MỤC LỤC NGUYỄN QUANG VĨNH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI THỰC VẬT THUỘC NGÀNH HẠT TRẦN GYMNOSPERMAE TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH Chuyên ngành: Quản lý bảo
Trang 1NGUYỄN QUANG VĨNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC NGÀNH HẠT TRẦN (GYMNOSPERMAE)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
Trang 2MỤC LỤC
NGUYỄN QUANG VĨNH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG BẢO TỒN CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC NGÀNH HẠT TRẦN (GYMNOSPERMAE)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG, QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN TIẾN HIỆP
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài luận văn cao học "Đánh giá hiện trạng bảo tồn các loài thực vật
thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình" đến nay đã hoàn thành
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tiến Hiệp – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn thực vât, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã định hướng và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng, Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Cứu hộ, Trung tâm bảo tồn thực vật (CPC), Trường đại học lâm nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài này
Nhân nhịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ nhiệt tình và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn TS Nguyễn Tập, GS.TSKH Averyanov Leonid đã đóng góp các
ý kiến qúy báu cho đề tài và cung cấp một số ảnh minh họa đối với các loài nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, địa hình khó khăn, kinh nghiệm còn thiếu nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
để đề tài hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan đề tài này là của tôi, các kết quả phân tích nêu trong đề tài là khách quan, trung thực và chưa được công bố Nếu có thừa kế kết quả nghiên cứu của người khác thì đều được trích dẫn rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Quang Vĩnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ……… i
Mục lục ……… ii
Danh mục các từ viết tắt ……….… iv
Danh mục các bảng ……… v
Danh mục các hình ……….…… vii
ĐẶT VẤN ĐỀ i
Chương 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan nghiên cứu 3
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 4
1.3 Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 7
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 9
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.2.2 Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội 17
1.2.3 Đặc điểm đa dạng thực vật 22
1.2.4 Lịch sử phát triển VQG PN-KB 26
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 28
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 28
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 28
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.3.3 Xác định diện tích cư trú (Area of Occurence - AOO), diện tích khu phân bố (Extent of Occurrence – EOO) của các loài thực vật thuộc lớp Tuế (Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 28
Trang 52.3.4 Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài thực vật thuộc lớp Tuế
(Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida) 28
2.3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật thuộc lớp Tuế (Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.4.2 Phương pháp xữ lý số liệu 32
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thành phần các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN -KB 35
3.2 Diện tích phân bố các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB 36
3.3 Hiện trạng bảo tồn của các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB 37
3.4 Đặc điểm về hình thái, phân bố, khẳ năng tái sinh và hiện trạng của các loài thuộc lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB 38
3.4.1 Lớp Tuế (Cycadopsida) 38
3.4.2 Lớp Thông (Pinopsida) 45
3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật thuộc lớp Tuế (Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng VQG PN-KB81 3.5.1 Giải pháp về kỹ thuật
3.5.2 Giải pháp về tuần tra, bảo vệ
3.5.3 Giải pháp về chính sách và kinh phí
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT
1 AOO Diện tích vùng phân bố (Area of Occurence)
27 VQG PN-KB Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Diện tích các phân khu chức năng VQG PN-KB 10 1.2 Diện tích VQG PN-KB phân theo địa bàn các xã/huyện 10 1.3 Thống kê các loại đất chính trong khu vực VQG PN-KB 13 1.4 Dân số của các xã vùng đệm của VQG PN-KB 18 1.5 Thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm VQG PN-KB 19 1.6 Tỷ lệ dân số của các dân tộc trong khu vực VQG PN-KB 20 1.7 Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh 23 3.1 Thành phần các loài Hạt trần tại VQG PN-KB 35 3.2 Diện tích phân bố các loài Hạt trần tại VQG PN-KB 36 3.3 Hiện trạng bảo tồn các loài Hạt trần tại VQG PN-KB 37 3.4 Các điểm phân bố của Đỉnh tùng tại VQG PN-KB 47 3.5 Tổ thành loài cây mọc cùng với Đỉnh tùng 48 3.6 Mật độ và khả năng tái sinh của Đỉnh tùng 49 3.7 Cấp chiều cao cây tái sinh của Đỉnh tùng 49 3.8 Các điểm phân bố chính của loài Bách xanh đá 52 3.9 Tổ thành các loài cây mọc cùng Bách xanh đá 53 3.10 Mật độ và tổ thành cây tái sinh của Bách xanh đá 54 3.11 Phân cấp chiều cao cây tái sinh của Bách xanh đá 54
3.13 Mật độ và khả năng tái sinh của Thông nàng 60 3.14 Cấp chiều cao cây tái sinh của Thông nàng 60 3.15 Tổ thành các loài cây mọc cùng Hoàng đàn giả 64 3.16 Mật độ và tổ thành cây tái sinh của Hoàng đản giả 65 3.17 Phân cấp chiều cao cây tái sinh của Hoàng đàn giả 65 3.18 Các điểm phân bố của Kim giao núi đá tại VQG PN-KB 68
Trang 83.19 Loài cây ưu thế mọc cùng Kim giao núi đá 69 3.20 Mật độ và khả năng tái sinh của Kim giao núi đá 70 3.21 Cấp chiều cao cây tái sinh Kim giao núi đá 70 3.22 Tổ thành loài cây mọc cùng Thông tre lá dài 74 3.23 Mật độ và khả năng tái sinh của Thông tre lá dài 75 3.24 Cấp chiều cao cây tái sinh của Thông tre lá dài 75 3.25 Loài cây ưu thế mọc cùng Dẻ tùng vân nam 79 3.26 Mật độ và khả năng tái sinh của Dẻ tùng vân nam 79 3.27 Cấp chiều cao cây tái sinh Dẻ tùng vân nam 80
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - Di thiên nhiên thế giới là khu vực
có tính đa dạng sinh học cao, là nơi phân bố của nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm được WWF đánh giá là một trong 200 trung tâm đa dạng sinh học của thế giới (WWF, 2000) [27] Nằm ở vùng sinh thái Bắc Trung Bộ, về mặt địa lý thực vật thì hệ thực vật của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PN-KB) thuộc tiểu vùng địa lý thực vật Bắc Đông Dương của vùng hệ thực vật Đông Dương, dưới xứ
Ấn Độ - Mã Lai của xứ cổ nhiệt đới [13], là nơi giao thoa của thực vật phía Bắc xuống và phía Nam lên Chính vì vậy khu hệ thực vật của VQG PN-KB có tính đa dạng sinh học cao với 193 họ, 907 chi, 2.694 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 6 ngành thực vật khác nhau là Quyết lá thông (Psilotophyta), Thông đất (Lycopodiophyta), Mộc tặc (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Magnoliophyta) Trong số đó có 79 loài được thống
kê trong Sách Đỏ Việt Nam, 35 loài được pháp luật bảo vệ tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [27], [28] Một trong các nhóm thực vật có giá trị kinh tế, khoa học và ý nghĩa bảo tồn
đối với hệ thực vật của VQG PN-KB là ngành Hạt trần (Gymnospermae) trong đó
quan trọng hơn cả là lớp Thông (Pinopsida) và lớp Tuế (Cycadopsida) Theo kết quả cập nhật và bổ sung đến tháng 12 năm 2011, trong danh lục thực vật của VQG PN-KB, lớp Thông (Pinopsida) đã thống kê được 9 loài gồm Đỉnh tùng
(Cephalotaxus mannii), Bách xanh đá (Calocedrus rupestris), Pơ mu (Fokienia
hodginsii), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Kim giao (Nageia wallichiana), Thông
