Nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới Theo Schmitthusen 1959, ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun – Blanq
Trang 1NGUYỄN VĂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO
CÓ MẠCH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU – PHƯỚC BỬU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2012
Trang 2NGUYỄN VĂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO
CÓ MẠCH TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH
CHÂU – PHƯỚC BỬU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG VĂN SÂM
Đồng Nai, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cô giáo Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới TS Hoàng Văn Sâm, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, lãnh đạo UBND các xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang, Phước Thuận và người dân của các ấp trong 4 xã đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu, tiến hành điều tra và những ý kiến đóng góp trong thời gian nghiên cứu
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân
và bạn bè đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và nội dung nghiên cứu của đề tài còn tương đối rộng, nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn
Bà Rịa – Vũng Tàu, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Văn Quyết
Trang 4MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI CAM ĐOAN ……….….i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC……….…iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ……….……vi
DANH MỤC CÁC BẢNG……… …vii
DANH MỤC CÁC HÌNH……….vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật 2
1.1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 3
1.1.2 Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 7
1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật ở Khu BTTN BC-PB 11
1.2 Nghiên cứu về hệ thực vật 12
1.2.1 Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 12
1.2.2 Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 13
1.2.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu 14
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 16
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Phương pháp kế thừa 17
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu về thảm thực vật 17
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hệ thực vật 22
2.3.4 Phân tích đánh giá đa dạng thực vật 25
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các nguyên nhân suy giảm và đề xuất giải pháp bảo tồn hệ thực vật 29
iv
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31
3.1.Điều kiện tự nhiên 31
3.1.1 Vị trí địa lý 31
3.1.2 Địa hình, địa mạo 31
3.1.3 Địa chất , thổ nhưỡng 32
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 33
3.1.5 Tài nguyên rừng 35
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Đa dạng hệ thực vật 41
4.1.1.Xây dựng danh lục 41
4.1.2 Đa dạng hệ thực vật ở bậc ngành 41
4.1.3 Đa dạng ở bậc dưới ngành 44
4.1.4 Đa dạng về dạng sống 47
4.1.5 Đa dạng về công dụng 49
4.1.6 Đa dạng nguồn gen quí hiếm 52
4.2 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật 56
4.2.1 Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới 59
4.2.2 Kiểu phụ tác nhân 69
4.2.3 Các loại sinh cảnh khác 70
4.2.4 Xác định các chỉ số đa dạng về loài thực vật trong các kiểu quần xã 70
4.3 Các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật ở Khu BTTN BC-PB 71
4.3.1 Nguyên nhân trực tiếp 71
4.3.2 Nguyên nhân gián tiếp 75
4.4 Các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở Khu BTTN BC-PB 78
4.4.1 Giải pháp tổ chức 79
4.4.2 Giải pháp bảo vệ rừng 79
4.4.3 Giải pháp phục hồi rừng 80
4.4.4 Xúc tiến các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn 80
4.4.5 Giải pháp đối với công tác thực thi pháp luật: 81
4.4.6 Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về bảo vệ đa dạng sinh học 82
4.4.7 Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 82
v
Trang 6KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Nxb: Nhà xuất bản
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
SĐVN (2007) Sách đỏ Việt Nam (2007)
TB: Trung bình
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
VCF: Qũy bảo tồn Việc Nam
VQG: Vườn Quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra 18 2.2 Mẫu bảng ghi danh lục các loài thực vật Khu BTTN BC-PB 24 2.3 Mẫu bảng tính các giá trị của loài trong ô tiêu chuẩn 28 4.1 Cấu trúc tổ thành các taxon của hệ thực vật tại Khu BTTN BC-PB 42 4.2 Tỷ trọng của hệ thực vật Khu BTTN BC-PB so với hệ thực vật VN 42 4.3 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật Khu BTTN BC-PB 43
vii
Trang 84.4 Tỷ trọng của lớp Ngọc lan so với lớp Hành ở Khu BTTN BC-PB 44 4.5 Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật Khu BTTN BC-PB 45 4.6 Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Khu BTTN BC-PB 46 4.7 Phổ dạng sống của hệ thực vật Khu BTTN BC-PB 47 4.8 Giá trị sử dụng của hệ thực vật Khu BTTN BC-PB 49 4.9 Danh sách các loài cây quí hiếm Khu BTTN BC-PB 53 4.10
So sánh, thống kê diện tích các thảm thực vật Khu BTTN BC-PB 57
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu (Khu BTTN BC-PB) trực thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập năm 1978 theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai (cũ) với tên gọi là khu rừng cấm Bình Châu – Phước Bửu Đến năm 1986 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã quyết định công nhận khu rừng cấm Bình Châu – Phước Bửu nằm trong hệ thống các khu rừng cấm của cả nước
Khu BTTN BC-PB đây là khu rừng tự nhiên duy nhất còn lại ở vùng ven biển phía Nam nước ta từ bán đảo Sơn Trà trở vào, có nhiều sinh cảnh đa dạng từ vùng đồi núi thấp đến bình nguyên và các vùng đầm lầy rừng Tràm, các hồ nước ngọt tạo nên sự đa dạng phong phú về thành phần loài động, thực vật Thảm thực vật rừng ở đây được xếp vào kiểu “Rừng kín, nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới” với nhiều kiểu phụ khác nhau và rất phong phú về thành phần loài thực vật (Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II, 2000), việc quản lý bảo vệ khu vực này có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Khu BTTN BC-PB đã được tổ chức bảo vệ, nhiều khu rừng có giá trị được phục hồi Tuy nhiên việc quản lý, bảo vệ, đầu tư vào Khu BTTN BC PB chưa thật đầy đủ với giá trị và qui mô của nó Do vậy rừng vẫn bị xâm phạm và chịu nhiều tác động, đặc biệt là sức ép của người dân sống xung quanh rừng
Đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở đây nhưng đó cũng chỉ là những số liệu sơ bộ ban đầu, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về đa dạng thực vật bậc cao có mạch Vì vậy tôi tiến
hành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Các kết quả nghiên cứu thu được sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển, góp phần bảo tồn và phát triển các nguồn gen thực vật quý hiếm, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong Khu BTTN BC-PB, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 10Chương 1 TỒNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật
Thảm thực vật là lớp thảm xanh phủ trên bề mặt trái đất, hoặc là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể nào đó hay toàn bộ bề mặt của đất Như vậy, thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung, chưa chỉ rõ một đối tượng cụ thể nào Đây
là một khái niệm bao gồm nhiều thuật ngữ đã được cụ thể hoá như: quần hợp, quần
xã, quần hệ, hệ sinh thái, sinh địa quần lạc, thực vật địa quyền…được các nhà khoa học sử dụng từ những năm đầu của thế kỷ 20
Khái niệm về thảm thực vật được hội nghị Quốc tế ngành sinh học lần thứ 6
tổ chức tại Paris (1954) thông qua: thảm thực vật là những tập thể cây cỏ lớn đem lại một hình dáng đặc biệt cho phong cảnh do sự tập hợp những cây cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng sống ưu thế [17,49]
Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, những đối tượng nghiên cứu về thảm thực vật là tập thể cây cối hình thành do một số lượng những cá thể của các loài thực vật hợp lại Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà nghiên cứu về thảm thực vật đều hoàn toàn nhất trí với nhau về đơn vị nghiên cứu cơ bản
Một số nhà nghiên cứu như: Negri (Italia); Gleason, Curtis (Hoa Kỳ); Whittaker, Brown (Anh); Fournier, Lenoble (Pháp)…cho rằng thảm thực vật bao gồm những tập hợp ngẫu nhiên của cá thể các loài cây, tập hợp này luôn luôn thay đổi và không có ranh giới rõ rệt Những người theo trường phái này, trường phái cá thể không xem thảm thực vật như là những đơn vị quần thể riêng biệt hợp thành, tức
là phủ nhận sự tồn tại của các quần thể [17,49]
Phần đông các nhà bác học trên thế giới như: Braun – Blauquet, Pavilard (Pháp); Durietz, Rubel (Scandinavi); Weaver, Clement (Anh); Walter (Đức); Shoo, Tuen (Hungari); Pavloxki (Balan); Sucasep, Lavrenko (Nga)… đều nhất trí cho rằng đối tượng nghiên cứu cơ bản của thảm thực vật là những quần thể thực vật Theo quan điểm này – quan điểm quần thể, thì thảm thực vật bao gồm những đơn vị
Trang 11cụ thể có hình dáng, cấu trúc, thành phần, ranh giới, trong mùa, động thái, vùng phân bố… đều dựa trên cơ sở sinh thái học và địa lý thực vật học [17,49]
1.1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Theo Schmitthusen (1959), ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun – Blanquet (1928), được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần hệ thực vật chủ yếu được thực hiện bởi những nhà địa thực vật của Đức [17,49]
Về phân loại rừng phục vụ các mục đích kinh doanh rất đa dạng với nhiều trường phái và phương pháp phân loại khác nhau như: trường phái Liên Xô, trường phái Pháp, trường phái Hà Lan, trường phái Hoa Kỳ, Canada… Nói chung tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà mỗi trường phái lựa chọn mục đích chủ đạo và đưa ra nguyên tắc phân loại khác nhau Vấn đề này đã được Phùng Ngọc Lan (1986) tổng
kết rất đầy đủ trong giáo trình “ Nguyên lý lâm sinh học”[26]
Liên xô là một nước có lịch sử lâu dài về vấn đề phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ 20, G.F Morodop mới là người đặt nền móng vững chắc cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh [17,49] Theo ông, thì kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếu nhưng tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là về nhân tố thổ nhưỡng Ông đã tiến hành phân loại rừng theo 5 yếu tố thành rừng:
Đặc tính sinh thái học của loài cây cao
Hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất,…)
Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với động vật
Nhân tố lịch sử địa chất
Tác động của con người
Kế thừa học thuyết của G.F Morodop và trên quan điểm coi rừng là một sinh địa quần lạc, Sucasep V.N đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng mà theo ông thì phải dựa vào những đặc điểm tổng hợp để phân loại Khi tiến hành phân loại rừng thì yếu tố đầu tiên cần phải chú ý là địa hình, sau đó là thực bì và thổ
Trang 12nhưỡng (ở đây địa hình tuy không phải là thành phần của quần lạc sinh địa nhưng
nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến điều kiện hoàn cảnh, thông qua đó có ảnh hưởng đến các thành phần khác của sinh địa quần lạc) Sucasep chủ trương dùng các đơn vị phân loại cơ bản của quần lạc thực vật là quần hợp để xác định ranh giới của kiểu quần lạc sinh địa, vì nó có khả năng phản ánh điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của quần lạc sinh địa [17,49]
Học thuyết phân loại kiểu rừng của Sucasep dựa trên nguyên lý sinh địa quần lạc đã có tác dụng phục vụ thiết thực cho công tác kinh doanh rừng ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu Cũng xuất phát từ quan điểm coi rừng là thể thống nhất giữa sinh vật rừng và hoàn cảnh, Pôgrepnhiac P.S cho rằng hoàn cảnh là cái có trước, chủ đạo, tương đối ổn định và nhiệm vụ của việc phân loại kiểu rừng là phải đánh giá đầy đủ khả năng của nguồn tài nguyên về sinh thái học [17,49] Vì vậy, tốt nhất là nên dựa vào điều kiện lập địa để phân loại kiểu rừng Ông đưa ra hệ thống phân loại bao gồm 3 cấp như sau:
Kiểu rừng: là tổng hợp những khu đất có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu giống nhau Như vậy, kiểu rừng là kiểu lập địa trong một điều kiện khí hậu nhất định, bất
