Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuấ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2-
TRẦN NGỌC LONG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM BAO BÌ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP BẮC HẢI - HUYỆN THUẬN THÀNH – TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐỖ VĂN VIỆN
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Trần Ngọc Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Lâm Nghiệp và thực tập tại Công ty cổ phần Công nghiệp Bắc Hải, tôi đã được trang bị những kiến thức
và thử nghiệm thực tế giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm
ơn tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Đỗ Văn Viện – giảng viên khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nông nghiệp I đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu
và viết khóa luận tốt nghiệp của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên Hội đồng quản trị Công ty
cổ phần Công nghiệp Bắc Hải, và toàn bộ nhân viên trong Công ty đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi tìm hiểu và hoàn thành tốt nội dung của đề tài nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình tôi và bạn bè đã động viên khích lệ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Do điều kiện về thời gian và đây là bước đầu cho việc tập làm quen, nghiên cứu về khoa học và kỹ thuật nên vẫn còn hạn chế Vậy, khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên Trần Ngọc Long
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các sơ đồ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM 4
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm 8
1.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm 9
1.1.4 Phân loại cạnh tranh sản phẩm 11
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm 15
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp 21
1.1.7 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp 29
1.2 Cơ sở thực tiễn về cạnh tranh sản phẩm 32
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp ở các nước trên thế giới 32
1.2.2 Thực trạng ngành nhựa và bao bì trên Thế giới 34
1.2.3 Thực trạng ngành nhựa và bao bì tại Việt Nam 35
Trang 61.2.4 Một số bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm của doanh nghiệp 37
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 42
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
2.1.1 Thông tin chung về Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải 43
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty 43
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 44
2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu 59
2.2.1 Khung nghiên cứu 59
2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 60
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 61
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 61
2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 62
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh sản phẩm 63
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65
3.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty 65
3.1.1 Thực trạng sản xuất và kinh doanh của Công ty 65
3.1.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty 70
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty 87
3.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài 87
3.2.2 Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp 92
3.3 Đánh giá các tiêu chí về năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty 94
3.3.1 Điểm mạnh 94
Trang 73.3.2 Điểm yếu 95
3.4 Căn cứ xây dựng giải pháp 97
3.4.1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của công ty 97
3.4.2 Phân tích ma trận SWOT của công ty 97
3.5 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty trong giai đoạn hiện nay và cho tới năm 2020 100
3.5.1 Xây dựng chiến lược cạnh tranh sản phẩm dựa trên lợi thế hiện nay của Công ty 100
3.5.2 Đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm 100
3.5.3 Giải pháp chính sách giá cả hợp lý 101
3.5.4 Đầu tư đổi mới và hiện đại hoá máy móc thiết bị 102
3.5.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 105
3.5.6 Mở rộng hợp tác, liên kết với các Công ty sản xuất bao bì nhựa PP trong và ngoài nước 108
3.5.7 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy 109
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn hợp tác Kinh tê châu Á-Thái Bình Dương
CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CPSXC Chi phí sản xuất chung
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1.1 Tình hình tiêu thụ nhựa và bao bì trên Thế giới 34
2.2 Kết cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty 54 2.3 Số lượng máy móc thiết bị của Công ty 57
3.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 67 3.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm bao bì của Công ty 70 3.3 Ý kiến khách hàng về chất lượng sản phẩm 71
3.4 Kết cấu chi phí và giá bán một số sản phẩm chủ yếu của
3.5 Giá bán một số sản phẩm bao bì trên thị trường 77
3.7 Thị phần sản phẩm bao bì của các Công ty 81
3.9 Ý kiến đánh giá nhận xét của khách hàng về sản phẩm 85
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1.1 Các yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh SP trên thị trường 24
2.3 Khung nghiên cứu NLCT sản phẩm bao bì của công ty 59 3.1 Mô hình tổ chức quản lý về chất lượng sản phẩm của Công ty 72
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, canh tranh là điều tất yếu không thể tránh khỏi Đặc biệt khi Việt Nam là một thành viên chính thức của WTO, thị trường trong nước mở cửa không chỉ về thương mại mà cả về đầu tư và dịch vụ Đồng nghĩa với cạnh tranh thì thị trường ngày càng trở lên sôi động, mạnh mẽ và khốc liệt Nền kinh tế thị trường đã mang đến cho các doanh nghiệp những cơ hội thuận lợi để phát triển Mặt khác, nó cũng mang đến mối
đe doạ thường trực cho sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp, đó là quy luật đào thải Ngày nay, thay vì một thị trường khép kín cung không đủ cầu thì các doanh nghiệp lại phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt cùng với những đòi hỏi ngày càng khắt khe của khách hàng, cạnh tranh đã trở thành một quy luật tất yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nhiều đơn vị kinh tế do quen với phương thức quản lý của nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sản xuất theo kế hoạch, không quan tâm tìm hiểu nhu cầu thị trường nên đã rơi vào tình trạng thua lỗ, rất nhiều doanh nghiệp bị đẩy đến giải thể hoặc phá sản Tuy nhiên, bên cạnh đó lại có những doanh nghiệp năng động, nhạy bén với thời cuộc, tích cực nghiên cứu học hỏi, áp dụng phương thức kinh doanh mới thì cơ chế thị trường mở cửa lại trở thành cơ hội cho họ không những tồn tại được mà còn khẳng định vị trí ngày càng vững chắc trên thị trường