tre lá ngắn (Podocarpus annamensis), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), và lớp Tuế (Cycadopsida) có 3 loài gồm Thiên tuế lược (Cycas pectinata), Thiên tuế xiêm (Cycas siamensis), Thiên tuế (Cycas taiwaniana) [28] Tuy vậy, cho đến nay
cơ sở dữ liệu khoa học của hai lớp thực vật này còn thiếu, sự hiểu biết về chúng còn rất ít và tản mạn, một số loài được ghi nhận qua phỏng đoán nên có thể không có
Trang 11phân bố trong phạm vi VQG PN-KB, một số loài xác định tên khoa học còn đang nghi ngờ Để xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học chính xác phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững thì việc nghiên cứu toàn diện, chính xác về thành phần loài, đánh giá tình trạng bảo tồn đầy đủ các loài thuộc của ngành Hạt trần
(Gymnospermae) là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong việc hoạch
định chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng -
Di sản thiên nhiên thế giới
Xuất phát từ những vấn đề cả về lý luận và yêu cầu thực tiễn trên, được sự
hướng dẫn của TS Nguyễn Tiến Hiệp chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh
giá hiện trạng bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình" làm đề tài nghiên cứu cho
Luận văn Cao học của mình
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1.Lớp Tuế (Cycadopsida)
Trên thế giới, có 1 bộ Tuế (Cycadales) với 3 họ: Họ Tuế Cycadaceae Pers
Stangeriaceae L Johnson và Zamiaceae Horan gồm 11 chi, 293 loài phân bố chủ
yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới của hai bán cầu Đây là lớp lớn thứ hai sau lớp Thông trong ngành Hạt trần và là lớp thực vật cổ được xem là “hóa thạch sống” xuất hiện trên trái đất trước lớp Thông từ kỷ Carbon cách đây 300 triệu năm Các loài của lớp này đã gắn với hoạt động của con người từ 7.000 năm trước đây với tác dụng làm thức ăn, nước uống, làm thuốc và làm cảnh, nhiều loài gây độc cho người
và gia súc vì có hoạt chất Cycanine Hiện tại các loài của lớp Tuế đều được buôn bán phổ biến trên thị trường trong nước và quốc tế, chính vì vậy nó được quan tâm bảo vệ và được đưa vào phụ lục I hoặc II trong công ước Quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITES) Giống như lớp Thông, các họ trong lớp Tuế cũng được các chuyên gia của tổ chức IUCN (IUCN- SSC) đặc biệt quan tâm chú ý nghiên cứu về thành phần loài, sinh học và tình trạng bảo tồn Trên thế giới, chi Tuế được biết tới khoảng 100 loài, phân bố rất rộng tại nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Úc trải dài 13.000 km từ Đông sang Tây
và 6.000 km từ Bắc xuống Nam của trái đất [38] Nhiều chuyên khảo về Tuế trên thế giới và khu vực đã được công bố như Tuế Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Australia, trong đó Việt Nam là quốc gia có mức đa dạng về Tuế cao thứ hai trên thế giới chỉ xếp sau Australia [38]
1.1.1.2 Lớp Thông (Pinopsida)
Hiện tại trên thế giới còn tồn tại khoảng 615 loài, thuộc 70 chi đã được chấp nhận, nằm trong 6 họ (Pinaceae, Araucariaceae, Podocarpaceae, Sciadopityaceae, Cupressaceae, và Taxaceae) [37] Chúng phân bố hầu khắp thế giới, ngoại trừ các vùng cực, vùng núi cao nhất, những sa mạc khô hạn nhất, và một vài đảo ngoài đại
Trang 13dương [38] Chúng thuộc nhóm thực vật cổ nhất trong hai ngành thực vật có hạt hiện đại có lịch sử tiến hóa lâu đời từ hơn 250 triệu năm trước, chúng được coi là
“hóa thạch sống” còn lại, nhiều loài trong chúng đang tiến gần tới tuyệt chủng vì có những giá trị đặc biệt cho gỗ, nhựa, hương liệu và y học
Trên thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Lào đều đã có các nghiên cứu sâu về thành phần loài các loài Thông về phân loại học Dựa trên các thành tựu mới nhất về phân loại học, nhóm chuyên gia Thông trên thế giới thuộc tổ chức IUCN (IUCN- SSC) thường xuyên hợp tác rất chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về thành phần loài, đặc biệt trong lĩnh vực đánh giá tình trạng bảo tồn của chúng ở cấp các quốc gia và cấp toàn cầu Trong Danh lục đỏ của IUCN, các loài Thông trên thế giới đã thống kê được 200 taxa bị đe dọa tuyệt chủng [31] Số loài
bị đe dọa tuyệt chủng đã không ngừng tăng lên theo các năm: Năm 2004 có 153 loài (17-CR, 43-EN, 93-VU) [30], 2008 là 172 loài (21-CR, 54-EN, 97-VU) [17], [31] và năm 2011 con số này đã lên tới 177 loài (22-CR, 58-EN, 97-VU) [40]
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
1.1.2.1.Lớp Tuế (Cycadopsida)
Ở Việt Nam lớp Tuế (Cycadopsida) chỉ một họ đại diện là họ Tuế (Cycadacae), với 1 chi Tuế (Cycas) khoảng 25- 27 loài [38] Lịch sử nghiên cứu phân loại các loài thuộc họ Tuế có từ nửa sau của thế kỷ 18 Hai loài Tuế đầu tiên
trên thế giới được mô tả là Cycas circinalis L được biết tới từ Ấn Độ (1753) và
Cycas revoluta Thunb từ Nhật Bản (1782) Năm 1793, nhà tự nhiên học người Bồ
Đào Nha J de Loureiro công bố loài Cycas inermis dựa trên các mẫu vật thu được ở Nam Việt Nam Hai loài mới là Cycas tonkinensis và C bellefontii được hai nhà
thực vật là Linden và Rodigas mô tả năm 1885 và 1886 dựa trên các cây thu được ở Bắc Việt Nam nhưng được trồng tại các vườn ở Châu Âu, song không có tiêu bản nên các tên loài này được đánh giá là không có giá trị Tới năm 1900, Otto Warburg
mô tả loài Cycas balansae có mẫu thu được trong một ngôi chùa của vùng làng Bưởi, 5 năm muộn hơn, William Thiselton- Dyer công bố loài Cycas micholitzii
(1905) có nguồn gốc từ miền Trung Việt Nam- Lào Tới năm 1931 Jacques Leandri, trong cuốn Thực vật chí Đại cương Đông Dương (Flore Generale de L’Indochine)
Trang 14đã mô tả Cycas chevalieri và Cycas pectinata var elongata (hiện tại là C elongata)
từ Trung và Nam Việt Nam [36] Trong thời gian này các loài phân bố rất rộng tại
Đông Nam Á là Cycas pectinata và Cycas siamensis cũng đã được ghi nhận tại Việt Nam Những tên gọi Cycas circinalis L., Cycas rumphii Miq., Cycas undulata Desf
Ex Gaudich., Cycas miquelii Warb và Cycas imersa Craib cũng được trích dẫn
không chính xác đối với nghiên cứu Tuế tại Việt Nam Như vậy trong suốt thế kỷ
20 từ đầu năm 1900, các loài Tuế tại Việt Nam biến động từ 8 tới 10 loài Mãi tới năm 1996, Nguyễn Tiến Hiệp và J.Vidal đã chính thức công nhận 8 loài Tuế Việt
Nam, trong đó có một loài nhập nội là Cycas revoluta trong tác phẩm “Flore du
Cambodge du Laos et du Vietnam” [33] Tuy nhiên, trong vòng 12 năm từ 1992 tới
2004 nhiều đợt nghiên cứu thực địa tại 39 trên tổng số 58 tỉnh của Việt Nam, các nhà thực vật Việt Nam là Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc đã hợp tác rất chặt chẽ
và có hiệu quả với các nhà thực vật quốc tế như: Si Ling Yang, Ding Yue Wang, Fan Nan Wei và Chia Jui Chen (Trung Quốc), Anders Lindsstom (Thái Lan) và đặc biệt là Ken D Hill (Australia) đã mô tả mới và bổ sung thêm 22 loài, nâng số loài Tuế tự nhiên của Việt Nam lên tới 27 loài (trong đó có 9 loài mới đối với khoa học,
8 loài bổ sung cho Việt Nam, 8 loài xác định chính xác về danh pháp và 2 loài
Cycas segmentifida và Cycas diannensis hy vọng sẽ tìm thấy ở Việt Nam) [34],
[35], [38] Chính nhờ các nghiên cứu khoa học này, dựa trên công ước CITES và tình hình thực tế về bảo tồn các loài Tuế tại Việt Nam, các nhà thực vật đã đề xuất
và được chính phủ Việt Nam chính thức công nhận tất cả các loài Tuế hoang dại của Việt Nam nằm trong nhóm IIA Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [9] Trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Việt Nam (Phần thực vật) xuất bản 1996 và
2007, 12 loài Tuế mọc hoang đã được đánh giá tình trạng bảo tồn theo cách xếp hạng của IUCN, 1994 [4], [5], [6]
1.1.2.2 Lớp Thông (Pinopsida)
Việc nghiên cứu phân loại Thông bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, đầu tiên phải kể tới
là nhà thực vật người Pháp- Hickel, trong năm 1931 ông đã mô tả 16 loài của lớp Thông tại Việt Nam, Lào và Cam pu chia, tuy nhiên việc phân loại còn thiếu chính
