- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân ở huyện Kỳ Sơn trong những năm tới.. Đất nông nghiệp khác NKH: là đấ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Thu Hà
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của Khoa Đào tạo sau đại học – Trường đại học Lâm nghiệp và Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân các xã và đông đảo bà con nhân dân của huyện Kỳ Sơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, đặc biệt là Tiến sỹ Trần Thị Thu Hà, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ban của Huyện ủy, các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn; xin cản ơn các Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và bà con nhân dân đã giúp đỡ, cộng tác cùng tôi để đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan……… ……… …………i
Lời cảm ơn……… ……… ………….ii
Mục lục……… … ….iii
Danh mục các từ viết tắt……… ……… … v
Danh mục các bảng……… … …vi
MỞ ĐẦU……….…….1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ NÔNG DÂN 4
1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 4
1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân 10
1.2.1 Khái quát về hiệu quả 10
1.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân 12
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân 15
1.2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân 20
1.3.1 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 20
1.3.2 Hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 24
1.3.3 Chính sách đất nông nghiệp của Việt Nam 32
1.4 Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân36 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 40
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 52
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 54
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân ở huyện Kỳ Sơn 56
3.1.1.Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 56
3.1.2 Hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn 70
3.1.3 Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn 90
3.1.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn về mặt môi trường 94
3.2.1 Mặt tích cực 97
3.2.2 Mặt tồn tại 98
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn 99
3.3.1 Điều kiện tự nhiên 99
3.3.2 Vị trí, địa hình, đất đai 99
3.3.3 Khí hậu, thời tiết 100
3.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 101
3.3.5 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất 101
3.3.6 Điều kiện sản xuất của nông hộ 102
3.4 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn 102
3.4.1 Định hướng phát triển nông nghiệp chung 102
3.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
1 Kết luận 112
2 Kiến nghị 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC
Trang 72.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu GTSX ngành nông lâm nghiệp 49
3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 huyện Kỳ Sơn 56 3.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 huyện Kỳ Sơn 57 3.3 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Kỳ Sơn năm 2013 60 3.4 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính năm 2011-2013 61 3.5 Giá trị sản xuất của một số cây trồng chính 63 3.6 Tình hình phát triển chăn nuôi qua các năm huyện Kỳ Sơn 64 3.7 Phân bố cây trồng huyện Kỳ Sơn ở các tiểu vùng 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên quốc gia, là tư liệu không thể thay thế được của sản xuất nông nghiệp1, là địa bàn để phân bố các khu dân cư, các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội và các công trình an ninh quốc phòng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng
về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp mặc dù hạn chế về diện tích, bình quân đất nông nghiệp của nước ta vào loại thấp nhưng lại có nguy
cơ suy thoái ngày càng cao dưới tác động của thiên nhiên, của sức ép dân số và
do sử dụng đất chưa hợp lý kéo dài cộng với suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại hạn chế Do vậy việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để có giải pháp sử dụng hợp lý và phát triển bền vững đang trở thành vấn
đề mang tính toàn cầu được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Huyện Kỳ Sơn nằm tiếp giáp với thành phố Hòa Bình, là vùng bán sơn địa với diện tích tự nhiên 203km2, dân số 32.328 người, gồm 9 xã và 1 thị trấn Những năm qua kinh tế huyện đã có bước chuyển dịch mạnh theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu của huyện Kỳ Sơn vẫn là một huyện nghèo, kinh tế của huyện vẫn là thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn hết sức khó khăn Xuất phát từ thực tiễn
1 Nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp
Trang 9nói trên, tôi tiến hành chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp của hộ nông dân tại huyện Kỳ Sơn – tỉnh Hòa Bình” với mục
tiêu đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân nói riêng và đất đai nói chung trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các
hộ gia đình nông dân ở huyện Kỳ Sơn thời gian qua
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân ở huyện Kỳ Sơn trong những năm tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của
hộ nông dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Do hạn chế về thời gian, đề tài tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và chỉ thực hiện đối với đất trồng cây
hàng năm chứ không bao gồm đất lâm nghiệp và trồng cây lâu năm
+ Thời gian: trong 3 năm (2011-2013)
Trang 10+ Không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ NÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm trong nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.[5]
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp (SXNN): là quỹ đất được sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
Đất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có thời
gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể
cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ
dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng lúa (LUA): là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên
hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa
nước còn lại, đất trồng lúa nương
- Đất chuyên trồng lúa nước (LUK): là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ
lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một
năm
Trang 12- Đất trồng lúa nước còn lại(LUC): là ruộng lúa nước không phải chuyên
trồng lúa nước
- Đất trồng lúa nương (LUN): là đất nương, rẫy để trồng từ một vụ lúa trở
lên
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi (COC): là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự
nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có
cải tạo
- Đất trồng cỏ (COT): là đất gieo trồng các loại cỏ được chăm sóc, thu
