1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa

129 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã có bước phát triển khá, mức tăng trưởng bình quân đạt từ 16-17%/ năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế hộ nông dân, với các mô hình sản xuất

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng của tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ một học vị nào.Tài liệu tham khảo và số liệu thống kê trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về lới cam đoan của mình trước các qui định của nhà trường và pháp luật

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Tiến

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ

rất nhiệt tình và có hiệu quả các thầy cô giáo, các cấp, các ngành, gia đình,

đồng nghiệp để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình

Qua đây cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu,

Khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp cùng với các thầy cô

giáo đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quí báu trong suốt quá trình học

tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Phạm Xuân Phương, người đã nhiệt

tình hướng dẫn trực tiếp, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành Luận văn này

Nhân dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân

huyện Quảng Xương, các phòng ban chuyên môn của huyện, Chi cục thống

kê huyện huyện, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, tổng

hợp, hỗ trợ cung cấp số liệu để hoàn thành Luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi

những khiếm khuyết, Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy,

cô giáo, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 20 tháng 02 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Đức Tiến

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông dân theo hướng sản xuât hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới 5

1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 5

1.1.2 Sản xuất hàng hoá là xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân 10

1.1.3 Phát triển sản xuất hàng hoá và xây dựng nông thôn mới 12

1.1.4 Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá và vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới 14

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới 18

1.2 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân trên thế giới và ở Việt Nam 23

1.2.1 Kinh nghiệm trong và ngoài nước 23

1.2.2 Những bài học rút ra kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở Việt Nam 27

1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đề đề tài 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

Trang 4

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Điều kiện kinh tế 41

2.1.3 Dân số và lao động 48

2.1.4 Tình hình phát triển ngành Nông nghiệp và thủy sản 49

2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác động đến kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa 51

2.2 Phương pháp nghiên cứu 52

2.2.1 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu 52

2.2.2 Chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 53

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 54

2.2.4 Phương pháp phân tích xử lý, tổng hợp số liệu 54

2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 54

2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân 54

2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ 55

2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh trình độ và kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân 55

2.3.4 Các chỉ tiêu về kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ 55

2.3.5 Chỉ tiêu phản ánh mc thu nhập và thu chi của hộ 55

Chương 3 KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Quảng Xương từ năm 2010 -2012 56

3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân thời kỳ xây dựng nông thôn mới 56

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở các điểm nghiên cứu (6 xã lựa chọn) 67

3.2.1 Tình hình về chủ hộ nông dân 67

Trang 5

3.2.2 Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân 69

3.2.3 Kết quả sản xuất hàng hoá và hiệu qủa sản xuất hàng hoá của hộ nông dân 77

3.2.4 Thu nhập của hộ nông dân 84

3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ở huyện Quảng Xương 86

3.4 Đánh giá chung 87

3.5 Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quảng Xương 89

3.5.1 Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa 89

3.5.2 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2010 -2015 91

3.5.3 Những giải pháp chủ yếu 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

2.4 Tình hình dân số và lao động qua 3 năm 2010- 2012 48

2.5 Tình hình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp thủy sản của

3.1 Tình hình phát triển các loại nông hộ huyện Quảng Xương 59 3.2 Cơ cấu các loại nông hộ theo mô hình sản xuất kinh doanh 61

3.3 Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính của huyện

3.4 Số đầu gia súc, gia cầm của huyện qua các năm 2010 – 2012 64

3.6 Tỷ trọng số lượng hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo vùng

3.7 Tình hình lao động và trình độ lao động trong các nhóm hộ

3.9 Thực trạng cơ cấu đất đai của nông hộ điều tra năm 2013 71

Trang 8

3.11 Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2013 theo vùng

3.12 TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2013 theo

3.13 Kết quả sản xuất nông nghiệp, thủy sản ở hộ điều tra năm

3 14 Giá trị hàng hóa và tỷ lệ hàng hóa các ngành của hộ điều tra 80

3.15 Tỷ lệ hàng hóa của một số sản phẩm của hộ sản xuất hàng

3.16 Quy mô và cơ cấu CPSX nông nghiệp – thủy sản của 1 hộ

3.17 Tổng thu nhập bình quân từ Nông nghiệp, thủy sản của 1 hộ

3.18 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm hàng hóa của hộ

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Quảng Xương năm 2012 43 2.2 Cơ cấu sản phẩm của huyện Quảng Xương 2010 – 2012 45

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân và nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại lâu dài trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Năm 2011, nước ta có khoảng 22 triệu hộ gia đình, trong đó có 15,5 triệu hộ sống ở nông dân và có 9,56 triệu hộ nông lâm ngư nghiệp Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương và quyết sách nhằm giải phóng hộ nông dân khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, để họ làm chủ quá trình sản xuất kinh doanh của mình, trực tiếp đối mặt với cơ chế thị trường Điều này đã trở thành động lực để khơi dậy những tiềm năng trong mỗi hộ nông dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp làm cho bộ mặt nông thôn trong những năm đổi mới có nhiều khởi sắc

Trong những năm gần đây, kinh tế hộ gia đình đã phát triển mạnh và có bước đột phá mới với những mô hình, hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương đã đem lại lợi nhuận đáng kể, cải thiện rõ rệt đời sống người dân Thông qua việc phát triển kinh tế hộ gia đình không chỉ giải quyết được công ăn việc làm tại chỗ cho người dân, đem lại lợi ích cả về gia đình, môi trường và trật tự an toàn xã hội, mà còn làm cho đời sống người dân được nâng lên đáng kể, việc xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng là vấn đề được toàn xã hội quan tâm hiện nay

Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63 km2, Quảng Xương đã từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh Với chiều dài bờ biển gần 18km, Quảng Xương là một trong những huyện có tiềm năng

về thuỷ, hải sản, Kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng

Trang 11

qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện

Trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã có bước phát triển khá, mức tăng trưởng bình quân đạt từ 16-17%/ năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế hộ nông dân, với các mô hình sản xuất hàng hóa theo hướng gia trại đem lại lợi nhuận kinh tế cao Tuy vậy các hộ nông dân sản xuất theo hướng hàng hóa là chưa nhiều Các hộ nông dân sản xuất theo hướng hàng hóa bước đầu đã đạt được nhiều thành công, nhưng việc đánh giá, phân tích và tổng kết nhằm nhân rộng mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa đang là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, đưa Nghị quyết của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông thôn vào cuộc sống trên địa bàn huyện

Vấn đề đặt ra là tiếp tục phát triển kinh tế hộ nông dân như thế nào? Giải pháp nào nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong tiến trình công nghiệp hóa và xây dựng nông thôn mới

Đó là những vấn đề lớn cần phải được làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ yêu cầu thực tiến trên, Tôi chọn đề tài: “Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.” để nghiên cứu làm luận

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Trang 12

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Quảng Xương

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Quảng Xương trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Là những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển kinh tế hộ nông dân trong những năm qua, phương hướng và giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

a) Phạm vi về không gian

Đề tài nghiên cứu ở các xã huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa gồm

có 02 vùng; Vùng 1 là vùng đồng bằng, vùng 2 là vùng ven biển

b) Phạm vi về thời gian

Các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012

và số liệu điều tra hiện trạng của năm 2013

c) Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới, như: hệ thống hóa một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân Vấn đề sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá và vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa thời

kỳ xây dựng nông thôn mới…

- Khái quát chung về kinh tế hộ nông dân huyện Quảng Xương từ năm

2010 đến nay; tình hình phát triển sản xuất hàng hóa của hộ nông dân huyện

Trang 13

Quảng Xương qua 3 năm 2010 – 2012

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở

huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông dân theo hướng sản xuât hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân

1.1.1.1 Khái niệm về hộ

Trong từ điển ngôn ngữ Mỹ (Oxfrd Press - 1987) có định nghĩa “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung”[28]

Ngược thời gian trước, nhiều cuộc hội thảo của các nhà khoa học và nhà chỉ đạo thực tiễn đã thảo luận về hộ, đặc biệt là cuộc hội thảo tại Hà Lan năm 1980 các đại biểu nhất trí rằng “hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động khác xem như là một đơn vị kinh tế [15]

Nhìn từ góc độ khác Harris (1981) ở Viện nghiên cứu phát triển trường Đại học Tổng hợp Susex (London - Anh) cho rằng: "Hộ là đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động" Và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái

‘Hệ thống thế giới” (Mỹ) là Wallerstan (1982), Wood (1981 - 1982), Smith (1985), Martin và Bellhel (1987) bổ sung thêm: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung” Còn nhóm các nhà nhân chủng học (Waller (Áo) 1982, Wood (Mỹ) 1982) lại cho rằng: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo trong quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư cho sản xuất"

Trang 15

Giáo sư T.G Me Gee (1989) Giám đốc Viện nghiên cứu châu Á thuộc Đại học tổng hợp Britiali Columbia và các đồng nghiệp, khi khảo sát quá trình phát triển ở một số nước châu Á đã nêu lên rằng: “hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc trong cùng chung trong môt mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ” và đã lưu ý thêm rằng: các thành viên của hộ không nhất thiết phải sống cùng nhà, họ có thể sống khá xa gia đình, nhưng đóng góp vào phần thu nhập của hộ thì họ được coi là một thành viên của hộ Tuy nhiên đây chỉ là ý kiến thiên về khía cạnh nguồn thu nhập của hộ

Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung, cùng làm chung và có chung một ngôn ngữ" [10]

Giáo sư MC Gee (1989) trường Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: "Hộ là nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một nhà, ăn chung cùng một mâm cơm và có chung một ngân quỹ"

Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: "Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có quan

hệ chặt chẽ phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn"[10]

Những quan niệm trên đây chỉ đề cập đến phương diện chức năng sản xuất, tiêu dùng của hộ Hay nói cách khác, xem hộ như là một đơn vị kinh tế Khía cạnh nhân chủng học của hộ chưa đề cập đến Tuy nhiên từ các quan niệm trên có thể thấy rằng:

- Trước hết, hộ là cơ sở hoạt động của xã hội, giúp cho các tổ chức xác

định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định đều dựa trên những thành viên, kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế

Trang 16

của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, vốn được đóng chung; chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà; ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra

Thứ hai, hộ là đơn vị sản xuất và tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay

các nguồn lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, nguồn thu nhập )

Thứ ba, hộ là một đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất

dựa trên việc phân bố nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó Trong quá trình nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị kinh tế khác và với hệ thống quốc gia

Như vậy, hộ là 1 tập hợp những người có chung huyết thống, có quan

hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng

1.1.1.2 Khái niệm về hộ nông dân

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi

sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức

độ không hoàn hảo cao" [25]

Nhà khoa học Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất

ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" [18, 8,10,11,15]

Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển

Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats

Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản" [18, tr.5]

Trang 17

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo

nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế

xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [25, 5] Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [6, 2]