Trang 15xác và cụ thể [32] Muộn hơn, các nhà thực vật như người Pháp (A.Chevalier, H Gaussen), Trung Quốc, Anh đã công bố lẻ tẻ và bổ sung một số loài cho khu vực Đông Dương Tới năm 1996, một nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống về lớp Thông của Việt Nam, Lào và Cam pu chia đã được Nguyễn Tiến Hiệp và Vidal J công bố Trong công trình Flore du Cambodge du Laos et du Việt Nam, các tác giả
đã mô tả 6 họ, 19 chi, 36 loài Thông ở Việt Nam Trong tổng số 36 loài Thông đó thì
có 9 loài là cây trồng nhập nội (Juniperus chinensis Linné, Juniperus squamata Buchanan-Hamilton, Cupressus duclouxiana Hickel, Cupressus funebris Endlicher,
Platycladus orientalis (Linné ) Franco, Taxodium distichum (Linné) L C Richard, và Podocarpus chinensis (Roxburgh) Wallich ex Forbes, Cunninghamia lanceolata
(Lambert) Hooker, Pinus massoniana Lambert [33] Số lượng các loài Thông mọc tự
nhiên ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể, cho tới nay đã là 34 loài; 33 loài Thông đã được Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn dựa trên tiêu chuẩn IUCN (1994), và IUCN (2001) [11], trong đó có nhiều loài mới đối với khoa
học như Xanthocyparis vietnamensis, Calocedrus rupestris, Amentotaxus hatuyensis
[11], [33] và nhiều loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, trong đó có nhiều loài có
giá trị bảo tồn như Pinus kwangtungensis, Psedotsuga sinensis, Keteeleria davidiana,
Taiwania cryptomerioides ,Cunninghamia konishii và Pinus tabuliformis Carrière aff
var henryi (Mast.) C.T Kuan [17]
Nghiên cứu đánh giá tình trạng bảo tồn Thông ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu trong khoảng 15 năm qua, một trong những các kết quả quan trọng nhất của những nghiên cứu đó là các mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn Thông ở Việt Nam Năm 1996 có 24 loài Thông được đánh giá [4], năm 2004, 33 loài Thông tự nhiên ở Việt nam được mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn [11], mới đây nhất là năm 2007,
16 loài Thông được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (phần II - Thực vật) và Danh lục đỏ Việt Nam [5], [6] Các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào việc xây dựng Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Danh mục này
là cơ sở pháp lý để quản lý các nhóm đối tượng này có hiệu quả Tuy nhiên, do các công trình nghiên cứu đó vẫn chưa được cập nhật nên đã thể hiện nhiều hạn chế; Số loài Thông tự nhiên ở Việt Nam đã tăng lên, hệ thống phân loại và danh pháp Thông trên thế giới đã thay đổi Theo quan điểm mới nhất hiện nay họ
Trang 16Cephalotaxaceae được nhập vào họ Taxaceae [37], thì 34 loài Thông Việt Nam sẽ được xếp vào 4 họ là: Cupressaceae Gray, Pinaceae Spreng ex F.Rudolphi, Podocarpaceae Endlicher và Taxaceae Gray Vì vậy, việc đánh giá tình trạng bảo tồn cho các loài dựa trên tiêu chuẩn IUCN cũng cần được được cập nhật
1.3 Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Những nghiên cứu cụ thể về các loài Thông và Tuế tại VQG PN- KB không
có Tuy nhiên những nghiên cứu về khu hệ và thảm thực vật tại VQG PN-KB từ trước đến nay đã có một số tài liệu điều tra bước đầu bao gồm: Điều tra xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Phong Nha của Viện điều tra quy hoạch rừng (1991); dự án bảo tồn liên quốc gia (RAS/93/102/) (1996-1997); Kouznetsov, A.N và Phan Lương, Viện sinh học nhiệt đới Việt - Nga (2001); GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2001 - 2003) Trong năm 2005, các nhà thực vật thuộc Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật hợp tác với Viện thực vật Cô ma rốp, Viện Hàn lâm khoa hoc Liên bang Nga đã tiến hành cuộc khảo sát đầu tiên về thảm thực vật và tính đa dạng thực vật ở VQG PN-KB có kèm theo các mẫu vật khô và mẫu cây sống thu thập làm bằng chứng khoa học Cuộc khảo sát này được FFI tổ chức với sự hỗ trợ của Counterpart International Vietnam, Food for Progress Program và có nhiệm
vụ kiểm kể họ Lan Orchidaceae kèm theo mô tả chi tiết các kiểu môi trường sống
và kiểu thảm thực vật ở VQG PN-KB Kết qủa đã thu được 558 số hiệu mẫu vật và mẫu cây sống, khoảng 355 số hiệu là Lan (tất cả đều là mẫu cây sống), thuộc 208 loài và 69 chi Các mẫu cây sống được trồng trong Vườn thực vật của VQG PN-KB Báo cáo của đợt khảo sát kèm theo trích yếu tất cả các mẫu vật thu thập và chỉ ra các nhóm Lan có triển vọng nhất để nuôi trồng rộng rãi vì mục đích thương mại,
trong chương trình khảo sát này đã phát hiện quần thể Bách xanh đá (Calocedrus
rupestris) được đánh giá là cổ sơ và rộng lớn, có giá trị toàn cầu [2] Trương Thanh
Khai (2009) Luận văn thạc sĩ "Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và xác định vùng phân bố của loài Bách xanh đá tại VQG PN-KB" đã xác định được đặc điểm phân bố của Bách xanh đá từ 600 - 800m và diện tích phân bố tiềm năng của loài gần 4.000 ha [16] Tháng 7 - 8 năm 2011, Trung tâm Bảo tồn Thực vật thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam hợp tác với VQG PN-KB và Dự án bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực PN-KB của tỉnh
Trang 17Quảng Bình thuộc chương trình hợp tác phát triển Việt Đức đã tổ chức 35 ngày điều tra nghiên cứu hệ thực vật và thảm thực vật tại vùng mở rộng (VMR) của VQG PN-
KB tại hai xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, huyện Minh Hóa Mục tiêu chính của dự án này là xác định và mô tả các đặc điểm điển hình của thảm thực vật và hệ thực vật làm cơ sở khoa học để đánh giá giá trị của tại vùng mở rộng trong việc bảo tồn tính
đa dạng thực vật Kết quả đã thu thập khoảng 4500 mẫu thực vật làm bằng chứng thuộc 1101 số hiệu tiêu bản Từ đó đã ghi nhận được 598 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 386 chi và 127 họ Đồng thời đã xác định và mô tả 15 kiểu quần xã thực vật đã xác định được những nhóm loài “khóa” là đối tượng quan trọng nhất cần ưu tiên bảo tồn và các cảnh quan có tính đa dạng thực vật phong phú nhất Trong số đó
có 1 chi và 9 loài mới cho khoa học Tất cả các quan sát và mô tả đều kèm theo bằng chứng mẫu thực vật khô, được lưu trữ lâu dài tại tập mẫu thực vật khô của Trung tâm bảo tồn thực vật và VQG PN-KB Cuộc khảo sát này đã khẳng định về mặt khoa học việc đưa VMR thành một bộ phận cấu thành của VQG PN-KB là hết sức kịp thời và xác đáng cho việc bảo tồn tương lai [13]
Trên cơ sở danh lục thực vật của VQG PN-KB đã có [17], [28] Lớp Thông và Tuế tại VQG PN-KB thống kê có khoảng 12 loài thuộc 4 họ gồm họ Tuế
(Cycadaceae) có 3 loài là Thiên tuế lược (Cycas pectinata), Thiên tuế xiêm (Cycas
siamensis), Thiên tuế (Cycas taiwaniana); họ Hoàng đàn (Cupressaceae) có 2 loài
Bách xanh đá (Calocedrus rupestris), Pơ mu (Fokienia hodginsii); họ Kim giao (Podocarpaceae) có 5 loài Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Kim giao núi đất (Nageia
wallichiana) và Thông tre (Podocarpus neriifolius), Họ Thông đỏ (Taxaceae) có 2
loài: Dẻ tùng vân nam (Amentotaxus yunnanensis) và Đỉnh tùng (Cephalotaxus
mannii) Nổi bật đặc biệt là phát hiện khu phân bố mới quần thể Bách xanh đá
(Calocedrus rupestris Aver.), một loài Thông mới được phát hiện đối với khoa học
từ Việt Nam [1], [11]
Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào điều tra, kiểm kê về thành phần loài nói chung và các thảm thực vật mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về thành phần phân bố của các nhóm loài cụ thể, củng như chưa đánh giá hiện trạng của các
Trang 18loài, đặc biệt là các loài thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) kèm theo các mẫu
vật làm bằng chứng khoa học
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 19Bản đồ hành chính VQG PN-KB được xây dựng theo Quyết định số 189/2001/QĐ-TTg ngày 12/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Nha thành VQG PN-KB và Quyết định số 1678/QĐ-UBND ngày 14/7/2008 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc giao đất cho Ban quản lý VQG PN-KB (phần mở rộng) [21], [25]
(Nguồn: Dự án đầu tư VQG, 2001; UBND tỉnh QB, 2008.)