Trong những năm gần đây, thị trường sản phẩm nhựa, bao bì tại Việt Nam đã và đang ngày càng đa dạng, phong phú và cạnh tranh khốc liệt hơn
Đó là cơ hội cho các nhà sản xuất, nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức lớn trong cuộc đua chiếm lĩnh thị trường
Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải là một thành viên sản xuất bao bì
Trang 12PP tại Việt Nam với đội ngũ nhân viên trẻ cả tuổi đời và tuổi nghề, với niềm đam mê nhiệt huyết khát vọng mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm mang đậm tính truyền thống dân tộc với chất lượng tốt nhất, là điển hình cho những doanh nghiệp trẻ trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh lân cận Tuy nhiên, trong thời gian gần đây thị phần của Công ty có xu hướng giảm do tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành nhựa, bao bì cũng như tình hình nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng Để tồn tại và phát triển trong tương lai, Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải một thành viên sản xuất bao bì tại Việt Nam đang tích cực tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những chiến lược, những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo vị thế vững chắc trên thị trường
Để giải quyết vấn đề này cần có những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu Xuất phát từ đó tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải Huyện Thuận Thành – Tỉnh Bắc Ninh
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải trong những năm gần đây Luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty trong thời gian tới
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công
ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh và các vấn đề có liên quan + Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty trong những năm gần đây
+ Các giải pháp góp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải trong thời gian tới
- Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu tại Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải – Khu công nghiệp Trí Quả - Thuận Thành – Bắc Ninh và một số Công ty khác như: Công ty cổ phần Đại Hữu – Hà Nội; Công ty TNHH Hoa Hạ Việt Nam – Bắc Giang; Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Thái Dương – Hưng Yên So sánh số lượng, giá bán một số sản phẩm của các Công ty trên cùng một thị trường tiêu thụ sản phẩm bao bì tại Tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm
Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau theo các trường phái khác nhau về cạnh tranh Các học giả thuộc trường phái tư sản cổ điển thì cho rằng:
“Cạnh tranh (Competition – Concurentia) là cuộc đấu tranh đối kháng giữa các nhà sản xuất hàng hoá nhằm giành điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận tối đa”
Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình; là hoạt động tranh đua giữa nhiều người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất"
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: "Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế"[3]
Ở Việt nam, theo Từ điển Bách khoa, thì: "Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa những các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất"[12]
Trang 15Theo tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh[14], có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
- Cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của của nhiều chủ thể cùng tham dự
- Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm ); một loạt điều kiện
có lợi (một thị trường, một khách hàng ) Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao
- Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh
- Các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: đặc tính và chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, các dịch vụ bán hàng, hình thức thanh toán
Từ đó, một khái niệm về cạnh tranh có thể đưa ra là: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp,
cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi[8]
Tham gia cạnh tranh sẽ nâng cao vị thế của mình trên thị trường Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội thì cạnh tranh luôn có tác động tích cực như chất lượng hàng hóa tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn[10]
Ngày nay, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, là động lực của nền kinh tế thị trường Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị
Trang 16trường Năng lực cạnh tranh sẽ là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Do vậy, mỗi đơn vị kinh tế cần cố gắng tìm cho mình một chiến lược cạnh tranh phù hợp để vươn tới vị trí cao nhất
Trong cạnh tranh, nảy sinh ra người có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh thể hiện ở 3 cấp độ: Cấp quốc gia; cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm
- Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia thể hiện một cách có ý nghĩa nhất ở năng suất lao động Tổng năng suất lao động của các doanh nghiệp là năng suất lao động của một quốc gia với từng ngành Các doanh nghiệp có năng suất lao động cao thì quốc gia có năng suất lao động cao, đồng nghĩa với quốc gia đó có năng lực cạnh tranh cao [2],[8]
- Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp
Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có khả năng cung cấp một số lượng sản phẩm lớn, doanh thu lớn, thị phần ngày một tăng trên thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao Một nhà sản xuất được gọi là nhà sản xuất
có khả năng cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng sản phẩm chất lượng cao với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng, phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một môi trường và thị trường cạnh tranh xác định trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 17- Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm
Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính lý học, hoá học, sinh học… có thể quan sát được dùng để thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống
Theo quan niệm marketing, sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút chú ý, mua sắm và tiêu dùng Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản: Yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất [11]
