1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam

221 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. Lý do chọn đề tài BHYT là một loại bảo hiểm trong hệ thống BHXHVN. BHYT là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những loại hình BHXH mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Tuy nhiên, do sự phân cấp quản lý phức tạp, sự thay đổi cơ quan và cơ chế quản lý quỹ BHYT (trước đây cơ quan chủ quản là Bộ y tế nay chuyển sang cơ quan BHXH Việt Nam). Hình thức thu BHYT được nới rộng, từ 1/1/2014, nhà nước tiến tới thực hiện BHYT toàn dân. Nhiều loại hình đối tượng tham gia: người lao động, học sinh, sinh viên, đối tượng chính sách xã hội, người có nhu cầu tự nguyện tham gia. Mỗi đối tượng có đặc điểm và định mức chi trả khác nhau. Quá trình thu, chi BHYT là sự kết hợp giữa đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT; đơn vị, tổ chức quản lý đối tượng thụ hưởng; đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ y tế và thanh toán BHYT; cơ quan BHXH, đơn vị thực hiện nhiệm vụ của nhà nước tham gia thu, chi, quyết toán BHYT cho đối tượng thụ hưởng. Thủ tục thanh toán thông qua các mối quan hệ này còn nhiều bất cập dẫn đến việc thất thoát, chi không đúng mục đích quỹ BHYT làm cho lòng tin của người dân trong việc KCB BHYT ngày càng giảm sút. Đối với BHXHVN, quỹ BHYT cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính. Khó khăn trước mắt hiện nay của các nhà quản lý quỹ BHYT là làm sao cân đối được thu, chi quỹ và đảm bảo quyền lợi KCB cho đối tượng thụ hưởng. Tình hình thu chi quỹ BHYT có nhiều điểm diễn biến phức tạp. Nguồn hình thành của quỹ BHYT do người lao động, đơn vị sử dụng lao động đóng góp và sự hỗ trợ của nhà nước cho người nghèo, các đối tượng chính sách. Những năm gần đây, quỹ BHYT có nguy cơ bị vỡ quỹ do chi phí BHYT lớn hơn thu BHYT. Việc thanh toán chi phí KCB còn phức tạp, qua nhiều khâu dẫn đến khó kiểm soát. Việc thanh quyết toán còn thụ động, dựa vào cơ sở KCB. Dưới góc độ các cấp dự toán, việc lập quỹ BHYT, quản lý nguồn tài chính quỹ BHYT, phân chia tài chính cho các đơn vị thanh toán BHYT hiện đang là vấn đề đòi hỏi sự quản lý ngày càng chặt chẽ về mặt tài chính nhưng vẫn đảm bảo ASXH, đồng thời phải đáp ứng được quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT. Về phía cơ sở KCB, nhiều sai phạm đã xảy ra trong thực hiện hợp đồng như: chỉ định thuốc và xét nghiệm không phù hợp với chuẩn đoán của bác sỹ; đấu thầu mua 2 thuốc đắt; bỏ qua các thủ tục trong việc thu, quản lý và sử dụng quỹ BHYT; một số bệnh viện không có đủ chữ ký trên chứng từ, không lưu toa thuốc, không tính tiền trên phiếu phát thuốc... nhưng vẫn được thanh quyết toán với BHXH dẫn đến thâm hụt quỹ BHYT. Việc thanh quyết toán giữa các cơ sở KCB các cấp với BHXHVN còn nhiều bất cập. Theo cách quyết toán BHYT, chi phí KCB của người dân chuyển lên tuyến trên đều được tính vào quỹ BHYT tuyến huyện, tuyến tỉnh. Nhiều căn bệnh của bệnh nhân còn kéo theo những xét nghiệm không thật cần thiết và gây lãng phí. Số tiền quỹ BHYT tại tuyến dưới bị khống chế theo năm không thay đổi trong khi đó bệnh nhân chuyển lên tuyến trên sử dụng nhiều thủ thuật dịch vụ kỹ thuật cao làm cho số quỹ BHYT ở tuyến dưới đã eo hẹp lại càng trở nên khó khăn. Vì thế, tiền BHYT luôn trong tình trạng bội chi. Hiện nay, số lượng các bệnh viện công ít, bệnh viện tư không mặn mà với KCB BHYT, bệnh nhân ngày càng đông làm cho chất lượng KCB còn hạn chế. Đối với đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT, việc KCB BHYT không còn mặn mà. Một số đối tượng nộp BHYT nhưng không hưởng do nhiều lý do khác nhau như: chất lượng dịch vụ BHYT không đảm bảo, thời gian chờ KCB quá lâu, thái độ y bác sỹ không nhiệt tình. Quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT chưa được đáp ứng đầy đủ. Tóm lại, BHYT còn bất cập dưới nhiều góc độ: Tính ASXH của nhà nước chưa đảm bảo, sự an toàn của quỹ BHYT còn bấp bênh, cơ sở KCB còn nhiều hiện tượng chi BHYT sai quy định, lợi dụng để trục lợi quỹ BHYT, người hưởng BHYT không thiết tha với BHYT vì không được hưởng quyền lợi BHYT trọn vẹn. Nguyên nhân là do BHXHVN, cơ sở KCB và đơn vị sử dụng lao động cũng như đối tượng nộp và hưởng BHYT không có sự liên kết thông tin, đặc biệt là thông tin về tài chính. Mỗi đơn vị hoạt động đơn lẻ, rời rạc chưa gắn kết thông tin dẫn đến việc quản lý quỹ BHYT còn bị động, tạo kẽ hở cho việc trục lợi quỹ BHYT. Để quản lý chặt chẽ quỹ BHYT đòi hỏi sự giám sát của các bên: BHXHVN - đơn vị chủ quản quỹ; các cơ sở KCB - đơn vị chi tiêu quỹ và đối tượng nộp, hưởng BHYT. Trong đó, BHXHVN là đơn vị kiểm soát trực tiếp quá trình thu, chi quỹ BHYT. Hiện nay, HTTTKT quỹ BHYT cung cấp còn rời rạc, chưa có sự gắn kết giữa các bên. Thậm chí thông tin cung cấp cho đối tượng BHYT còn nghèo nàn. Do đó, BHXHVN còn thụ động trong quản lý quỹ, việc thanh toán lệ thuộc nhiều vào các cơ 3 sở KCB. Để khắc phục tình trạng này, BHXHVN phải có một HTTT, đặc biệt là HTTTKT, một cách nhanh nhậy và chính xác nhằm đưa ra quyết định phù hợp. HTTTKT phải có sự gắn kết với các HTTT khác trong cùng ngành và trong tương lai phải có mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị bên ngoài có liên quan đến quỹ BHYT như cơ sở KCB, đơn vị sử dụng lao động, địa phương nơi cư trú của người đóng, thụ hưởng BHYT. Qua nghiên cứu lý luận, tìm hiểu những hạn chế về HTTTKT quỹ BHYT tại các đơn vị BHXH, đơn vị chủ quản quỹ BHYT, thấy rõ tầm quan trọng của HTTTKT trong việc quản lý quỹ BHYT, tác giả chọn đề tài: “Hệ thống thông tin kế toán quỹ BHYT tại cơ quan BHXH Việt Nam” để nghiên cứu

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học kinh tế quốc dân Trường đại học kinh tế quốc dân



Nguyễn thị thanh nga

Hệ THốNG THÔNG TIN Kế TOáN QUỹ BHYT

TạI BHXH VIệT NAM

Chuyên ngành: kế toán, kiểm toán và phân tíchChuyên ngành: kế toán, kiểm toán và phân tích

Mã số: 62 34 03 01

Mã số: 62 34 03 01

Người hướng dẫn khoa học: Pgs.ts nguyễn thị đông

Hà nội, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Xác nhận của

Giáo viên hướng dẫn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình về chuyên môn của PGS.TS Nguyễn Thị Đông, các thầy cô trong Viện Kế toán – Kiểm toán, Viện Đào tạo Sau Đại học trường đại học Kinh tế Quốc dân, các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán

Luận án cũng nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của kế toán trưởng bảo hiểm xã hội Việt Nam, các kế toán trưởng, kế toán viên, các nhà quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hội Việt Nam, tỉnh, thành phố, quận, huyện trong phạm vi cả nước và sự ủng hộ của gia đình, bạn bè

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và trân trọng nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Đông, các thầy cô viện Kế toán - Kiểm toán, các nhà quản lý Bảo hiểm xã hội các cấp, anh chị em phòng kế toán Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố, Bảo hiểm xã hội quận huyện trong phạm vi cả nước và gia đình, bạn bè đã ủng hộ cho tôi hoàn thành luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC PHỤ LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đề tài 3

1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 3

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 11

1.2.3 Khoảng trống nghiên cứu 14

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 16

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 16

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 16

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 17

1.6 Phương pháp nghiên cứu và mẫu khảo sát 17

1.6.1 Mẫu điều tra 18

1.6.2 Phương pháp điều tra 18

1.6.3 Bảng hỏi 19

1.6.4 Kết quả điều tra 20

1.6.5 Xử lý kết quả điều tra 20

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu 22

1.7.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 22

1.7.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 22

1.8 Các kết quả nghiên cứu 22

Trang 5

1.9 Kết cấu luận án 23

Tóm tắt chương I 24

CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 25

2.1 Khái niệm HTTTKT 25

2.1.1 Khái niệm về hệ thống và HTTT 25

2.1.2 Khái niệm về HTTTKT 28

2.2 Tổng quan về đơn vị SNCL 33

2.2.1 Khái niệm, phân loại đơn vị SNCL 33

2.2.2 Đặc điểm hoạt động của các đơn vị SNCL 38

2.2.3 Quản lý tài chính của đơn vị SNCL 39

2.2.4 HTTTKT trong đơn vị SNCL 41

2.3 Các yếu tố cấu thành HTTTKT 44

2.3.1 Con người 44

2.3.2 Phương tiện kỹ thuật, CNTT 47

2.3.3 Dữ liệu kế toán 49

2.3.4 Các quy trình 52

2.3.5 Hệ thống kiểm soát 53

2.4 HTTTKT quỹ BHYT một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 55

2.4.1 HTTTKT quỹ BHYT một số nước trên thế giới 55

2.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 57

Tóm tắt chương II 59

CHƯƠNG III: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HTTTKT QUỸ BHYT TẠI BHXHVN 60

3.1 Lịch sử hình thành và phát triển quỹ BHYT tại BHXHVN 60

3.2 Thực trạng HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN 61

3.2.1 Thực trạng con người 64

3.2.2 Thực trạng về CNTT 68

3.2.3 Thực trạng dữ liệu 80

3.2.4 Quy trình thực hiện 86

Trang 6

3.2.5 Kiểm soát 96

Tóm tắt chương III 100

CHƯƠNG IV: LUẬN BÀN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUỸ BHYT TẠI BHXHVN 101

4.1 Luận bàn kết quả nghiên cứu 101

4.1.1 Con người 101

4.1.2 Công nghệ thông tin 102

4.1.3 Dữ liệu 103

4.1.4 Quy trình 103

4.1.5 Kiểm soát 104

4.2 Các giải pháp hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN 104

4.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN 104

4.2.2 Giải pháp hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN 110

4.3 Các điều kiện chủ yếu nhằm triển khai giải pháp hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN 126

4.3.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quỹ BHYT tại BHXHVN 126

4.3.2 Hoàn thiện chính sách của các cơ quan quản lý 127

KẾT LUẬN 130

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

PHỤ LỤC 139

Trang 7

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Báo cáo Thu-Chi quỹ BHXH, BHYT 62

Bảng 3.2: Kết quả khảo sát trình độ và công việc của kế toán 67

Bảng 3.3: Kết quả khảo sát số lượng cán bộ giám định BHYT 68

Bảng 3.4: Các phần mềm sử dụng tại BHXHVN 71

Bảng 3.5: Kết quả khảo sát sự liên thông phần mềm VSA với phần mềm chi phí KCB tại bệnh viện 72