hoạch như các loại cây hàng năm
- Đất cỏ tự nhiên có cải tạo (CON): là đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên đã được cải
tạo, khoanh nuôi, phân thành từng thửa để chăn nuôi đàn gia súc
Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng cây hàng năm không
phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tầm, cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng
trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác
Đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK): là đất bằng phẳng ở đồng
bằng, thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác
Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác (NHK): là đất nương, rẫy ở trung
du và miền núi để trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian sinh
trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất
trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
Đất trồng cây công nghiệp lâu năm (LNC): là đất trồng cây lâu năm có
sản phẩm thu hoạch (không phải là gỗ) để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc phải qua chế biến mới sử dụng được gồm chủ yếu là Chè, Cà phê,
Trang 13Cao su, Hồ tiêu, Điều, Ca cao, Dừa, v.v
Đất trồng cây ăn quả lâu năm (LNQ): là đất trồng cây lâu năm có sản
phẩm thu hoạch là quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến
Đất trồng cây lâu năm khác (LNK): là đất trồng cây lâu năm không phải
đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm gồm chủ yếu
là đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan không thuộc đất lâm nghiệp, đất vườn trồng xen lẫn nhiều loại cây lâu năm hoặc cây lâu năm xen lẫn cây
hàng năm
Đất lâm nghiệp (LNP): là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng
trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao
để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng
Đất rừng sản xuất (RSX): là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm
nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi
rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
Đất nuôi trồng thuỷ sản (NTS): là đất được sử dụng chuyên vào mục đích
nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất
chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Đất nông nghiệp khác (NKH): là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá
Trang 14nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản
xuất nông nghiệp [5] (Xem lại các ký hiệu cho hợp lý, có thể giải thích được)
1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất
đai có vị trí khác nhau
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là
tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại
và của cả vùng Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo, còn có nhiều vai trò quan trọng khác Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn, là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gien quý hiếm Ngoài ra, đất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc
Trang 15nước thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phát triển du
lịch,
Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn
và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần
sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên
vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia [1]
1.1.3 Cách thức, nguyên tắc và loại hình sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Cách thức sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất
nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian
sử dụng đất
Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình
thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô
Trang 16kinh tế sử dụng đất
Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một
cách kinh tế, tập trung, thâm canh [2]
1.1.3.2.Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý: Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế -
kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao: Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu
tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó
Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế
hệ
1.1.3.3.Loại hình sử dụng đất (Land Use type) trong nông nghiệp
Là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai Như vậy, loại hình
sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định Một số loại hình sử dụng đất khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay như đất chuyên trồng lúa, chuyên trồng màu, đất trồng cây lâu
Trang 17năm, đất đồng cỏ chăn nuôi, đất sản xuất nông nghiệp, đất và mặt nước nuôi trồng thủy sản.[14]
1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
1.1.4.1 Khái quát về hiệu quả
Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết
quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
1.1.4.2 Phân loại hiệu quả
Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo các tiêu thức sau đây:
Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh tế,
hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng
Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả
kinh tế- xã hội
Theo mức độ phát sinh, hiệu quả bao gồm: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả
gián tiếp
Theo cách tính toán, hiệu quả bao gồm: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả
tương đối Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí
Hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp đã được nhiều học giả nghiên cứu, nổi bật nhất là Theodore W Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Các học giả này đều cho rằng cần phân biệt 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả là: hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) và
hiệu quả kinh tế (economic efficiency)
Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một
đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả này thường được phản ánh trong hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật
Trang 18liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, hiệu quả này chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc vào kỹ năng của người sản xuất cũng như
môi trường kinh tế - xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng
Như vậy, có thể hiểu hiệu quả kỹ thuật trong sử dụng đất nông nghiệp là
số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp chỉ ra rằng một đơn vị diện tích đất nông
nghiệp được dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân bổ (AE): là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và đầu ra Vì thế mà hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả giá (price efficiency) Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về lý thuyết cận biên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là hiệu quả này đạt được khi giá trị biên của sản phẩm