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả

và theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng

1.1.1.3 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân

Mác và Anghen cho rằng: Kinh tế nông hộ vốn bị hạn chế nên cần được cải tạo thì nó mới có thể phát triển nông nghiệp lên trình độ xã hội hóa ngày càng cao Do đó, lúc đầu các ông dự đoán kinh tế nông hộ sẽ hoàn toàn

bị xóa bỏ trong điều kiện phát triển công nghiệp Sau này, với thực tế phát triển kinh tế ở Anh và các nước tư bản khác, Mác đã thấy rằng: Phát triển nông nghiệp không giống như phát triển công nghiệp, kinh tế nông trại gia

Trang 18

đình tỏ ra là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và "Nông nghiệp hợp lý mâu thuẫn với phát triển kinh doanh chủ nghĩa tư bản"[22]

Sau các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân của C.Mác và V.I.Lênin đã xuất hiện một xu hướng nghiên cứu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân

Theo Tchayanov (1924), luận điểm cơ bản nhất của Tchayanov là kinh

tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng của nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của

hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình

J.Harris (1982) trong bài giới thiệu cho cuốn sách "Phát triển nông thôn" đã phân loại các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông dân, nông nghiệp ra ba xu hướng chính, đó là xu hướng tiếp cận hệ thống, mô hình ra quyết định và tiếp cận cấu trúc lịch sử

GS Frank Ellis trường Đại học Tổng hợp Cambridge (1988) cho rằng:

"Kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng

Traianov đã cho rằng: Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng

và tồn tại trong mọi hình thức sản xuất và ông chú ý đến đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi cũng như các đặc điểm khác của sản xuất nông nghiệp để hướng tới một sự hợp tác không phải "Vô chủ hóa" hoặc "Tạp chủ hóa" trong nông nghiệp

Từ những khái niệm trên đây chúng tôi thống nhất những vấn đề kinh

tế cơ bản của nông hộ đó là:

- Nông hộ là đơn vị hoạt động của xã hội, làm cơ sở cho phân tích kinh

tế nông hộ và nông thôn

Trang 19

- Các nguồn lực (đất đai, vốn sản xuất, tư liệu sản xuất, sức lao động) được góp thành một nguồn vốn chung của mọi thành viên trong gia đình, cùng chung một ngôn ngữ

- Cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn tuổi trong gia đình

1.1.1.4 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá

Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trường Trong nền kinh tế hàng hoá, mọi sản phẩm đều được mua bán trên thị trường Thị trường là một hợp phần tất yếu và hữu cơ của toàn bộ qua trình sản xuất và lưu thông hàng hoá

Trong điều kiện đó, sản xuất của hộ đã có sự thay đổi về chất Từ sản xuất phục vụ nhu cầu của gia đình đã chuyển sang sản xuất hàng hoá với quy

mô và mức độ khác nhau Vì vậy có thể hiểu: Kinh tế hộ nông dân sản xuất nông sản hàng hoá là những hộ nông dân sản xuất nông sản chủ yếu để bán

và trao đổi trên thị trường

1.1.2 Sản xuất hàng hoá là xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân

- Sản xuất hàng hoá là cầu nối, khâu trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa

Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh

tế tự nhiên sang sản xuất hàng hoá nhỏ là hộ nông dân lên kinh tế hàng hoá lớn với quy mô là trạng trại nên kinh tế hộ nông dân được coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá lớn

Kinh tế hộ nông dân sản xuất theo hướng hàng hoá ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của thị trường Quy mô thị trường được mở rộng từ

Trang 20

thị trường địa phương đến thị trường vùng, miền, trên phạm vi toàn quốc và còn vươn ra thị trường thế giới

- Là đơn vị tích tụ vốn

Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên (sản xuất chủ yếu cho hộ nông dân sử dụng) sang sản xuất hàng hoá (sản phẩm sản xuẫt chủ yếu để bán) chỉ có thể diễn ra từ việc tích tụ vốn ở từng hộ nông dân Nếu không có

sự tích tụ đó thì những khoản tiền dư thừa do hoạt động kinh tế của hộ nông dân tạo nên sẽ biến thành của cải tích trữ hoặc bị lãng phí vào những công việc khác không được sử dụng vào mục đích tái sản xuất để tăng sản phẩm cho hộ nông dân và xã hội, đó chưa kể đến tiềm năng lao động, kinh nghiệm sản xuất được coi là những nguồn vốn sẽ bị lãng phí

- Là đơn vị cơ sở để phân công lao động xã hội

Với tư cách là đơn vị cơ sở tích tụ vốn, kinh tế hộ nông dân có điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm chuyển dịch lao động và trở thành đơn vị kinh tế cơ sở thực hiện sự phân công lao động xã hội Phát huy tối đa lợi thế

so sánh về vị trí địa lý, đất đai, thời tiết khí hậu, trình độ lao động,để sản xuất chuyên môn hoá một loại nông sản để lao động có tính chuyên môn hoá

- Là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ thuật –công nghệ

Kinh tế hộ nông dân sản xuât nông sản hàng hoá theo cơ chế thị trường phải chú ý đến vấn đề lợi nhuận là hiệu quả của sản xuất kinh doanh Điều đó buộc các hộ nông dân phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động và

hạ giá thành sản phẩm để có khả năng cạnh tranh

- Là đơn vị kinh tế cơ bản đấp ứng nhu cầu của thị trường và là đơn vị tiêu dùng xã hội

Là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá, các hộ nông dân sản xuất ra sản phẩm cần phải bán nhưng phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường từ đó lên phương án, kế hoạch sản xuất, bên cạnh đó để đáp