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát độ tương thích giữa phần mềm viện phí với phần mềm thanh toán chi phí KCB tại các cơ sở KCB 73

Bảng 3.7: kết quả khảo sát phần mềm tại BHXH tỉnh, thành phố và quận huyện 76

Bảng 3.8: kết quả khảo sát về mạng lưới tại BHXHVN và cơ sở KCB 78

Bảng 3.9: Kết quả khảo sát về tính bảo mật thông tin tại BHXHVN 80

Bảng 3.10: Kết quả khảo sát dữ liệu tại BHXHVN 85

Bảng 3.11: Kết quả khảo sát quy trình chi BHYT tại BHXHVN 92

Bảng 3.12: Kết quả khảo sát quy trình chi BHYT 94

Bảng 3.13: Kết quả khảo sát về kiểm soát tại BHXHVN 98

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Mức tự động hóa của quy trình thanh toán ốm đau thai sản 91

Hình 3.2: Mức tự động hóa hiện tại của quy trình chi trả chế độ 91

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa BHXHVN, cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT 3

Sơ đồ 2.1: Các yếu tố cấu thành một hệ thống thông tin 26

Sơ đồ 2.2 Các yếu tố cấu thành của HTTT xét ở trạng thái tĩnh 27

Sơ đồ 2.3: Mô hình của Delone and McLean (1992) 33

Sơ đồ 2.4: Trình tự nhập số liệu vào phần mềm kế toán 51

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ kết nối phần mềm VSA giữa tỉnh và huyện 74

Sơ đồ 3.2: Quy trình quyết toán chi phí KCB BHYT 89

Sơ đồ 4.1: Mối quan hệ giữa các bên tham gia quỹ BHYT 110

Sơ đồ 4.2: Sơ đồ cấu hình máy chủ tại BHXHVN 113

Sơ đồ 4.3: Sơ đồ mô hình phần mềm BHXH, BHYT 115

Sơ đồ 4.4: Thu BHXH và BHYT 120

Sơ đồ 4.5: Sơ đồ liên thông các phòng ban tài chính kế toán với ban thu BHYT và ban chi BHYT 122

Sơ đồ 4.6: Sơ đồ quản lý chi phí KCB 123

Trang 10

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Danh sách người được phỏng vấn 140

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính 141

Phụ lục 3 Phiếu khảo sát tại BHXH Việt Nam 143

Phụ lục 4a: Bảng phỏng vấn cán bộ chủ chốt phòng công nghệ thông tin tại BHXH trung ương 157

Phụ lục 4b: Bảng phỏng vấn cán bộ chủ chốt phòng công nghệ thông tin tại BHXH các tỉnh, thành phố 158

Phụ lục 5: Bảng khảo sát tại các bệnh viện 160

Phụ lục 6: Bảng khảo sát đối tượng hưởng BHYT 163

Phụ lục 7: Danh sách các tỉnh trong mẫu nghiên cứu 165

Phụ lục 8: Sơ đồ tổ chức bộ máy hệ thống ở BHXHVN 168

Phụ lục 9: Kết quả khảo sát cán bộ kế toán theo chuyên môn tại BHXH các cấp 169

Phụ lục 10: Khảo sát trình độ học vấn của cán bộ kế toán 170

Phụ lục 11: Kết quả thu thập phiếu điều tra 170

Phụ lục 12 Thống kê mô tả mẫu theo giới tính 171

Phụ lục 13 Thống kê mô tả mẫu theo tuổi đời 171

Phụ lục 14: Thống kê mô tả mẫu theo vị trí công việc 171

Phụ lục 15: Thống kê mô tả mẫu theo thâm niên công tác 172

Phụ lục 16: Thống kê mô tả mẫu theo cấp quản lý 172

Phụ lục 17: Thống kê mô tả mẫu theo miền 172

Phụ lục 18: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát tại BHXHVN 173

Phụ lục 19: Pảng phân tích dữ liệu phỏng vấn tại phòng CNTT tại BHXH các tỉnh, thành phố 189

Phụ lục 20: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát tại bệnh viện 190

Phụ lục 21: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát đối tượng hưởng BHYT 193

Phụ lục 22: Sơ đồ quy trình xử lý nghiệp vụ kinh tế trên phần mềm VSA 195

Phụ lục 23: Sơ đồ quy trình Thu BHYT của người Lao động tham gia BHYT bắt buộc tại các đơn vị sử dụng lao động 196

Phụ lục 24: Sơ đồ quy trình thu BHYT học sinh, sinh viên 197

Trang 11

Phụ lục 25: Sơ đồ quy trình thu BHYT được NSNN hỗ trợ 100% kinh phí 198

Phụ lục 26: Sơ đồ kế toán tạm thu các loại bảo hiểm và lãi chậm đóng bảo hiểm 199

Phụ lục 27: Sơ đồ kế toán phải thu BHYT 200

Phụ lục 28: Sơ đồ kế toán thanh toán về thu BH giữa BHXH tỉnh và BHXH huyện 201 Phụ lục 29a: Kế toán chi BHYT 202

Phụ lục 29b: Kế toán chi BHYT (Tiếp) 203

Phụ lục 29c: Kế toán chi BHYT (Tiếp) 204

Phụ lục 30: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi KCB đa tuyến 205

Phụ lục 31: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa trung ương với tỉnh 206

Phụ lục 32: Kế toán thanh toán về chi BHYT giữa tỉnh với huyện 207

Phụ lục 33: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa tỉnh với huyện 208

Phụ lục 34: Sơ đồ kế toán quỹ KCB 209

Phụ lục 35: Giải thích các ký hiệu trong sơ đồ 4.4; 4.5; 4.6 210

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

BHYT là một loại bảo hiểm trong hệ thống BHXHVN BHYT là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những loại hình BHXH mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân Tuy nhiên, do sự phân cấp quản lý phức tạp, sự thay đổi cơ quan và cơ chế quản lý quỹ BHYT (trước đây cơ quan chủ quản là Bộ y tế nay chuyển sang cơ quan BHXH Việt Nam) Hình thức thu BHYT được nới rộng, từ 1/1/2014, nhà nước tiến tới thực hiện BHYT toàn dân Nhiều loại hình đối tượng tham gia: người lao động, học sinh, sinh viên, đối tượng chính sách xã hội, người có nhu cầu tự nguyện tham gia Mỗi đối tượng có đặc điểm và định mức chi trả khác nhau Quá trình thu, chi BHYT là sự kết hợp giữa đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT; đơn vị, tổ chức quản lý đối tượng thụ hưởng; đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ y tế và thanh toán BHYT; cơ quan BHXH, đơn vị thực hiện nhiệm vụ của nhà nước tham gia thu, chi, quyết toán BHYT cho đối tượng thụ hưởng Thủ tục thanh toán thông qua các mối quan hệ này còn nhiều bất cập dẫn đến việc thất thoát, chi không đúng mục đích quỹ BHYT làm cho lòng tin của người dân trong việc KCB BHYT ngày càng giảm sút

Đối với BHXHVN, quỹ BHYT cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính Khó khăn trước mắt hiện nay của các nhà quản lý quỹ BHYT là làm sao cân đối được thu, chi quỹ và đảm bảo quyền lợi KCB cho đối tượng thụ hưởng Tình hình thu chi quỹ BHYT có nhiều điểm diễn biến phức tạp Nguồn hình thành của quỹ BHYT do người lao động, đơn vị sử dụng lao động đóng góp và sự hỗ trợ của nhà nước cho người nghèo, các đối tượng chính sách Những năm gần đây, quỹ BHYT có nguy cơ

bị vỡ quỹ do chi phí BHYT lớn hơn thu BHYT Việc thanh toán chi phí KCB còn phức tạp, qua nhiều khâu dẫn đến khó kiểm soát Việc thanh quyết toán còn thụ động, dựa vào cơ sở KCB Dưới góc độ các cấp dự toán, việc lập quỹ BHYT, quản lý nguồn tài chính quỹ BHYT, phân chia tài chính cho các đơn vị thanh toán BHYT hiện đang

là vấn đề đòi hỏi sự quản lý ngày càng chặt chẽ về mặt tài chính nhưng vẫn đảm bảo ASXH, đồng thời phải đáp ứng được quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT

Về phía cơ sở KCB, nhiều sai phạm đã xảy ra trong thực hiện hợp đồng như: chỉ định thuốc và xét nghiệm không phù hợp với chuẩn đoán của bác sỹ; đấu thầu mua

Trang 13

thuốc đắt; bỏ qua các thủ tục trong việc thu, quản lý và sử dụng quỹ BHYT; một số bệnh viện không có đủ chữ ký trên chứng từ, không lưu toa thuốc, không tính tiền trên phiếu phát thuốc nhưng vẫn được thanh quyết toán với BHXH dẫn đến thâm hụt quỹ BHYT Việc thanh quyết toán giữa các cơ sở KCB các cấp với BHXHVN còn nhiều bất cập Theo cách quyết toán BHYT, chi phí KCB của người dân chuyển lên tuyến trên đều được tính vào quỹ BHYT tuyến huyện, tuyến tỉnh Nhiều căn bệnh của bệnh nhân còn kéo theo những xét nghiệm không thật cần thiết và gây lãng phí Số tiền quỹ BHYT tại tuyến dưới bị khống chế theo năm không thay đổi trong khi đó bệnh nhân chuyển lên tuyến trên sử dụng nhiều thủ thuật dịch vụ kỹ thuật cao làm cho số quỹ BHYT ở tuyến dưới đã eo hẹp lại càng trở nên khó khăn Vì thế, tiền BHYT luôn trong tình trạng bội chi Hiện nay, số lượng các bệnh viện công ít, bệnh viện tư không mặn mà với KCB BHYT, bệnh nhân ngày càng đông làm cho chất lượng KCB còn hạn chế

Đối với đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT, việc KCB BHYT không còn mặn

mà Một số đối tượng nộp BHYT nhưng không hưởng do nhiều lý do khác nhau như: chất lượng dịch vụ BHYT không đảm bảo, thời gian chờ KCB quá lâu, thái độ y bác

sỹ không nhiệt tình Quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT chưa được đáp ứng đầy đủ

Tóm lại, BHYT còn bất cập dưới nhiều góc độ: Tính ASXH của nhà nước chưa đảm bảo, sự an toàn của quỹ BHYT còn bấp bênh, cơ sở KCB còn nhiều hiện tượng chi BHYT sai quy định, lợi dụng để trục lợi quỹ BHYT, người hưởng BHYT không thiết tha với BHYT vì không được hưởng quyền lợi BHYT trọn vẹn Nguyên nhân là

do BHXHVN, cơ sở KCB và đơn vị sử dụng lao động cũng như đối tượng nộp và hưởng BHYT không có sự liên kết thông tin, đặc biệt là thông tin về tài chính Mỗi đơn vị hoạt động đơn lẻ, rời rạc chưa gắn kết thông tin dẫn đến việc quản lý quỹ BHYT còn bị động, tạo kẽ hở cho việc trục lợi quỹ BHYT

Để quản lý chặt chẽ quỹ BHYT đòi hỏi sự giám sát của các bên: BHXHVN - đơn vị chủ quản quỹ; các cơ sở KCB - đơn vị chi tiêu quỹ và đối tượng nộp, hưởng BHYT Trong đó, BHXHVN là đơn vị kiểm soát trực tiếp quá trình thu, chi quỹ BHYT Hiện nay, HTTTKT quỹ BHYT cung cấp còn rời rạc, chưa có sự gắn kết giữa các bên Thậm chí thông tin cung cấp cho đối tượng BHYT còn nghèo nàn Do đó, BHXHVN còn thụ động trong quản lý quỹ, việc thanh toán lệ thuộc nhiều vào các cơ