Vùng lõi của VQG PN-KB bao gồm phần diện tích cũ (2001) là 85.754 ha nằm trên địa bàn của 5 xã (Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạch) của huyện Bố Trạch và phần diện tích mở rộng (2008) là 31.070 ha nằm trên địa bàn 2 xã (Thượng Hóa, Hóa Sơn) của huyện Minh Hóa
Vùng đệm được xác định là các xã có đất nằm trong Vườn quốc gia hoặc có ranh giới với Vườn quốc gia Vùng đệm của VQG PN-KB được xác định gồm 13 xã thuộc 3 huyện [27]
Bảng 1.2 Diện tích VQG PN-KB phân theo địa bàn các xã/huyện
(ha)
Trong đó Vùng lõi Vùng đệm
Trang 20- Địa hình núi đất: Kiểu địa hình núi đất chiếm tỷ lệ thấp, phân bố ở phía
Đông Nam của Vườn quốc gia Độ cao ở đây biến động từ 500 – 1.000 m, cao nhất
là đỉnh núi Ubò cao 1009 m Địa hình núi đất nhưng độ chia cắt tương đối sâu và
độ dốc khá lớn, trung bình từ 25 - 300
- Địa hình chuyển tiếp: Có sự xen kẽ phức tạp giữa các khối đá vôi và địa
hình lục nguyên Dạng địa hình này là những vùng gò đồi thấp nằm dọc đường Hồ Chí Minh nhánh Đông
- Địa hình núi đá vôi: Kiểu địa hình núi đá vôi (101.543 ha) chiếm 87% tổng
diện tích của Vườn (116.824 ha) Khối núi đá vôi Kẻ Bàng trải rộng từ huyện Minh Hóa tới giáp huyện Quảng Ninh có diện tích gần 200.000 ha Nếu tính toàn bộ phần núi đá vôi của cả Việt Nam và Lào thì khu vực Karst ở đây là một hoang mạc đá vôi rộng lớn nhất thế giới (Pierre G, 1966)
1.2.1.4 Địa chất
Theo Viện Điều tra qui hoạch rừng (2001, 2007), vùng Karst Phong Nha -
Kẻ Bàng nằm trong phạm vi vùng trũng Trường Sơn Sự hình thành vùng Karst này
Trang 21vào cuối kỷ Permi đánh dấu thời kỳ có chế độ lục địa Cấu trúc địa chất ở đây thể hiện tính đa dạng và lịch sử phát triển lâu dài của vỏ trái đất Có đầy đủ các giai đoạn phát triển chính (từ kỷ Ordovic) đến nay, trải qua 5 chu kỳ kiến tạo lớn, tương ứng với 5 giai đoạn tiến hoá địa chất của thế giới [26], [27]
1) Giai đoạn Ordovic muộn - Silur (463,9 - 430 triệu năm): Vỏ trái đất bị phá
vỡ, sụt lún thành tạo đá lục nguyên của hệ tầng Long Đại, phân bố dạng tuyến kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chứa các hóa thạch Graptolithina tuổi O3-S1
2) Giai đoạn từ Devon giữa đến Devon muộn (386 - 362,5 triệu năm): Lần
thứ hai vỏ trái đất bị sụt võng, biển mở rộng Thành phần trầm tích tiến hóa từ các bột kết đến acgilit xen đá vôi chứa các tập hợp hóa thạch đặc trưng tương ứng
3) Giai đoạn Carbon - Permi (362,5 - 245 triệu năm): Giai đoạn tạo đá vôi
dạng khối tuổi Carbon – Permi, vỏ trái đất vùng Phong Nha - Kẻ Bàng bị phá vỡ lần thứ 3, tạo bồn trũng nông, dạng đẳng thước (biển nội lục), chứa các hóa thạch có tuổi từ Carbon hạ đến Carbon trung, cuối cùng là Permi
4) Giai đoạn tạo núi Mezozoi (Trias, Jura, Creta): Khối đá vôi Phong Nha -
Kẻ Bàng nâng lên khỏi mặt biển, quá trình Karst, phong hóa và bào mòn xảy ra
5) Giai đoạn Kainozoi: Giai đoạn tạo núi và hình thành hệ thống hang động
cổ Karst Phong Nha - Kẻ Bàng
Hệ thống hang động khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng rất phức tạp, bao gồm hai hệ thống hang động lớn là hệ thống hang động Phong Nha và hệ thống Hang Vòm Đặc biệt, những năm gần đây đã phát hiện thêm nhiều hang động mới với vẽ đẹp kỳ vĩ
Với những giá trị về địa chất, địa mạo, ngày 05 tháng 7 năm 2003 tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học của liên hiệp quốc (UNESCO) đã công nhận VQG PN-KB là Di sản thiên nhiên của Thế giới
Trang 22Bảng 1.3 Thống kê các loại đất chính trong khu vực VQG PN-KB
Đất đen Macgalit - Feralit phát
triển trên núi đá vôi (MgFv) Rhodic/Acric Ferrasols
Không đáng kể Đất Feralit màu đỏ, đỏ nâu trên
máng trũng (T1, T2)
Accumulated silty soil in lime stone valley (T1, T2) 1.638 1,4 Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có
(Nguồn: Viện Điều tra qui hoạch rừng, 2007; UBND tỉnh QB, 2008)
- Đất đen Macgalit - Feralit phát triển trên núi đá vôi (MgFv): Loại đất này chiếm diện tích không đáng kể và phân tán trong vùng núi đá vôi nên không thống
kê được diện tích Phân bố trên những lập địa sườn dốc mạnh, dễ bị rữa trôi, độ dày tầng đất mỏng, chỉ có tầng A (mùn đen) và tầng C (mẫu chất) Đá lộ nhiều, đất có màu đen hoặc xám đen, tầng đáy hơi vàng, rất nhiều mùn, thành phần cơ giới thịt trung bình, ẩm, pH >7, lượng Ca++, Ma++ trao đổi rất cao
Trang 23- Đất Feralit màu đỏ, đỏ nâu trên núi đá vôi (Fv): Diện tích 8.462 ha, chiếm 7,3%, phân bố ở những sườn dông ít dốc hoặc chân dông, có lớp phủ thực bì còn tốt
Độ dầy tầng đất mỏng hoặc trung bình, đất có kết cấu tốt, hàm lượng mùn cao, pH = 5,5 – 6, lượng Ca++, Ma++ trao đổi khá cao Tại những nơi lớp thảm thực vật bị phá hoại mạnh, thoát nước tốt, đất chuyển sang màu đỏ
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét (Fs): Diện tích 2.805 ha, chiếm 2,4%, phân bố tập trung ở phía Đông Nam Vườn quốc gia Độ dày tầng đất
từ dày đến trung bình, đất phân tầng rõ rệt, kém tơi xốp; thành phần cơ giới thịt nặng, lượng mùn trung bình, lượng Ca++, Ma++ trao đổi và độ no Bazơ thấp Khi lớp thảm thực vật bị phá hoại thường có hiện tượng bị xói mòn hoặc kết von
- Đất Feralit vàng đỏ trên đá Macma acid (Fa): Diện tích 5.062 ha, chiếm 4,3%, phân bố chủ yếu trên các sườn dốc hiểm trở Đất tuy tơi xốp nhưng thường mỏng lớp, đất chua, nhiều mùn, trong tầng đất còn tồn tại nhiều khoáng Thạch anh
- Đất Feralit vàng nhạt trên đá Sa thạch (Fq): Diện tích 591 ha, chiếm 0,5%, phân bố rộng rãi ở chân dông Độ dày tầng đất từ mỏng đến trung bình, thành phần
cơ giới thịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn
- Đất dốc tụ trong thung lũng đá vôi (Tv): Diện tích 2.817 ha, chiếm 2,4% Đất dốc tụ chân núi đá vôi tích đọng lâu ngày lấp đầy các hang hốc đá vôi do quá trình Karst hình thành Độ dày tầng đất từ trung bình đến dầy, đất tơi xốp, khô, màu xám đen, tầng B thường đỏ vàng hay vàng nhạt, có nhiều đá lẫn; thành phần cơ giới thịt nặng, chủ yếu là sét, hàm lượng mùn khá cao, pH = 5,5 - 6,5
- Đất dốc tụ trong thung lũng hay máng trũng (T1,T2): Diện tích 1.638 ha, chiếm 1,4%, phân bố rải rác trong khu vực Tầng đất dày, tơi xốp, khá màu mỡ; đất màu nâu nhạt, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, pH = 5,5 - 6
- Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ lại (K): Diện tích 95.074 ha, chiếm 81,4% Dạng địa hình, địa chất này thể hiện một quá trình Karst đang phát triển mạnh Dòng chảy mặt hầu như không có hoặc không thấy, ngược lại sông suối ngầm lại rất phát triển Hệ thống hang động phong phú và khá phức tạp