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh khi nó đáp ứng tốt các yếu tố: Chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian giao hàng và dịch vụ có sức cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Với sản phẩm thuần túy thì không thể tự cạnh tranh với nhau, chỉ có sự cạnh tranh của các chủ thể thông qua sản phẩm Nghĩa là doanh nghiệp này cạnh tranh với doanh nghiệp khác, quốc gia này cạnh tranh với quốc gia khác Vì vậy, nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sản phẩm tức là đang gián tiếp nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Như vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ thông qua các tiêu chí để có những nhận định biện pháp, chiến lược nhằm đưa quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường
1.1.1.2 Lợi thế cạnh tranh sản phẩm
Lợi thế cạnh tranh sản phẩm là thế mạnh mà sản phẩm có thể huy động
để đạt thắng lợi trong cạnh tranh Một sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thường được biểu hiện qua hai mặt là chi phí và sự khác biệt hoá của sản phẩm
Lợi thế về chi phí đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng với chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh Chi phí
Trang 18thấp tạo ra lợi thế về giá cả cho sản phẩm Các nhân tố nguồn lực mà doanh nghiệp có như các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật, nguồn cung ứng đầu vào, vị trí địa lý ảnh hưởng trực tiếp đến lợi thế về chi phí [2] [8] [9]
Sự khác biệt hoá của sản phẩm là tạo ra những sản phẩm có nét độc đáo, đặc trưng riêng biệt khác hẳn với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Trong
xu thế cạnh tranh ngày càng hướng về chất lượng sản phẩm Đây là một yếu
tố thu hút khách hàng, tạo được niềm tin và trung thành của khách hàng Lợi thế về sự khác biệt cho phép doanh nghiệp định mức giá bán cao hơn đối thủ cạnh tranh có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu được doanh thu và lợi nhuận lớn Lợi thế cạnh tranh là cái đang tồn tại hữu hình trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tận dụng chúng một cách triệt để, hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế hội nhập quốc tế cũng như liên khu vực diễn ra ngày một nhanh chóng thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng thành phần trong nền kinh tế có một ý nghĩa vô cùng to lớn Việc nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội, hạn chế các nguy cơ và có thế kiếm soát được không gian cạnh tranh mới Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp đối thủ cạnh tranh, mà luôn phải nghĩ cách đi đầu tạo ra những sản phẩm mới, với những ưu việt mới hơn hẳn đối thủ cạnh tranh Ở đây doanh nghiệp phải tìm ra một hướng đi riêng của chính mình Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp sự đổi mới, quy trình sản xuất của đối thủ cạnh tranh và học hỏi các phương pháp của họ mà nhằm phát triển quan điểm cơ bản về các cơ hội của ngày mai
Cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ cung cầu Cạnh tranh sẽ giúp cho các nhân tố sản xuất được sử dụng vào nơi có hiệu quả nhất, làm giảm thiểu tổng giá thành của sản xuất xã hội Bởi vì, cạnh tranh cho phép lựa
Trang 19chọn và sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối ưu, khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật để thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng
Như vậy, cạnh tranh sẽ dẫn đến kết quả là làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, số lượng hàng hoá trên thị trường ngày càng tăng, chủng loại ngày một nhiều, đa dạng về mẫu mã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Mặt khác, chính trong cạnh tranh sẽ loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém và làm tăng sản xuất của ngành điều này phù hợp với yêu cầu
xã hội Song bên cạnh đó cũng làm cho một số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả phát triển Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế những doanh nghiệp kinh doanh kém phát triển nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của mỗi nước cũng như mỗi doanh nghiệp Với cách hiểu như vậy, ta thấy vai trò đặc biệt của nhà kinh doanh trong việc làm tăng sự giàu có của xã hội Vì vậy, ta phải tôn vinh họ làm cho họ ngày càng muốn được cống hiến những đầu tư, suy nghĩ của mình làm dồi dào của cải vật chất cho xã hội
1.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Theo quy luật, cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt Nhờ sự cạnh tranh mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội - yếu tố đảm bảo cho sự phát triển mỗi quốc gia trong con đường phát triển Không những thế, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn là nhân tố thúc đẩy các quan hệ chính trị - kinh tế - xã hội, tăng cường mối quan hệ hợp tác, hiểu biết lẫn nhau giữa các nước [8], [10]
Nước ta đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thương mại, đưa các doanh nghiệp tham gia vào thị trường và thực hiện cạnh tranh trên thị
Trang 20trường quốc tế Hội nhập kinh tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường Hội nhập kinh tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong nước và nước ngoài tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý
Thách thức hàng đầu khi hội nhập là tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên cả thị trường trong nước và xuất khẩu, do các hàng rào bảo hộ cả thuế quan và phi thuế quan cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ Vì vậy, doanh nghiệp phải không ngừng lớn lên, không ngừng tăng trưởng, luôn đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động để sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, tăng năng lực cạnh tranh
Mục đích cao nhất của mỗi doanh nghiệp là tồn tại và phát triển Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần phải phát huy hết các ưu thế, tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh Cũng trong nền kinh tế đó, khách hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng, là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ Doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo làm cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp có được một khách hàng đã khó nhưng để giữ được khách hàng còn khó hơn Nâng cao khả năng cạnh tranh là làm cho khách hàng quay lưng lại với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, làm cho họ tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nhất, gieo vào trong lòng khách hàng những niềm tin chỉ có như thế doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển bền vững
Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có những mục tiêu nhất định cho từng thời kỳ Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà
Trang 21cần đặt ra những mục tiêu khác nhau Nếu như giai đoạn mới bước vào kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là xâm nhập thị trường Ở giai đoạn phát triển mục tiêu của doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa và tăng thị phần, tạo uy tín và niềm tin cho khách hàng Giai đoạn bão hòa doanh nghiệp phải chiến đấu bảo vệ thị phần hiện có và cuối cùng thì giai đoạn suy thoái vẫn đến Vì vậy, trong giai đoạn này doanh nghiệp cần phải loại bỏ những sản phẩm cũ, loại bỏ những phần thị trường không hiệu quả Vì vậy, doanh nghiệp phải nghĩ đến việc đầu tư, nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới để sản phẩm có thể bị suy thoái nhưng doanh nghiệp không bị suy thoái theo sản phẩm Do đó, để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh, chỉ có nâng cao năng lực cạnh tranh mới buộc các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo, tìm ra những phương thức, biện pháp tốt nhất để tạo ra sản phẩm mới, đạt chất lượng cao hơn, cung cấp những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng
1.1.4 Phân loại cạnh tranh sản phẩm
1.1.4.1 Căn cứ vào mức độ, cạnh tranh trên thị trường
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán
và nhiều người mua một loại sản phẩm đồng nhất, không có người bán hay người mua nào có đủ khả năng chi phối giá cả thị trường Điều đó có nghĩa các doanh nghiệp sản xuất và bán sản phẩm của mình tại mức giá hiện hành trên thị trường Xuất phát từ đặc điểm này mà hàng rào cản trở sự nhập cuộc hay rút lui của các nhà sản xuất là không có, thông tin thị trường là hoàn hảo, mọi thông tin thị trường là rõ ràng, chính xác Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì công cụ cạnh tranh chủ yếu không phải là giá cả mà là những nỗ lực nhằm giảm chi phí cá biệt Đối với thị trường này không có hiện tượng cung cầu giả tạo và không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính của nhà nước
Trang 22- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua, sản phẩm trong thị trường là không đồng nhất Mỗi loại sản phẩm
về công dụng chung nhất thì không có sự khác nhau, nhưng có một số thuộc tính khác nhau và có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau Do đó, người mua ít
có điều kiện để so sánh giá cả của sản phẩm này với sản phẩm khác có cùng công dụng Hàng rào cản trở sự gia nhập và rút lui trong thị trường này cao hơn so với trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nó đòi hỏi sự cố gắng lớn, chi phí lớn và rủi ro cao Khi có đối thủ mới gia nhập hay rút lui thì ngay lập tức các đối thủ hiện tại sẽ nhận ra điều này và đưa ra các hành động phù hợp một cách nhanh chóng Giá cả có thể được sử dụng làm công cụ cạnh tranh nhưng không phải là công cụ hàng đầu mà công cụ hàng đầu là tính độc đáo của sản phẩm hay chất lượng sản phẩm và dịch vụ Thường thì các doanh nghiệp trong thị trường này luôn cố gắng tạo ra hình ảnh của riêng mình và sử dụng nó để lôi kéo khách hàng về phía mình Loại cạnh tranh này rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay
- Thị trường độc quyền
Đây là loại hình cạnh tranh mà trên thị trường có một số ít người bán những sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người mà mỗi người chỉ bán một loại sản phẩm mang nhãn hiệu và có một số thuộc tính duy nhất nhưng mỗi người bán này gần như có thể kiểm soát được toàn bộ số lượng sản phẩm hàng hoá bán ra trên thị trường Đây là loại cạnh tranh mà nhà nước cố gắng tác động
để đảm bảo luôn có tính cạnh tranh bởi lẽ loại cạnh tranh này sẽ làm tổn hại đến lợi ích xã hội và làm chậm sự phát triển của nền kinh tế Điều kiện gia nhập và rút lui trong thị trường này có rất nhiều trở ngại không thuận lợi như trong hai loại cạnh tranh trên, ngoài những đòi hỏi về tiềm lực tài chính, những thế mạnh về sản phẩm và dịch vụ, nó còn đòi hỏi doanh nghiệp cần
Trang 23phải có bí quyết công nghệ và khả năng chịu đựng trong một khoảng thời gian
đủ dài Thị trường cạnh tranh độc quyền không có sự cạnh tranh về giá cả mà mỗi người bán toàn quyền quyết định giá cả sản phẩm của mình, tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi loại sản phẩm và đặc điểm của các phân đoạn thị trường cũng như mức độ độc quyền trên thị trường Công cụ cạnh tranh được
sử dụng trong thị trường này dựa trên uy tín, nhãn mác và tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ
1.1.4.2 Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
Đây là cuộc cạnh tranh dựa trên lợi ích cụ thể của hai bên đó là người mua thì muốn mua rẻ và người bán thì muốn bán đắt Khi hai bên gặp nhau trên thị trường sẽ trao đổi qua lại để đi đến thống nhất về các điều khoản mua
và bán, trong quá trình đó ai cung muốn giành lấy phần lợi cho mình Thực tế thì cạnh tranh giữa ngưới bán và người mua không đơn thuần chỉ có về vấn đề giá cả mà còn về các vấn đề khác nữa như phương thức thanh toán, chất lượng phục vụ, chi phí giao hàng, nhận hàng, mức độ an toàn và tiện lợi của sản phẩm Thông thường, khi doanh nghiệp đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì cường độ cạnh tranh với người mua không cao lắm Như vậy, không có nghĩa là doanh nghiệp đã hoàn toàn giành thế chủ động trước khách hàng mà điều đó chỉ có ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó các doanh nghiệp phải tự đổi mới cho phù hợp với khách hàng
- Cạnh tranh giữa người mua với người mua
Đó là quá trình ganh đua diễn ra giữa những người mua với nhau trong quá trình mua nhằm mục đích mua được hàng hoá có giá trị sử dụng lớn với chất lượng cao Quá trình cạnh tranh này chủ yếu diễn ra khi lượng cung trên thị trường nhỏ hơn lượng cầu trên thị trường hoặc với những hàng hoá mang đặc tính duy nhất như đồ cổ hay những bức tranh nổi tiếng…Lúc này cường
Trang 24độ cạnh tranh là cao nhất, giá cả của hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng người mua vẫn sẵn sàng chấp nhận mua Kết quả của cuộc cạnh tranh này là người bán sẽ được lợi và người mua nhận được thứ mà mình cần với chi phí cao hơn
- Cạnh tranh giữa người bán với người bán
Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, mang tính gay go khốc liệt nhất và có ý nghĩa sống còn với doanh nghiệp Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thủ tiêu lẫn nhau nhằm giành giật khách hàng và thị trường Kết quả của cuộc cạnh tranh này là một sự đào thải có chọn lọc Các doanh nghiệp chiến thắng có cơ hội để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, tăng thị phần tạo ra sự phát triển vững chắc Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển, số người bán tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt Các doanh nghiệp thành công là các doanh nghiệp dám đối đầu với cạnh tranh, tạo được vũ khí cạnh tranh có hiệu quả và dám chấp nhận “luật chơi”
1.1.4.3 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá sản phẩm nào đó Các doanh nghiệp này có đặc trưng về mặt kinh tế - kỹ thuật giống nhau hoặc tương tự nhau thể hiện ở công nghệ, nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm và công dụng cụ thể của sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này hầu hết là bản thân mỗi doanh nghiệp là một đối thủ cạnh tranh và biện pháp cạnh tranh chủ yếu là cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành
- Cạnh tranh giữa các ngành
Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau Giữa các doanh nghiệp này có sự khác nhau về công nghệ hay nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm hoặc công dụng cụ thể của sản phẩm
Trang 25Giữa các doanh nghiệp này có một điểm giống nhau rất lớn đó là về mục đích của mọi hoạt động đều nhằm đạt được lợi nhuận cao Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển sang hoạt động trong các ngành có lợi nhuận cao hơn Kết quả của sự chuyển dịch này tạo ra
sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành và hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.5.1 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là vấn đề rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp Đứng trên những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng Xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường
- Quan niệm xuất phát từ sản phẩm: Chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Quan niệm này đồng nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm
- Quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo
và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước
- Quan điểm xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Trình độ kĩ thuật chính là các chỉ tiêu an toàn, vệ sinh, công dụng chi phí sản xuất, chất lượng, chi phí
sử dụng và chi phí môi trường Cũng có quan điểm khác cho rằng chất lượng được xem xét ở hai khía cạnh là chất lượng chuẩn mực và chất lượng vượt trội Sản phẩm luôn đổi mới sẽ tạo ra chất lượng vượt trội từ đó tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh
Trang 26Đánh giá chất lượng tức là xác định các chỉ tiêu chất lượng bằng giá trị tuyệt đối có thể lượng hoá và so sánh các chỉ tiêu chất lượng với các tiêu chuẩn tương ứng Bên cạnh đó còn kèm theo việc đánh giá quá trình nghiên cứu, thiết kế, tạo sản phẩm và các yếu tố tác động đến chất lượng sản phẩm Mục đích của đánh giá chất lượng là xác định, định lượng các chỉ tiêu, tổ hợp các giá trị đo được để tiến hành nhận xét và kết luận, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
1.1.5.2 Giá cả sản phẩm
Giá là một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên khi định mức giá, điều chỉnh và thay đổi giá, doanh nghiệp không thể bỏ qua các thông tin về giá thành, giá cả và các phản ứng về giá của các đối thủ cạnh tranh Bởi vì, với người mua, giá của các sản phẩm cạnh tranh là “giá tham khảo” quan trọng nhất Ảnh hưởng của cạnh tranh tới các quyết định về giá được phân tích trên các khía cạnh:
- Tương quan so sánh giữa chi phí nguyên liệu đầu vào sản phẩm của doanh nghiệp với chi phí nguyên liệu đầu vào của đối thủ cạnh tranh Khi chi phí nguyên liệu đầu vào sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp khó có thể thực hiện được sự cạnh tranh về giá Ngược lại, chi phí nguyên liệu đầu vào sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ hơn chi phí nguyên liệu đầu vào sản phẩm của đối thủ cạnh tranh họ có thể đặt giá bán thấp hơn để gia tăng thị phần mà vẫn đảm bảo được mức lợi nhuận cao Tuy nhiên, trong quá trình đó cần phải xem xét phản ứng của đối thủ cạnh tranh về giá
Mối tương quan giữa giá và chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh đặc biệt là sự đánh giá của khách hàng về tương quan này Nhờ sự phân tích này, doanh nghiệp có thể rút ra được những “điểm chuẩn” để định giá sản phẩm tương tự của mình
- Phản ứng của đối thủ cạnh tranh về giá Mức độ ảnh hưởng của giá và sản phẩm cạnh tranh tới các quyết định về giá của doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào đối thủ cạnh tranh sẽ phản ứng ra sao về chính sách giá mà doanh nghiệp áp dụng
Trang 271.1.5.3 Cơ cấu chủng loại và mẫu mã bao bì sản phẩm
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt và quyết liệt đòi hỏi sản phẩm phải có cơ cấu, chủng loại phong phú đa dạng Cơ cấu chủng loại của sản phẩm tuỳ thuộc vào mục đích mà công ty theo đuổi Các công ty thiên về theo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại đầy đủ hay phấn đấu để chiếm lĩnh thị trường hoặc mở rộng thị trường thường có chủng loại sản phẩm rộng Trong trường hợp này, họ sản xuất cả những sản phẩm sinh lời ít Ngược lại, có những công ty quan tâm trước hết đến sinh lời cao của sản phẩm Danh mục sản phẩm được phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú,
bề sâu và mức độ hài hoà của nó
Mẫu mã, bao bì sản phẩm cũng đóng một vai trò trong cạnh tranh Nó trở thành công cụ đắc lực của hoạt động marketing Để tạo ra bao gói có hiệu quả cho một sản phẩm nhà quản trị marketing phải thông qua hàng loạt các quyết định kế tiếp nhau:
- Xây dựng quan niệm về bao gói
- Quyết định về các khía cạnh: Kích thước hình dáng vật liệu, màu sắc…
- Quyết định về thử nghiệm bao gói: Thử nghiệm về kỹ thuật, hình thức kinh doanh, khả năng chấp nhận của người tiêu dùng
- Cân nhắc các khía cạnh lợi ích xã hội, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của doanh nghiệp
- Quyết định về các thông tin trên bao gói
1.1.5.4 Khả năng phát triển sản phẩm mới
Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh, công ty không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có Vì vậy, mỗi công ty đều phải quan tâm đến chương trình phát triển sản phẩm mới nếu muốn tồn tại và phát triển với uy tín ngày càng tăng
Theo quan niệm của marketing, sản phẩm mới có thể là những sản