Trang 14

sở KCB Để khắc phục tình trạng này, BHXHVN phải có một HTTT, đặc biệt là HTTTKT, một cách nhanh nhậy và chính xác nhằm đưa ra quyết định phù hợp HTTTKT phải có sự gắn kết với các HTTT khác trong cùng ngành và trong tương lai phải có mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị bên ngoài có liên quan đến quỹ BHYT như cơ sở KCB, đơn vị sử dụng lao động, địa phương nơi cư trú của người đóng, thụ hưởng BHYT Qua nghiên cứu lý luận, tìm hiểu những hạn chế về HTTTKT quỹ BHYT tại các đơn vị BHXH, đơn vị chủ quản quỹ BHYT, thấy rõ tầm quan trọng của

HTTTKT trong việc quản lý quỹ BHYT, tác giả chọn đề tài: “Hệ thống thông tin kế

toán quỹ BHYT tại cơ quan BHXH Việt Nam” để nghiên cứu Trong đó, trục quan

hệ cần kiểm soát quỹ BHYT là:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa BHXHVN, cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT

(Nguồn: Theo nghiên cứu của tác giả)

Hàng tháng, đối tượng nộp BHYT cho BHXHVN và BHXHVN cấp thẻ BHYT cho đối tượng Khi ốm đau, bệnh tật, đối tượng nộp BHYT đến các cơ sở KCB nộp thẻ BHYT để khám và chữa bệnh Các cơ sở KCB được BHXHVN phân phối quỹ KCB

và sau khi bệnh nhân khám xong, các cơ sở KCB nộp hồ sơ bệnh án lên BHXHVN để quyết toán chi phí KCB

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đề tài

1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới có nhiều tác giả bàn về HTTTKT Trong đó có một số tác giả điển hình như sau:

Cuốn " Accounting Information System" của tác giả Jame A.Hall, năm 2009,

Cơ sở KCB BHYT

BHXHVN

Đối tượng nộp và hưởng BHYT

Trang 15

6th edition tại South – Westarn

Cuốn " Accounting Information System" của tác giả JL Bookkholdt, năm 1997, IRWIN edition, Fifth edition, USA

Cuốn " Accounting Information System" của các tác giả Romney M.B, Steibart Paul John, năm 2012, Prentice – hall edition, 12th edition, USA

Cuốn " Accounting Information System" của các tác giả George H.Bodnar, William S Hopwood, năm 1998, Prentice – hall edition, USA

Đây là những tác giả bàn luận về HTTTKT trong các cuốn sách làm căn cứ lý luận cho nhiều nhà nghiên cứu về HTTTKT Hầu hết các tác giả trước khi nghiên cứu HTTTKT đều tìm hiểu về HTTT Quan điểm của các tác giả tương đối đồng nhất về HTTT Các tác giả đều cho rằng, HTTT là hệ thống tiếp nhận các nguồn dữ liệu như các yếu tố đầu vào và xử lý chúng thành các sản phẩm thông tin là các yếu tố đầu ra HTTT có 4 chức năng chính là: đưa thông tin vào, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin và đưa thông tin ra Ngoài ra, nó còn giúp cho người lãnh đạo và quản lý thực hiện công việc kiểm soát và quản lý toàn bộ hệ thống HTTT bao gồm nhiều loại: HTTT tổ chức, HTTT sức khỏe, HTTT quản lý Trong các HTTT, HTTT quản lý được biết đến sớm

và phổ biến nhất HTTT quản lý là sự phát triển và sử dụng HTTT có hiệu quả trong một tổ chức Nói đến các yếu tố cấu thành của HTTT quản lý xét ở trạng thái tĩnh, các tác giả cho rằng bao gồm 5 yếu tố: Thiết bị tin học (máy tính, các thiết bị, các đường truyền, - phần cứng), các chương trình (phần mềm), dữ liệu, thủ tục - quy trình và con người Nói đến vai trò của kế toán trong HTTTKT, các tác giả cho rằng, kế toán là một

bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò quản

lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị, có vai trò cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Các thông tin do kế toán cung cấp cần thiết với nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định Những người ra quyết định qua việc sử dụng thông tin kế toán sẽ đưa quyết định có nhiều khả năng nhất để hoàn thành các mục tiêu của họ Do vậy, HTTTKT là một phần của HTTT quản lý

HTTTKT là một HTTT được thiết kế để có thể thực hiện chức năng của kế toán HTTTKT tạo các quy trình dữ liệu và các giao dịch nhằm cung cấp cho người sử dụng các thông tin mà họ cần nhằm lập kế hoạch, kiểm soát và thực hiện công việc của

họ HTTTKT có thể là một hệ thống thủ công hoặc có thể là một hệ thống máy hóa với

Trang 16

việc sử dụng máy tính Bất kể là dạng gì HTTTKT được thiết kế để thu thập đầu vào, quy trình, lưu trữ và lập báo cáo dữ liệu và thông tin

Ngoài ra, HTTTKT còn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau trên các tạp chí như Flynn, Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim; Morteza và các cộng sự… Mỗi tác giả nghiên cứu dưới một yếu tố cấu thành HTTTKT: CNTT (Phần cứng và phần mềm), dữ liệu, quy trình, kiểm soát Nói đến hiệu quả của HTTTKT, chúng ta phải nói đến tính hiệu quả, tính hữu dụng cuả

nó Cụ thể:

Nói đến việc áp dụng HTTTKT được chấp nhận nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý đưa ra được quyết định phù hợp hướng tới sự quản lý hiệu quả Corner (1989) lại cho rằng hiệu quả của HTTTKT có thể được đánh giá như giá trị tăng thêm của lợi ích Còn Gelines (1990) xem xét hiệu quả HTTTKT như thước đo sự thành công nhằm đáp ứng được mục tiêu đã thiết lập Hiệu quả của HTTTKT có thể được đánh giá việc sử dụng một hay nhiều mô hình khác nhau Điểm yếu chính của nghiên cứu này là chưa nêu được ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán, chưa kết hợp với các hệ thống quản lý và tài chính khác với HTTTKT Trong nghiên cứu này, các nhà quản lý chỉ nhận thức được lợi ích của HTTTKT sẽ thực hiện nhiều hơn nhằm giảm khoảng cách giữa các doanh nghiệp (Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim, 2010)

Mỗi nhà nghiên cứu khoa học nói đến tính hiệu quả ở mỗi khía cạnh khác nhau nhưng đều hướng tới cái đích cần đạt được: sự quản lý hiệu quả, gia tăng thêm lợi ích, đáp ứng được mục tiêu đã thiết lập Về cơ bản, với các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế

và xây dựng bảng hỏi, khảo sát và phỏng vấn sâu, các nhà nghiên cứu đều kết luận rằng hiệu quả của HTTTKT có thể được xem xét như việc sử dụng thành công của hệ thống, đảm bảo nhu cầu của người sử dụng Rõ ràng, tính hiệu quả một HTTTKT còn phụ thuộc vào hoạt động của đơn vị là loại hình nào, mục đích cần đạt được là gì Nếu

là đơn vị sản xuất, việc gia tăng thêm lợi ích là thước đo tính hiệu quả của HTTTKT nhưng một đơn vị thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao hay cung cấp dịch vụ công thì thước đo đáp ứng được mục tiêu lại đo tính hiệu quả của việc sử dụng HTTTKT

Về sự hữu dụng của HTTTKT trong nền kinh tế mới nổi, các tác giả Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim (2010) cho rằng: HTTTKT trước đây tập trung vào việc ghi nhận, tổng hợp và xác nhận dữ liệu về các giao dịch tài chính Trước đây,

hệ thống kế toán được viết bằng phương thức thủ công nhưng hiện nay đã được viết

Trang 17

bằng phần mềm kế toán Sự phát triển ngày càng nhanh về CNTT đã tạo sự tiện ích cho việc sử dụng chi phí và quản lý thủ tục kế toán Phát triển CNTT trở nên quan trọng trong những thập niên gần đây và lan rộng trong thị trường và xã hội toàn cầu

Nói đến CNTT là đề cập đến 2 phần: phần cứng, phần mềm kế toán Phần cứng

là nói đến máy tính còn phần mềm là các chương trình phần mềm được lập ra trong đơn vị Nhiều tác giả nghiên cứu về từng khía cạnh trong CNTT ảnh hưởng đến

HTTTKT Tác giả Morteza và các cộng sự (2012) nghiên cứu về phần mềm kế toán và

cho rằng, để mong chờ một phần mềm kế toán hữu dụng phải phụ thuộc vào các yếu

tố: đặc điểm chung (dễ lắp đặt, dễ sử dụng, rõ nguồn gốc, khả năng hiện đại hóa), tính

so sánh được, tính linh hoạt, khả năng kiểm soát nội bộ và khả năng báo cáo Các tác giả Morteza Ramazani và Farnaz Vali Moghaddam Zanjani (2012) cho rằng: Để thành công, mỗi công việc đòi hỏi phải có một HTTTKT có khả năng cung cấp thông tin một cách đáng tin cậy, kịp thời cho việc ra quyết định trong một môi trường cạnh tranh Phần mềm kế toán là một công cụ chính trong HTTTKT, thông tin kịp thời, chính xác

và đáng tin cậy Mục đích nghiên cứu của các tác giả là khám phá ra khoảng cách tồn tại giữa tình huống thực tế và tình huống mong đợi của phần mềm kế toán được sử dụng dựa trên đặc điểm của HTTTKT Với các phương pháp nghiên cứu là “Thực nghiệm” và số liệu được thu thập thông qua “khảo sát”, các nhà nghiên cứu đã sử dụng

6 biến: đặc điểm chung, tính so sánh, sự linh hoạt, kiểm soát, đào tạo, lập báo cáo Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại khoảng cách đang quan tâm trong cả 6 biến Qua nghiên cứu này, ta thấy rõ tầm quan trọng của phần mềm kế toán trong tổ chức thực hiện HTTTKT trong các tổ chức Phần mềm kế toán là một công cụ để thực thi HTTTKT, ngược lại khi tiến hành xây dựng phần mềm kế toán thì phải dựa vào đặc điểm của HTTTKT Ngoài ra, Qatawneh, Adel M (2012) cũng đã chứng minh ảnh hưởng của thương mại điện tử đến HTTTKT Ông cho rằng CNTT là yếu tố rất cần

cho việc cung cấp dịch vụ

Tác giả Markus Granlund (2007) cũng đưa quan điểm của mình về nghiên cứu HTTTKT Tác giả đã đưa mối quan hệ giữa kế toán quản trị và CNTT hiện đại trên các giao diện Dựa trên việc xem xét các nghiên cứu trước đây và dữ liệu thực nghiệm, tác giả đã gợi ý rằng học viện kế toán nhìn chung có một sự hiểu biết hạn chế về sự phát triển hiện tại trong các giao diện kế toán – CNTT Mục đích của nghiên cứu này

là đánh giá phê bình tình trạng nghiên cứu trên giao diện giữa kế toán và CNTT Nghiên cứu này đề cập trên giao diện giữa HTTT và kế toán quản trị, kiểm soát Phân

Trang 18

tích tập trung đến việc mang lại lợi ích, sự hạn chế hiệu lực phát triển HTTT về kế toán và thực hành kiểm soát Nghiên cứu thảo luận chi tiết việc chuyển tiềm năng của CNTT hiện đại với nội dung của kế toán, những phức tạp đan xen trong việc tích hợp CNTT với kế toán và kiểm soát, với những nghịch lý của tính phức tạp của CNTT và biểu hiện của nó trong nội dung kế toán quản trị Phân tích đã đưa ra được lý do đáng quan tâm về tình trạng nghiên cứu HTTTKT hiện tại trong một số khía cạnh Mặt khác, nghiên cứu này kết luận rằng nghiên cứu HTTTKT sẽ phải đề cập nhiều hơn nữa nội dung các vấn đề kế toán Gợi ý này cũng gần với quan điểm được bày tỏ của Sutton (2005) và Arnold (2006) Các nhà nghiên cứu HTTTKT sẽ phát triển một sự hiểu biết tốt hơn về nghiên cứu và thực hành kế toán trước khi nghiên cứu giao diện kế toán – HTTT Hơn nữa, cùng nghiên cứu tiểu ngành sẽ làm tăng cường hiểu biết tốt hơn về giao diện kế toán – CNTT