Trang 21

ứng sản xuất thì các hộ nông dân cũng phải cần nhu cầu vật tư, công cụ cho sản xuất Vô hình chung mỗi hộ nông dân đã trở thành một đơn vị cân đối cung - cầu thị trường Hộ nông dân vừa là nơi cung cấp toàn bộ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội cũng là nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của các khu công nghiệp và thành thị

1.1.3 Phát triển sản xuất hàng hoá và xây dựng nông thôn mới

1.1.3.1 Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đang quá độ sang sản xuất hàng hoá

Trong kinh tế hộ nông dân, chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi ích nên đã tạo ra động lực kinh tế thúc đẩy nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá Hiện nay ở nước ta có 3 loại kinh tế hộ nông dân tự chủ:

- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của những người nông dân cá thể (đó là người nông dân chưa vào hợp tác xã) Loại kinh tế hộ nông dân tự chủ này khác với kinh tế hộ nông dân cá thể trước đây ở hai điểm:

+ Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý Họ được nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định

+ Hoạt động sản xuất kinh doanh của họ được sự quản lý của nhà nước

- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của các thành viên trong các nông lâm trường quốc doanh ở đây hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ vừa nằm trong mối quan hệ khăng khít với kinh tế quốc dân

- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của những người nông dân xã viên HTX ở đây hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ vừa có mối quan hệ với kinh tế với HTX để giải quyết cả đầu vào và đầu ra cho quá trình sản xuất kinh doanh

1.1.3.2 Cơ cấu sản xuất của hộ nông dân là cơ cấu sản xuất đa dạng, nhiều ngành nghề

Có hộ nông dân sản xuất chuyên môn hoá nhưng có hộ lại theo hướng sản xuất kinh doanh tổng hợp

Trang 22

Do sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng khác với sản xuất công nghiệp như đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống lại

bị chi phối nhiều các yếu tố tự nhiên, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao với những khoảng thời gian trống cho phép tạo ra sự di chuyển nhân công nông nghiệp theo thời vụ Mặt khác, lực lượng lao động trong nông nghiệp nước ta còn chiếm đại bộ phận lao động xã hội, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp; sản xuất chủ yếu là độc canh cây lúa Vì vậy khi chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá để tăng thu nhập thì hộ hộ nông dân phải đổi mới cơ cấu sản xuất của mình hướng tăng nhanh tỷ trọng hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường, chuyên canh kết hợp với đa canh để đa dạng sản phẩm, đa dạng hoá ngành nghề Hộ nông dân có thể tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, với nhiều loai hình sản xuất và mọi nguồn lực có được

1.1.3.3 Kinh tế hộ nông dân có khả năng điều chỉnh theo sự vận động của cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước trong xây dựng nông thôn mới

Trong công nghiệp việc di chuyển tư bản và sức lao động từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác khó khăn Ngược lại đối với nông nghiệp nếu việc sản xuất và tiêu thụ một loại nông sản nào đó gặp khó khăn thì kinh tế hộ nông dân có thể chuyển nhanh sang loại nông sản khác Tuy nhiên khả năng điều chỉnh của kinh tế hộ nông dân còn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (cây, con, thời tiết, khí hậu ) của từng vùng, vào lực lượng lao động, vào tư liệu sản xuất, vốn và trình độ kỹ thuật của từng hộ nông dân, mặt khác chi phí sản xuất sản phẩm tỷ lệ nghịch với quy mô sản xuất, trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất còn ở hộ nông dân trình độ công nghệ sản xuất nhỏ bé và lạc hậu, tổ chức sản xuất không hợp lý, quy mô sản xuất hạn hẹp nên chi phí sản xuất cao làm cho hiệu quả sản xuất hạn chế cho nên kinh tế hộ nông dân chỉ mang tính sản xuất hàng hoá nhỏ, để phù hợp với kinh tế thị trường hiện nay

Trang 23

thì quá trình vận động từ sản xuất hàng hoá nhỏ sang sản xuất hàng hoá lớn (kinh tế trang trại) có quy mô sản xuất lớn, trình độ công nghệ hiện đại và tổ chức sản xuất hợp lý

1.1.4 Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá và vai trò của kinh

tế hộ sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới

1.1.4.1 Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá trong xây dựng nông thôn mới

a Xây dựng nông thôn mới

Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới

là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ

Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến

Trang 24

bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay,

là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống,

đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”

b Xu hướng phát triển kinh tế hộ thời kỳ xây dựng nông thôn mới

- Kinh tế hộ nông dân chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa

Trong quá trình điều chỉnh lại quan hệ sản xuất, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài ruộng đất, được mua sắm tư liệu sản xuất,

hộ nông dân thực sự trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển Một bộ phận hộ nông dân có vốn, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, năng động sớm thích ứng cơ chế thị trường đã tìm mọi biện pháp để phát triển sản xuất, từ chỗ đưa những sản phẩm nông sản dư thừa ra trao đổi trên thị trường, các hộ nông dân đã tìm kiếm để lựa chọn những sản phẩm mà thị trường cần để sản xuất và đáp ứng cho thị trường Đối với những

hộ nông dân cư trú ở vùng có lợi thế so sánh (vùng cây đặc sản, vùng sản xuất nguyên liệu) Xu thế phát triển kinh tế hộ nông dân ở các sản phẩm có lợi thế

so sánh đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng

- Xu hướng mở rộng quy mô sản xuất theo mô hình trang trại

Đối với một số hộ nông dân có trình độ sản xuất khá, chủ hộ có kiến thức có ý chí làm giàu, họ muốn có diện tích đất đai lớn hơn để tiến hành tổ chức sản xuất, thành lập các trang trại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa

Sự phát triển kinh tế hộ nông dân sang sản xuất trang trại đang phát triển rộng khắp ở các vùng trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển Việc chuyển kinh tế

Trang 25

hộ nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ sang sản xuất hàng hóa lớn là trang trại là xu thế tất yếu Nhưng mức độ phát triển, quy mô sản xuất của trang trại còn tùy thuộc vào sức sản xuất của từng chủ trang trại từng vùng Sự đòi hỏi về kỹ thuật

và công nghệ, vốn đầu tư của từng loại sản phẩm Quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất là điều kiện đầu tiên thúc đẩy sự phát triển theo hướng kinh tế trang trại, phát triển trước hết ở các hộ có nhiều đất, còn ở các hộ có ít đất để phát triển kinh tế theo kiểu trang trại cần phải đầu tư nhiều vốn và có giá trị kinh tế cao

Việc sản xuất hàng hóa lớn đã và đang tạo điều kiện để hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hóa với quy mô tập trung ngày càng lớn Ngoài những vùng sản xuất hàng hóa tập trung đã có từ lâu đời, những năm gần đây khi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu

tư vốn để góp phần mở rộng quy mô vùng sản xuất chuyên môn hóa, nâng cao

tỷ trọng hàng hóa

- Xu hướng phát triển kinh tế hộ theo hướng kinh doanh tổng hợp

Xu hướng phát triển này được thể hiện ở những vấn đề sau:

Tỷ trọng loại hình kinh tế hộ thuần nông ngày càng giảm dần, tăng tỷ trọng loại hình kinh tế hộ kiêm vừa trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề rừng và làm các nghề phụ, kết hợp làm dịch vụ

Tỷ trọng vốn đầu tư cho trồng trọt giảm dần, đầu tư cho chăn nuôi và các ngành nghề tăng dần

Giảm dần lao động đầu tư cho ngành trồng trọt, tăng đầu tư lao động cho chăn nuôi và ngành nghề

- Xu hướng phát triển kinh tế hộ chuyển dần từ hộ thuần nông sang hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề và hộ nông nghiệp kiêm buôn bán - dịch vụ

Những hộ có kinh nghiệm truyền thống, có kỹ thuật sẽ chuyển sang làm nghề chuyên như đan lát, thủ công mỹ nghệ, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm thủy sản như chế biến bảo quản lương thực, chế biến thực phẩm phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 26

Sự hình thành và phát triển gia tăng của những hộ giàu Đây là những

hộ có điều kiện về đất đai, tiền vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất biết làm kinh tế giỏi Sự gia tăng của những hộ này sẽ trở thành những trang trại, nông trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa

1.1.4.2 Vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa thời kỳ xây dựng nông thôn mới

- Thứ nhất, hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị kinh tế sơ sở chứa

đựng một hệ thống các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất )

và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra

Hộ nông dân tự chủ thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên các quyết định phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất nhằm cung cấp những loại nông sản phẩm không thể thiếu được cho con người, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội

- Thứ hai, hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị duy trì, tái tạo và

phát triển các nguồn lực có hiệu quả cao

Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi

hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, dồi dào ngay tại các vùng nông thôn Mặt khác, dưới tác động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu sản xuất, trên cơ

sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư

liệu sản xuất và tri thức

- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Hộ nông dân sản xuất hàng hoá đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng Khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị

Trang 27

kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng lên Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh cao, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông

thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần giải quyết các vấn đề về văn hoá - xã hội trong nông thôn

Hộ nông dân sản xuất hàng hoá phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút được lao động đang dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động trẻ thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng hiện nay Mặt khác, hộ sản xuất hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống người dân được cải thiện, giảm hộ đói nghèo

Phát triển hộ sản xuất hàng hoá sẽ xoá dần những tập quán canh tác, những tập tục lạc hậu trong sản xuất thay thế bằng những quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, tạo tấm gương về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh

- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái

Với chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất hàng hoá hình thành và phát triển Vì lợi ích lâu dài, các hộ nông dân luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, nơi mà họ đang sống, lao động để làm ra của cải vật chất nuôi sống gia đình

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới

Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá chịu sự tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên, điều

Trang 28

kiện kinh tế và khả năng tổ chức quản lý và sản xuất, điều kiện về khoa học

kỹ thuật và các chính sách của Nhà nước

sẽ có điều kiện phát triển kinh tế

Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được

- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái

Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy ở những nơi thời tiết khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ hội để phát triển kinh tế

Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân, nhất

là nguồn nước Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, con gia súc phát triển tốt, năng suất cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp kém

Trang 29

b Các nhân tố về điều kiện cơ sở hạ tầng và tổ chức, quản lý:

Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nông dân nói riêng

- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động:

Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh

- Vốn:

Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm

- Công cụ sản xuất:

Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp

kỹ thuật sản xuất Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng

hệ thống công cụ phù hợp Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao cho các hộ nông dân trong sản xuất Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ

- Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết

Trang 30

bị nông nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế hộ nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ được

ổn định và cải thiện

- Thị trường:

Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện sản xuất của họ Từ đó, kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát triển

- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất kinh doanh:

Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá, các hộ nông dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn,

kỹ thuật và giúp nhau tiêu thụ sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học

kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, con gia súc và năng suất lao động

c Các nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ

- Kỹ thuật canh tác:

Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ

- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ:

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học

kỹ thuật, vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt

Trang 31

Thực tế cho thấy những độ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kinh tế kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, ứng dụng các tiến

bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi hẳn bằng sản xuất hàng hoá

d Các nhân tố thuộc về chính sách và thị trường

Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và

là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế [9]