Trang 28phẩm mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu thiết kế thử nghiệm của công ty Dấu hiệu quan trọng nhất đánh giá sản phẩm đó là sản phẩm mới hay không là sự thừa nhận của khách hàng Thiết kế sản xuất sản phẩm mới là một việc làm cần thiết nhưng có thể là mạo hiểm đối với doanh nghiệp Bởi vì, chúng có thể thất bại do những nguyên nhân khác nhau Để hạn chế bớt rủi ro các chuyên gia - những người sáng tạo sản phẩm mới phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quá trình tạo ra sản phẩm mới và đưa nó vào thị trường: Hình thành ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, soạn thảo và thẩm định dự án, soạn thảo chiến lược marketing, thiết kế, thử nghiệm, triển khai sản xuất và quyết định đưa sản phẩm mới ra thị trường
1.1.5.5 Công tác quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ sau bán hàng
Theo quan điểm quản lý, quảng cáo là phương sách có tính chất chiến lược để đạt được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên thị trường Trong nhiều trường hợp đầu tư cho quảng cáo là một sự đầu tư dài hạn Quảng cáo là công cụ truyền thông được sử dụng khá phổ biến, hoạt động quảng cáo rất phong phú Công ty cần căn cứ vào mục tiêu quảng cáo, đối tượng quảng cáo
và đối tượng nhận tin mà chọn phương tiện truyền tin quảng cáo cụ thể Có thể chọn phương tiện truyền thông đại chúng hoặc phương tiện truyền thông chuyên biệt, phương tiện quảng cáo chính và phương tiện bổ sung
Ngoài quảng cáo khuyến mại và các dịnh vụ sau bán hàng cũng được đánh giá là công cụ cạnh tranh quan trọng Khuyến mại hay còn gọi là xúc tiến bán hàng có tác động trực tiếp và tích cực đối với việc tăng doanh số bằng những vật chất bổ sung cho người mua Đây là công cụ kích thích để thúc đẩy các khâu: Cung ứng, phân phối và tiêu dùng đối với một hay một nhóm sản phẩm hàng hoá của công ty Đối với người tiêu dùng kích thích họ tiêu dùng nhiều hơn, mua với số lượng lớn hơn và mở ra những khách hàng mới Đối với
Trang 29các thành viên trung gian khuyến khích lực lượng phân phối này tăng cường hoạt động mua bán, củng cố và mở rộng kênh phân phối, thực hiện việc dự trữ thị trường, mở rộng mùa vụ tiêu dùng cho sản phẩm hàng hoá
Một yếu tố khác cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh là dịnh vụ khách hàng Doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng đến các hoạt động, dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, chăm sóc khách hàng Nó là cái tạo nên sức mạnh cạnh tranh quan trọng nhất
1.1.5.6 Thương hiệu sản phẩm
Vấn đề thương hiệu là trung tâm của chiến lược marketing Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm Các yếu tố cấu thành thương hiệu gồm:
- Phần đọc được
- Phần không đọc được
- Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu
Thương hiệu là vật phẩm có giá trị và có thể định lượng được bằng tiền Một thương hiệu mạnh sẽ mang lại cho chủ nhân cơ hội thu được một mức giá cao hơn từ khách hàng so với sản phẩm cùng loại Thương hiệu mạnh củng cố tính bền vững cho doanh nghiệp Một thương hiệu mạnh giúp tạo ra khách hàng trung thành mà khách hàng trung thành thì không bao giờ rời bỏ thương hiệu mạnh chỉ vì những thay đổi nhỏ và càng không dễ dàng rời bỏ ngay mà luôn bao dung, rộng lòng chờ đợi sự thay đổi của thương hiệu mà mình trung thành Vì vậy, doanh nghiệp cần có ý thức cho việc xây dựng thương hiệu Việc xây dựng thương hiệu đòi hỏi phải có sự kiên trì và quan
Trang 30tâm đến tất cả những cơ hội, hay bất lợi mà yếu tố tự nhiên đem lại nhưng cũng chỉ trong giới hạn không gian, thời gian nhất định nếu vượt quá ngưỡng
nó không còn phát huy tác dụng
Từ việc nhận thức đầy đủ về thương hiệu đi đến thương hiệu mạnh là
cả một sự kiên trì Xây dựng thương hiệu chỉ có điểm bắt đầu mà không có điểm kết thúc
1.1.5.7 Khả năng tăng doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu là một tiêu chí quan trọng, một tiêu chí mang tính tuyệt đối thể hiện nhanh nhất, rõ nét nhất đối với các sản phẩm trên thị trường Khi chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt, sản phẩm được thị trường chấp nhận, sức cạnh tranh mạnh Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ cũng có nghĩa khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là không cao Hiện nay các sản phẩm được cạnh tranh trong môi trường bình đẳng, khách hàng tự
do lựa chọn sản phẩm hợp sở thích Nếu cơ hội lựa chọn sản phẩm như nhau thì doanh thu là tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thoả mãn nhu cầu khác nhau của khách hàng [11]
Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thu được phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Nếu hiệu quả cao sẽ đem lại lợi nhuận lớn, tăng khả năng tái sản xuất mở rộng thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh
1.1.5.8 Tốc độ tăng thị phần
Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức
độ chiếm lĩnh thị trường so với đối thủ cạnh tranh Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thị phần càng lớn càng thể hiện rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Biểu hiện
cụ thể là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Có hai loại thị phần:
Trang 31- Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: Là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số toàn ngành
- Thị phần của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ: Là tỷ
lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn phân khúc
Thị phần của doanh nghiệp càng lớn thì doanh thu của doanh nghiệp càng cao Khi sản phẩm có sức cạnh tranh cao bởi sự kết hợp các yếu tố bên trong như chất lượng tốt hơn, giá cả thấp hơn, kiểu dáng mẫu mã đa dạng và những yếu tố bên ngoài như nhiều cơ hội kinh doanh xuất hiện, công tác xúc tiến bán hàng, thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp được duy trì và phát triển Doanh nghiệp mở rộng kênh phân phối làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm và mức độ bao phủ thị trường lớn hơn Với sức mạnh đó tạo nên năng lực cạnh tranh rất lớn trước các đối thủ cạnh tranh yếu hơn nhường lại từng phần thị trường đã chiếm lĩnh Thị phần phản ánh chính xác sức mạnh của mỗi sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường Chính vì, thế nó là nhân tố quyết định hiệu quả lợi nhuận của doanh nghiệp hay là yếu tố quan trọng quyết định đối với vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.6.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
* Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
- Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế là các yếu tố chủ yếu tạo nên môi trường kinh doanh và thông qua môi trường kinh doanh các yếu tố này tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo hai hướng tích cực và tiêu cực Các nhân tố kinh