Nói đến chất lượng dữ liệu là dữ liệu được quan tâm dưới các góc độ: tính chính xác, kịp thời, kiên định, và khả năng tiếp cận (Wang và các cộng sự, 1995) Một

số tác giả cho rằng nói đến chất lượng dữ liệu là nói đến độ tin cậy của nó, có 2 yếu tố quan trọng của độ tin cậy dữ liệu là tính đầy đủ và tính chính xác (Ballow & Pazer,1985; Redman 2001 ch 14; Wang và các cộng sự, 1995) Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có ý kiến cho thấy chất lượng của dữ liệu được coi là sự hài lòng của khách hàng (Dustin C.Derby và các cộng sự, 2009) Việc sử dụng các dữ liệu điện tử

đã được chứng minh làm giảm thời gian của nhân viên, chi phí trực tiếp và gián tiếp, giảm các lỗi dữ liệu (Galliher và các cộng sự, 2008)

Để nghiên cứu rõ về HTTTKT, các tác giả: Michael Alles, Mieke Jans, Miklos Vasarhelyi (2011) đã đưa ra một phương pháp nghiên cứu mới Đó là “khai thác quy trình” Khai thác quy trình là phân tích HTTT chứa đựng trong việc ghi chép sự kiện,

đó là một bộ dữ liệu được xây dựng từ thông tin được ghi nhận trong HTTT hiện đại

Dữ liệu đó bao gồm cả thông tin đầu vào từ người sử dụng và thông tin lớn về giao dịch đó, như là đánh dấu dữ liệu và nhận dạng người sử dụng Quan trọng hơn, thông tin lớn là thông tin được ghi nhận tự động bởi hệ thống, dựa trên sự kiểm soát của người sử dụng hoặc ngăn chặn việc ghi nhận, cái làm cho sự việc được ghi nhận là các công cụ kiểm soát có giá trị Hơn nữa, việc ghi nhận dữ liệu của các giao dịch nhiều để phân tích các mô hình được tiến hành trên sự hiểu biết khác nhau của quá trình Khám phá quá trình đã được nghiên cứu rộng rãi trong khoa học máy tính và khoa học quản

lý cũng như chấp nhận trong ngành công nghiệp với sự hỗ trợ của các công ty công

Trang 19

nghệ cao Nghiên cứu này cung cấp cho các nhà nghiên cứu hệ thống thông tin kế toán cùng với sự giới thiệu về khai thác quy trình, xem khám phá quá trình được thực hiện

và trao đổi như thế nào và tại sao nó có thể làm tăng giá trị cho cả nghiên cứu và thực hành kế toán Các tác giả cho rằng có ít nhất 5 giai đoạn khác nhau trong khai thác quá trình: Khám phá quy trình, kiểm tra sự phù hợp, phân tích hiệu suất, phân tích mạng xã hội, xác minh và khai thác quyết định

Còn Michael Alles (2011) cho rằng, khai thác quy trình là hệ thống tự động phân tích thông tin chứa trong nhật ký sự kiện, là bộ dữ liệu được xây dựng từ thông tin được ghi nhận trong hệ thống CNTT hiện đại Dữ liệu đó bao gồm cả thông tin đầu vào bởi những người sử dụng và thông tin đa chiều về các giao dịch đó như là các item

dữ liệu và nhận dạng người sử dụng Thông tin đa chiều được tự động ghi vào hệ thống dựa trên sự điều khiển của người sử dụng để ghi nhận hoặc không ghi nhận, làm cho nhật ký sự kiện có thể trở thành công cụ kiểm soát Dữ liệu trong nhật ký sự kiện nhiều đến mức tạo ra nhiều mô hình phân tích Khai thác quy trình đã được nghiên cứu nhiều trong khoa học quản lý và máy tính

Về kiểm soát trong HTTTKT, Theo Dolejsovas, Miroslava (2008), việc kiểm soát thường được kết nối với các HTTT và kế toán Các kế toán viên cần quan tâm đến việc xác minh số liệu kế toán và bảo mật thông tin Tác giả mô tả các khuyến nghị trong bảo mật dữ liệu kế toán: các quy tắc cho việc xử lý mật khẩu, các quy tắc cho việc sao lưu dữ liệu, các quy tắc cho việc đóng các ứng dụng, các quy tắc cho các thư điện tử, các quy tắc cho Internet và các quy tắc cho bảo mật dữ liệu Theo ông, kiểm soát có thể hỗ trợ kế toán đảm bảo tốt hơn dữ liệu kế toán và thấy rõ tầm quan trọng của sự bảo mật thông tin trong kế toán, việc áp dụng kiểm soát trong HTTTKT và cung cấp các khuyến nghị đối với việc sử dụng dữ liệu kế toán hàng ngày

Theo Brandas, Claudiu (2013), việc kiểm soát theo quy trình đảm bảo tính toàn vẹn, thực tế, độ chính xác, kịp thời của các báo cáo tài chính Các tác giả cho rằng việc

sử dụng CNTT trong các quy trình kế toán đang ngày càng phổ biến dẫn đến mối quan tâm nghiên cứu về những rủi ro, kiểm soát và kiểm toán của các HTTTKT ngày càng tăng

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, một số tác giả cũng thấy rõ tầm quan trọng của HTTTKT Các tác giả nghiên cứu về HTTTKT trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe khá phong phú Tác giả Davor Vasicek và Gorana Roje (2010) cho rằng:

Trang 20

Trong việc xem xét toàn diện việc chấp nhận cơ sở dồn tích và chuẩn mực kế toán công quốc tế, nghiên cứu này kiểm tra tính hợp lý của sự tồn tại kế toán dựa trên cơ sở dồn tích đã được xác định và hệ thống báo cáo tài chính chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực công Nghiên cứu này với phương pháp phân tích thực nghiệm đã chỉ rõ HTTTKT chứa đựng những khác biệt và khó khăn trong việc đảm bảo cái nhìn hợp lý và trung thực về vị trí tài chính của tổ chức và hiệu suất của nó Với đặc trưng của HTTTKT, các tác giả tranh luận rằng việc chăm sóc sức khỏe công đại diện cho một hệ thống lớn

về phân khúc kế toán với sự thiếu hụt khuôn khổ kế toán lĩnh vực công – nơi mà thực thi kế toán trên cơ sở dồn tích có thể cung cấp những minh chứng đáng tin cậy Từ những năm thập niên 80 đã có một làn sóng mạnh mẽ về cải cách kế toán, quản lý và

tổ chức trong lĩnh vực công của nhiều nước và khu vực pháp lý (Barton, 2004) Vấn

đề quản lý lĩnh vực công mới đang chiếm ưu thế trong cuộc cải cách này.(Hood, 1995) Việc thực hiện quản lý dựa trên các quy tắc kinh tế và các nguyên tắc hiệu quả thị trường đã làm tăng khả năng tính toán và cải thiện các công cụ quản lý (Azuma,

2003, 2005) Kể từ khi thông tin được coi là nguồn quan trọng nhất cần thiết trong quá trình quản lý, một sự phát triển của HTTTKT toàn diện, tạo bởi các chỉ dẫn dựa trên

cơ sở kế toán dồn tích, tạo tiền đề cho việc quản lý thành công trong lĩnh vực công (IFAC, 2003, VAsicek, 2004) Với phương pháp khảo sát và phỏng vấn kế toán và các nhà quản lý về báo cáo tài chính trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhưng chỉ trong các bệnh viện, nơi mà tác giả cho rằng quan trọng và phức tạp nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe công, đã thấy rõ sự cần thiết cải cách HTTTKT nhằm nghiên cứu quản lý hiệu quả lĩnh vực chăm sóc sức khỏe công trong tương lai

Việc giảm quỹ công và tập trung đo lường hiệu quả trong lĩnh vực dịch vụ công cũng đã làm ảnh hưởng đến quản lý và thực hành kế toán của nhiều hệ thống chăm sóc sức khỏe Sự áp lực này dẫn đến nhiều nhà quản lý phải tìm kiếm các công cụ quản lý, thường bắt nguồn từ lĩnh vực tư nhân, trong nỗ lực hợp lý hóa việc sử dụng nguồn lực Việc tính chi phí dựa trên hoạt động là một trong những kỹ thuật đó Nghiên cứu đã cung cấp khá rõ nét thông tin chi phí cho việc kiểm soát và đưa ra quyết định Các tác giả nghiên cứu theo chiều dọc việc ứng dụng kế toán cung cấp sự hiểu biết thông qua quá trình và ban hành đổi mới về chi phí trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (Michela Arnabodi and Irvine Lapsley, 2005)

Cũng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các tác giả Bernstein, Mariel L, MeCreless, Tamuchin (Winter 2007) đã đưa ra 5 thông số cho việc chấp nhận CNTT

Trang 21

Ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe đã phát triển CNTT một cách độc lập nhằm duy trì và cải thiện hoạt động KCB và hoạt động kinh doanh Liệu CNTT được sử dụng cho việc tự động hóa văn phòng hoặc cho việc giảm các lỗi KCB, có 5 thông số ảnh hưởng thường xuyên đến sự hội nhập thành công của CNTT trong việc KCB Các thông số này được sử dụng riêng và duy trì ngân sách CNTT, có vai trò hỗ trợ cho các lãnh đạo, sử dụng quản lý các dự án, quá trình thực hiện và có ý nghĩa với các bên liên quan đến người sử dụng Các thông số này cũng là một thách thức đối với các tổ chức chăm sóc sức khỏe nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và tài chính khi chấp nhận CNTT hiện đại Sự hiểu biết các thông số này và sự tương tác của chúng làm cho các

tổ chức chăm sóc sức khỏe hòa nhập tốt hơn CNTT hiện đại và mục tiêu của tổ chức là phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ vững chắc để thực sự nâng cao chất lượng KCB Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu sâu về HTTTKT và mới chỉ đứng dưới góc độ quan hệ giữa CNTT hiện đại với hiệu quả của các cơ sở KCB

Xét về yếu tố chủ quan, HTTTKT là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý quỹ BHYT Nhân tố thông tin đầu vào với các chi phí KCB, sự trung thực của đối tượng nộp và hưởng BHYT, sự khách quan, công bằng của các đơn vị KCB, và thông tin đầu ra là các báo cáo kịp thời, chính xác giúp các nhà quản lý có cái nhìn đúng nhất là yếu tố góp phần đáng kể cho quản lý quỹ BHYT Hiện nay, việc cung cấp thông tin về thu quỹ BHYT, về KCB cho người lao động, về xác nhận trường hợp được hưởng BHYT còn nhiều phức tạp Các thông tin này được phản ánh qua các chứng từ, sổ sách kế toán và là bằng chứng để thanh quyết toán với cơ quan BHXH Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy kế toán tại cơ quan BHXH và phương tiện kỹ thuật, hệ thống kiểm soát là những yếu tố không thể thiếu trong quản lý hệ thống quỹ BHYT Vấn đề chất lượng của dữ liệu ngày càng trở nên quan trọng trong việc ứng dụng CNTT trong các loại hình tổ chức Các nhân tố tác động đến HTTTKT bao gồm: môi trường tổ chức, các nhân tố trong tổ chức, các nhân tố bên ngoài Để đảm bảo chất lượng dữ liệu trong HTTTKT, các nhân tố này vô cùng quan trọng (Nord, Gdaryl và các cộng sự, 2005)

Về các yếu tố cấu thành HTTTKT, mỗi tác giả trong các nghiên cứu nêu trên chỉ nghiên cứu từng yếu tố cấu thành HTTTKT: Con người, CNTT, dữ liệu, quy trình, kiểm soát Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các tác giả mới nghiên cứu HTTTKT ở đơn vị KCB Các tác giả chưa nghiên cứu HTTTKT tại đơn vị chủ quản quỹ KCB Ngoài ra, các tác giả cũng chưa đề cập rõ mối quan hệ giữa cơ sở KCB với đơn vị chủ