1.1.5.2 Nhóm nhân tố Chủ quan

Về mặt chủ quan đó là quy mô về diện tích ruộng đất của hộ Diện tích ruộng đất có su hướng tăng lên do tích tụ ruộng đất theo hướng dồn điền đổi thửa và khuyến khích những hộ giỏi nghề nông làm nghề nông, những người không giỏi nghề nông được chuyển sang các nghề sản xuất phi nông nghiệp;

Có sự tác động tích cực và phù hợp trong các chính sách của nhà nước; Có sự phát triển nhất định của cơ sở hạ tầng; Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa; Công nghiệp chế biến; Quá trình hợp tác, liên doanh, liên kết và sự hoạt động của hệ thống khuyến nông từ Trung ương tới cơ sở

Về Nhóm nhân tố chủ quan về kinh nghiệm sản xuất của người lao động cùng với trình độ học vấn, kỹ năng của họ; Vốn tích tụ được và mức độ

Trang 32

trang bị tư liệu sản xuất của các hộ nông dân cũng sẽ quyết định sự thuận lợi hay không trong việc đầu tư sản xuất, chuyển dịch nhanh hay chậm trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa

Nhận biết được những nhân tố khách quan và chủ quan chủ yếu này, hộ nông dân có thể khai thác được những điểm mạnh mà ta đã có và không ngừng khắc phục những tồn tại Như vậy sẽ đẩy nhanh được quá trình chuyển

từ kinh tế hộ tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn, kinh tế trang trại

Tóm lại, từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có

thể khẳng định: hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc, muốn phát triển kinh tế cần phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy

mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả

1.2 Kinh nghiệm trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa trên thế giới

1.2.1.1 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở các nước châu Âu

Ở châu Âu thế kỷ XVIII với sự phát triển của CNTB đã xuất hiện hai loại hiện tượng mới: Dân số tăng nhanh dẫn đến sự tăng nhu cầu về công nghệ phẩm, làm phát triển công nghiệp và thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Trước cuộc cách mạng công nghiệp này, đã có cuộc cách mạng nông nghiệp và chính cuộc cách mạng đó đã thúc đẩy sự tăng dân số và nhu cầu công nghiệp hoá Khi công nghiệp phát triển nó đã tác động tích cực đối với nông nghiệp Đứng trước sự biến động lớn của xã hội, những luật lệ mới được ban bố để thay thế những đạo luật cũ, những tàn tích tỏ ra lạc hậu, kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng thế kỷ của chế độ phong kiến Đạo luật mới đã khởi động tinh thần hăng say của người nông dân, nhanh chóng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, khai thác triệt để những tiềm năng chứa ẩn

Trang 33

trong nông nghiệp, tăng nhanh sản phẩm cho xã hội Cũng từ đây kinh tế trang trại ra đời, nhiều chủ trang trại sau khi phá vỡ vỏ bọc tự cấp, tự túc, khép kín của người tiểu nông vươn lên sản xuất sản phẩm cho xã hội, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh, khai thác nông nghiệp không chỉ đối với người nông dân mà nhiều nhà tư bản cũng đổ

xô kiếm lời trong sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là cuối giai đoạn thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi nền công nghiệp cơ khí và khoa học phát triển đã sản xuất

ra hàng loạt những máy móc, động cơ cũng như các phương tiện năng lượng

và phân hoá học, tạo điều kiện cho nông nghiệp khai thác triệt để các tài nguyên nông nghiệp, với những thành tựu khoa học mới từ công nghiệp Mặt khác do đặc trưng của kinh tế nông hộ, do sản xuất nông nghiệp không giống kiểu sản xuất công nghiệp, mặc dù đứng trước dự cạnh tranh ồ ạt lao vào khai thác sản xuất nông nghiệp thì sức chịu dẻo dai của nền kinh tế nông hộ lại chịu tính ưu việt của nó Thực tế đã chứng minh, các đại điền trang, đại tư sản có mặt đã lâm vào khủng hoảng và có nguy cơ bị diệt vong, nhường chỗ cho các cơ sở kinh doanh nông nghiệp của các trang trại gia đình Trang trại gia đình đóng vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các nông sản đáp ứng các nhu cầu của con người

Cụ thể là: Ở Pháp gần 1 triệu trang trại gia đình với 5% lao động nông nghiệp

đã sản xuất ra khối lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước [Bulletin(1991)]

1.2.1.2 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở châu Á

a Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Thái Lan

Thái Lan là một nước có nền nông nghiệp phát triển, đứng đầu thế giới

về xuất khẩu gạo, chất lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan cũng rất cao, đáp ứng nhu cầu của phần lớn khách hàng trên thế giới Để trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển, Chính phủ Thái Lan đã có những chính sách rất cụ thể nhằm phát triển kinh tế nông thôn nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng

Trang 34

Về vấn đề đầu tư: Thái Lan đã đầu tư một lượng vốn lớn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi… tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó, Thái Lan còn xây dựng một loạt các hệ thống dịch vụ nhằm cung cấp thông tin, vật tư, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ và nông trại

Về chính sách tín dụng: Thái Lan đã hướng dẫn nông dân tự thu hút vốn, đồng thời Chính phủ Thái Lan còn ưu tiên cung cấp tín dụng qua các tổ chức của Chính phủ