Bề mặt địa hình thường lởm chởm toàn đá, bị chia cắt mãnh liệt, độ dốc rất cao, rất
Trang 24khó đi lại Trên những núi đá này vẫn có cây rừng bao phủ Cây cối bám rễ vào các tảng đá, xuyên rễ vào các khe sâu mà sống với lượng đất rất ít ở trên đó
- Đất khác: Diện tích 375 ha, chiếm 0,3%, đất này được sử dụng cho quốc phòng và bảo vệ một số hang động
1.2.1.6 Khí hậu - Thủy văn
Theo Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Bình (2007), khu vực VQG PN-KB thuộc vùng khí hậu miền núi phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, nằm trong vùng III (theo bản đồ phân vùng khí hậu tỉnh Quảng Bình) Đặc điểm riêng của khí hậu vùng này là mùa mưa xuất hiện sớm, số giờ nắng và lượng bốc hơi nhỏ hơn các vùng khác, chịu ảnh hưởng mạnh và sớm của áp thấp nóng phía Tây
Kết quả quan sát các yếu tố khí hậu ở các trạm khí tượng trong khu vực được tổng kết như sau [27]
a Chế độ nhiệt
Nhiệt độ bình quân hàng năm trong khu vực biến động từ 230C - 250C, nhiệt
độ bình quân các tháng không đều và dao động tương đối lớn Do ảnh hưởng của địa hình núi đá vôi nên biên độ nhiệt trong năm dao động khá lớn Nhiệt độ cực đại thường đạt vào tháng 7 (trên 400C) và nhiệt độ cực tiểu thường đạt vào tháng 1 (5 -
70C) Thời tiết lạnh nhất trong năm tập trung vào các tháng 12, 1, 2 với nhiệt độ trung bình từ 14 - 200C Thời tiết nóng nhất trong năm vào các tháng 6, 7, 8 với nhiệt độ trung bình trên 280C Mùa hè nhiệt độ cao và thường có gió khô nóng (chịu ảnh hưởng của gió Lào) nên nhiệt độ cao tuyệt đối thường đạt trên 400C
Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi rộng lớn, do vậy biên
độ nhiệt trong ngày ở đây tương đối lớn Đặc biệt vào những ngày hè nóng bức, biên độ nhiệt thường lên đến 100C; mùa đông biên độ nhiệt dao động từ 5 - 70C
b Chế độ mưa
VQG PN-KB nằm trong vùng có lượng mưa lớn, bình quân từ 2.000 – 2.500mm, có nơi lên tới 3.000mm, lượng mưa phân bố không đều trong năm Ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, 10, 11 chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm, thời kỳ này thường xuất hiện các đợt lũ lớn Ba tháng ít mưa nhất trong năm là
Trang 25tháng 2, 3, 4 với tổng lượng mưa chỉ đạt 100 – 200mm Số ngày mưa trung bình dao động trong khoảng 130 – 160 ngày
Biến trình năm của lượng mưa có hai cực đại, cực đại chính vào tháng 10 với tổng lượng mưa từ 600 – 800mm (chiếm khoảng 30% lượng mưa cả năm), cực đại phụ rơi vào tháng 6 với tổng lượng mưa khoảng 100mm; một cực tiểu thường rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 với tổng lượng mưa từ 30 – 60mm Mùa khô tuy có lượng mưa thấp nhưng số ngày mưa bình quân tháng tối thiểu là 10 ngày do có các đợt mưa tiểu mãn
c Chế độ ẩm
Lượng mưa lớn, số ngày mưa nhiều và rải đều trong năm đã tạo điều kiện ẩm ướt lý tưởng cho một khu hệ rừng nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình có giá trị mang tính toàn cầu Độ ẩm không khí trung bình 84%, dao động ít trong các mùa và vào khoảng 80 – 90% ở những nơi thung lũng Những nơi chịu ảnh hưởng của gió nhiều thì độ ẩm dao động rất lớn Mùa khô độ ẩm xuống thấp, trung bình khoảng 67%, cá biệt có khi xuống thấp dưới 30%
Khu vực có lượng bốc hơi khá cao, biến động từ 1.000 – 1.300mm Lượng bốc hơi lớn nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 8, vì thời gian này chịu ảnh hưởng của gió Lào khô và nóng
d Chế độ gió
Khu vực có 2 mùa gió chính trong năm đó là gió mùa đông và mùa hè
Gió mùa Đông xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thịnh hành hướng gió Bắc và gió Đông Bắc Xen giữa các đợt gió Bắc và Đông Bắc này là loại gió quẩn do các dạng địa hình tạo ra Gió mùa Hè xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 Do yếu tố địa hình núi cao ngăn chặn hướng gió Tây Nam và đổi hướng thành gió Tây Bắc Gió này khô nóng gây không ít khó khăn cho sản xuất và công tác bảo vệ rừng
Ngoài ra còn có gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Các loại gió này thường thổi đan xen với gió mùa Đông Bắc và
có tốc độ thấp (trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lên tới cấp 12)
Trang 26đ Chế độ thủy văn
VQG PN-KB nằm trong lưu vực của các dòng sông Chày, sông Troóc, sông Son đều là thượng nguồn của sông Gianh Do địa hình ở đây là một vùng đá vôi rộng lớn, Karst trẻ, bị phong hóa mạnh và chia cắt phức tạp, vì thế hiện tượng nước chảy ngầm là phổ biến Nhìn trên bản đồ không thấy các sông suối lớn, trên mặt đất
có một số khe suối nhỏ chảy lộ thiên nhưng bị ngắt quảng khi chảy ngầm qua các hang động Mùa mưa hầu hết các sông suối đều có nước dâng cao, tạo dòng chảy lớn, tạo lũ cục bộ, nhưng sau cơn mưa nước rút rất nhanh qua các “mắt hút” Mùa lũ
từ tháng 9 đến tháng 11 trùng vào những tháng mưa lớn nhất Lũ lớn thường xuất hiện vào giữa tháng 9 và tháng 10
Ngoài mùa mưa lũ chính khu vực còn chịu ảnh hưởng của các đợt mưa tiểu mãn vào tháng 5, 6; mưa tiểu mãn đôi khi gây lũ lụt lớn Mùa nước cạn (từ tháng 1 đến tháng 7) các khe suối nhỏ trong khu vực trở thành “khe suối chết”; sông Chày
và sông Son có mực nước rất thấp và dòng chảy tối thiểu
1.2.2 Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Dân số các xã vùng đệm
Theo số liệu thống kê của Viện Điều tra qui hoạch rừng [27], Cục thống kê tỉnh (2008), vùng đệm của VQG PN-KB gồm 13 xã với 22.163 hộ và 60.641 khẩu sinh sống; mật độ dân số bình quân khu vực vùng đệm là 17,7 người/km2 Mật độ dân số thấp nhất là xã Tân Trạch với 0,7 người/km2; mật độ dân số cao nhất là xã Phúc Trạch với 166,9 người/km2
Dân số ở trong độ tuổi lao động chiếm trên 51,1% tổng dân số vùng đệm, tỷ
lệ lao động nam (50,6%) cao hơn lao động nữ (49,4%)
Trang 27Bảng 1.4 Dân số của các xã vùng đệm của VQG PN-KB
xã
Trong VQG
Bru-Các tộc người trong khu vực thường phân bố tập trung thành từng bản riêng lẽ, hoặc đôi khi sống xen kẽ lẫn nhau trong cùng một bản Nhìn chung thì mỗi xã có một vài tộc người cùng làm ăn sinh sống
Trang 28Bảng 1.5 Thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm VQG PN-KB
Vân Kiều Khùa
Ma Coong Trì Rục Sách Mày
A rem
(Nguồn: Viện ĐTQHR, 2007; Cục thống kê tỉnh Quảng Bình, 2008)