Trang 22

quản trong việc quản lý hiệu quả quỹ KCB Tác giả cho rằng đây là một khoảng trống cần nghiên cứu tiếp Để quản lý quỹ KCB hiệu quả, chúng ta cần nghiên cứu một HTTTKT tại đơn vị chủ quản quỹ trong sự kết nối với HTTTKT tại các cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT nhằm cung cấp thông tin kế toán đa chiều và giám sát được chi phí KCB

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, tuy HTTTKT là một nội dung mới nhưng thấy rõ tầm quan trọng của nó trong quản lý, một số tác giả cũng có những nghiên cứu về lĩnh vực này

Trong các sách nghiên cứu, cuốn "Hệ thống thông tin kế toán" (2004) của trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh; Cuốn "Hệ thống thông tin kế toán" của các tác giả Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011); Cuốn "Hệ thống thông tin kế toán" của các tác giả Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Quang Huy, Thiều Thị Tâm, Phan Đức Dũng (2014), NXB Thống kê Các tác giả cũng đã nghiên cứu hệ thống thông tin trong đó có HTTTKT và đồng nhất khái niệm cho rằng: "HTTTKT là hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trong doanh nghiệp" Các tác giả cho rằng HTTTKT đều thuộc hệ thống mở, có sử dụng chu trình IPO (Input – Processing – Output) Xuất phát từ quá trình vận hành HTTT, HTTTKT bao gồm ít nhất 3 thành phần: con người, thủ tục và dữ liệu Con người thực hiện theo các thủ tục

kế toán để biến đổi dữ liệu kế toán nhằm tạo ra thông tin cung cấp cho người sử dụng Tuy nhiên, khi áp dụng CNTT, HTTTKT bao gồm 5 thành phần: con người, dữ liệu, thủ tục, phần cứng và phần mềm

Một số tác giả có nghiên cứu về HTTTKT trong các tạp chí Tuy nhiên, mỗi tác giả mới chỉ nêu được từng yếu tố trong HTTTKT chưa nghiên cứu tổng thể các yếu tố cấu thành HTTTKT Tác giả Vũ Hữu Đức (2009) cho rằng: HTTTKT, hiểu theo nghĩa rộng, là lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn liên quan đến mục tiêu cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng nhằm đưa ra quyết định Nó bao gồm cả lĩnh vực lập báo cáo tài chính cung cấp cho bên ngoài và lĩnh vực thông tin kế toán cho quản trị doanh nghiệp Cũng trong ngữ cảnh này, HTTTKT không chỉ là thiết kế, vận hành và giám sát HTTT mà còn bao gồm những chuẩn mực về thông tin và công tác kiểm soát, kiểm tra đối với các thông tin được cung cấp bởi hệ thống

Về thủ tục kiểm soát trong HTTTKT, tác giả Nguyễn Thu Hoài (2008) nêu rõ

để ngăn chặn các rủi ro, quá trình thiết kế và vận hành hệ thống kế toán máy, một mắt

Trang 23

xích quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ, trước hết phải đảm bảo đầy đủ các thủ tục kiểm soát như trong hệ thống thủ công Ngoài ra còn phải thiết lập thêm các thủ tục kiểm soát phù hợp với môi trường máy tính Nghiên cứu của tác giả đề cập đến các thủ tục kiểm soát được thiết kế và vận hành khác biệt trong hệ thống kế toán máy so với hệ thống kế toán thủ công

Nghiên cứu về tính hiệu quả của HTTTKT, tác giả Nguyễn Mạnh Toàn (2011) [46] đã nêu rõ chúng ta nên tiếp cận theo chu trình Tác giả cho rằng HTTTKT có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về tình hình tài sản, nguồn vốn và kinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay, nhiều đơn vị tổ chức thông tin kế toán theo phần hành nhằm theo dõi, hạch toán các đối tượng kế toán Tuy nhiên, việc tổ chức kế toán theo từng phần hành có những hạn chế nhất định trong việc trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các kế toán phần hành và giữa bộ phận kế toán với các

bộ phận chức năng khác trong đơn vị, dẫn đến việc thu thập, xử lý thông tin có thể chồng chéo nhau, thông tin cung cấp thường chậm, làm giảm hiệu quả công tác kế toán của đơn vị Việc ứng dụng CNTT là một thuận lợi cho phép tổ chức thông tin kế toán theo quy trình

Ở Việt nam, vấn đề về HTTTKT trong lĩnh vực y tế còn bỏ ngỏ chưa được quan tâm Các nhà nghiên cứu HTTTKT trong lĩnh vực này chưa nhiều Tác giả Huỳnh Thị Hồng Hạnh với luận án: "Phân tích và thiết kế HTTTKT trong các bệnh viện công" ( 2015) đã nghiên cứu HTTTKT tại các bệnh viện công theo chu trình phù hợp với hoạt động của bệnh viện, sau đó đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến sự thành công của HTTTKT và phương pháp tập hợp, theo dõi chi phí trong điều kiện ứng dụng CNTT Tác giả đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện lý luận và thực tiễn trong phân tích và thiết kế HTTTKT tại các bệnh viện công lập Tuy nhiên, tác giả chưa nghiên cứu được mối quan hệ giữa các bệnh viện công lập với cơ quan chủ quản quỹ BHYT và đối tượng nộp BHYT trong việc kiểm soát chi phí KCB Tác giả mới chỉ phân tích và thiết kế HTTTKT bên trong các bệnh viện công chứ chưa thấy được

để quản lý tốt chi phí KCB, HTTTKT này cần kết nối với cơ quan chủ quản quỹ BHYT và các đối tượng hưởng BHYT

Tác giả Nguyễn Thế Hưng (2006) đã trình bày những nội dung cơ bản về cách thức tổ chức HTTTKT trong các tổ chức Mỗi đơn vị SNCL đặc thù có một vị trí riêng

và đặc trưng khác nhau, đòi hỏi việc tổ chức công tác kế toán trong HTTTKT cũng

Trang 24

khác nhau Tác giả chưa đi sâu nghiên cứu HTTTKT trong từng loại hình đơn vị công lập cụ thể Một số tác giả khác nghiên cứu tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL đặc thù về y tế, giáo dục, ngành Lao động thương binh xã hội, ví dụ như:

Trong lĩnh vực giáo dục, luận án “Tổ chức kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo” (2004) của tác giả Nguyễn Thị Minh Hường đã đưa ra những lý luận cơ bản và giải pháp về tổ chức kế toán áp dụng cho các đơn vị kế toán, chưa đi sâu nghiên cứu tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu công lập, các giải pháp chú trọng giải quyết vấn đề tài chính chưa nghiên cứu về tầm quan trọng của

tổ chức hạch toán kế toán

Tác giả Nguyễn Hữu Đồng (2011) với luận án: “ Hoàn thiện hệ thống thông tin

kế toán trong các trường đại học công lập ở Việt Nam” đã đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hợp lý để hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán nhằm tăng cường tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập Việt nam Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nghiên cứu HTTTKT trong lĩnh vực giáo dục

Trong lĩnh vực y tế, tác giả Lê Kim Ngọc với luận án: “Tổ chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế với việc tăng cường quản lý tài chính ngành y tế Việt Nam”.(2009) đã tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các cơ sở KCB cả công lập và ngoài công lập trong đó chủ yếu là các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa thuộc bộ y tế và các sở y tế quản lý Đồng thời, tác giả cũng đưa ra vấn đề tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở này gắn với cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị SNCL ngành y tế

Tác giả Lê Thị Thanh Hương (năm 2012) với luận án: “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị bệnh viện trực thuộc bộ y tế” đi sâu nghiên cứu lý luận

về tổ chức công tác kế toán, xem xét từ cơ chế quản lý hoạt động, quản lý tài chính đến quan điểm, cơ sở và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức công tác kế toán theo qui trình kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu công lập Luận án đã nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán, vận dụng cơ sở lý luận để nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện trực thuộc

Bộ Y tế, phản ánh khách quan những kết quả đạt được và những hạn chế cần tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nguyên nhân của hạn chế đó

Hai tác giả Lê Kim Ngọc và Lê Thị Thanh Hương mới nghiên cứu tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện và cơ sở KCB – cơ quan tham gia thanh toán BHYT, chưa

Trang 25

nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ sở KCB với các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến quản lý quỹ BHYT, chưa nghiên cứu dưới góc nhìn của cơ quan chủ quản quỹ BHYT -

cơ quan BHXH Đây là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm quản lý quỹ BHYT

Ngoài ra, có một số nghiên cứu khác liên quan đến HTTTKT và HTTTKT quỹ BHYT như:

Tác giả Vũ Bá Anh (2015) với luận án: "Tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin"

Tác giả Phan Thị Thu Mai (2012) với luận án: "Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhằm quản lý tài chính tại các đơn vị ngành Lao động Thương Binh – Xã hội"

Tác giả Trần Quang Thông (2012) với luận án: "Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức khoán quỹ định suất đến chi phí và một số chỉ số khám chữa bệnh BHYT thuộc bốn bệnh viện huyện tỉnh Thanh Hóa"

Tác giả Hoàng Kiến Thiết với đề án" Tổ chức thực hiện chinh sách BHYT ở Việt Nam trong tình hình mới" (2013)

Tác giả Đỗ Văn Sinh với đề án: "Đánh giá hoạt động quỹ BHXH, BHYT, tính toán

dự báo cân đối quỹ BHXH, BHYT đến 2020 và tầm nhìn đến 2030" Tháng 8 năm 2011

Bài báo: "Bàn về quỹ BHYT trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Lê Kim Nguyệt (Tạp chí khoa học đại học quốc gia Hà nội, luật học 26, 2010), " Hoàn thiện chính sách BHYT để thực hiện BHYT toàn dân" của tác giả Hoàng Kiến Thiết.(Tạp chí BHXH kỳ 1, 2 tháng 2 năm 2013)…

1.2.3 Khoảng trống nghiên cứu

Trên thế giới, khi nghiên cứu về HTTTKT mỗi tác giả mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh cụ thể: tính hiệu quả, sự hữu dụng của HTTTKT; CNTT trong HTTTKT; chất lượng dữ liệu; quy trình; kiểm soát trong HTTTKT Tác giả chưa thấy nhà nghiên cứu nào tìm hiểu về tất cả các nhân tố trên tại một đơn vị Đây là một khoảng trống mà tác giả muốn nghiên cứu Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các tác giả chủ yếu nghiên cứu HTTTKT tại các cơ sở KCB, chưa nghiên cứu HTTTKT tại đơn vị chủ quản quỹ Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào bàn về sự kết nối HTTTKT giữa các bên liên quan đến quỹ BHYT

Ở Việt nam, các nghiên cứu về HTTTKT chưa nhiều Các tác giả chủ yếu nghiên cứu HTTTKT ở từng khía cạnh riêng lẻ như: tính hiệu quả của HTTTKT; thủ tục kiểm soát; CNTT Ở lĩnh vực y tế, rất ít tác giả nghiên cứu HTTTKT Chưa có tác

Trang 26

giả nào nghiên cứu toàn diện cả HTTTKT quỹ BHYT Họ chỉ nghiên cứu chủ yếu về

tổ chức công tác kế toán hoặc có nghiên cứu về y tế dưới góc độ của các cơ sở KCB Một số tác giả nghiên cứu quỹ BHYT dưới góc độ tài chính và ở từng khía cạnh riêng

lẻ hoặc kế toán từng phần hành thu, chi BHYT Một số tác giả nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực BHXH như hoàn thiện kế toán thu BHXH,BHYT; Hoàn thiện kế toán chi BHXH, BHYT Một số tác giả nghiên cứu HTTTKT nhưng dưới góc độ tổ chức HTTTKT và chủ yếu tại các doanh nghiệp, chưa đề cập đến các đơn vị trong lĩnh vực công Theo tác giả, để quản lý quỹ BHYT nói chung và chi phí KCB nói riêng thì chỉ các cơ sở KCB quản lý theo dõi chưa đủ mà phải có sự vào cuộc của cả bên chủ thể quản lý quỹ BHYT – BHXHVN và bản thân đối tượng đóng và hưởng BHYT Để kiểm soát toàn bộ quá trình hình thành, phân bổ, sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả, cơ quan chủ quản quỹ BHYT cần có một HTTTKT kết nối với TTKT đầu ra tại các cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT

Xem xét dưới góc độ cơ quan chủ quản quỹ BHYT - BHXHVN, đơn vị thực hiện thu, chi, quyết toán quỹ BHYT, phải nắm được thông tin kế toán toàn diện liên quan đến quỹ BHYT từ phía các bên liên quan: đơn vị sử dụng lao động, cơ sở KCB,

sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng Từ đó, liên kết các thông tin kế toán theo quy trình hoạt động của quỹ BHYT nhằm đạt được mục tiêu: thu đủ, chi đúng, quyết toán thuận tiện và đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng BHYT Các nghiên cứu trước đây đứng trên quan điểm của cơ sở KCB, chưa thấy được mối quan hệ giữa cơ sở KCB với đối tượng thụ hưởng và cơ quan chủ quản quỹ Tác giả thấy đây là mối quan hệ quan trọng quyết định đến quản lý hiệu quả quỹ BHYT Việc vận dụng HTTTKT trong quá trình thu, chi, quyết toán quỹ BHYT tạo nền tảng cho sự cân đối thu chi quỹ

và đáp ứng quyền lợi cho đối tượng thụ hưởng quỹ Đây là một tri thức mới mà tác giả thấy cần nghiên cứu Ở Việt Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu HTTTKT trong lĩnh vực BHYT, nhất là tại cơ quan chủ quản quỹ - BHXHVN Qua nghiên cứu thực tế, tác giả thấy rằng HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN còn nhiều bất cập như: CNTT chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý quỹ; quy trình thực hiện chưa được tự động hóa; dữ liệu chưa đồng bộ; HTTTKT cung cấp rời rạc, chưa phản ánh được quá trình thu chi quỹ; BHXHVN khó có thể kiểm soát chặt chẽ được quỹ BHYT; chưa đáp ứng được nhu cầu cần thông tin tại cả cơ quan quản lý quỹ cũng như cơ sở KCB, đối tượng nộp và hưởng BHYT Vì chưa có tác giả nào nghiên cứu các yếu tố của HTTTKT tại đơn vị SNCL đặc thù quỹ và chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về các bất cập trong HTTTKT quỹ BHYT nên tác giả muốn làm rõ HTTTKT quỹ BHYT tại cơ quan chủ quản quỹ và lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Hệ thống thông tin kế toán quỹ BHYT tại BHXHVN"

Trang 27

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của luận án này là nghiên cứu cơ sở

lý luận về HTTTKT tại đơn vị SNCL nhằm phát triển lý luận HTTTKT tại đơn vị SNCL nói chung và đơn vị SNCL đặc thù quỹ nói riêng; Nghiên cứu thực trạng và hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN nhằm quản lý quỹ BHYT tại BHXHVN hiệu quả hơn

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN trong mối quan hệ với

cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT nhằm quản lý hiệu quả quỹ BHYT

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian:

+ Luận án nghiên cứu đề tài tại cơ quan chủ quản quản lý quỹ BHYT (BHXHVN), không nghiên cứu tại cơ sở KCB hay đơn vị quản lý người đóng, thụ hưởng BHYT

+ Luận án nghiên cứu HTTTKT theo các yếu tố cấu thành

+ Luận án nghiên cứu HTTKT quỹ BHYT sâu hơn ở nội dung: Thu quỹ BHYT

từ các đối tượng nộp BHYT, từ NSNN (Trừ các đơn vị thuộc bộ quốc phòng), không nghiên cứu thu từ đầu tư tài chính và thu khác Phần chi tác giả chỉ nghiên cứu sử dụng chi cho chi phí KCB tại cơ sở KCB, không nghiên cứu quỹ BHYT chi dự phòng và quỹ BHYT chi cho quản lý bộ máy hoạt động

+ Tác giả điều tra, khảo sát các kế toán tại BHXH cấp 1, 2, 3: BHXHVN, BHXH tỉnh, thành phố; BHXH quận, huyện để nghiên cứu thực trạng HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN

Trang 28

+ Tác giả khảo sát mối quan hệ về HTTTKT quỹ BHYT tại phòng kế toán một

số bệnh viện thuộc tuyến trung ương và một số đối tượng hưởng BHYT tại các bệnh viện này để làm rõ mối quan hệ về HTTTKT quỹ BHYT giữa ba bên trong việc đánh giá tính hữu ích của HTTTKT

+ Luận án nghiên cứu hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN

Về thời gian nghiên cứu:

- Số liệu thứ cấp: được thu thập cho giai đoạn 2012 đến 2015

- Số liệu sơ cấp: được thu thập vào 2015

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- HTTTKT là gì? HTTTKT tại đơn vị SNCL như thế nào?

- HTTTKT có bao nhiêu yếu tố cấu thành? Nội dung của các yếu tố cấu thành này là gì? Tính liên thông, kết nối giữa các yếu tố theo mục tiêu kiểm soát quỹ từ các bên là thế nào?

- Những tồn tại của HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN hiện nay là gì?

- Hoàn thiện gì về HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN

1.6 Phương pháp nghiên cứu và mẫu khảo sát

Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử làm phương pháp luận Cụ thể là phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm: Các phương pháp thu thập thông tin (Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn sâu và tham khảo ý kiến của các chuyên gia) và phương pháp nghiên cứu định lượng: phương pháp thống kê

mô tả, tổng hợp, so sánh

Đầu tiên, tác giả phỏng vấn sâu 3 chuyên gia về lĩnh vực kế toán, CNTT và nắm vững bản chất quy trình thu, chi BHYT là kế toán trưởng BHXHVN; kế toán trưởng BHXH tỉnh Yên Bái và kế toán trưởng BHXH huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, 7 người làm kế toán thu, chi BHYT tại BHXH Việt Nam và BHXH Hà nội Qua phỏng vấn sâu kết hợp với kiến thức lý luận , tác giả tìm thấy khoảng trống nghiên cứu về HTTTKT dưới góc độ quản lý quỹ BHYT ( Danh sách đối tượng phỏng vấn được tác giả trình bày trong phụ lục 1.1)

Trang 29

Sau khi thấy được tồn tại của HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN, tác giả tiến hành lập bảng hỏi và điều tra tại BHXHVN, các cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT Cụ thể như sau:

1.6.1 Mẫu điều tra

- Tại BHXHVN: Tác giả tiến hành lấy mẫu điều tra tại hai bộ phận: Phòng kế toán và phòng CNTT

Ở phòng kế toán: Tác giả điều tra trực tiếp tại BHXHVN, BHXH thành phố Hà nội, BHXH tỉnh Yên Bái, BHXH tỉnh Thanh Hóa Số phiếu phát ra là 125 BHXH các tỉnh, thành phố khác, tác giả điều tra qua online nhóm kế toán VSA với số lượng phiếu phát ra 643 Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu theo 3 cấp: Trung ương; Tỉnh, thành phố và quận huyện Trong đó, tác giả chủ động lấy khảo sát của cấp trung ương (Số lượng: 1 đơn vị); cấp tỉnh, thành phố (63 đơn vị) còn lại là quận, huyện Số lượng tỉnh thành phố là 63 tỉnh thành vì đơn vị BHXH tỉnh thành phố là đơn vị có liên quan đến cả đơn vị cấp quận, huyện và cấp cấp trung ương nên ý kiến của họ thường toàn diện hơn Trong mẫu nghiên cứu, tác giả khảo sát ý kiến của các thành phần: kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán viên

Ở phòng CNTT: tác giả phỏng vấn và điều tra các cán bộ chủ chốt của phòng CNTT tại BHXHVN và 63 tỉnh thành (trưởng phòng CNTT) bằng hình thức gọi điện

và gửi e email Số lượng phiếu khảo sát là 63

- Tại cơ sở KCB: Tại các cơ sở KCB, tác giả lựa chọn khảo sát các bệnh viện thuộc tuyến trung ương vì đây là các bệnh viện có số lượng người KCB BHYT nhiều nhất Số lượng các cơ sở KCB thuộc tuyến trung ương bao gồm 28 bệnh viện Mỗi bệnh viện có 1 kế toán theo dõi về BHYT Số phiếu phát ra là 28 phiếu

- Đối tượng hưởng BHYT: Tác giả chọn ngẫu nhiên mỗi bệnh viện 10 người KCB BHYT Tổng số phiếu phát ra là 280 phiếu

1.6.2 Phương pháp điều tra

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Tác giả đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với các đối tượng khác nhau Một số cuộc phỏng vấn được diễn ra độc lập tại nơi làm việc hoặc ở nhà của người tham gia phỏng vấn với thời gian phỏng vấn cho mỗi đối tượng khoảng 45 phút đến 60 phút Kỹ thuật thực hiện là quan sát và thảo luận tay đôi Một số đối tượng ở xa được phỏng vấn

Trang 30

thông qua điện thoại và email Thời gian gọi điện khoảng từ 30 phút đến 45 phút Nội dung nào chưa rõ tác giả đề nghị người được phỏng vấn làm rõ qua email

Đối với điều tra, tại mỗi địa điểm khảo sát khác nhau, tác giả sử dụng các phương pháp thu thập khác nhau Cụ thể như sau:

- Ở BHXHVN:

Phòng kế toán: Tác giả khảo sát lấy ý kiến trực tiếp đối với BHXHVN, BHXH một số tỉnh, thành phố, quận huyện như: Hà nội, Yên Bái, Thanh Hóa Các tỉnh, thành phố, quận huyện còn lại tác giả lấy ý kiến online Do đặc thù công việc BHYT, kế toán trưởng BHXHVN có facebook nhóm VSA (Những người làm công tác kế toán tài chính BHXH trong phạm vi cả nước) với các thành viên đủ 63 tỉnh thành Mỗi tỉnh, thành phố, kế toán trưởng BHXH Việt Nam yêu cầu ít nhất phải có 1 kế toán trưởng (hoặc kế toán tổng hợp), 1 kế toán chịu trách nhiệm về CNTT, 1 kế toán viên tham gia còn các quận huyện thì ít nhất phải có kế toán trưởng tham gia Hiện nay tổng số người được kế toán trưởng BHXHVN cho phép tham gia nhóm VSA là 643 người Tác giả nhờ kế toán trưởng BHXHVN lấy ý kiến khảo sát hộ qua đường linh tác giả tự tạo Do lấy qua đường online tỷ lệ tương đối thấp nên tác giả phải lấy thêm email của một số tỉnh, thành, quận huyện và gửi đường linh phiếu khảo sát

Phòng CNTT: Tác giả phỏng vấn trực tiếp trưởng phòng CNTT tại BHXHVN Còn phòng CNTT tại các tỉnh, thành phố, tác giả gọi điện hoặc gửi email cho trưởng phòng CNTT để khảo sát

Tại các cơ sở KCB: Tác giả nhờ ban thanh toán BHYT tại BHXHVN gửi email cho phòng kế toán tại các cơ sở KCB trực thuộc BHXH trung ương Tổng số các cơ sở KCB thuộc BHXHVN là 28

- Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra

Đối với các đối tượng hưởng BHYT, tại phía bắc, tác giả gửi trực tiếp phiếu khảo sát cho các đối tượng KCB tại các bệnh viện Đối với các cơ sở KCB phía nam, tác giả nhờ kế toán tại các cơ sở KCB gửi cho các đối tượng đang KCB tại các bệnh viện và gửi lại cho tác giả bằng chuyển phát nhanh

1.6.3 Bảng hỏi

Mỗi loại phiếu hỏi có những nội dung khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của tác giả Tuy nhiên, nội dung từng bảng hỏi bao gồm 3 phần chính:

Trang 31

- Phần giới thiệu: Bao gồm phần giới thiệu mục đích, ý nghĩa của cuộc nghiên cứu và lời mời tham gia trả lời cuộc điều tra