tế có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gồm có:
Trang 32+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng với tốc
độ cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng lên đồng nghĩa là khả năng thanh toán của họ cũng tăng lên và sức mua hàng hoá tăng lên Đây là cơ hội kinh doanh tốt cho các doanh nghiệp Mặt khác, nó còn chứng tỏ một điều là hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, có khả năng mở rộng sản xuất với nhiều thuận lợi về cơ sở hạ tầng và làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp so với các doanh nghiệp nước ngoài
+ Tài chính tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Tăng trưởng nhanh phụ thuộc vào khả năng của khu vực tài chính trong việc huy động và phân bổ có hiệu quả tín dụng của sản xuất sản phẩm Ngoài ra lãi suất tín dụng ảnh hưởng lớn đến khả năng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
+ Tỷ giá hối đoái và giá trị đồng tiền trong nước: Trong cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài thì
tỷ giá hối đoái và giá trị đồng tiền trong nước có tác động mạnh tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Khi tỷ giá hối đoái giảm thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước cao hơn các doanh nghiệp nước ngoài
vì có thuận lợi hơn trong sự so sánh về giá cả và ngược lại
- Yếu tố chính trị và pháp luật
Yếu tố chính trị và pháp luật là những yếu tố chính tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi với sự công bằng
và bình đẳng cho các doanh nghiệp, các nỗ lực của các doanh nghiệp được ghi nhận và được bảo hộ tốt khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh
Trang 33- Yếu tố khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Nhóm nhân tố này có tác động mạnh mẽ tới hai nhân tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là giá cả và chất lượng sản phẩm dịch vụ Trong bất kỳ giai đoạn nào thì tiến bộ khoa học kỹ thuật là giới hạn trên của chất lượng sản phẩm và dịch vụ Khoa học kỹ thuật tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo các hướng sau:
+ Tạo ra những phương pháp công nghệ mới góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Nó giúp các doanh nghiệp có được những phương pháp quản lý tiên tiến góp phần giảm chi phí hạ giá thành
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin Nó còn cho phép doanh nghiệp điều tra nhu cầu tiêu dùng chính xác Từ đó, tạo ra những sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ sát với nhu cầu thị trường hơn
- Các nhân tố về văn hoá xã hội
Đây là nhóm nhân tố có tác động khó nhận biết và thường là rất lâu dài
và khó lượng hoá Chính phong tục, tập quán, lối sống, thị hiếu tiêu dùng, thói quen, tín ngưỡng tôn giáo đã ảnh hưởng tới cơ cấu nhu cầu thị trường Từ đó, ảnh hưởng tới tính khả thi của các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp
- Các nhân tố thuộc về tự nhiên
Bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, môi trường, thời tiết khí hậu Các nhân tố tác động đến doanh nghiệp theo hai hướng tích cực và tiêu cực Trong trường hợp tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí, có điều kiện thuận lợi để khuyếch trương sản phẩm, tiếp cận thị trường mới Ngược lại, những khó khăn ban đầu về các điều kiện tự nhiên sẽ gây ra những trở ngại không nhỏ cho doanh nghiệp và làm giảm khả năng cạnh tranh
Trang 34Các doanh nghiệp mới tham gia vào thị
trường
Các doanh nghiệp cạnh tranh hiện tại
Sản phẩm, dịch vụ thay thế
Người tiêu dùng Nhà cung ứng
* Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh
Sơ đồ 1.1: Các yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh SP trên thị trường
- Sự đe doạ từ các đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp chưa có mặt trong ngành nhưng
có khả năng tham gia vào ngành Sự xuất hiện đối thủ này phụ thuộc vào những điều kiện và khả năng của doanh nghiệp, tính riêng biệt của một thị trường nào đó như các rào cản mang bản chất kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật
+ Khả năng về mặt tài chính là một rào cản nhập cuộc Một số ngành đòi hỏi khi tham gia phải được đầu tư lớn ngay từ đầu hoặc doanh nghiệp phải
có lợi thế quy mô
+ Những rào cản mang bản chất thương mại: Hình ảnh và uy tín của sản phẩm hoặc sự lôi kéo được những khách hàng trung thành
+ Ngoài ra với nguồn lực khan hiếm cũng là rào cản các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhập cuộc
Chính vì những nguy cơ nhập cuộc của đối thủ tiềm ẩn mà nghiên cứu đối thủ tiềm ẩn là một quá trình hết sức cần thiết trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp chủ động né tránh, đối phó thậm chí là kìm hãm sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn
Trang 35- Sức ép từ nhà cung cấp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao giờ cũng chịu sức ép từ những phía khác nhau Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp khác nhau, mức độ sức ép của nhà cung cấp cũng khác nhau Nếu như các nhà cung cấp tập trung thì họ có khả năng ép giá, ngược lại doanh nghiệp có thể chi phối được giá cả đầu vào của người cung cấp Khả năng ép giá của người cung cấp còn phụ thuộc vào những vấn đề sau:
+ Ngành hoạt động có phải là khách hàng chủ yếu hay không
+ Bản thân ngành hoạt động có khả năng tìm sản phẩm thay thế hay không + Chi phí chuyển đổi là lớn hay nhỏ
+ Khả năng hội nhập dọc ngược chiều và xuôi chiều
- Sức ép từ khách hàng
Sức ép từ khách hàng cũng như quan hệ của doanh nghiệp và nhà cung cấp thông qua chỉ số: Giá bán, chất lượng, giao hàng và phương thức thanh toán Quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng có khác bởi khách hàng là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Sức ép của khách hàng tuỳ thuộc vào một số tiêu thức sau:
+ Quy mô tương đối của khách hàng
+ Ngành hoạt động có phải là nhà cung cấp chủ yếu không
+ Khách hàng có khả năng tìm sản phẩm thay thế hay không
+ Chi phí chuyển đổi có cao không
+ Khả năng hội nhập dọc, xuôi chiều của doanh nghiệp
+ Thông tin của khách hàng
- Sự đe doạ từ đối thủ hiện tại
Các đối thủ hiện tại là các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành và
đã có những vị trí nhất định trên thị trường Họ tham gia cạnh tranh với cùng mục đích như chúng ta đó là tồn tại và phát triển, tăng doanh thu, tăng lợi
Trang 36nhuận, mở rộng thị phần, nâng cao uy tín Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào năng lực nhận biết và các năng lực tiềm ẩn của các đối thủ hiện tại Khi năng lực nhận biết của các đối thủ hiện tại là cao thì mọi đường đi nước bước của ta đều có thể bị nhận ra một cách dễ dàng