phải bằng chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế (EE): là mục tiêu của người sản xuất, là thước đo phản
ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào
và đầu ra tối ưu EE được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bổ (EE = TE*AE)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai hiệu quả, hoặc là hiệu quả kỹ thuật, hoặc là hiệu quả
Trang 19phân bổ thì mới chỉ thỏa mãn điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu về hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp cũng cần phải đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận Muốn
sử dụng đất nông nghiệp bền vững cần quan tâm đến cả hiệu quả về mặt xã hội
và môi trường [6]
1.1.5 Nội dung hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
Gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.1.5.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế nghĩa là tăng cường độ lợi dụng các nguồn lực về kinh tế, tự nhiên sẵn có trong hoạt động kinh tế để phục
vụ cho lợi ích con người, đó là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Mục đích của sản xuất là thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất và tinh thần cho xã hội Mục đích đó được thực hiện khi nền sản xuất xã hội tạo ra những kết quả hữu ích ngày càng cao cho xã hội Sản xuất đạt mục tiêu về HQKT khi có một nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng cho sản phẩm hữu ích lớn nhất
Hiệu quả kinh tế phản ánh một cách khách quan, trung thực và toàn diện kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ một đơn vị sản xuất hay một chủ thể nhất định Tính khách quan, trung thực đòi hỏi phải có căn
cứ khoa học và thực tiễn, tính toàn diện yêu cầu phải nhìn nhận hiệu quả kinh tế dưới nhiều góc độ khác nhau
Nói cách khác, kết quả mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu
Trang 20Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương
án hành động Nó được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau vì vậy hình thành nhiều khái niệm khác nhau
Hiệu quả tổng hợp là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện nhiều mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có được những kết quả đó Hiệu quả tổng hợp bao gồm cả hiệu quả kinh
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ yếu sản xuất phải bỏ ra để mua và thuê các yếu
tố đầu vào và các khoản chi phí dịch vụ trong thời kỳ sản xuất ra tổng sản phẩm
GTGT được tính: GTGT = GTSX – CPTG
Trang 21Lợi nhuận là chỉ tiêu HQKT tổng hợp, nhưng thực tế sản xuất trong nông
hộ hiện nay việc xác định chi phí lao động gia đình thường gặp khó khăn Mặt khác lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của sản xuất nông hộ, do đó ở nghiên cứu này ít quan tâm đến lợi nhuận trong nghiên cứu HQKT sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao HQKT là làm tăng lượng giá trị của các chỉ tiêu nêu trên Tăng HQKT đến mức tối ưu là làm cho giá trị của các chỉ tiêu đó đạt cực đại Đánh giá HQKT của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường có những khó khăn khi xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra, vì việc sử dụng các tư liệu sản xuất vào nhiều quá trình sản xuất, trong nhiều năm nhưng không đồng đều, hơn nữa có loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn Vì thế việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối Vì thế việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối Mặt khác, chu kỳ sản xuất nông nghiệp thường dài và phản ứng trễ với thị trường nên chịu ảnh hưởng nhiều của sự biến động giá cả, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó
Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này đến nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn để xác định Bên cạnh đó, các kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hóa để tính và so sánh trong thời gian và không gian cụ thể nào
đó, nhưng để xác định đúng và đủ những kết quả về mặt xã hội, môi trường, độ phì của đất, khả năng cạnh tranh trên thị trường của cả một doanh nghiệp, một vùng nông nghiệp là rất khó khăn, bởi nó khó có thể lượng hóa được
Ở nước ta do những chính sách về sử dụng đất nông nghiệp, diện tích đất đai sử dụng cho sản xuất được giao cho các thành phần kinh tế khác nhau sử dụng lâu dài, nhà nước nắm quyền sở hữu và chỉ thực hiện thu thuế sử dụng đất nên việc đánh giá đất chưa được quy định cụ thể, do đó chỉ tiêu kết quả sản xuất
Trang 22đạt được trên một đơn vị diện tích trở thành chỉ tiêu chung và quan trọng nhất để đánh giá, so sánh giữa các loại cây trồng, giữa các mô hình sản xuất, giữa các thửa đất canh tác, giữa các địa phương hay giữa các chủ thể sử dụng đất
Nghiên cứu HQKT sử dụng đất nông nghiệp vừa mang tính lý luận sâu sắc và cũng là vấn đề cần đặt ra trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu HQKT không chỉ dừng lại ở việc đánh giá, mà thông qua đó tìm ra những phương hướng và giải pháp phù hợp có lợi nhất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển sản xuất, thỏa mãn tốt hơn những nhu cầu xã hội
1.1.5.2 Hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Điều đó khẳng định thêm rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu
sắc Thực chất vấn đề này là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp
1.1.5.3 Hiệu quả môi trường
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh
hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh Nông nghiệp là
ngành sản xuất chịu nhiều tác động và cũng có tác động nhiều đến môi trường cũng như hệ sinh thái.Chỉ có thể phát triển nông nghiệp bền vững được khi con
người biết cách bảo vệ và cải thiện môi trường cùng hệ sinh thái
Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [1]
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
Trang 231.1.6.1 Điều kiện tự nhiên
Sự phát triển của bất cứ hoạt động kinh tế nào cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Song, đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp thì tác động của nhân tố tự nhiên thể hiện rõ nét hơn cả, thậm chí còn
mang tính quyết định Điều kiện tự nhiên như: vị trí, địa hình, khí hậu, nhiệt độ,
độ ẩm, ánh sáng, nguồn nước có tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất
đai trong sản xuất nông nghiệp
1.1.6.2 Vị trí, địa hình, đất đai
Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu đối với người làm nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với đất đai, quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc lớn hay nhỏ, đều ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và tác động đến thu nhập của người nông dân Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây
trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Ở vùng đồng bằng, đất nông nghiệp được hình thành chủ yếu do sự bồi tụ phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu thổ hoặc đồng bằng ven biển Với các đặc điểm là địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước tưới thuận lợi, đất đai màu mỡ phì nhiêu, đồng bằng đã và đang là những cánh đồng lớn ngày càng phong phú về chủng loại cây trồng theo sự phát triển của giống và hệ thống canh tác mới Ở miền núi, đất đai rất phong phú, đa dạng, địa hình xen kẽ giữa các cánh đồng nhỏ hẹp hình thành do phù sa sông suối, các thung lũng do đất bồi tụ mà thành với những vùng đất cao, những triền đồi, núi dốc rất khác nhau về đặc điểm thổ nhưỡng, thảm thực vật, nguồn nước
và độ ẩm được khai thác, sử dụng bởi nhiều tộc người khác nhau Vì vậy, quá trình sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng ở miền núi cũng có sự
Trang 24khác biệt với miền xuôi, thể hiện qua chủng loại cây trồng, cơ cấu mùa vụ, năng
suất cây trồng rồi đến thu nhập của hộ nông dân [8]
1.1.6.3 Khí hậu, thời tiết
Yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi.[2]
1.1.6.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: các yếu tố về chế độ xã hội; dân số và lao động; thông tin và chính sách; trình độ dân trí; yêu cầu quốc phòng - an ninh; sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá; cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất; các điều kiện phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải; thủy lợi; sự phát triển của khoa học kỹ thuật; trình độ quản lý sử dụng lao động; điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, Trong đó, các nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo
về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục
tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
1.1.6.5 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
Đây cũng là nhân tố cơ bản quy định hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp Cơ sở hạ tầng bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất và khoa học - kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp [2]
1.1.6.6 Kỹ thuật, công nghệ
Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp có ảnh
Trang 25hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và hiệu quả kinh tế Như chúng ta đã biết,
đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn
lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ truyền của nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi
lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế
Biện pháp kỹ thuật canh tác cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu
tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích luỹ năng suất kinh tế Theo Đường Hồng Dật, biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện
sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường, thể hiện những dự báo thông minh và sắc xảo, sự lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại cũng như cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra [9]
1.1.6.7 Điều kiện sản xuất của nông hộ
Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Khả năng tiếp thu kỹ thuật và năng suất cây trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc lập quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông
nghiệp
Bên cạnh đó, diện tích đất, số lượng lao động, lượng vốn mà hộ nông dân
có để phục vụ sản xuất nông nghiệp…cũng là những biến số quan trọng trong
Trang 26nhân tố này
Tóm lại, các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, khuynh hướng quan tâm
quá mức đến lợi ích kinh tế luôn luôn chi phối quá trình sử dụng đất nông nghiệp
và hiệu quả của quá trình này Hiện nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan, đất đai nhìn chung đang bị khai thác một cách không hợp lý, cụ thể là khai thác quá mức - vượt quá khả năng mang tải (carrrying capacity) của đất, làm cho đất nông nghiệp bị giảm sút về số lượng và suy thoái về chất lượng
Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Cần căn cứ vào những yêu cầu của thị trường, của xã hội để xác định hướng sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai nhằm đạt tới cơ cấu hợp lý nhất với diện tích đất nông nghiệp có hạn, mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả về môi trường, đồng thời nên có chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng đất
nông nghiệp [2]
1.1.7 Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu sau đây:
Năng suất ruộng đất: Là chỉ tiêu biểu hiện tổng giá trị sản lượng nông
nghiệp hay giá trị sản lượng hàng hóa tính trên một đơn vị diện tích canh tác hay
đất nông nghiệp (tính trong một năm)
Năng suất cây trồng: Là lượng sản phẩm chính của loại cây trồng tính
trên một héc ta đất của loại cây trồng đó trong một vụ hay một năm Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sản xuất của hộ, của địa phương hay của toàn ngành Nó là
một trong những yếu tố quyết định đến cây trồng
Hệ số sử dụng đất: Là chỉ tiêu phản ánh cường độ sử dụng đất canh tác (lần) Hệ số sử dụng đất = Tổng diện tích gieo trồng/ tổng diện tích canh tác
Trang 27Năng suất lao động: Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, là số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động = Sản lượng sản xuất ra / Thời gian lao động
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Xoá đói giảm nghèo và an ninh lương thực
+ Tỷ lệ hộ đói (tăng giảm qua 3 năm)
+ Tỷ lệ hộ nghèo (tăng giảm qua 3 năm)
Tỷ lệ lao động nông nghiệp/lao động có việc làm
- Chuyển giao và áp dụng tiễn bộ kỹ thuật
+ Tỷ lệ hộ nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới
+ Tỷ lệ hộ nông dân áp dụng giống mới
Nhóm các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả môi trường:
Tình trạng sử dụng thuốc hoá học, phân hoá học: Tỷ lệ hộ sử dụng (mức
độ nhiều/trung bình/ít)
Tình trạng sử dụng phân hữu cơ và các biện pháp sinh học: Tỷ lệ hộ sử
dụng (mức độ nhiều/trung bình/ít)
1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
1.2.1 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân trên thế giới
Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới
là 3.256 triệu hecta, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền
Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới mới chỉ chiếm 10,8% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu hecta), trong đó chỉ có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Kết quả đánh giá đất nông nghiệp của thế giới cho thấy: chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung
bình, nhưng có tới 58% đất có năng suất thấp
Trang 28Hàng năm, trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Không chỉ đối mặt với sự sụt giảm về diện tích, cả thế giới cũng đang lo ngại trước sự suy giảm chất lượng đất trồng Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số Sự gia tăng sử dụng thuốc BVTV cũng tạo ra
nguy cơ ô nhiễm đất nông nghiệp Thuốc hóa học trừ sâu, phân bón hóa học trên
thế giới ngày càng được sử dụng nhiều Trong thập niên 80, thuốc BVTV được
sử dụng ở các nước như: Indonexia, Pakistan, Philipin, Srilanka đã tăng hơn 10%/năm Thuốc BVTV gây hại nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người Theo ước lượng của Tổ chức WHO, mỗi năm có 3% lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển (25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Thập niên 90, ở Châu Phi mỗi năm 11 triệu người bị nhiễm độc Tại Malayxia,
7% nông dân bị ngộ độc hàng năm và 15 % bị ngộ độc ít nhất 1 lần trong đời
Hiện tượng mất rừng cũng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng đất nông nghiệp Toàn thế giới có khoảng 3,8 tỷ hecta rừng Hàng năm mất đi khoảng trên
15 triệu hecta Tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2% /năm Diện tích rừng bị mất nhiều nhất ở vùng châu Mỹ - Latinh và châu Á Tại Braxin hàng năm mất 1,7 triệu hecta rừng, tại Ân Độ con số này là 1,5 triệu ha Tại các nước như: Campuchia và Lào, nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú
Hoang mạc hoá hiện đang đe dọa 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa Hàng năm có khoảng 6 triệu hecta đất bị
hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của con người
Xói mòn rửa trôi cũng là một nguyên nhân khác gây suy thoái đất Mỗi
Trang 29năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân thoái hoá đất Trung bình đất đai trên thế giới bị xói mòn 1,8 - 3,4 tấn/hecta/năm Tổng lượng dinh dưỡng bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh
30 - 50 triệu tấn lương thực Sự xói mòn đất dẫn tới hậu quả là làm giảm năng suất đất, tạo ra nguy cơ mất an ninh lương thực, phá hoại nguồn tài nguyên, làm
mất đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái và nhiều nguy cơ khác
Tỷ trọng các nguyên nhân gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm 1% Mức độ tác động của các nguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, châu Á và Nam Mỹ, mất rừng là nguyên nhân hàng đầu trong khi ở châu Đại Dương và châu Phi chăn thả gia súc quá mức có ảnh hưởng nhiều nhất; ở Bắc và Trung Mỹ thì nguyên nhân chủ yếu lại
do hoạt động sản xuất nông nghiệp Thoái hóa đất làm nghèo dinh dưỡng, phá
hủy cân bằng chu trình nước và tạo nguy cơ mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo
đói gia tăng
Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp
đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 hecta đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ
làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới
Tốc độ đô thị quá nhanh dẫn tới sự hình thành các siêu đô thị, hiện nay trên thế giới đã có khoảng 20 siêu đô thị với dân số trên 10 triệu người Sự hình thành siêu đô thị gây khó khăn cho giao thông vận tải, nhà ở, nguyên vật liệu, xử
lý chất thải và cũng làm giảm bớt diện tích đất nông nghiệp
Trang 30Bước vào thế kỷ 21, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái, nông nghiệp - một ngành sản xuất lương thực, thực phẩm
cơ bản nuôi sống con người phải đối mặt với nhiều khó khăn Nhu cầu của con người ngày càng tăng đó gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản và khả năng đảm bảo an ninh lương thực Thực tế cho thấy, khi đất nông nghiệp bị thoái hóa thì cuộc sống của con người bị đe dọa Theo FAO, tình trạng thoái hóa đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe dọa tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng V dân số trên thế giới Năng suất cây trồng giảm, giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai ngày càng nhiều đang là nguyên nhân gây
nên tình trạng thiếu đói của hàng triệu người ở các nước đang phát triển
Bên cạnh hiện tượng thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do sa mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, mất rừng, việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm tình trạng sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng trầm
trọng hơn trong vòng luẩn quẩn: suy thoái đất - mất đa dạng sinh học - biến đổi khí hậu - hiệu quả sử dụng đất thấp - tăng cường khai thác đất - suy thoái đất
Cùng với mức tăng dân số và sự gia tăng hàng loạt nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp thì cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững đã đem
lại nhiều thất bại
Tóm lại, đất nông nghiệp trên thế giới đã không nhiều so với tổng diện
tích tự nhiên, lại bị sử dụng kém hiệu quả và kém bền vững dẫn tới nhiều hệ luỵ xấu cho hiện tại và tương lai Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do con người Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng tăng cường quản lý và sử dụng đất
theo hướng nâng cao hiệu quả là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trang 311.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân ở Việt Nam
1.2.2.1 Diện tích đất nông nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam là 33.168.855 hecta, đứng thứ 59 trong hơn 200 nước trên thế giới Thế nhưng, diện tích đất canh tác của Việt Nam thấp vào bậc nhất trên thế giới Đó là dự báo của các chuyên gia trong hội
thảo “Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và nông thôn” do
Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện nghiên cứu định cư (SHI), Viện nghiên cứu đô thị và
phát triển hạ tầng tổ chức vào ngày 24-25/5/2007
Nước ta có các vùng đất nông nghiệp trù phú như: đồng bằng sông Hồng rộng gần 800 ngàn hecta, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2,5 triệu hecta Nhưng hiện những vùng đất này đều bị chia nhỏ, manh mún khiến một số công trình thủy nông không còn tác dụng Mặt khác, đất nông nghiệp đang bị chuyển
đổi tùy tiện Đến năm 2010, đất nông nghiệp giảm khoảng hơn 170 ngàn hecta
Đất bằng ở Việt Nam có khoảng trên 7 triệu hecta, đất dốc trên 25 triệu hecta Trên 50% diện tích đất đồng bằng, gần 70% diện tích đất đồi núi là đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu hecta, đất trơ sỏi
đá 5,76 triệu hecta, đất mặn 0,91 triệu hecta, đất dốc trên 250 gần 12,4 triệu
hecta
Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 hecta Theo mục đích sử dụng năm 2012, đất nông nghiệp 10,17 triệu hecta, đất lâm nghiệp 11,58 triệu hecta, đất chưa sử dụng 10 triệu hecta (30,45%), đất chuyên dùng 1,5 triệu hecta Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu hecta Đến 2012 tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước là 10,17 triệu hecta và đến, nhưng với số dân
cả nước lên tới 88.775.500 người (tính đến hết 2012), trong đó dân số thành thị
là 24.233.300 người, chiếm 28,11%; nông thôn là 61.977.500 người, (71,89%)
Do nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, trong những
Trang 32năm gần đây, diện tích đất này ngày càng giảm mạnh