- Phần thông tin thống kê: Phần này người được hỏi sẽ cung cấp các thông tin

cá nhân để giúp cho việc thống kê, mô tả và giải thích rõ hơn cho những thông tin chính nếu cần thiết (Chỉ áp dụng cho phiếu hỏi của kế toán tại BHXHVN)

- Phần thông tin chính: Bao gồm các câu phát biểu được thiết kế theo mục tiêu nghiên cứu Người được hỏi sẽ đánh dấu vào câu trả lời phù hợp nhất với mức độ ý kiến của họ cho những phát biểu đó

Đối với phiếu hỏi ở phòng CNTT, ở cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT, tác giả chỉ xây dựng bảng hỏi bao gồm 2 phần chính là: Phần giới thiệu và phần thông tin chính, không có phần thông tin thống kê

Nội dung các phiếu hỏi được phản ánh trong phụ lục 1.3; 1.4; 1.5; 1.6 Nội dung các phiếu hỏi trong phụ lục 1.3; 1.4 được đưa cho các chuyên gia kế toán và CNTT kiểm tra và chỉnh sửa Phiếu hỏi trong phụ lục 1.5 và 1.6 được đưa cho kế toán

cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT mà tác giả biết để chỉnh sửa

1.6.4 Kết quả điều tra

- Tại BHXHVN: Thời gian hoàn thành việc thu thập phiếu theo yêu cầu là hơn

3 tháng (Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2014)

Ở phòng kế toán: Số phiếu gửi đi phát trực tiếp là 125 phiếu Số phiếu thu về

120 phiếu Số phiếu điều tra phát qua online nhóm kế toán VSA là 643 phiếu Số phiếu thu về là 338 phiếu (chiếm 52.6%)

Ở phòng CNTT: Số phiếu phát ra gửi qua email là 55 phiếu Số phiếu thu về là

51 phiếu (Bao gồm 8 phiếu phỏng vấn và 43 phiếu gửi lại bằng email)

Ở các cơ sở KCB: Tổng số phiếu phát ra là 28 phiếu Tổng số phiếu thu về đủ

Trang 32

- Ở phòng kế toán: Số phiếu thu về 120 phiếu Khi kiểm tra, tác giả thấy có 7 phiếu không trả lời đầy đủ các nội dung và trả lời có sự mâu thuẫn nên tác giả loại bỏ

Số phiếu sử dụng được là 103 phiếu (chiếm 96%) Số phiếu điều tra phát qua online nhóm kế toán VSA thu về là 338 phiếu Trong đó, 24 phiếu không đảm bảo nên số lượng phiếu sử dụng là 314 phiếu (chiếm 92.9%) Tổng số phiếu khảo sát sử dụng được là 417 phiếu

- Ở phòng CNTT: Số phiếu phát ra là 55 phiếu, thu về 51 phiếu Tác giả kiểm tra thấy 51 phiếu đều đảm bảo hợp lệ để sử dụng

- Tại các cơ sở KCB, số phiếu thu về 28 phiếu Tất cả các phiểu hỏi đều trả lời đầy đủ thông tin của tác giả yêu cầu

- Đối với đối tượng hưởng BHYT, trong tổng số 280 phiếu thu về, tác giả kiểm tra loại 6 phiếu do không trả lời nhiều câu hỏi, số phiếu khảo sát hợp lệ là 274 phiếu.(chiếm 97,9%)

Đối tượng điều tra chính là kế toán tại BHXHVN, tỉnh, thành phố và quận huyện Theo khảo sát, mẫu điều tra về kế toán được mô tả như sau:

Theo kết quả khảo sát về giới tính (phụ lục 3.5), số nhân viên kế toán là nữ chiếm 313 người, chiếm tỷ lệ 75,1% mẫu Số lượng nam giới là 104 người chiếm tỷ lệ

24,9% mẫu

Về cơ cấu tuổi đời của mẫu cho thấy số người dưới 30 tuổi là 68 người chiếm tỷ

lệ 16,3%, số người trong độ tuổi từ 30 đến dưới 40 tuổi là 208, chiếm tỷ lệ 49,9% Đây

là nhóm người đông nhất của mẫu nghiên cứu Nhóm độ tuổi từ 40 đến dưới 50 tuổi

có số lượng lớn thứ hai (121 người) chiếm tỷ lệ 29% Nhóm có độ tuổi từ 50 tuổi trở lên bao gồm 20 người chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là 4,8% Như vậy có thể thấy mẫu có tỷ lệ

ở độ tuổi trung tuổi (từ 30 đến dưới 50 tuổi) là cao, chiếm tỷ lệ 78,9% mẫu Thống kê

mô tả mẫu theo tuổi được thể hiện trong phụ lục 3.6

Về vị trí công việc (phụ lục 3.7), số người giữ chức vụ trưởng phòng là 44 (chiếm 10,6%), phần lớn là kế toán trưởng (145 người) chiếm 34,8% và kế toán tổng hợp (132 người) chiếm 31,7% Số lượng kế toán là nhân viên chiếm 23% (96 người) Đối tượng trả lời trong khảo sát chủ yếu là những kế toán biết toàn bộ các phần hành trong đơn vị (chiếm 77%) Điều này giúp cho độ tin cậy của kết quả điều tra

Trang 33

Theo thâm niên công tác, số người công tác dưới 5 năm qua khảo sát là 60, chiếm tỷ lệ: 14,4% Số người công tác từ 5 đến dưới 10 năm là 136 (chiếm tỷ lệ: 32,6%) Đây cũng là tỷ lệ của số người công tác từ 10 đến dưới 15 năm Số người công tác trên 15 năm là 85, chiếm tỷ lệ: 20,4% Nhìn chung, cán bộ kế toán trong mẫu phần lớn là những người có kinh nghiệm về chuyên môn (chiếm tỷ lệ: 85.6%) Thống

kê mô tả mẫu theo thâm niên công tác được trình bày trong phụ lục 3.8

Qua khảo sát, theo cấp quản lý (phụ lục 3.9), số người làm tại BHXHVN là 21, chiếm 5% mẫu khảo sát, số người làm ở BHXH tỉnh, thành phố là 156 người, chiếm 37,4% Số người làm tại BHXH quận huyện là 240, chiếm tỷ lệ 57,6%

Theo miền công tác (phụ lục 3.10), số người làm việc tại miền bắc là 179, chiếm 42,9% mẫu khảo sát, số người làm việc ở miền trung là 87 người, chiếm 20,9%

Số người làm việc tại miền nam là 151, chiếm tỷ lệ 36,2%

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu

1.7.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Luận án làm rõ lý thuyết về HTTTKT áp dụng trong đơn vị SNCL nói chung và quỹ BHYT tại BHXHVN nói riêng HTTTKT trong các đơn vị có nhiều cấp dự toán

và cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng cùng một lúc cần phải có sự “liên thông” ở

cả 3 cấp dự toán và các đơn vị có liên quan

Trang 34

+ Tìm hiểu thực trạng mối quan hệ về HTTTKT trong các mối quan hệ giữa đơn vị thu nộp quỹ, cấp phát kinh phí, chi tiêu và quyết toán quỹ BHYT nhằm góp phần quản lý hiệu quả quỹ BHYT nói riêng và quỹ công nói chung

+ Nghiên cứu thực tiễn và đánh giá hạn chế trong HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN hiện nay

+ Hoàn thiện HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN để góp phần quản lý có hiệu quả quỹ BHYT tại BHXHVN

1.9 Kết cấu luận án

Luận án được xây dựng theo kết cấu 4 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Lý luận chung về HTTTKT đơn vị SNCL

Chương 3: Khảo sát thực trạng HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp đề xuất và kết luận

Trang 35

Tóm tắt chương 1

Chương 1 tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu Bao gồm:

Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, các đóng góp của đề tài, tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán Ngoài ra, tác giả còn trình bày phương pháp nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu cho thấy, một số các nhân tố bên ngoài tác động đến hệ thống thông tin kế toán Một số nghiên cứu lại nhấn mạnh các yếu tố cấu thành tác động đến thông tin kế toán Bằng việc kết hợp lý thuyết, các kết quả nghiên cứu trước đó và xem xét một số đặc thù quỹ BHYT tại Việt Nam, tác giả đã trình bày rõ tính cấp thiết của đề tài, xây dựng được bảng hỏi về HTTTKT quỹ BHYT tại BHXHVN Ngoài ra, tác giả còn xây dựng bảng hỏi tại một số cơ sở KCB điển hình và một số đối tượng hưởng BHYT

Trang 36

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ

TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

2.1 Khái niệm HTTTKT

2.1.1 Khái niệm về hệ thống và HTTT

Để làm rõ khái niệm về HTTTKT, trước hết, chúng ta đi nghiên cứu khái niệm

hệ thống, HTTT Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống, song mỗi định nghĩa thường chỉ đề cập đến một mô hình nhất định về hệ thống và thường phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể Với cách nhìn tổng quát, “Hệ thống là một tập hợp nhiều phần tử (đối tượng) có mối liên hệ với nhau, tương tác với nhau, ràng buộc nhau một cách có quy luật để tạo thành một thể thống nhất nhằm thực hiện một số chức năng hay một số mục tiêu nhất định” Ví dụ như: Hệ thống kinh doanh, hệ thống lớp học, hệ thống giao thông ( Nguyễn Văn Hưng, 2007) Theo quan điểm tiếp cận hệ thống, các tác giả trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: "hệ thống là một tập hợp các thành phần có quan hệ tương tác với nhau để cùng thực hiện các mục tiêu đặt

ra của hệ thống" Tác giả Trần Thị Song Minh (Đại học kinh tế quốc dân) cho rằng

"Hệ thống là một tập hợp các thành phần có quan hệ tương tác với nhau, cùng phối hợp hoạt động để đạt được một mục tiêu chung, thông qua việc thu nhận các yếu tố đầu vào và tạo ra các kết quả đầu ra trong một quá trình chuyển đổi có tổ chức" (2010, tr28) Theo tác giả, các khái niệm này tuy tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau nhưng về bản chất có ý tương đồng Tác giả cho rằng khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Hưng và Trần Thị Song Minh có phạm vi rộng hơn và đầy đủ hơn Hệ thống được xây dựng để đạt một mục tiêu đề ra trước đó Mỗi mục tiêu khác nhau đòi hỏi một hệ thống được thiết kế theo kiểu khác nhau Các phân tử nằm trong hệ thống được tổ chức theo các cấu hình khác nhau Một mục tiêu đạt được chỉ liên quan đến một chủ thể, việc thiết kế hệ thống chỉ nằm trong phạm vi một đơn vị và cấu hình hệ thống đơn giản Nếu mục tiêu đạt được có sự đóng góp của nhiều bên liên quan, khi xây dựng hệ thống phải thiết kế các phần tử có mối quan hệ giữa các bên Lúc này, hệ thống sẽ có cấu hình phức tạp hơn, thể hiện rõ mối quan hệ giữa các phần tử trong hệ thống

Hệ thống có thể tồn tại theo nhiều cấp độ khác nhau Một hệ thống có thể là một thành phần trong một hệ thống khác và được gọi là hệ thống con Hệ thống con cũng có đầy đủ các tính chất của một hệ thống Các hệ thống con có phương thức hoạt động khác nhau, thậm chí mục tiêu có thể khác nhau nhưng đều vận động để đạt được

Trang 37

mục tiêu của hệ thống "cha" Giữa các hệ thống có “đường biên giới” tồn tại để phân định phạm vi giữa chúng Đôi khi “đường biên giới” rất cụ thể, dễ xác định nhưng trong các hệ thống quản lý kinh tế, “đường biên giới” thường khó xác định và hay biến động Các hệ thống trao đổi với nhau thông qua điểm giao tiếp