Trong khu vực VQG PN-KB chiếm tỷ lệ lớn nhất là dân tộc Kinh (79,82%), dân tộc Kinh sống tập trung chủ yếu ở các xã vùng thấp, nơi có điều kiện canh tác tốt Ngoài ra người Kinh còn sống xen với người dân tộc thiểu số ở các xã như Tân Trạch, Thượng Trạch huyện Bố Trạch; xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Sơn huyện Minh Hóa Tổng số người dân tộc thiểu số trong vùng đệm VQG chiếm 20,18% tổng dân số của các xã vùng đệm Các xã có dân số hầu hết là người dân tộc thiểu
số gồm Tân Trạch, Thượng Trạch huyện Bố Trạch; xã Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Sơn huyện Minh Hóa và xã Trường Sơn huyện Quảng Ninh
Trang 29Dân tộc Vân Kiều chiếm 13,56% so với tổng dân số vùng đệm Trong các tộc người của dân tộc Vân Kiều sống trong vùng đệm của VQG thì tộc người Khùa chiếm tỷ lệ lớn nhất (6,54%), tộc người Trì chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,09%)
Bảng 1.6 Tỷ lệ dân số của các dân tộc trong khu vực VQG PN-KB
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Bình, 2008; Viện ĐTQHR, 2007)
Dân tộc Chứt chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,62%) so với tổng dân số vùng đệm Trong các tộc người của dân tộc Chứt sống trong vùng đệm của VQG thì tộc người Sách chiếm tỷ lệ lớn nhất (2,79%), tộc người Arem chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,49%) [8]
1.2.2.3 Kinh tế - xã hội
Hầu hết các xã vùng đệm khu vực VQG PN-KB là xã miền núi, một số xã có ranh giới với nước Lào Nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn
Trang 30trong tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế Khoảng 80% số hộ gia đình có thu nhập chính từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Các loài cây trồng chủ yếu vẫn
là lúa, ngô, sắn, lạc, cao su, hồ tiêu, chuối, cam, dứa, nhãn, vải năng suất cây trồng chưa cao, sản lượng lương thực bình quân đầu người còn thấp (214,3kg) Một
số xã như Sơn Trạch, Phúc Trạch người dân tham gia vào cung ứng dịch vụ, buôn bán lẻ, nhà hàng, đưa khách du lịch tham quan hang động Đời sống người dân vùng đệm rất khó khăn và có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ hộ nghèo giữa các xã vùng đệm của Vườn quốc gia Các xã có tỷ lệ hộ nghèo lớn (trên 90%) là xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trọng Hóa, đây là các xã có phần đa đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống [8]
Trình độ sản xuất của người dân còn thấp và thụ động Thời gian qua đã có nhiều chương trình, dự án tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, phát triển vườn hộ, giao đất, giao khoán bảo vệ rừng nhưng hiệu quả mang lại chưa rõ rệt
Trình độ học vấn của người dân đa số còn thấp, đặc biệt là các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trường Sơn chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên có tỷ lệ người mù chữ còn khá cao
Đời sống kinh tế và trình độ học vấn của người dân địa phương dẫn đến áp lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng của Vườn quốc gia
1.2.2.4 Giao thông
Giao thông đi lại trong khu vực tương đối thuận lợi Đa số các xã đều có đường ô tô về tận trung tâm xã và tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua; trừ hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch chỉ có duy nhất tuyến đường 20 đi qua Tuyến đường này đang được đầu tư xây dựng từ năm 2011 Việc đi lại từ trung tâm xã đến các thôn/bản đều có thể đi bằng xe máy, Trừ các bản ở xã Thương Trạch là phải đi bộ
Hầu hết các xã vùng đệm đều có đường điện lưới quốc gia chạy qua và người dân đã được sử dụng điện lưới để sinh hoạt Chỉ có hai xã Tân Trạch và xã Thượng Trạch chưa có điện lưới mà phải dùng điện năng lượng mặt trời
Trang 31Đa số các hộ dân ở các xã được sử dụng nước giếng hoặc nước máy Một số
xã vẫn còn có hộ dân sử dụng nước sông suối, các xã có tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sông suối cao như xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Sơn, Trường Sơn Về mùa khô, các bản thiếu nước sinh hoạt, người dân thường di cư xuống suối để tránh hạn
Giao thông, điện sáng, nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của con người Tuy nhiên, một số vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số người dân chưa được sử dụng Vấn đề này đã phần nào ảnh hưởng đến việc sinh hoạt của cộng đồng dân cư
và công tác bảo tồn của Vườn quốc gia
1.2.3 Đặc điểm đa dạng thực vật
1.2.3.1 Khu hệ thực vật
VQG PN-KB thuộc tiểu vùng địa lý thực vật Bắc Đông Dương của vùng hệ thực vật Đông Dương, dưới xứ Ấn Độ-Mã Lai của xứ Cổ nhiệt đới, là nơi giao thoa giữa khu hệ thực vật phía Nam và phía Bắc, vì vậy khu hệ thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú Theo số liệu của VQG PN-KB (2011) có 2.693 loài thuộc 907 chi, 193 họ thực vật bậc cao có mạch thuộc 6 ngành thực vật khác nhau là Quyết lá thông (Psilotophyta), Thông đất (Lycopodiophyta), Mộc tặc (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Magnoliophyta) Trong số đó có 79 loài được thống kê trong Sách Đỏ Việt Nam, 35 loài được pháp luật bảo vệ tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [13], [27], [28]
1.2.3.2 Các kiểu thảm thực vật
Theo Viện Điều tra qui hoạch rừng (2007), khu vực được che phủ bởi 95,3% diện tích rừng kín thường xanh, trong đó rừng nguyên sinh ít bị tác động chiếm 88,1% tổng diện tích Vườn quốc gia Đây là Vườn quốc gia có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn nhất trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam và các khu vực núi đá vôi trên thế giới [27]
Trang 32Bảng 1.7 Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh
1
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá
2
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá
3 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi 1.336 1,1
4 Cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đá vôi 1.328 1,1
(Nguồn: Viện Điều tra qui hoạch rừng, 2007; UBND tỉnh QB, 2008)
- Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đá vôi độ cao dưới 700m:
Diện tích 55.337 ha, đây là kiểu rừng có diện tích lớn nhất, chiếm 47,4% tổng diện tích của Vườn Phần lớn núi đá vôi đều được phủ kín bằng kiểu rừng này Loại đất chủ yếu là dạng núi đá vôi uốn nếp có địa hình Karst và các loại thực vật bám trên các đỉnh núi, vách đá dựng đứng, phát triển tốt ở các thung lũng là đất Feralit màu đỏ phát triển trên các sườn núi đá vôi thoải, đất đen Macgalit-Feralit phong hóa trong các hốc đá trên sườn và đỉnh núi đá vôi và đất dốc tụ trong thung lũng đá vôi
Thành phần thực vật chủ yếu ở đây là các loài thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Re
(Lauraceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Xoài (Annacardiaceae), họ Thị (Ebennaceae) Thực vật Hạt trần chỉ xuất hiện lẻ tẻ trên các vách đá với loài Tuế
Trang 33núi đá (Cycas balansae) và trong các hẻm đá có đất bồi tụ có Hoàng đàn giả
(Dacrydium pierrei) và Kim giao (Nageia fleuryi)
- Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đá vôi độ cao trên 700m:
Diện tích 43.542 ha, chiếm 37,3% diện tích của Vườn quốc gia, phân bố ở độ cao trên 700m thành một dải gần như liên tục giáp với biên giới Việt Lào Đây là một kiểu phụ rừng núi đá vôi độc đáo ở Việt Nam Địa hình chủ yếu ở đây là các đỉnh núi đá vôi nhọn, nhô cao, phía dưới là các thung lũng nhỏ, các hốc đá có đất bồi tụ
Thực vật phát triển mạnh trong các thung nhỏ, các hốc đá, ngoài ra thực vật bám trên các vách đá dựng đứng, các đỉnh núi tai mèo, cắm rễ sâu vào các kẽ đá góp phần đẩy mạnh quá trình phong hóa đất trên các đỉnh núi cao Các loài thực vật
ở đây không phát triển mạnh được cả về đường kính và chiều cao do tầng đất mỏng
và kiệt nước
Thành phần thực vật chủ yếu họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè
(Theaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae) một số loài cây hạt trần xuất hiện như
Thông lá tre (Podocapus neriifolius), Thông nàng (P imbricatus) với số lượng
không nhiều Đặc biệt, ở kiểu thảm thực vật này có xuất hiện loài Bách xanh đá
(Calocedrus rupestris) gần như chiếm đơn ưu ở một số khu vực trong Vườn quốc
gia Phong Nha – Kẻ Bàng
- Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi:
Diện tích 1.336 ha, chiếm 1,1% diện tích của Vườn Kiểu rừng này phân bố chủ yếu ven đường 20, khu vực gần cầu Trạ Ang, km 22, km 27 đường Hồ Chí Minh nhánh Tây và khu vực tiếp cận vùng dân cư phía Bắc của Vườn Loại đất ở đây là Feralit màu đỏ nâu, phong hóa từ đá vôi, tầng đất khá dày Kiểu rừng này có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi dưới 700m, sau khi chịu tác động của con người với mức độ nhiều hay ít, trong thời gian khác nhau Hầu hết kiểu quần thụ này xuất hiện những nơi có địa hình ít hiểm trở, dễ vận chuyển lâm sản Trạng thái rừng ít bị tác động, cấu trúc gần tương tự như kiểu rừng nguyên sinh, chỉ khác về tổ thành của tầng rừng chính
Trang 34Thực vật chủ yếu Nhội (Bischofia javanica), Bằng lăng (Lagerstroemia sp), Chó đẻ (Phyllanthus spp), Găng (Canthium sp), các loài thuộc họ Cam quýt
(Rutaceae)
- Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi:
Diện tích 1.328 ha, chiếm 1,1% diện tích của Vườn Kiểu rừng này phân bố rải rác phía Đông của đường 20, đường Hồ Chí Minh, nằm gần khu dân cư các xã Tân Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch Cũng có thể phân bố trên các đỉnh núi hoặc sườn núi dựng đứng trong tình trạng nguyên sinh Điều kiện lập địa ở đây
là chân dông, dốc thoải, các gò đống có đỉnh tròn bằng nằm bên khe suối hay các đỉnh núi có lập địa khô
Kiểu rừng này có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu rừng nhiệt đới trên núi đá vôi
và thường ở độ cao dưới 700m Thực vật ở kiểu rừng này là những cây gỗ tạp như
Đa si (Ficus sp), các loài cây chỉ thị (Diospyros), Sòi núi (Sapium discolor), Trâm
(Syzygium sp), Mán đĩa (Archidendron sp), với thân hình cong queo, u bướu
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất:
Diện tích kiểu rừng này là 9.174 ha, chiếm 7,9% diện tích của Vườn quốc gia, phân bố tập trung ven đường 20 tới Rào Thương, vùng núi Cổ Khu sang chân núi CoPreu Loại đất Feralit màu đỏ vàng hoặc vàng nhạt phát triển trên đá cát, đá phiến và đá biến chất, đá mác ma acid có tầng đất từ nông đến sâu tùy theo lập địa
Thực vật chủ yếu ở kiểu rừng này là Dầu ke (Dipterocarpus kerri), Sao mặt quỷ (Hopea mollissima), Chò nhai (Annogeissus acuminatus), Sân (Pometia
pinata), Sổ (Dillenia sp)
Trang 35Hình 1.2 Bản đồ thảm thực vật rừng VQG PN-KB
1.2.4 Lịch sử phát triển VQG PN-KB
Trước năm 1920 Phong Nha - Kẻ Bàng ít được biết đến vì sự xa xôi hiểm trở Sau năm 1920 được biết đến nhưng chỉ mang ý nghĩa là nơi có động Phong Nha nổi tiếng và bắt đầu có những khách du lịch đến viếng thăm
Năm 1937 Phòng du lịch của toà Khâm sứ Pháp ở Huế đã cho xuất bản 1 tờ gấp nhỏ giới thiệu du lịch tỉnh Quảng Bình trong đó có động Phong Nha và tuyến
du lịch Phong Nha Tuyến du lịch này được xếp vào hàng thứ 2 ở Đông Dương và
có chỉ dẫn khá kỹ về cách đến thăm quan
Trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rừng ở khu vực Phong Nha và các hang động (đặc biệt là động Phong Nha) là nơi cất giữ vũ khí, đạn dược
và là nơi đóng quân của Quân đội ta Ngày nay, nơi đây còn lại nhiều dấu tích lịch
sử oai hùng như Hang 8 thanh niên xung phong, bến phà Nguyễn Văn Trỗi, đường
20 quyết thắng, đường Hồ Chí Minh huyền thoại
Trang 36Ngày 09 tháng 8 năm 1986 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) có Quyết định số 194/CT về việc qui định các khu rừng cấm Theo đó, khu rừng cấm Phong Nha có diện tích 5.000ha
Ngày 18 tháng 11 năm 1993 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định số 941QĐ/UB về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha và ngày 03 tháng 12 năm 1993 UBND tỉnh có Quyết định số 964QĐ/UB về việc phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu BTTN Phong Nha với diện tích 41.132 ha
Ngày 12 tháng 12 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 189/2001/QĐ-TTg về việc nâng hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha thành VQG PN-KB với diện tích 85.754 ha Theo đó, ngày 20/3/2002 UBND tỉnh có Quyết định số 24/2002/QĐ-UB về việc thành lập Ban quản lý VQG Phong Nha -
Kẻ Bàng
Tại Hội nghị thường niên của Uỷ ban Di sản Thế giới lần thứ 27 diễn ra ở Paris (Pháp) từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 5 tháng 7 năm 2003, VQG PN-KB chính thức được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới Ngày 28 tháng 11 năm 2003 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định số 65/2003/QĐ-UB về việc tổ chức lại bộ máy BQL VQG PN-KB Ngày 14 tháng 7 năm 2008 UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định
số 1678/QĐ-UBND về việc giao đất cho Ban quản lý VQG PN-KB (phần diện tích
mở rộng) 31.070 ha Như vậy, đến nay tổng diện tích của VQG PN-KB là 116.824
ha
Trang 37Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được phân bố và hiện trạng bảo tồn của các loài
- Đề xuất được các giải pháp bảo tồn, phát triển