kể là khu đất có rừng hoặc không có rừng Bởi vì nếu điều kiện thổ nhưỡng khí hậu giống nhau sẽ dẫn đến khả năng xuất hiện rừng nguyên sinh tương tự
Kiểu lâm phần: trong cùng một kiểu rừng, nhưng do tác động của các nhân tố bên ngoài khác nhau như cháy rừng, khai thác,… có thể xuất hiện các quần xã thực vật thứ sinh có cấu trúc khác nhau Kiểu lâm phần bao gồm những khoảng rừng giống nhau cả về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và quần xã thực vật
Trang 13Học thuyết phân loại kiểu rừng của Pôgrepnhiac đã tìm thấy sự hưởng ứng rộng rãi,
vì nó đáp ứng được yêu cầu của công tác trồng rừng
Các học thuyết phân loại rừng ở Liên Xô trước đây đã có ảnh hưởng đến các nước khác như: Ba Lan, Hungari… thường phân loại rừng theo kiểu lập địa, còn ở Tiệp Khắc có trường phái Brônô do Zlatnic đứng đầu, dựa trên cở sở học thuyết sinh địa quần lạc của Sucasep Đơn vị kiểu rừng của trường phái này bao gồm các kiểu rừng, các biến thể địa lý, các nhóm và các kiểu trung gian [17,49]
Ở thuỵ Điển, có hai trường phái đó là trường phái sinh học phân loại rừng dựa theo 2 nhân tố là: Độ ẩm và độ phì của đất, trường phái quần xã thực vật dựa vào đặc trưng chủ yếu là tổ thành thực vật và coi quần hợp là đơn vị cơ bản
Ở Phần Lan, Caiande A.K chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây
gỗ của lâm phần Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng Điều này đã không hoàn toàn đúng, vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không
có khả năng chỉ thị cho tất cả điều kiện lập địa; ngoài ra các yếu tố bên ngoài như: lửa rừng, khai thác… cũng ảnh hưởng đến thảm tươi
Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (climax) của Cơlêmăng Climax là một quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu Khí hậu là nhân tố xác định climax Ngoài khái niệm climax, các nhà lâm học Hoa Kỳ còn đưa
ra khái niệm tiền đỉnh cực đỉnh (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực [17,49]
Ở vùng nhiệt đới, Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới [17,49] Trong hệ thống này, Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai Ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới
Trang 14Năm 1903, dựa trên dạng sống của các cá thể thực vật chiếm ưu thế trong quần thể, ông đã phân chia 3 kiểu: Quần thụ, quần thảo và hoang mạc
Sau Schimper là hệ thống của Rubel, Ilinski, Burt- Davy, Aubresville… trong đó đáng chú ý nhất là hệ thống của Aubresville Trong hệ thống này, ông đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành rừng thưa và trảng truông [17,49]
Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Bear (1944) đưa ra hệ thống 3 cấp đó là: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ Fosberg (1958) đưa ra đề án hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và quần hệ phụ [17,49]
Theo Schmithusen (1959), thảm thực vật trái đất được phân chia thành 9 lớp quần hệ sau là: lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ đồng cỏ, lớp quần hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ sống 1 năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ thực vật
hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [17,49]
Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật ở cạn thành 16 kiểu quần hệ: rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa á nhiệt đới, rừng mưa lạnh ôn đới, rừng xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá kim rộng ôn đới, rừng kiểu quần hệ cây gỗ có gai, kiểu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo nguyên rừng, kiểu trảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo nguyên ôn đới, kiểu đầm lầy, kiểu hoang mạc nóng và kiểu hoang mạc khô lạnh [17,49]
UNESCO (1973) đã công bố một khu phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2000 000 Hệ thống đó được sắp xếp như sau [17]:
Trang 15Theo hệ thống phân loại này thì thảm thực vật thế giới có 5 lớp quần hệ là:
1 Lớp quần hệ rừng kín (Close forest)
2 Lớp quần hệ rừng thưa (Open stand of tree)
3 Lớp quần hệ cây bụi (Scrubland)
4 Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã có liên quan (Dwarf – Scrubland related communities)
5 Lớp quần hệ trảng cỏ (Herbaceous Vegetation)
1.1.2 Nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Trước năm 1960 các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài như: Chevalier (1918); Maurand (1943); Dương Hàm Nghi (1956); Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958),… [17,49]
Từ năm 1960, Loschau đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như sau [17,49]:
Rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi
Rừng loại II: gồm những rừng non mới mọc
Rừng loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn
có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ
Rùng loại IV: rừng nguyên sinh chưa bị khai phá
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo khối trạng thái Viện điều tra Quy hoạch rừng cũng áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng
Trần Ngũ Phương (1970) đã xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc, trong
đó chú ý đến việc nghiên cứu qui luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, các tính chất vật lý, hoá học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng Bảng phân loại gồm có các đai rừng và kiểu rừng sau [36]:
A Đai rừng nhiệt đới mưa mùa
Trang 161 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, bao gồm các kiểu
phụ thổ nhưỡng rừng mắm (Avicenia marina), rừng đước (Bruguiera
gymnorrhiza), rừng vẹt (Bruguiera erioperata) và các kiểu phụ thứ sinh
2 Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh
3 Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh
4 Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lũng
5 Kiểu phụ rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
B Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa
6 Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
7 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
C Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng (1978, 2001) đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam Trong hệ thống này, tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt Nam vào một khung hợp lý, qui định được trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng thời lại theo một trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu xấu nhất Đây là một công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Tuy nhiên theo tác giả thì bảng phân loại này thuộc loại đặc biệt hay mang tính chất địa phương của một vùng hay một nước Bảng phân loại được chia làm 2 nhóm: nhóm các kiểu thảm thực vật ở vùng thấp (có độ cao dưới 1000 mét ở miền Nam và dưới 700 mét ở miền Bắc) và nhóm các kiểu thảm thực vật ở vùng cao (có độ cao trên 1000 mét ở miền Nam và độ cao trên 700 mét ở miền Bắc) [49]
- Nhóm các kiểu thảm ở độ cao dưới 1000 m ở miền Nam, dưới 700 m ở miền Bắc
có các kiểu sau:
+ Các kiểu rừng kín vùng thấp:
Rừng kín thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt đới: là quần thụ nhiều tầng, cao 25 – 30 m, cây gỗ lớn thường xanh, các loài cây chủ yếu: Dầu, Sao, Kền kền, Chò chỉ, Chò nâu, Dầu rái, Táu, Vên vên,…
Trang 17 Kiểu rừng kín nửa rụng lá khô nhiệt đới: là quần thụ phải bao gồm
có 25% - 75% cây rụng lá Loài cây chủ yếu là các loài thuộc các họ: Dầu, Bàng, Tử vi, Dâu tằm, Xoan, Bời lời, Đậu, Trôm, Mỡ, Bồ
đề, Lim, Sau sau, Nứa
Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới: kiểu này có cấu trúc đơn giản, gồm hai tầng, tầng cao gồm những cây rụng lá cao trung bình
25 m, tầng dưới cao 15 – 20 m Các loài cây chủ yếu: Tử vi, Thung, Đậu, Dẻ, Sau sau, Gạo, Sổ, Bồ đề, Xoan, Thẩu tấu lông, Thành ngạnh,…
Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới: kiểu này ít gặp ở Việt Nam Thường ở ven biển và Nam Trường Sơn
+ Các kiểu rừng thưa:
Kiểu rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới: phân bố ở các tỉnh Đắc Lắc, Thuận Hải, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây, Hoà Bình
Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp: phân bố ở Sơn La, Đà Lạt
Các kiểu rừng thưa trên có đặc điểm chính là tầng cây gỗ thưa cây Các loài cây chủ yếu là: Dầu, Bàng, Cẩm liên, Cà chắc, Chiêu liêu, Sơn, Thẩu tấu lông, Me rừng…
+ Các kiểu trảng, chuông:
Kiểu trảng cây to, cây bụi cao, khô nhiệt đới (gặp nhiều ở miền Nam, ở miền Bắc gặp ở Hà Bắc, Lai Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh) Đặc điểm của kiểu này là tầng ưu thế sinh thái là tầng cỏ, trong tầng cây thì số cây to, nhỏ cây bụi rất thưa thớt Thực vật chủ yếu
là các cây thuộc các họ Lúa, họ Tuế, họ Thầu dầu, họ Trôm và Cỏ lào
Trang 18 Kiểu chuông bụi gai, hạn nhiệt đới (thường gặp ở vùng thấp và cao trung bình) Nét đặc trưng là thành phần thực vật chủ yếu là cây bụi có gai và thảm cỏ thưa thớt
- Nhóm các kiểu thảm vùng núi có độ cao trên 1000 m (miền Nam) và trên 700 m (miền Bắc) gồm:
+ Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao:
Kiểu quần hệ khô vùng cao Đó là rú cây bụi nhỏ, trảng cỏ cao, cỏ thấp, nhóm loài ưu thế gồm: Dẻ, Óc chó, Cỏ lách, Cỏ lào, Ngải cứu
Kiểu quần hệ lạnh vùng cao (thường gặp ở đỉnh núi cao như Fanxipan, Tà Pình, Tây Côn Lĩnh…) nhóm loài ưu thế, đặc trưng gồm: Dẻ, Pơ mu, Đỗ quyên, Thông…
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa
ra khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam có thể thể hiện được trên bản
đồ 1:2.000.000 Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ [31]:
Trang 19Trong đó, dưới lớp quần hệ là phân quần hệ, nhóm quần hệ, quần hệ và thấp nhất là dưới quần hệ Bảng phân loại này đã được một số tác giả áp dụng để tiến hành phân loại thảm thực vật trong nghiên cứu của mình như: Trần Đình Đại (1990), Trần Đình Lý (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn (1996) [58]
Vũ Đình Huề (1984) đã đề nghị phương pháp phân loại rừng phục vụ mục đích kinh doanh Theo tác giả, kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vật thuộc một kiểu trạng thái trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng và tương ứng có một biện pháp lâm sinh thích hợp [17,49]
Ngoài công trình trên, Vũ Tự Lập (1976) trong công trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” đã sử dụng nhân tố độ ưu thế của các loài trong ô tiêu chuẩn để xác định các quần hợp, ưu hợp, phức hợp [17]
Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người…là yếu tố phát sinh của kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp
Đối với mỗi miền đều có những công trình nghiên cứu như: ở miền Bắc
có công trình của Trần Ngũ Phương (1970); ở miền Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974) Năm 1995, Nguyễn Vạn Thường xây dựng bản đồ thảm thực vật Bắc Trung Bộ Có thể nói đó là sơ đồ tổng quát nhất về thảm thực vật Việt Nam [17,44,49]
1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật ở Khu BTTN BC-PB
Theo kết quả đánh giá “Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II, 2000” thì thảm thực vật rừng ở đây được xếp vào kiểu “Rừng kín, nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới” với nhiều kiểu phụ khác nhau và rất phong phú về thành phần loài thực vật Kiểu thảm thực vật này nằm trong nhóm A tức là nhóm những kiểm thảm thực vật nhiệt đới ở những vùng thấp và những vùng có độ cao trung bình dưới 1000m ở Miền Nam và dưới 700m ở miền Bắc, đây là đơn vị phân loại sơ cấp I, để phân chia thành đơn vị thứ cấp II, và III, các yếu tố này được thể hiện như sau:
Trang 20 Yếu tố khu hệ thực vật: Có hai luồng di cư thực vật quyết định thành phần thực vật ở đây là luồng di cư Malayxia – Indonexia và luồng di cư Ấn Độ - Miến Điện
Yếu tố đá mẹ thổ nhưỡng trong phạm vi nhỏ là các yếu tố đất đai, mức độ ngập nước, hình thành các sinh cảnh thực vật trên đất phèn, trên cát hoặc sinh cảnh thực vật ven suối ngập nước
Yếu tố sinh vật – con người
Năm 2000 diện tích Khu BTTN BC-PB là 11.392ha, nhưng hiện nay diện
tích còn 10.543ha “theo báo kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2010”, Như vậy diện tích đã giảm đi 849ha, do đó hiện nay khi nghiên cứu về thảm thực vật tại đây
sẽ có sự thay đổi so với kết quả điều tra năm 2000
1.2 Nghiên cứu về hệ thực vật
1.2.1 Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ lâu, tuy nhiên những công trình nghiên cứu có giá trị lại chủ yếu xuất hiện vào thế kỷ XIX – XX như:
Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977)
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên
cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện
tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop đã đưa ra một
nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-
2000 loài
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê được đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể Việc xác định diện tích biểu hiện gồm các giai đoạn sau:
Trang 211 Kiểm kê số loài trên diện tích hạn chế nhất định
2 Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài
3 Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu
1.2.2 Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam Sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc cho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ngập nước ven biển Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn [37,44,47,48]
Ngoài những tác phẩm nổi tiếng của Loureiro (1790), của Pierre (1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam
Một trong những công trình nổi tiếng đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương”
do H Lecomte chủ biên (1907 – 1952) Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [44] Thái Văn Trừng (1978) cũng đã dựa vào công trình này
để thống kê hệ thực vật Việt Nam và biết được có 7004 loài, 1850 chi, 289 họ [49] Riêng miền Bắc Pócs Tamás (1965) thống kê được 5190 loài, Phan Kế Lộc (1969) thống kê và bổ sung, nâng số loài ở miền Bắc lên 1660 chi và 140 họ Trong đó có
5069 loài thực vật thuộc ngành hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại
Gần đây, Aubréville khởi xướng và chủ biên bộ “Thực vật chí Campuchia,
Lào, Việt Nam” (1960 – 1997) [17] cùng với nhiều tác giả khác đến nay đã công bố
29 tập nhỏ, gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số họ đã có) [34] Ngoài ra
còn có công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên từ năm 1969 – 1976 [8], “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của phạm Hoàng Hộ
Trang 22giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại
5246 loài thực vật có mạch [21] (Nguyễn Nghĩa Thìn – Nguyễn Thanh Nhàn, 2004) [44]
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập “
Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ Đến năm
1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên Trình Đình
Lý và tập thể (1993) đã công bố “Từ điển cây thuốc Việt Nam”[13]
Trong thời gian gần đây, các nhà thực vật Nga và Việt Nam đã hệ thống lại
hệ thực vật Việt Nam đăng trên Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật Việt Nam –
Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora” tập 1 – 2 (1996) và Tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 và 1995) [40] (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn,
2004) [44]
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991 – 1993) [20] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam hai năm (1999 – 2000) [21], đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam
Từ năm 1995 – 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác đã công
bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi
đá vôi Hoà Bình, Sơn La, khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng núi cao Sa
Pa – Phanxipang, Vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha Kẻ Bàng, Cát Tiên…Trong quá trình nghiên cứu tác
giả đã công bố cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” [42] nhằm hướng
dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn trong cả nước
1.2.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đặc trưng của kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới miền Đông Nam Bộ Đã có nhiều đoàn nghiên cứu
Trang 23trong và ngoài nước đến khảo sát, nghiên cứu đánh giá tài nguyên động vật rừng và
đa dạng sinh học khu BTTN như:
Xây dựng luận chứng khoa học kỹ thuật rừng cấm Bình Châu - Phước Bửu (1989) do Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II (Bộ Lâm nghiệp cũ) thì danh lục thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên BC-PB có 660 loài, thuộc 112 họ, “ theo dự án luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn”
Năm 2000, Phân viện Ðiều tra Quy hoạch rừng II điều tra, khảo sát và nghiên cứu xây dựng danh lục và tiêu bản thực vật rừng, bản đồ thảm thực vật rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên BC-PB thì danh lục thực vật 732 loài, thuộc 122 “theo báo cáo kết quả thực hiện chuyên đề điều tra thảm thực vật Khu bảo tồn”
Ngoài ra có các hoạt động điều tra xây dựng vườn thực vật của khoa Lâm nghiệp Trường Ðại học Nông - Lâm thành phố Hồ Chí Minh Các hoạt động điều tra nghiên cứu Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật về đánh giá tài nguyên và lập danh lục động vật hoang dã; Đoàn điều tra của Viện sinh thái nhiệt đới; Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật …
Diện tích BTTN Bình Châu - Phước Bửu có sự thay đổi, năm 2000 diện tích 11.392ha, đến năm 2010 diện tích hiện nay còn 10.543ha “theo báo kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2010”
Trong những năm gần đây tình trạng khai thác lâm sản, vận chuyển lâm sản, lấn chiếm đất rừng…ở Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu bị tác động mạnh, theo báo cáo tổng kết các năm về tình hình vi phạm luật Bảo vệ và Phát triển rừng “ năm
2008 có 173 vụ, năm 2009 có 252 vụ, năm 2010 có 122 vụ, năm 2011có 287 vụ”
Để quản lý và phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ đa dạng sinh học Đề tài thực hiện nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng sinh học tại đây
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch từ đó đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật rừng tại khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm thảm thực vật, loài hệ thực vật bậc cao có mạch phân bố trong phạm vi Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu và các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật ở Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, xây dựng danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch tại khu vực nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, thành phần loài, dạng sống, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật tại Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu
- Nghiên cứu và phát hiện các nguyên nhân gây suy thoái đa dạng thực vật ở Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng thực vật khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu
Trang 252.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các công trình có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu trong những năm trước đây kể cả các văn bản, các cuộc hội nghị, hội thảo, các chương trình, kế hoạch hành động…
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu về thảm thực vật
Sử dụng ảnh bản đồ địa hình để xác định ranh giới các kiểu thảm thực vật từ
đó xây dựng các tuyến nghiên cứu cũng như các điểm nghiên cứu cụ thể trước khi tiến hành nghiên cứu ngoài thực địa Từ bản đồ xây dựng sơ bộ đó, bằng hệ thống định vị GPS xác định cụ thể các tuyến và các điểm nghiên cứu trên thực địa Mỗi một điểm tiến hành đo đếm các chỉ tiêu, thu mẫu, mô tả, đánh giá cấu trúc và đánh giá tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật
Các bước nghiên cứu thảm thực vật cụ thể tiến hành theo Nguyễn Nghĩa Thìn ( 1997) [42]
- Bước 1: Dựa trên cơ sở bản đồ thảm thực vật sơ thảo, đã xác định tuyến và nghiên cứu, sử dụng GPS để xác định các điểm cụ thể trên thực địa đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu
- Bước 2: Quan trắc, đo đếm, mô tả và thu thập mẫu vật
- Bước 3: Xử lý tư liệu sau thực địa trong phòng thí nghiệm: xác định tên cây, tính toán các chỉ số và sau đó mô tả ô tiêu chuẩn
- Bước 4: Trên cở sở phân loại của Thái Văn Trừng (1978) xây dựng hệ thống phân loại các kiểu thảm ở khu vực nghiên cứu
2.3.2.1 Nghiên cứu thực địa
Trong khu vực điều tra chúng tôi thực hiện điều tra trên 6 vị trí khu vực với
tổng số tuyến điều tra là 16 tuyến và 11 ÔTC Vị trí, sơ đồ các tuyến được thể hiện trong bảng 2.1 và hình 2.1
Trang 26Bảng 2.1 Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra
Trạng thái rừng
Tuyến số 2 470,382 1,166,458 470,308 1,164,793 1667
IIA, IIIA1, IIIA2
Khu
vực II
Tuyến số 3 468,801 1,162,868 471,172 1,165,361 1520
IIIA1, IIIA2
Tuyến số 4 468,801 1,162,868 472,800 1,165,000 1132
IIIA1, IIIA2
Khu
vực
III
Tuyến số 5 468,801 1,162,868 467,000 1,162,200 1921 IIIA1 Tuyến số 6 468,801 1,162,868 469,827 1,162,689 1808
IIIA1, IIIA2 Tuyến số 7 468,801 1,162,868 468,845 1,161,061 1506 IIIA1
Tuyến số 9 470,803 1,163,807 472,618 1,163,452 1849
IIB, IIIA1
Tuyến số 10 470,803 1,163,807 471,313 1,162,044 1836
IIB, IIIA1
Tuyến số 12 462,711 1,161,474 465,693 1,162,034 3034
IC, IIB, IIIA1
Trang 27Tuyến số 13 462,711 1,161,474 465,625 1,160,301 3142
IIB, IIIA1
RT Tuyến số 15 476,793 1,171,640 477,477 1,173,085 1599 IA, IC Tuyến số 16 476,793 1,171,640 477,702 1,170,034 1860
IC, IIIA1
Trang 28Ghi chú: KV (I, II, III, IV, V, VI) - Vị trí khu vực tuyến điều tra
Hình 2.1 Sơ đồ khu vực vị trí tuyến điều tra
Trang 29+ Khu vực I: Thuộc khoảnh 4, 7, 8 của tiểu khu 26 Tiến hành điều tra theo
2 tuyến với tổng chiều dài 3.500m, đi xuyên qua các trạng thái rừng như IIA, IIIA1, IIIA2 Tiến hành lập 1 ÔTC đặc trưng cho kiểu rừng Ưu hợp Vên vên – Dầu – Sến
+ Khu vực II: Thuộc khoảnh 1, 2, 4 của tiểu khu 27 Tiến hành điều tra theo
2 tuyến với tổng chiều dài 2.600m, đi xuyên qua các trạng thái rừng như IIA, IIIA1, IIIA2 Tiến hành lập 1 ÔTC đặc trưng cho kiểu rừng Ưu hợp Trâm – Thành ngạnh – Bằng lăng
+ Khu vực III: Thuộc khoảnh 2, 3, 5, 6 tiểu khu 29 và khoảnh 6 tiểu khu Tiến hành điều tra theo 3 tuyến với tổng chiều dài 5.200m, đi xuyên qua các trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, tiến hanh lập 3 ÔTC đại diện cho các kiểu rừng Ưu hợp như : Trâm – Trường – Thị , Bằng lăng – Trường – Thị, phức hợp cây ưa sáng
+ Khu vực IV: Thuộc khoảnh 5, 6, 8 tiểu khu 27 Tiến hành điều tra theo 3 tuyến với tổng chiều dài 4.700m, đi xuyên qua các trạng thái rừng như IIB, IIIA1, IIIA2 Tiến hành lập 1 ÔTC đại diện cho các kiểu rừng Ưu hợp Trâm – Bằng lăng – Bình linh
+ Khu vực V: Thuộc khoảnh 6, 7, 8 tiểu khu 25 và khoảnh 1, 2, 3 tiểu khu
30 Tiến hành điều tra theo 3 tuyến với tổng chiều dài 7.900m, đi xuyên qua các trạng thái rừng như IC, IIB, IIIA1 Tiến hành lập 1 ÔTC đại diện cho các kiểu rừng
Ưu hợp Bằng lăng – Bình linh – Cóc
+ Khu vực VI: Thuộc khoảnh 17 tiểu khu 22 và khoảnh 3, 4, 10 tiểu khu 23
và khoảnh 4 tiểu khu 24 Tiến hành điều tra theo 3 tuyến với tổng chiều dài 5.400m,
đi xuyên qua các trạng thái rừng như IA, IC, IIIA1 và Rừng trồng Tiến hành lập 3 ÔTC đại diện cho các kiểu rừng như: ưu hợp Dầu - Thị - Sến và phức hợp Tràm nước – Dầu , thuần loài Tràm nước
- Cách lập ÔTC: Chúng tôi chọn và lập ÔTC đại diện nhất, đặc trưng đại diện cho các kiểu rừng tự nhiên với diện tích 1000m2, kiểu cho rừng trồng và 500m2 Sử dụng dây nilon có màu để định vị chu vi ô
Trang 30- Thông tin thu thập trong ÔTC: Địa hình, địa mạo, trạng thái thảm thực vật
và tất cả các cá thể thực vật trong ÔTC Các thông tin về các cá thể cây gỗ, các loài dây leo, cây bụi, cây tái sinh, thảm cỏ được ghi cụ thể trong các phiếu điều tra ở phụ biểu
2.3.2.2 Xử lý trong phòng thí nghiệm
Xử lý tư liệu sau thực địa trong phòng thí nghiệm: Xác định tên cây, tính toán các chỉ số và mô tả ÔTC
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hệ thực vật
2.3.3.1 Nghiên cứu thực địa
Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại
diện cho một khu nghiên cứu, chúng tôi không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu, vì thế việc chọn tuyến và điểm thu mẫu là rất cần thiết Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu Trên các tuyến đó chúng tôi chọn những điểm chốt, tức là những điểm đặc trưng để đặt ÔTC vừa phục vụ cho nghiên cứu về đa dạng thảm thực vật, vừa nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật, như đã giới thiệu
Trong ÔTC chúng tôi ghi chép và chụp ảnh tất cả các loài đồng thời thu mẫu những loài chưa biết tên hoặc nghi ngờ về phân loại
Dụng cụ thu mẫu: Cặp hay túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn, kéo cắt cành
Nguyên tắc thu mẫu:
- Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa đối với cây lớn hay cả cây đối với cây thảo và có quả càng tốt
Trang 31- Mỗi cây nên thu từ 3 – 5 mẫu, còn mẫu cây thân thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài vừa để trao đổi
- Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thực địa như: đặc điểm
vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy mẫu như: màu sắc, mùi vị…
Cách xử lý và bảo quản mẫu: Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho mỗi
mẫu Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào
sổ riêng hoặc trên nhãn ghi đầy đủ các thông tin như sau:
- Số hiệu mẫu
- Địa điểm (tỉnh, huyện, xã…) và nơi lấy (ven suối, thung lũng, sườn hay đỉnh núi hoặc đồi…)
- Ngày lấy mẫu
- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá, hoa , quả…
- Người lấy mẫu
Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau
2.3.3.2 Xử lý trong phòng thí nghiệm
Mẫu tiêu bản thu thập trong quá trình điều tra được mang về và xử lý tại Trung tâm Đa dạng sinh học - Trường Đại học Lâm nghiệp Nội dung công việc
gồm:
+ Ép mẫu và sấy mẫu
+ Phân loại mẫu theo họ và chi
Trang 32+ Giám định mẫu tiêu bản được thực hiện bởi tác giả với sự giúp đỡ của các chuyên gia về Phân loại Thực vật của Trung tâm Đa dạng sinh học, Bộ môn Thực vật rừng đồng thời đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu đang lưu trữ tại Trung tâm
2.3.3.3 Xây dựng danh lục và đánh giá đa dạng hệ thực vật
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục:
Tên đầy đủ của loài được áp dụng theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập I – 2001, tập II – 2002 và tập III – 2005) [2], [3], [47], [48]; “Tên cây rừng Việt Nam” [11] và trang web quốc tế về tên Thực vật www.ipni.org Hệ thống phân loại thực vật được áp dụng theo hệ thống của Brummitt (1992) [60] + Xây dựng bảng danh lục thực vật: Lập bảng danh lục thực vật theo nguyên
tắc xếp vần ABC đối với các họ, chi, loài và theo hệ thống của Takhtajan 2009 Bảng 2.2 Mẫu bảng ghi danh lục các loài thực vật khu BTTN BC-PB
STT Tên khoa học Tên Việt
Nam
Dạng sống
Công dụng
Loài bổ sung cho DLTV KBTTN BC-PB
Trang 332.3.4 Phân tích đánh giá đa dạng thực vật
2.3.4.1 Đánh giá đa dạng thực vật về phân loại
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao trên cơ
sở dựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỷ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ đa dạng của nó
+ Đánh giá đa dạng loài của các họ
Xác định họ có nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật
+ Đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật
(2) Cây có chồi sát mặt đất (Chamephytes) - Ch: Trong mùa không thuận lợi, bộ phận ở trên đất sẽ héo chết đến chỗ ngang mặt đất hay trên mặt đất một chút (khoảng 10cm)
(3) Cây có chồi nửa ẩn (Hermicryptophytes) - Hm: Trong mùa không thuận lợi, bộ phận ở trên mặt đất sẽ héo chết cả và chồi chỉ nhô ngang mặt đất Dạng sống này thường được lớp lá khô bọc kín trong mùa không thuận lợi
(4) Cây chồi ẩn (Cryptophytes) - Cr: Trong mùa không thuận lợi, bộ phận ở trên sẽ chết cả chồi bén vào những bộ phận dưới đất như củ hay giò Trong dạng này
Trang 34Raukiaer còn chia ra dạng chồi trong đất Ge (Geophytes), dạng chồi trong nước He (Helophytes), và dạng chồi dưới nước HY (hydrophytes) trong hoàn cảnh thuỷ sinh (5) Cây một năm (Therophytes) - Th.: dạng sống mà trong mùa không thuận lợi, sự sống chỉ còn lại trong hạt giống và chờ mùa sinh dưỡng trở lại thì cây sẽ mọc lên và sinh trưởng
Trong đó cây có chồi trên mặt đất Ph được chia thành các dạng nhỏ
a) Cây chồi trên to - Magaphanerophytes (Mg): Cao trên 25m
b) Cây chồi trên nhỡ- Mesophanerophytes (Me): Cao từ 8-25m
c) Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) - Mi: Cao từ 2 - 8m
d) Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) - Na: Cao dưới 2m
e) Dây leo gỗ (Lianophanerophytes) - Lp: Một dạng sống rất phổ biến trong rừng ẩm nhiệt đới
f) Cây bì sinh (Epiphytes) - Ep: Có thể là thân cỏ hay thân gỗ không mọc lên từ đất mà mọc ngay trên thân những cây to, cây nhỏ Trong loại này có loài phụ sinh thân gỗ dần dần phát triển lên rất to ôm lấy thân cây chủ và như sợi dây thòng lọng thắt ngẹn lại có thể làm cây chủ chết dần
g) Cây sống ký sinh hoặc bán kí sinh (Parasit-hemiparasit phanerophytes) - Pp h) Cây có chồi trên thân thảo (Herbaces phanerophytes) - Hp: trong mùa không thuận lợi chồi ngọn vẫn ở cao trên mặt đất chứ không chết ở ngang mặt đất như dạng sống có chồi ngang mặt đất
i) Cây có chồi trên đất thân mọng nước (Suculentes) - Suc: dạng sống này thường thấy ở những vùng khô hạn như Nam Mỹ, Châu Phi.Ví dụ: Xương rồng
Từ các kết quả thu được về dạng sống của các loài thực vật ở khu vực nghiên cứu tiến hành lập phổ dạng sống cho các loài thực vật ở đó
2.3.4.3 Phân tích đánh giá công dụng
Dựa trên kết quả điều tra, phỏng vấn người dân và tra cứu tài liệu chuyên khảo để xác định công dụng của loài Các nhóm công dụng và ký hiệu nhóm công dụng được áp dụng theo cuốn tài liệu “Tên cây rừng Việt Nam” của Vụ Khoa học
Trang 35công nghệ và chất lượng sản phẩm, Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997); Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi,1977, 1999); Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp, tập II-2002); Tài nguyên thực vật Đông Nam châu Á (PROSEA);
2.3.4.4 Phân tích đánh giá mức độ nguy cấp của các loài
Đối chiếu với các loài ghi nhận được trong khu vực nghiên cứu với danh sách các loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, và Danh lục đỏ IUCN (2009) để lập danh sách các loài nguy cấp và mức độ nguy cấp của chúng
2.3.4.5 Đa dạng về quần xã thực vật
Chúng tôi chủ yếu dựa vào kết quả điều tra thực địa, dựa vào số liệu ghi chép của các ô tiêu chuẩn (ÔTC), chúng tôi dựa vào thang phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) kết hợp với Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)[1] để phân loại thảm thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu
Nguyên tắc phân loại của UNESCO (1973) là dựa theo cấu trúc ngoại mạo, sau đó là nguyên tắc địa lý và tính thích nghi sinh thái đã công bố khung phân loại thảm thực vật thế giới bao gồm 5 lớp quần hệ, trong đó gồm 5 cấp đơn vị; lớp quần hệ; phân lớp quần hệ; nhóm quần hệ; quần hệ; quần hệ phụ
Để mô tả các quần xã cụ thể, chúng tôi còn dùng một số chỉ tiêu tính toán như độ quan trọng của loài, họ trong ÔTC cũng như trong các quần xã thực vật như
Trang 36D: độ ưu thế ( % 100
3 1
3
n: Số cây trong ô đo đếm
Số liệu điều tra ÔTC được nghi theo mẫu bảng 2.3
Bảng 2.3 Mẫu bảng tính các giá trị của loài trong ô tiêu chuẩn Tên loài
Nếu độ quan trọng của loài, họ nào trong ÔTC có số lượng càng cao thì chứng
tỏ loài, họ đó càng đa dạng và cũng có nghĩa rằng loài, họ đó càng ý nghĩa trong quần xã
Tính các chỉ số da dạng sinh học trong quần xã tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu: Sử dụng phần mềm thống kê PRIMER-VI của Clarke & Warwick
(1994) để xác định các chỉ số sinh học H’, J’, D’ giữa các quần xã
+ Chỉ số Margalef: Dùng để xác định tính đa dạng hay độ phong phú về loài
của quần xã, được tính theo công thức:
Trong đó: S: Tổng số loài trong mẫu
N: Tổng số lượng cá thể trong mẫu
+ Chỉ số Pielou: Chỉ số tương đồng J’ của quần xã được tính bằng công
thức:
J’= H’/log2 S hay: J’= H’(Qsat)/H’max
Trong đó: H’: Là chỉ số Shannon-Weiner
D1 3 HVN G1 3
Trang 37S: Tổng số loài trong mẫu
+ Chỉ số đa dạng sinh học Shannon- Weiner (1949) áp dụng để tính sự đa
dạng loài trong quần xã, được tính theo công thức:
ni H
1
2
log
Trong đó: ni: Số cá thể của loài i
N : Tổng số lượng cá thể trong mẫu
+ Chỉ số loài ưu thế và chỉ số đa dạng Simpson được tính theo công thức:
Trong đó: ni = Số cá thể của loài i
N : Tổng số lượng cá thể trong mẫu
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các nguyên nhân suy giảm và đề xuất giải pháp bảo tồn hệ thực vật
Sử dụng các số liệu báo cáo, phỏng vấn cán bộ BQL Khu BTTN BC-PB về tình hình quản lý, bảo về rừng tại Khu BTTN Châu – Phước Bửu Đặc biệt quan tâm đến vến đề khai thác gỗ, phá rừng làm rẫy, thực thi pháp luật, xử lý sai phạm đến lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, sự phối hợp giữa các ngành chức năng liên quan đến lĩnh công tác bảo vệ rừng trên địa bàn,…
Sử dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA) Tiến hành phỏng vấn cán bộ xã, người dân trên địa bàn các xã Bình Châu, Bưng Riềng, Bông Trang là những xã có diện tích của Khu bảo tồn đóng trên địa bàn là nhiều (trong đó mỗi
xã phỏng vấn 03 ấp trưởng, 03 hộ dân ở các ấp trưởng phỏng vấn, 01 cán bộ Kiểm lâm địa bàn các xã) Nội dung phỏng vấn được ghi chép tỷ mỷ vào sổ điều tra, gồm các vấn đề tình hình kinh tế xã hội (việc làm) của các hộ dân, tình hình khai thác rừng trong khu bảo tồn, tình hình phá rừng làm dẫy, tình hình thực thi pháp luật dân có hiểu về những văn bản của Nhà nước không, chính sách, các thông tin liên quan đến Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu mà
Trang 38người dân chính quyền địa phương phản ảnh, sự phối hợp giữa các ngành chức năng,…
Sử dụng phương pháp phân tích 5 nguyên nhân (phương pháp 5 WHYs của Rudolf Batllner, 2000) xác định nguyên nhân gián tiếp
=> Trên cơ sở các thông tin thu được, tiến hành phân tích đánh giá xác định các nguyên nhận gây suy giảm tính đa dạng, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn thực vật
Trang 39Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1.Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu nằm trong địa phận hành chính các xã Phước Thuận, Xuyên Mộc, Bông Trang, Bưng Riềng, Bình Châu thị Trấn Phước Bừu, thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tọa độ địa lý:
Từ 10o27'57" đến 10o37'46" vĩ độ Bắc
Từ 107o24'31" đến 107o36'07" kinh độ Đông
Phía Bắc khu bảo tồn giáp Lâm trường Xuyên Mộc
Phía Nam là Biển Đông từ ấp Hồ Tràm đến Bến Lội xã Bình Châu
Phía Đông giáp huyện Hàm Tân thuộc tỉnh Bình Thuận
Phía Tây giáp sông Hoả và Tỉnh lộ 328
Tổng diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn là 10.537,3ha Khu bảo tồn được chia làm 2 phần rõ rệt do đường quốc lộ 55, bao gồm 9 tiểu khu rừng
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Nhìn chung toàn bộ Khu bảo tồn có Dạng địa hình đồi thấp trên nền phù sa
cổ và trầm tích biển là dạng chiếm diện tích chủ yếu, mang những nét đặc trưng của địa hình miền Đông Nam Bộ là đồi thấp bề mặt lượn sóng, địa hình tương đối bằng phẳng, thoai thoải từ 4 phía đổ vào trung tâm, tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau như sau:
- Vùng bằng phẳng: Chiếm diện tích 9587.3 ha, trải rộng từ phía bắc đến phía nam, độ cao từ 20 – 50 m so với mặt biển, độ dốc bình quân từ 3 – 5 độ
Trang 40- Vùng đồi: Bao gồm một số ngọn đồi có độ cao tuyệt đối từ 60 đến 160m như: Hồng Nhung (118m) nằm ở phía bắc thuộc phân trường I Lâm trường Xuyên Mộc, cụm Hồ Linh (cao từ 100 – 162m) nằm ở ven biển thuộc tiểu khu 23 Khu vực
Mộ Ông, Gái Ma ở phía tây nam thuộc tiểu khu 25 Tổng diện tích của vùng có địa hình đồi là 350 ha
- Vùng hồ lòng chảo: Có diện tích khoảng 200 ha gồm các hồ trũng ven sông suối thường ngập nước mùa mưa và các hồ có nước quanh năm như : Hồ Linh, Hồ Tràm, Hồ Cốc, Hồ Nhám, Hồ Tròn và Hồ Núi Le
- Vùng cồn cát ven biển: Diện tích 540 ha, chạy dọc trên 12 km bờ biển, ở khu bảo tồn thiên nhiên từ ấp Thuận Biên xã Phước Thuận đến bến lội xã Bình Châu Dạng địa hình này bao gồm các cồn cát di động đã ổn định có thảm thực vật che phủ và cồn cát di động chưa có thảm thực vật che phủ có độ cao từ 30 – 60 m so mặt nước biển
Các dạng địa hình khác nhau tạo cho Khu bảo tồn cảnh quan sinh động với các dạng: Núi, rừng, suối, hồ, biển từ đó hình thành các khu cư trú rất đa dạng cho các loài sinh vật Đồng thời cũng là địa bàn thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và tham quan du lịch
3.1.3 Địa chất , thổ nhưỡng
Đất đai ở khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu được hình thành trên 3 loại đá mẹ chính là: Về mặt đá mẹ, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu gồm các loại đá mẹ sau:
Đá mắc ma chứa Granit – Diosit hạt lớn và đá Granit – Dioxit (trung tính) Đây là sản phẩm của sự hoạt động xâm nhập mắc ma
Đá Bazan trẻ sản phẩm của hoạt động núi lửa
Trầm tích và phù sa cổ
Các loại đá mẹ dưới ảnh hưởng của địa hình, khí hậu, sinh vật và các hoạt động của biển tạo nên các loại đất chính sau :