Hệ thống có nhiều dạng khác nhau nhưng nhìn chung chúng được chia thành 4 kiểu hệ thống: Hệ thống đóng; Hệ thống liên kết đóng; Hệ thống liên kết đóng phản hồi; Hệ thống mở Các kiểu hệ thống này có thể kết hợp với nhau Tức là, vài hệ thống con của hệ thống có thể là hệ thống liên kết đóng, một số khác là hệ thống liên kết đóng phản hồi hoặc hệ thống mở

Việc sử dụng hệ thống trong nhiều lĩnh vực khác nhau tạo ra các hệ thống khác nhau như: hệ thống vận hành, hệ thống điều hành, HTTT Có một số cách tiếp cận về HTTT

Với cách tiếp cận về các yếu tố cấu thành, HTTT là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối dữ liệu và thông tin, cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được mục tiêu định trước (sơ

đồ 2.1)

Phản hồi

Sơ đồ 2.1: Các yếu tố cấu thành một hệ thống thông tin

(Nguồn: Trần Thị Song Minh, 2010, tr28)

Trong đó "Đầu vào" thực hiện thu thập và nhập dữ liệu thô chưa qua xử lý vào

hệ thống Dạng của dữ liệu đầu vào thường phụ thuộc vào kết quả đầu ra mong muốn Việc nhập dữ liệu đầu vào có thể thực hiện thủ công, bán tự động hoặc tự động toàn

bộ Tính chính xác của dữ liệu đầu vào là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho thông tin đầu ra có chất lượng Xử lý là quá trình chuyển đổi dữ liệu đầu vào thành các thông tin đầu ra hữu ích Quá trình xử lý có thể được thực hiện thủ công hay với sự trợ giúp của máy tính Còn "đầu ra" thực hiện việc tạo ra thông tin hữu ích thông thường ở

Trang 38

dạng các tài liệu và báo cáo Thông tin phản hồi là kết quả đầu ra được sử dụng để thực hiện những thay đổi đối với các hoạt động nhập liệu và hoạt động xử lý của hệ thống Nếu có lỗi hay có vấn đề đối với đầu ra thì cần điều chỉnh dữ liệu đầu vào hoặc thay đổi một tiến trình công việc Thông tin phản hồi rất quan trọng đối với nhà quản

lý vì nhờ nó mà các nhà quản lý hoàn thiện hơn hệ thống cung cấp thông tin (Trần Thị Song Minh, 2010)

Dưới góc độ tiếp cận theo thủ tục, hệ thống thông tin là tập hợp các thủ tục chính thức mà ở đó dữ liệu được tập hợp, xử lý thông tin và phân phối cho người sử

dụng (Jame A Hall, 2009)

HTTT có 4 chức năng chính là: đưa thông tin vào, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin và đưa thông tin ra Ngoài ra, nó còn giúp cho người lãnh đạo và quản lý thực hiện công việc kiểm soát và quản lý toàn bộ hệ thống

HTTT bao gồm nhiều loại: HTTT tổ chức, HTTT sức khỏe, HTTT quản lý Trong các HTTT, HTTT quản lý được biết đến sớm và phổ biến nhất HTTT quản lý

là sự phát triển và sử dụng HTTT có hiệu quả trong một tổ chức (Keen, Peter G.W.) Xét ở trạng thái tĩnh, HTTT quản lý bao gồm năm yếu tố cấu thành: Thiết bị tin học (máy tính, các thiết bị, các đường truyền, - phần cứng), các chương trình (phần mềm),

dữ liệu, thủ tục- quy trình và con người

Sơ đồ 2.2 Các yếu tố cấu thành của HTTT xét ở trạng thái tĩnh

(Nguồn: Theo nghiên cứu của tác giả)

Mỗi tác giả với mục đích khác nhau đã xây dựng một HTTT khác nhau Tuy nhiên, trong quy trình HTTT, tác giả nào cũng xây dựng các thông tin đầu vào, xử lý thông tin, các thông tin đầu ra như sơ đồ 2.1 Theo tác giả, để xây dựng một HTTT

Phần cứng Phần mềm Dữ liệu thủ tục Con người

nhân tố sẵn có nhân tố thiết lập

công cụ cầu nối nguồn lực

Trang 39

phù hợp, cung cấp thông tin đa chiều cho các đối tượng phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động của đơn vị, mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống Trong một số hoạt động, các loại HTTT cần có mối quan hệ chặt chẽ nhằm hỗ trợ, kiểm tra thông tin lẫn nhau Điều đó giúp cho người được cung cấp thông tin nhanh chóng đưa ra được quyết định phù hợp nhất Nếu hoạt động của đơnvị đơn giản, các nghiệp vụ không phát sinh quá nhiều thì HTTT được xây dựng theo 1 kiểu HTTT Nếu hoạt động của đơn vị phức tạp thì khi xây dựng HTTT phải kết hợp nhiều kiểu HTTT Tức là, vài hệ thống con của hệ thống có thể là hệ thống liên kết đóng, một số khác là hệ thống liên kết đóng phản hồi hoặc hệ thống mở

HTTTKT là một phần trong HTTT quản lý nhằm quản lý tài chính tại một đơn

vị Nhiều tác giả định nghĩa về HTTTKT dựa trên các góc độ khác nhau

2.1.2 Khái niệm về HTTTKT

HTTTKT là HTTT trong lĩnh vực kế toán mang đầy đủ các chức năng của HTTT HTTTKT, hiểu theo nghĩa rộng, là lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn liên quan đến mục tiêu cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng nhằm đưa ra quyết định Nó bao gồm cả lĩnh vực lập báo cáo tài chính cung cấp cho bên ngoài và lĩnh vực thông tin kế toán cho quản trị đơn vị Cũng trong ngữ cảnh này, HTTTKT không chỉ là thiết kế, vận hành và giám sát HTTT mà còn bao gồm những chuẩn mực

về thông tin và công tác kiểm soát, kiểm tra đối với các thông tin được cung cấp bởi

hệ thống.(Vũ Hữu Đức, 2009)

Xét theo mối quan hệ giữa kế toán với HTTT, "HTTTKT là một HTTT được thiết kế để có thể thực hiện chức năng của kế toán HTTTKT tạo các quy trình dữ liệu và các giao dịch nhằm cung cấp cho người sử dụng các thông tin mà họ cần nhằm lập kế hoạch, kiểm soát và thực hiện công việc của họ HTTTKT có thể là một hệ thống thủ công hoặc có thể là một hệ thống máy hóa với việc sử dụng máy tính Bất kể

là dạng gì, HTTTKT được thiết kế để thu thập, đầu vào, quy trình xử lý, lưu trữ và lập báo cáo dữ liệu và thông tin." (Romney và các đồng sự, 1997, tr13-15)

Dưới góc độ quy trình thực hiện, "HTTTKT là hệ thống xác định, thu thập, xử lý và chuyển giao thông tin kinh tế của một đơn vị sử dụng CNTT Nó thu nhận và ghi lại những ảnh hưởng tài chính của các giao dịch trong đơn vị Nó điều

Trang 40

phối các thông tin giao dịch cho các hoạt động nhân sự để phối hợp nhiều nhiệm vụ trọng tâm" (Jame A.Hall, 2009)

Nhìn chung, tác giả cho rằng, HTTTKT là một hệ thống thu thập các yếu tố đầu vào, xử lý, cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng Tác giả đồng nhất với quan điểm của các nhà nghiên cứu, nhưng tổng hòa quan điểm của Romney cùng các cộng

sự (1997) và tác giả Vũ Hữu Đức (2009) Tác giả cho rằng HTTTKT là một HTTT được thiết kế để có thể thực hiện chức năng của kế toán HTTTKT là lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến thu thập dữ liệu đầu vào, xử lý nhằm mục tiêu cung cấp thông tin cho các đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị, giúp cho các đối tượng cần thông tin đưa ra được quyết định Hiện nay, HTTTKT không chỉ là thiết kế, vận hành, giám sát HTTT mà còn gồm những chuẩn mực về thông tin và công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các thông tin được cung cấp bởi hệ thống

Có nhiều tiêu thức phân loại HTTTKT Tuy nhiên, việc phân chia không nằm ngoài những nguyên tắc cơ bản của phân loại HTTT Đó là:

- Nguyên tắc phân cấp: Đây là nguyên tắc tổ chức chung cho mọi hệ thống trong đó có HTTTKT Hệ thống có cấp quản lý cao nhất là cấp 1, dưới cấp 1 là các phân hệ con cấp 2, 3, Trong các phân hệ chỉ tồn tại duy nhất một phần tử riêng Nếu một phần tử thực hiện chức năng của hai phân hệ thì phần tử đó được xét ở từng phân

hệ một cách độc lập

- Nguyên tắc vét cạn: nếu phân chia hệ thống theo bất kì tiêu thức nào thì tổng các phần tử trong hệ thống cộng lại không thay đổi Một phần tử trong hệ thống phải thuộc một phân hệ nào đó trong các phân hệ được chia ra

- Nguyên tắc lựa chọn tiêu thức hợp lý: Khi chia hệ thống thành các phân hệ, sử dụng tiêu thức phân chia khác nhau sẽ có một kết quả phân chia duy nhất.(Vũ Bá Anh,

2015, tr26)

HTTTKT được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau

Căn cứ vào mục tiêu và phương pháp, HTTTKT được chia thành HTTTKT tài chính và HTTTKT quản trị (Vũ Bá anh, 2015, tr4)

Căn cứ theo sự lưu trữ và xử lý số liệu, HTTTKT được chia thành:

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2 . Các yếu tố cấu thành của HTTT xét ở trạng thái tĩnh - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Các yếu tố cấu thành của HTTT xét ở trạng thái tĩnh (Trang 38)
Sơ đồ 2.3: Mô hình của Delone and McLean (1992) - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 2.3 Mô hình của Delone and McLean (1992) (Trang 44)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ kết nối phần mềm VSA giữa tỉnh và huyện - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ kết nối phần mềm VSA giữa tỉnh và huyện (Trang 85)
Sơ đồ 3.2: Quy trình quyết toán chi phí KCB BHYT - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 3.2 Quy trình quyết toán chi phí KCB BHYT (Trang 100)
Sơ đồ 4.1: Mối quan hệ giữa các bên tham gia quỹ BHYT - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 4.1 Mối quan hệ giữa các bên tham gia quỹ BHYT (Trang 121)
Sơ đồ 4.2: Sơ đồ cấu hình máy chủ tại BHXHVN - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 4.2 Sơ đồ cấu hình máy chủ tại BHXHVN (Trang 124)
Sơ đồ 4.3: Sơ đồ mô hình phần mềm BHXH, BHYT - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 4.3 Sơ đồ mô hình phần mềm BHXH, BHYT (Trang 126)
Sơ đồ 4.4:  Thu BHXH và BHYT - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 4.4 Thu BHXH và BHYT (Trang 131)
Sơ đồ 4.5: Sơ đồ liên thông các phòng ban tài chính kế toán với ban thu BHYT - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Sơ đồ 4.5 Sơ đồ liên thông các phòng ban tài chính kế toán với ban thu BHYT (Trang 133)
Phụ lục 22: Sơ đồ quy trình xử lý nghiệp vụ kinh tế trên phần mềm VSA - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 22: Sơ đồ quy trình xử lý nghiệp vụ kinh tế trên phần mềm VSA (Trang 206)
Phụ lục 23: Sơ đồ quy trình Thu BHYT của người Lao động tham gia - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 23: Sơ đồ quy trình Thu BHYT của người Lao động tham gia (Trang 207)
Phụ lục 24: Sơ đồ quy trình thu BHYT học sinh, sinh viên - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 24: Sơ đồ quy trình thu BHYT học sinh, sinh viên (Trang 208)
Phụ lục 25: Sơ đồ quy trình thu BHYT được NSNN hỗ trợ 100% - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 25: Sơ đồ quy trình thu BHYT được NSNN hỗ trợ 100% (Trang 209)
Phụ lục 31: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 31: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa (Trang 217)
Phụ lục 34: Sơ đồ kế toán quỹ KCB - Hệ thống thông tin kế toán quỹ bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
h ụ lục 34: Sơ đồ kế toán quỹ KCB (Trang 220)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w