Xét xu hướng biến động của đất nông nghiệp cùng với sự biến động của dân số trong giai đoạn này có thể thấy, dân số không ngừng tăng lên theo thời gian, trong khi đó đất SXNN, bao gồm cả đất trồng cây hàng năm liên tục giảm, khiến cho diện tích đất SXNN bình quân đầu người cũng giảm So sánh với một
số nước trong khu vực và trên thế giới, trong giai đoạn 2005- 2008, diện tích đất canh tác bình quân của nước ta hiện vào bậc thấp nhất thế giới, chỉ khoảng 0,12 hecta/người Xét bình quân, diện tích đất canh tác của Việt Nam chỉ hơn được một số nước như: Hàn Quốc, Băng-la-đét, Ai Cập, Tại Thái Lan, diện tích đất
canh tác bình quân là 0,3 hecta/người, cao hơn 2,5 lần so với Việt Nam
Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) do Chính phủ trình Quốc hội ngày 20/10/2011, được Ủy ban Kinh tế Quốc hội thông qua, đất nông nghiệp của cả nước đến năm
2020 là 26.732 nghìn hecta, tăng 506 nghìn hecta so với năm 2010 Đến thời điểm hiện nay, cả nước còn trên 4 triệu hecta đất trồng lúa, diện tích này vẫn đang giảm một cách nhanh chóng Quốc hội đã nhất trí phương án giữ diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 là 3,81 triệu hecta Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), Chính phủ đề ra 3 mục tiêu cơ bản đó là: đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thuỷ lợi, văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao ), công nghiệp và đô thị
để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bảo đảm anh ninh, quốc phòng và an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ môi
trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu
1.2.2.2 Tình trạng mất đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp bị giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau Có
thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản sau:
Đô thị hoá và công nghiệp hoá: Quỹ đất trồng trọt tăng không đáng kể
Trang 33trong khi dân số tăng nhanh nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ngày càng giảm Trung bình mỗi năm, người nông dân phải nhường khoảng
74.000 hecta đất nông nghiệp để xây dựng các công trình nhà ở, đô thị và khu công nghiệp, 63.000 hecta cho phát triển giao thông
Việt Nam trong thời gian qua mất khoảng 0,4% diện tích đất canh tác, riêng đất trồng lúa có tỷ lệ mất cao hơn khoảng 1% Tuy nhiên, với tốc độ công nghiệp hóa ngày càng tăng thì tỷ lệ mất đất sẽ không dừng ở mức độ trên Một điều đáng lo ngại là “phần đất canh tác bị chuyển đổi lại là những vùng đất tốt Những diện tích đất trồng trọt màu mỡ ven quốc lộ 5 cũng bị đổ cát xây dựng
các khu công nghiệp”
Theo tác giả Nguyễn Văn Ngãi (2009), tốc độ mất đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu hiện nay là 1% Với đà này, đến năm 2020 sản lượng lúa của Việt Nam chỉ còn đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, chứ không có khả năng xuất khẩu Hiện tượng mất đất nông nghiệp đe dọa mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực Nghiên cứu của tác giả Đỗ Kim Chung (2009) đã chỉ rõ, an ninh lương thực không chỉ bó hẹp ở những nông sản có chứa tinh bột (chủ yếu là lúa gạo) mà còn gồm cả lương thực và thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người “Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít người nghĩ rằng càng làm lúa càng nghèo Điều này xuất phát từ thực tế là: hiện cả nước có 71% dân số làm nông nghiệp nhưng số hộ nghèo chiếm tới 23,4%, trong khi bộ phận
người phi nông nghiệp chỉ có 5% hộ nghèo
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản cho rằng, thực chất hàng trăm ngôi biệt thự cao cấp “đính kèm” bên cạnh sân golf trong mỗi dự án mới là mục tiêu chính mà các chủ đầu tư nhắm đến Bên cạnh đó, hàng loạt sân golf xây dựng làm cho đất đai bị hủy diệt Những năm gần đây, các sân golf rộng lớn có diện tích rộng trên vài chục hecta xuất hiện một cách ồ ạt Người ta chặt cây rừng, san ủi hàng triệu khối đất đá, thay đổi địa hình, phá vỡ cảnh quan tự nhiên
Trang 34để cho ra đời nhiều “điểm đến xanh”, “thiên đường xanh” mà ẩn dấu phía sau là
những mảng xám, màu đen gây hại cho môi sinh, xã hội Để có thảm cỏ trải dài, phẳng mịn, xanh thì đều đặn theo định kỳ, một lượng lớn hóa chất được đổ xuống để diệt nấm và sâu bệnh Số liệu của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) tính rằng lượng hóa chất trung bình sử dụng cho sân golf là 1,5 tấn/hecta, lớn gấp ba lần số hóa chất cho một khu canh tác nông nghiệp bình thường Điều
đó gây hậu quả khôn lường đến đời sống lâu dài của con người Và không ai khác, chính thế hệ con cháu chúng ta phải lãnh chịu hậu quả đó Dù tình trạng lấy đất nông nghiệp phục vụ sân golf, khu công nghiệp khiến hàng triệu nông dân rơi vào cảnh thất nghiệp vẫn chưa tìm ra lời giải thích chính đáng, song, việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho mục đích trên vẫn cứ tiếp diễn tại hầu
hết các địa phương
Theo tính toán của các nhà nghiên cứu tài nguyên môi trường, mỗi hecta dành cho xây dựng KCN hoặc sân golf thường kéo theo khoảng 1 - 2 hecta đất liền kề không sử dụng được do ô nhiễm Theo Bộ NN&PTNT, giai đoạn 2009 -
2030, do 500 ngàn hecta đất lúa có khả năng bị chuyển đổi sang mục đích khác
sẽ gây áp lực đối với an ninh lương thực quốc gia và nhu cầu xuất khẩu trong tương lai
Đất canh tác bị mất do xây dựng các công trình thủy điện Theo kết quả
nghiên cứu của tác giả Lê Văn Tiềm (2010), từ năm 1978 đến nay cả nước đã có
khoảng 133.913 hecta đất nông nghiệp bị lấy để xây dựng các công trình thủy
điện Mặc dù các công trình thủy điện được xây dựng chủ yếu ở miền núi, nơi đất canh tác có năng suất thấp, mật độ dân cư thưa thớt, nhưng hồ tích nước của các công trình này làm ngập các thung lũng, là nơi tập trung chủ yếu ruộng lúa nước vốn rất quý hiếm ở miền núi Ruộng ở đó không bị xói mòn, có thể cấy 2
vụ, bình quân cả năm thu được 8 tấn thóc/hecta, gấp nhiều lần so với ruộng nương sườn đồi núi Nương trên các sườn đồi, sườn núi chỉ làm được một vụ và
Trang 35cả năm chỉ thu được khoảng 1,2 tấn thóc/hecta; hơn nữa, do xói mòn thoái hóa đất nên chỉ trồng được 2 năm và phải bỏ hóa ít nhất 3 năm để đất hồi phục độ phì
mới trồng lại được Tuy nhiên, thông tin về các công trình thủy điện làm ngập
hết bao nhiêu hecta ruộng lúa còn rất ít Chúng ta thường có các thông tin về các công trình thủy diện như: công suất mấy MW, số tổ máy, đầu tư hết bao nhiêu tỉ đồng, nhưng rất ít thông tin về công trình đó đã làm ngập hết bao nhiêu hecta ruộng lúa? Tỷ lệ mất đất canh tác cho mỗi MW bao nhiêu? Có phải là ngưỡng có thể được chấp nhận về mặt pháp lý không? So sánh hai công trình thủy điện Thác Bà (Yên Bái) và Đa Nhim (Lâm Đồng): Thác Bà công suất 108 MW nhỏ hơn công suất của Đa Nhim (160 MW), nhưng Thác Bà làm ngập một diện tích
đất canh tác lớn hơn Đa Nhim nhiều lần.”