- Sự đe doạ của sản phẩm thay thế
Xét một cách chung nhất thì các doanh nghiệp trong cùng một ngành phải cạnh tranh với các ngành sản xuất các sản phẩm thay thế Các sản phẩm thay thế hạn chế, tức lợi nhuận tiềm tàng của một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối đa cho mức giá mà các doanh nghiệp trong ngành có thể kinh doanh có lãi Từ đó tác động tới khả năng cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trong ngành Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ trong đó liên quan trực tiếp là đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Sự thay thế của
nhu cầu thị trường cũng là một nhân tố quan trọng tạo ra sự đe doạ này
1.1.6.2 Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng lao động của doanh nghiệp Nhân lực của doanh doanh nghiệp bao gồm cán bộ quản lý và đội ngũ công nhân Cán bộ quản lý bao gồm các nhà quản trị viên cấp cao, cấp trung gian
và cấp cơ sở Các quản trị viên cấp cao có ảnh hưởng lớn đến các quyết định quản lý của doanh nghiệp Nếu họ có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, khả năng đánh giá và khả năng đối ngoại tốt thì doanh nghiệp sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn Mặt khác, các cán bộ quản lý với trình độ hiểu biết khác nhau có thể tạo ra nhiều ý tưởng chiến lược sáng tạo Đội ngũ công nhân cũng có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố về năng suất, trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ
Trang 37- Khả năng tổ chức quản lý
Khả năng tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí đặc biệt nề nếp hoạt động của doanh nghiệp Nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn công việc trong doanh nghiệp Nó ảnh hưởng tới phương thức ra quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp Thực chất nề nếp của doanh nghiệp là cơ chế tương tác với môi trường Một trong những bổn phận chính của các nhà quản trị là hình thành được các giá trị phẩm chất của tổ chức bằng cách hướng sự lưu tâm chú ý của nhân viên vào những điều quan trọng
Do vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng được một nề nếp tốt, khuyến khích các nhân viên tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và thái độ tích cực Một
nề nếp tốt làm cho nhân viên nhận thức tốt hơn những điều mà họ làm.Vì vậy dẫn dắt họ làm việc tích cực hơn nhằm đạt được các mục đích của tổ chức Ngược lại, đối với một nề nếp yếu kém, nhân viên lãng phí thì giờ chỉ cố tìm hiểu những việc họ cần làm và làm như thế nào
- Nguồn lực về tài chính
Khả năng tài chính khẳng định sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Khả năng tài chính được hiểu là quy mô nguồn tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động Các chỉ tiêu tài chính hàng năm như hệ
số thu hồi vốn, khả năng thanh toán Nếu như một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp mở rộng khả năng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết Tình hình sử dụng vốn cũng quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Trang 38- Nguồn lực về vật chất kỹ thuật
Nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng
có được công nghệ tiên tiến
+ Quy mô và năng lực sản xuất Nếu một doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ có nhiều lợi thế, tạo ra sản phẩm với khối lượng lớn nhờ đó mà hạ được giá thành sản phẩm Đồng thời khi sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng thì với khối lượng lớn sẽ cho phép doanh nghiệp chiếm lĩnh
và giữ vững thị trường trên nhiều khu vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng hơn, nên dễ nắm bắt và thoả mãn nhu cầu của khách hàng, khách hàng ngày càng tín nhiệm doanh nghiệp hơn
+ Nguồn cung cấp nguyên vật liệu Nếu một doanh nghiệp có nguồn cung cấp nguyên vật liệu không tin cậy sẽ không có chương trình kiểm tra chất lượng hiệu quả hoặc không thể kiểm tra chi phí của họ thì sẽ đặt doanh nghiệp vào vị trí bất lợi khi cạnh tranh
+ Vị trí địa lý: Việc lựa chọn vị trí mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Vị trí địa lý còn ảnh hưởng đến các yếu
tố như đất đai, nhà cửa, lao động, chi phí vận chuyển Các bộ phận chi phí này đều tham gia cấu thành vào trong giá thành của sản phẩm
- Hoạt động marketing
Nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp không thể không có hoạt động marketing Bộ phận quản lý marketing phân tích các nhu cầu thị hiếu, sở thích của khách hàng và vạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả và phân phối phù hợp với thị trường
mà doanh nghiệp đang vươn tới Đồng thời kích thích tiêu thụ sản phẩm bằng nhiều hình thức khác nhau như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ sau bán hàng
Trang 391.1.7 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.7.1 Cạnh tranh bằng chất lượng
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ Vì vậy, để thu hút được khách hàng, các doanh nghiệp cần phải đưa chất lượng vào nội dung quản lý Các doanh nghiệp trong các quốc gia và mọi loại hình sản xuất đều quan tâm đến chất lượng, đều có những nhận thức mới về chất lượng và ngày nay chất lượng đã trở thành một yếu tố cạnh tranh hàng đầu Theo M.E Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua Mỗi sản phẩm có rất nhiều các thuộc tính chất lượng khác nhau Khách hàng so sánh các sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn Bởi vậy, sản phẩm có các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi sản phẩm chất lượng cao, ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào nhãn mác của sản phẩm Nhờ đó uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp được nâng cao
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của tất cả các công đoạn trong dây chuyền sản xuất, từ quá trình sản xuất nguyên liệu thô, thu mua, sản xuất
và phân phối Do đó, để đạt được chất lượng sản phẩm cao cần phải xem xét đến cả các yếu tố bên ngoài tường rào công ty, các nguyên nhân gây ảnh hưởng đối với cả chuỗi cung ứng Chất lượng cải thiện có thể làm giảm thời gian và chi phí Sản xuất có chất lượng thì doanh nghiệp không phải bỏ thêm lao động, thời gian, năng lượng, hao mòn máy móc thiết bị để khắc phục những hư hỏng [15]
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những
Trang 40phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.1.7.3 Cạnh tranh bằng áp dụng khoa học kỹ thuật
Trình độ công nghệ máy móc, thiết bị có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó là yếu tố vật chất quan trọng