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng điều tra nghiên cứu: Các loài thực vật thuộc lớp Tuế
(Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida)
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và hiện trạng bảo tồn của các loài
- Khu vực nghiên cứu: Vùng lõi VQG PN – KB (bao gồm cả phần diện tích
mở rộng)
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu về thành phần loài
2.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, tổ thành, tái sinh của các loài
2.3.3 Xác định diện vùng phân bố (Area of Occurence - AOO), diện tích khu phân bố (Extent of Occurrence – EOO) của các loài
2.3.4 Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài
2.3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Tùy theo nội dung nghiên cứu để đưa ra phương pháp nghiên cứu phù hợp Một nội dung có thể có nhiều phương pháp nghiên cứu và một phương pháp nghiên cứu có thể áp dụng cho nhiều nội dung khác nhau Chúng tôi nêu tóm tắt một số phương pháp nghiên cứu chính đã sử dụng trong đề tài như sau:
Trang 382.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Kế thừa các tài liệu, số liệu điều tra sẵn có để tiến hành phân tích, tổng hợp các vấn đề liên quan đến đề tài Cụ thể các tài liệu cần thu thập như sau:
- Luận chứng thành lập VQG PN-KB năm 2001; Hồ sơ đăng ký Di sản thiên nhiên thế giới VQG PN-KB năm 2007; Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình
- Các tài liệu, sách báo nghiên cứu về các loài Thông và Tuế trong nước và thế giới
- Các loại bản đồ địa hình, bản đồ quy hoạch VQG PN-KB, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Quảng Bình
2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a Điều tra thực địa theo tuyến
- Thiết lập các tuyến điều tra: Nhằm thực hiện đạt được các nội dung của đề tài
đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp, điều kiện địa hình của VQG PN-KB, các đặc điểm phân bố, sinh thái của các loài thực vật thuộc lớp Thông và lớp Tuế và ý kiến tham vấn từ các chuyên gia thực vật, các cán
bộ khoa học có kinh nghiệm và kinh nghiệm thực địa của bản thân Chúng tôi đã thiết lập 16 tuyến điều tra theo hai nhóm khác nhau như sau:
* Đối với nhóm Tuế (Cycadopsida): Đã tiến hành 6 tuyến điều tra chính như sau:
+ Tuyến 1a (Cây Trường - Cợp Bộ Binh) chiều dài của tuyến 4,1 km
+ Tuyến 2a (Cầu Chày - Nhăng) chiều dài tuyến 4,2 km
+ Tuyến 3a (Km 40 - Khe Rung) chiều dài tuyến 3,6 km
+ Tuyến 4a (Vực Trô - Hung Thu) chiều dài tuyến 5,3 km
+ Tuyến 5a (Cha Nòi - Khe Chè) chiều dài tuyến 4,5 km
+ Tuyến 6a (Bản Ón - Thung Ma Ma) chiều dài tuyến 5,5 km
* Đối với nhóm Thông (Pinopsida): Đã tiến hành 10 tuyến điều tra chính như sau:
+ Tuyến 1b (U Bò - Khe Mưa), chiều dài tuyến 4,6km
+ Tuyến 2b (Khe Me - Đỉnh 3 Giàng), chiều dài tuyến 4,2km
Trang 39+ Tuyến 3b (Bản Đòong - Hang Én), chiều dài tuyến 4,8km
+ Tuyến 4b (Bản Arem - Đỉnh Km 37), chiều dài tuyến 4,1km
+ Tuyến 5b (Km30 - Hang Én), chiều dài tuyến 3,0km
+ Tuyến 6b (Km24 - Cổ Khu), chiều dài tuyến 3,7km
+ Tuyến 7b (Cha Nòi - Hung Dạng), chiều dài tuyến 6,5km
+ Tuyến 8b (Bản Ón - Thung Ma Ma), chiều dài tuyến 5,5km
+ Tuyến 9b (Mò O - Đà Lạt 3), chiều dài tuyến 7,5km
+ Tuyến 10b (Cha Lo - Kxai), chiều dài tuyến 5,6km
Ngoài ra chúng tôi đã tiến hành điều tra thêm một số tuyến phụ để thu thập
bổ sung các thông tin về khu phân bố của các loài Các tuyến phụ đã thực hiện bao gồm các tuyến đỉnh núi sau bản Arem, Động km28, đường 20, đỉnh núi km
35 đường 20, núi cầu Trạ Ang, Dốc đất đỏ - Thung Trẹ, khu vực rừng giống Re gừng
- Thu thập các thông thông tin trên tuyến: Trên các tuyến điều tra tiến hành thu
thập các thông tin về loài gặp, sử dụng máy định vị GPS map 78 để xác định vị trí,
độ cao phân bố Đánh giá mật độ bắt gặp, cách mọc, tình hình sinh trưởng phát triển, tái sinh, hiện trạng quần thể chụp ảnh, thu tiêu bản phục vụ cho công tác mô
tả định loài và lưu trữ làm bằng chứng khoa học
Kết quả ghi vào phiếu điều tra theo tuyến (mẫu phiếu ở phần phụ lục 1)
b Điều tra theo ô tiêu chuẩn điển hình
+ Lập ô tiêu chuẩn: Ô tiêu chuẩn điển hình được thiết lập trên các tuyến điều
tra tại những điểm có các loài Thông mọc tập trung Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn 500m2 (20 m x 25 m) Sử dụng máy định vị GPS map 78 để xác định vị trí và độ cao các ô tiêu chuẩn, địa bàn cầm tay và thước dây để lập ô với sai số khép gốc nhỏ hơn1/200 Trong ô tiêu chuẩn mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ cao, hướng phơi và điều tra các nội dung như sau:
+ Điều tra tầng cây gỗ:
- Xác định tên loài (loài nào chưa biết thì thu thập tiêu bản để giám định) và các chỉ tiêu sinh trưởng của tất cả các cây gỗ có đường kính ≥ 10cm như sau:
Trang 40- Đo đường kính ngang ngực D1.3 bằng thước dây
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng sào có khắc vạch đến dm đối với 3-5 cây làm chuẩn, sau đó mục trắc các cây còn lại trong ô
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc sau đó tính trị số bình quân
Chúng tôi đã tiến hành lập và nghiên cứu 7 ô tiêu chuẩn điển hình diện tích mỗi ô 500m2 cho hai loài là Bách xanh đá và Hoàng đàn giả trên hai khu vực nghiên cứu
Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây gỗ (mẫu phiếu ở phần phụ lục 2)
+ Điều tra cây tái sinh:
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thiết lập 5 ô dạng bản để điều tra đánh giá cây tái sinh, gồm 4 ô ở vị trí 4 gốc và 1 ô ở vị trí tâm ô tiêu chuẩn Ô dạng bản có diện tích 4 m2 (2m x 2m)
Trong mỗi ô dạng bản tiến hành xác tên loài cây tái sinh, đo chiều cao bằng thước dây có khắc vạch đến mm và phân cấp chiều cao theo 3 cấp: < 0,5m; 0,5 - 1,0m; >1,0m Đánh giá cây tái sinh theo 3 cấp: tốt, trung bình, xấu (cây tốt là cây có thân thẳng, sinh trưởng tốt, không bị cụt ngọn, không sâu bệnh; cây xấu là các cây công queo, cụt ngọn, sinh trưởng kém, sâu bệnh; cây cong lại là cây có phẩm chất trung bình)
Kết quả ghi vào phiếu điều tra cây tái sinh (mẫu phiếu ở phần phụ lục 3)
c Điều tra theo ô tiêu chuẩn 7 cây
Sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 7 cây của thạc sỹ Nguyễn Văn Huy (1996) để điều tra nghiên cứu về tổ thành cây mọc cùng [3] Phương pháp này chúng tôi sử dụng đối với các loài Thông mọc phân tán trên các tuyến điều tra Phương pháp thực hiện như sau:
- Điều tra 6 cây mọc gần nhất xung quanh cây nghiên cứu, trong đó cây nghiên cứu phải là cây trưởng thành, được xác định là cây ở trung tâm ô điều tra