Thoái hoá đất: Suy thoái tài nguyên đất Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề
và do nhiều quá trình tự nhiên xã hội khác nhau đồng thời tác động Những
nguyên nhân cơ bản dẫn tới thoái hoá đất nghiêm trọng ở Việt Nam là: Xói mòn
rửa trôi bạc màu do mất rừng, do mưa lớn, do canh tác không hợp lý và do chăn thả quá mức Chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, hoang mạc hoá, cát bay, đá lộ đầu,
mất cân bằng dinh dưỡng,
Diện tích giảm, thêm vào đó là nguy cơ suy giảm chất lượng đất do sự tác động của tự nhiên và con người Đất đang bị sa mạc hóa, thoái hóa do sự khai thác của con người Hiện tượng sa mạc hóa làm mất đất nông nghiệp đang là mối đe dọa đất nông nghiệp toàn thế giới, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ
Thoái hoá do mất rừng: Chất lượng đất đai không thể duy trì nếu không
có rừng Hiện tượng mất rừng đang ở mức báo động ở châu Á và Việt Nam Mỗi năm, châu Á mất khoảng 5 triệu hecta rừng Việt Nam trước 1945, rừng chiếm 43% diện tích, hiện nay chỉ còn khoảng 33%, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trồng
và bảo vệ rừng
Trang 36Thoái hoá đất do sử dụng thuốc BVTV: Đất trồng cũng đang chịu sự ô
nhiễm do sử dụng thuốc BVTV Ở Việt Nam, trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng (có cả các loại thuốc bị cấm như Wolfatox, Monitor, DDT) Liều lượng thuốc phun vào khoảng 2-3lit/hecta Số lần phun ở những vùng trồng chè là khoảng 30 lần/năm, ở những vùng trồng rau khoảng 20-60lần/vụ Dư lượng thuốc BVTV trên đất trồng và không khí vượt mức cho phép, cụ thể là: 30% số mẫu đất có dư lượng thuốc BVTV vuợt quá tiêu chuẩn 2 -40 lần; 55% mẫu không khí có nồng độ thuốc bảo vệ thực vật vượt quá tiêu chuẩn 2 -10 lần Diện tích dần bị thu hẹp, để tăng sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu về lúa gạo,
lượng phân bón hoá học sử dụng hàng năm ở nước ta cao gấp 2 lần Thái Lan
Giá trị sản xuất lúa nước và vấn đề định cư có mối liên hệ rất chặt với nhau Lý do giải thích cho tình trạng di cư của nông dân ở Bắc Hà, Cao Bằng, Lào Cai vào Tây Nguyên là do mức đầu tư phân bón và thuốc BVTV ở những vùng đất này khá cao, giá bán sản phẩm lại không cao, hạch toán ra là hòa vốn,
không có lãi [5]
Trước tình trạng mất đất nông nghiệp vẫn tiếp tục tái diễn, các chuyên gia cho rằng, một trong những vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trong nước là chúng ta phải nghĩ đến quy hoạch đất cho sản xuất nông nghiệp trước khi nghĩ đến đất cho khu công nghiệp và đô thị Dù nông nghiệp đóng góp vào GDP hàng năm không thể so sánh với công nghiệp, song, 70% dân số nước ta vẫn đang phải sống nhờ vào nông nghiệp và đặc biệt, trong các cuộc suy thoái kinh tế,
nông nghiệp luôn tỏ ra là trụ đứng vững chắc vực nền kinh tế đi lên
1.2.2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Đất nông nghiệp ở Việt Nam chưa được sử dụng một cách có hiệu quả,
thực tế đó được thể hiện qua những khía cạnh sau:
Đầu tư và hiệu quả khai thác tài nguyên đất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thuỷ lợi hoá, hệ số sử dụng đất thấp, chỉ đạt
Trang 371,6 vụ/năm; năng suất cây trồng thấp, chỉ có năng suất lúa, cà phê, ngô đã đạt và vượt mức trung bình thế giới Năng suất trung bình của thế giới đối với từng loại cây trồng này là: lúa: 4 tấn/hecta, ngô: 5,5 tấn/hecta và cà phê đạt 7 tạ nhân/hecta còn ở Việt Nam là 2,1 tấn nhân/hecta Đất SXNN của Việt Nam chỉ chiếm 28,38% tổng diện tích đất nông nghiệp và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng Tỷ lệ này cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau Bên cạnh đó, thu nhập từ SXNN còn ở mức thấp, năm 2010 thu nhập bình quân của nông dân cả nước chỉ đạt khoảng 3,5 triệu/hộ/năm tức là khoảng
gần 300 ngàn đồng/hộ/tháng [2]
Chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho phát triển để đưa vào quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa cao Những con số dự báo chưa
được tính toán khoa học, chưa sát với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường bất động sản Thực tế này đã dẫn đến hậu quả là vừa thiếu, vừa thừa quỹ đất và thường phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Hơn nữa, trách nhiệm của từng cấp trong việc quản lý, tổ chức thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được xác định rõ
Lãng phí đất nông nghiệp: Việc phát triển các khu đô thị mới ở một số
thành phố lớn còn phân tán, tạo nên nhiều khu đất nông nghiệp xen kẹt giữa các khu đô thị bị bỏ hoang nhiều năm, gây lãng phí rất lớn như ở Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và Hải Phòng Luật Đất đai quy định mỗi xã chỉ để lại không quá 5% đất nông nghiệp dành cho công ích, song kết quả kiểm kê cho thấy hiện còn
21 tỉnh, thành phố để lại quỹ đất này quá tỷ lệ cho phép [4]
Ngoài ra, việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị nhiều nơi còn dàn trải, có không ít địa phương tỷ lệ lấp đầy còn dưới 60% song vẫn đề nghị mở thêm nhiều khu, cụm công nghiệp khác mà quỹ đất phần lớn lại
là lấy từ đất nông nghiệp Bên cạnh đó, cơ cấu sử dụng đất ở nhiều lĩnh vực hiện
Trang 38nay chưa hợp lý Bằng chứng về cơ cấu đất ở nông thôn: đất dành cho giao thông nông thôn và đất dành cho các công trình công cộng còn thiếu, nhất là tại các
tỉnh trung du, miền núi phía bắc Quỹ đất dành cho các nhu cầu y tế, văn hóa,
giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu, vị trí quy hoạch chưa hợp lý
trong khi vẫn còn nhiều diện tích đất và đất nông nghiệp bỏ hoang [4]
Thách thức về an ninh lương thực: Diện tích đất canh tác Việt Nam vào
loại thấp nhất thế giới, đất canh tác chỉ khoảng 0,12% Trong khi những mảnh đất màu mỡ cứ ít đi, nhường chỗ dần cho những khu công nghiệp, sân golf thì mỗi năm dân số tăng khoảng 1 triệu người Đất nông nghiệp không thể phục hồi hoặc có thể thì rất ít Tuy trước mắt Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu lương thực khá ổn định, an ninh lương thực cấp quốc gia chưa phải là điều đáng quan ngại Nhưng cứ với tốc độ chuyển đổi đất như hiện nay sẽ đặt cho tương lai nhiều thách thức
Nhu cầu lương thực của cả nước năm 2010 là 42 triệu tấn (tăng 5 triệu tấn
so với năm 2005) và xuất khẩu 6 triệu tấn Với diện tích gieo trồng lúa hiện nay
là 7,15 triệu hecta thì có thể đạt sản lượng 39 triệu tấn thóc (hệ số sử dụng đất trồng lúa là 1,8) Như vậy vấn đề an ninh lương thực đang có nguy cơ trở thành thách thức Trong khi đó, việc giữ được diện tích đất lúa là 3,81 triệu hecta đến năm 2020 lại là một khó khăn không nhỏ trước sức ép tăng dân số và sức ép của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở Việt Nam, đối mặt với thách thức về an ninh lương thực, để tăng sản lượng đảm bảo nuôi sống một lượng dân cư ngày càng đông và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, chúng ta đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón hóa học Việt Nam là nước sử dụng phân bón hóa học vào hạng cao nhất thế giới dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm
trọng
Vậy nếu không theo cách đó thì cần làm thế nào? Câu trả lời là, quan
Trang 39trọng nhất vẫn là hạn chế và tiến tới cấm sử dụng đất trồng lúa cho mục đích đô thị hóa và xây dựng các khu công nghiệp Một số giải pháp khác là đầu tư vào thủy lợi để tăng vụ và thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng hệ số sử dụng đất lên 2 lần, hỗ trợ dân mở rộng diện tích ruộng bậc thang, Tạo sự hài hòa giữa công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững đảm bảo an ninh lương thực là một thách thức đối với Việt Nam trong quá trình phát triển Các
giải pháp cần đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường
So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân
diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún đang là một
trở ngại lớn Bên cạnh đó, do tốc độ đô thị hóa trong quá trình phát triển cùng với phương thức quản lý, sử dụng đất đai, nhất là đất nông nghiệp cũng chưa phù hợp, chưa có hiệu quả đó làm cho tình trạng hạn mức sử dụng đất ngày càng giảm mạnh Để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu, cần biết cách khai thác, sử dụng hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất nông nghiệp có hiệu
quả cao, trên cơ sở hướng tới phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Tóm lại, đất nông nghiệp của Việt Nam đến nay vẫn chưa được sử dụng
một cách thực sự có hiệu quả Nguyên nhân của thực trạng này không ít, bên cạnh nguyên nhân trình độ nhận thức của người nông dân còn nhiều hạn chế thì chính sách đất đai nói chung và chính sách đất nông nghiệp nói riêng cũng được
xem là một nguyên nhân cơ bản
1.2.2.4 Chính sách đất nông nghiệp đối với hộ nông dân của Việt Nam
Khái quát các chính sách liên quan
Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền tự
Trang 40chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung
ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân
Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong
đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 (được liên tục sửa đổi vào các năm sau này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003, 2013), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1999), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông nghiệp) Nội dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông
nghiệp
* Chế độ sở sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân
Thứ nhất, người nông dân chỉ được sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp Do mức sinh lợi của ngành nông nghiệp thấp nên giá trị chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thành tiền không lớn, không khuyến
khích người nông dân chuyển quyền sử dụng này cho người khác
Thứ hai, Nhà nước toàn quyền quy hoạch và thu hồi đất nông nghiệp để chuyển thành đất đô thị hoặc đất kinh doanh mà nông dân không có quyền thỏa thuận giá đất bị thu hồi, cũng như không có quyền phản đối hoặc đòi hỏi đền bù thỏa đáng quyền lợi của mình Trường hợp đất thu hồi để làm các công trình công cộng như đường sá, công trình thủy lợi thì không có mặt bằng giá mới nên người nông dân không cảm nhận được thiệt thòi của họ Trường hợp Nhà nước thu hồi đất để chuyển thành khu đô thị theo cách giao cho các doanh nghiệp đầu tư kết cấu hạ tầng rồi bán nền, bán nhà sẽ làm xuất hiện mặt bằng giá quyền sử dụng đất phi nông nghiệp, thường cao hơn giá đất nông nghiệp
nhiều lần