài như khu công nghiệp kỹ thuật cao Sài Đồng B, khu công nghiệp Sài Đồng A, khu công nghiệp Đài Tư, nhiều công trình kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật, nhiều cơ quan, nhà máy, đơn vị sản xuất kinh doanh của Trung ương và Thành phố Đặc biệt, quận nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Trong suốt chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước, Long Biên là nơi hội tụ của nhiều phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lập nên những chiến công làm rạng rỡ lịch

sử dân tộc: chiến thắng trên sông Như Nguyệt, đánh quân Tống do Lý Thường Kiệt chỉ huy… Trong kháng chiến chống Thực dân Pháp, phong trào đấu tranh chống Thực dân Pháp, chống Nhật của công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm, du kích Ngọc Thụy, Thượng Thanh, sân bay Gia Lâm…

Trang 37

Bản đồ 2.1: Bản đồ quận Long Biên

(Nguồn: http://muabannhadat.com.vn/ban-do/ban-do-Quan-Long-Bien-TP-Ha-Noi)

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết và thủy văn

 Khí hậu, thời tiết

Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, Khí hậu của Long Biên mang nét đặc trưng của vùng với đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, khí hậu ẩm ướt mưa nhiều Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa khô Nhiệt độ trung bình năm là 23 – 24oC, tổng nhiệt hàng năm từ 8.500 – 8.700oC Hai tháng nóng nhất trong năm là tháng 6 và tháng 7 với nhiệt

độ trung bình trên 30oC; nhịêt độ vào mùa đông là 17oC; độ ẩm trung bình hằng năm là 82%

Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 – 1.800mm, số ngày có mưa trung bình là 140 ngày/năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8 (16 -18 ngày mưa), lượng mưa trung bình khoảng 300 – 500mm Mùa đông mưa ít hơn, thời tiết dịu mát hơn nhưng lại hanh khô, vào cuối mùa khô thường xảy ra hiện tượng thiếu nước gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vụ Đông Vào mùa mưa thì thường có gió to, bão, lũ gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

Trang 38

Nhìn chung khí hậu thời tiết của Long Biên là lợi thế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Khí hậu, thủy văn của Long Biên thích hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi: như trồng rau sạch, chăn nuôi bò…Nông nghiệp Long Biên ít chịu thiên tai nặng nề như nhiều địa phương khác, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển thuận lợi

 Thuỷ văn

Quận Long Biên chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của sông Hồng, sông Đuống: lưu lượng nước trung bình hằng năm khoảng 2.700m3/s, mực nước mùa lũ thường cao từ 9 – 12m Song về mùa khô thì mực nước sông Hồng và sông Đuống lại xuống rất thấp làm ảnh hưởng đến việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

2.1.1.3 Đặc điểm về đất đai

Theo niên giám thống kê năm 2012 của chi cục thống kê thành phố Hà Nội tính đến hết năm 2012 diện tích đất tự nhiên của quận Long Biên là 5993 ha Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 1420 ha với tỷ lệ 23,7% Diện tích đất chuyên dùng chiếm 1815,4 ha với tỷ lệ 30,3% và diện tích đất ở là 1241,8 ha với 20,7% còn lại là diện tích đất khác

Biểu đồ 2.1: Diện tích một số loại đất trên địa bàn quận

(Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2012 thành phố Hà Nội)

Trang 39

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - phường hội của quận

2.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế

Các ngành kinh tế đã có sự thay đổi về chất, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển Cơ cấu kinh tế đã chuyển nhanh sang dịch vụ -công nghiệp - nông nghiệp đô thị sinh thái Giá trị sản xuất các ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm: thương mại, dịch vụ 24,2%, công nghiệp 18,2%; sản xuất nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, giá trị sản xuất nông nghiệp trên một ha canh tác tăng bình quân hàng năm 5,5% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang thương mai, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp đô thị sinh thái Tính đến năm 2009, tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ chiếm 55,6%,

công nghiệp 42,5%, nông nghiệp 1,9% (Nguồn: Phòng thống kê quận Long Biên năm 2010)

- Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, đạt tốc độ bình quân hàng năm 18,2% vượt chỉ tiêu đại hội lần thứ I đề ra Nhiều doanh nghiệp đã chủ động khắc phục khó khăn, tăng cường đầu tư, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, sản xuất những sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường Một

số danh nghiệp đã thuê mặt bằng khu công nghiệp Đài Tư để mới rộng sản xuất

kinh doanh (Nguồn: Phòng thống kê quận Long Biên năm 2010)

- Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn phát triển mạng, chất lượng dịch vụ ngày càng nâng lên Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 24,2%/năm Số lượng doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ tăng nhanh Đến nay có trên 2.000 doanh nghiệp và 11.000 hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực dịch

vụ, thương mại (Nguồn: Phòng thống kê quận Long Biên năm 2010)

Sản xuất nông nghiệp được tập trung đầu tư theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 5.5% Thực hiện đề án đấy mạnh chuyển đổi cơ cấu, nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, quận đã tập trung đầu tư một số mô hình sản xuất rau an toàn, trồng câu ăn quả gắn với phát triển dịch vụ, tạo hướng đi mới trong sản xuất có hiệu quả tại các phường Cự Khối, Giang Biên, Phúc Lợi 5 năm qua toàn quận đã chuyển đổi được 23 ha sang sản xuất rau an toàn, giá trị ước tính

Trang 40

đạt 150 triệu/hecta và trên 100ha cây ăn quả (Nguồn: Phòng thống kê quận Long Biên năm 2010)

Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chuyển dịch còn chậm, chưa bền vững, chưa hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung chuyên canh, tình trạng để diện tích đất nông nghiệp hoang hóa còn nhiều Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

đã được đầu tư nhưng chưa hoàn chỉnh, một bộ phận nông dân còn có tư tưởng ỷ lại thiếu chủ động trong sản xuất Việc giải quyết việc làm cho nông dân vùng bị mất chưa đáp ứng yêu cầu

Trên địa bàn Quận có nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới đã và đang được xây dựng, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, các ngành dịch vụ phát triển Cơ cấu kinh tế bao gồm: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp

Năm năm qua (2006-2010), trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh bất thường, từ cuối năm 2008 đến nay có chịu sự tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng do dự báo đúng tình hình và tập trung chỉ đạo quyết liệt, đặc biệt là sự chủ động của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, nên kinh tế trên địa bàn vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao

Biểu đồ 2.2: Số lượng cơ sở sản xuất và giá trị sản xuất công nghiệp

ngoài nhà nước của quận

(Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2012 thành phố Hà Nội)

Ngày đăng: 28/08/2017, 11:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị trên cho thấy số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước tăng qua - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
th ị trên cho thấy số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước tăng qua (Trang 41)
Bảng 3.2: Thực trạng biến động lao động nông nghiệp kiêm và thuần nông - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.2 Thực trạng biến động lao động nông nghiệp kiêm và thuần nông (Trang 50)
Bảng 3.3: Ngành nghề khác người lao động nông nghiệp tham gia - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.3 Ngành nghề khác người lao động nông nghiệp tham gia (Trang 51)
Bảng 3.5: Nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém về chất lượng nguồn nhân - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.5 Nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém về chất lượng nguồn nhân (Trang 55)
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu thu nhập, mức sống qua một số năm - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu thu nhập, mức sống qua một số năm (Trang 57)
Bảng 3.7: Nguồn thu nhập của các loại hộ - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.7 Nguồn thu nhập của các loại hộ (Trang 58)
Bảng 3.9: Ý kiến đánh giá của cán bộ  phường về một số bất cập   chủ yếu trong chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp - Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận long biên
Bảng 3.9 Ý kiến đánh giá của cán bộ phường về một số bất cập chủ yếu trong chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w