Về thị trường: Thái Lan mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, giúp nông dân tiếp cận với thị trường bằng cách xây dựng các hệ thống đại lý…Nhờ vậy, nông dân Thái Lan có thể biết được các thông tin thị trường một cách nhanh chóng, chính xác, điều này đã giúp họ hạn chế được tình trạng ép cấp, ép giá của tư thương và các tổ chức trung gian

Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn có chính sách bình ổn giá để bảo vệ lợi ích của nông dân Trong thời kỳ "Cách mạng xanh", Chính phủ cho phép nhập khẩu phân bón và một số vật tư khác mà không tính thuế [8]

b Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Đài Loan

Đài Loan là khu vực có nền kinh tế phát triển, đặc biệt sau cải cách ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Đài Loan phát triển rất mạnh

Để phát triển kinh tế nông hộ, Đài Loan đã lập ra một tổ chức có tên gọi là: “Nông phục hồi", tổ chức này đứng ra lập kế hoạch, chỉ đạo sản xuất,

cố vấn phát triển và làm khâu trung gian chuyển giao kỹ thuật cho nông dân

Để thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng Đài Loan đã tiến hành các biện pháp:

- Tiến hành cải cách ruộng đất, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, thực hiện "Người làm có ruộng" Sau cải cách tỷ lệ tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp đạt 5,3% một năm và liên tục tăng suốt 15 năm

Trang 35

- Tiến hành cuộc: "Cách mạng xanh", đây là cuộc cách mạng về giống

và đã tạo được nhiều giống mới có năng suất cao Trong khi đó, Chính phủ Đài Loan lại cố định mức thuế nông nghiệp, làm cho sản xuất của nông dân mang lại lợi nhuận cao hơn, nông hộ phấn khởi và càng tích cực sản xuất

- Không ngừng phát triển kinh tế hợp tác xã và các hiệp hội ở nông thôn, tiến hành công nghiệp hoá nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập Mặt khác lại tiến hành điện khí hoá và chuyện môn hoá sản xuất, mở rộng thị trường với nước ngoài

Qua thực hiện các biện pháp trên, kinh tế nông hộ của Đài Loan đã phát triển vượt bậc [8]

c Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Trung Quốc

Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,50 tỷ người, trong đó có hơn 900 triệu người là nông dân Chính vì vậy, việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm là một yêu cầu hết sức cấp thiết Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc rất quan tâm đến vấn đề kinh tế nông hộ Coi việc phát triển kinh tế nông hộ là vấn đề phát triển hàng đầu của đất nước Nhờ có chủ trương đúng và bước đi thích hợp nên trong vòng 15 năm trở lại đây, kinh

tế nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc đã thu được những thành tựu hết sức to lớn

Để đưa kinh tế nông hộ phát triển, Trung Quốc đã hướng vào 3 mũi nhọn sau: đưa ra các chính sách, đầu tư, và tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật

Trung Quốc đã xác định 8 quan điểm phát triển kinh tế nông thôn nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng như sau:

+ Cải cách nông thôn phải tiếp tục ổn định cơ chế khoán hộ, không ngừng hoàn thiện cơ chế kinh doanh 2 tầng, kết hợp giữa thống nhất và phân tán, tích cực phát triển hệ thống dịch vụ xã hội hoá, hướng dẫn nông dân phát triển kinh tế theo con đường giàu có chung

Trang 36

+ Xây dựng kinh tế phải thực sự đặt nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, không được coi nhẹ vị trí cơ sở của nông nghiệp

+ Xây dựng và chấp hành chính sách nông thôn, phải đảm bảo lợi ích vật chất và quyền lợi dân chủ về chính trị của nông dân

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phải kiên trì chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và giáo dục, chấn hưng nông nghiệp…

+ Phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn phải tôn trọng quy luật giá trị + Phải khống chế sự gia tăng nhân khẩu, khai thác hợp lý tài nguyên… + Phải tăng cường tổ chức cơ sở Đảng, làm hạt nhân tăng cường công tác chính trị tư tưởng, kiên trì xây dựng đời sống văn minh về vật chất và tinh thần

+ Chỉ đạo công tác nông thôn phải kiên trì đưòng lối quần chúng, xuất phát từ tình hình thực tế để chỉ đạo một cách thích hợp, hiệu quả, không vi phạm ý nguyện của quần chúng và thái độ chủ quan, giáo điều, dập khuôn

Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhờ có

sự thành công của chính sách đổi mới, bộ mặt nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, từ một nước thiếu đói thành một nước phát triển Ngày nay, Trung Quốc trở thành một nước mạnh kinh tế, vững về an ninh chính trị [8]

1.2.2 Những bài học rút ra kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở Việt Nam

1.2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế hộ nông dân

Kể từ ngày giành lại độc lập cho đất nước, ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân

- Ngay sau khi kháng chiến thực dân pháp thắng lợi (1954) Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà đã ban hành một số chính sách khuyến khích hộ phát triển

Trang 37

+ Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất

+ Tự do thuê mướn nhân công, tự do thuê và cho thuê trâu bò

- Năm 1979 tại hội nghị Trung ương lần VI (khoá IV) đã chủ trương tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân bung ra bằng các giải pháp:

+ Thừa nhận kinh tế nhiều thành phần

+ Cho các hộ xã viên mượn đất nhằm khắc phục tình trạng bỏ đất hoang + ổn định nghĩa vụ lương thực, điều chỉnh giá mua nông sản, thực hiện mua theo giá thoả thuận

+ Bỏ việc phân phối định xuất, thực hiện phân phối theo lao động + Hạn chế trích lập các quỹ tập thể nhằm tăng thu nhập cho xã viên + Thừa nhận kinh tế gia đình và coi kinh tế gia đình là một bộ phận hợp thành của kinh tế XHCN

- Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng (1981)

Tiếp tục phát triển và khẳng định chủ trương năm 1979 Ngoài ra kinh

tế hộ nông dân còn được đảm nhận ba trong tám khâu khoán việc trong quá trình sản xuất Nhận khoán và nộp thuế

- Nghị quyết số 10 của Bộ chính trị (4/1988) khẳng định:

+ Thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán

+ Nông dân chỉ còn một nghĩa vụ nộp thuế

+ Thực hiện chính sách một giá, với nông dân chủ yếu là gía thoả thuận + Thương mại hoá vật tư

- Luật đất đai 1993, luật đất đai sửa đổi 1997, Luật đất đai năm 2003 nêu rõ:

+ Toàn bộ quỹ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước

+ Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định, lâu dài cho những người làm nông, lâm, ngư nghiệp Các hộ nông dân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp quyền sử sụng đất trong thời hạn được giao

Trang 38

+ Người sử dụng đất có trách nhiệm sử dụng đất đúng mục đích tiết kiệm, có hiệu quả và phải bảo vệ, cải tạo đất Kiên quyết xoá bỏ những phương thức kinh doanh lạc hậu làm huỷ hoại đất đai

- Nghị quyết số 03/2000/QĐ-CP ngày 2/2/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại

- Đặc biệt trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước vẫn tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hộ nông dân được thể hiện tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI…

Quan điểm phát triển kinh tế nông hộ thời kỳ công nghiệp hóa và xây dựng nông thôn mới được thể hiện trong Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn

Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: “Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI)

Muốn đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại và sản xuất hàng hóa lớn, đất đai là yếu tố quyết định và quan trọng hàng đầu, do đó quan điểm của Đảng là “khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng”;

“Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hóa, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn”;

Để phát huy vai trò của nông dân hiện nay, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học

Trang 39

nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp

và dịch vụ Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện

có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”;.Quan điểm đó của Đảng thực sự là những giải pháp quan trọng để khơi dậy và phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới ở nước ta

1.2.2.2 Thành tựu phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở Việt Nam

a.Những thắng lợi đã đạt được

+ Kinh tế nông hộ thực sự trở thành đơn vị kinh tế cơ sở, một thành

phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế nông thôn Huy động và sử dụng

có hiệu quả nguồn lực của kinh tế hộ Về cơ bản đã giải quyết vấn đề: "An toàn lương thực" trên phạm vi quốc gia và trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo

+ Một bộ phận lớn hộ nông dân có thu nhập ngày càng tăng, đời sống vật chất, văn hoá - xã hội ở nông thôn từng bước được cải thiện, kinh tế nông

hộ trở nên đa dạng hơn, nhiều hộ chuyển sang ngành nghề dịch vụ và công nghiệp nông thôn, đa dạng hoá nhiều loại hình tổ chức sản xuất và hợp tác trong nông nghiệp theo hướng tiến bộ

b Những tồn tại lớn trong kinh tế nông hộ ở Việt Nam

Nguồn lực của nông hộ có quy mô nhỏ, ruộng đất ít, manh mún, lao động dư thừa, thiếu vốn sản xuất và điều quan trọng là mất cân đối, phân bố không đều giữa các vùng, làm cho sự phân hoá giữa các vùng chênh lệch rất lớn, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa

Việc ra quyết định sản xuất trong nông hộ còn rất chênh lệch và nhìn chung vẫn ở trình độ thấp

Trang 40

Trong nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền Bắc, miền Trung, hợp tác

xã là tổ chức ảnh hưởng lớn đến hoạt động của kinh tế Từ những vấn đề trên, các nội dung đặt ra đối với kinh tế nông hộ Việt Nam hiện nay là:

+ Nghèo đói: Theo Ngân hàng thế giới (2009) đây là vấn đề đầu tiên đặt

ra với kinh tế nông hộ nước ta vì: Năm 2008 trung bình cả nước chúng ta có 14,8% hộ nghèo

+ Sản xuất của nông hộ nhìn chung vẫn còn mang tính tự cấp, tự túc, nhỏ

lẻ, năng suất thấp, không ổn định

+ Thất nghiệp: Thực tế chúng ta dư thừa khoảng 20 - 30% lực lượng lao động, nông nghiệp là túi chứa lao động, hàng năm hơn 80% lao động tăng thêm bổ sung cho lao động nông nghiệp [11]

+ Thất học: Trình độ văn hoá ở các nông hộ còn rất thấp, suy dinh dưỡng, bệnh tật, thiếu nước sinh hoạt…

c Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta

Thứ nhất: Kinh tế nông hộ ngày càng phát triển đa dạng Nếu trước kia

hầu hết các nông hộ ở dạng thuần nông, thì ngày nay bên cạnh hộ thuần nông xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề, kiêm dịch vụ hoặc chuyên làm ngành nghề - dịch vụ với quy mô lớn Trong những hộ thuần nông cũng xuất hiện những mô hình đa dạng như: mô hình VAC, mô hình nông, lâm kết hợp lúa - vịt, mô hình rau hoa cao cấp…

Thứ hai: Ngày càng nhiều hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá Trước kia

do thị trường chưa phát triển, mỗi hộ nông dân phải sản xuất ra hầu hết những nhu yếu phẩm cần thiết, nên nền kinh tế nông hộ mang nặng tính tự cấp, tự túc Ngày nay thị trường mở rộng, nông hộ đã biết phát huy lợi thế so sánh, tiến hành sản xuất các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh trên thị trường nhằm tăng thêm lợi ích, do đó đã thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm