1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp hỗ trợ việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất ở huyện từ liêm, thành phố hà nội

89 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những chinhs sách, giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện các giải

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, sự nỗ lực cố gắng của bản thân Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến

cô giáo, TS Lê Thu Huyền là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, cô đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Từ Liêm, Lãnh đạo và chuyên viên các phòng thuộc huyện Từ Liêm: Lao động - Thương binh và Xã hội, Thống kê, Tài chính - Kế hoạch, Kinh tế và Hạ tầng, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường: Các tổ chức Đoàn thể huyện Từ Liêm, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện; UBND các xã Tây Mỗ, Thuỵ Phương, Xuân Đỉnh, Mỹ Đình, Minh Khai và nhân dân trả lời phiếu phỏng vấn

đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy,

cô giáo, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Hương Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các bảng v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT 4

1.1 Cơ sở lý luận về việc làm và tạo việc làm 4

1.1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm 4

1.1.2 Vai trò của việc làm đối với người lao động 5

1.1.3 Ý nghĩa tạo việc làm cho người lao động 6

1.1.4 Thu hồi đất và sự tác động tới lao động, việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam 8

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm cho lao động nông thôn 10

1.2 Cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu 13

1.2.1 Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp 13

1.2.2 Sự cần thiết ta ̣o viê ̣c làm cho lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p do quá trình đô thi ̣ hóa 15

1.3 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 17

1.3.1 Trên thế giới 17

1.3.2 Tại Việt Nam 20

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Từ Liêm 27

2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 27

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

Trang 3

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả giải quyết việc làm 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thực trạng thu hồi đất và các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở huyện từ liêm 36

3.1.1 Khái quát về công tác thu hồi đất nông nghiệp 36

3.1.2 Mục đích sử dụng đất nông nghiệp thu hồi 39

3.1.3 Sự thay đổi về đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá và lao động việc làm của hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi 41

3.2 Thực trạng về công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp 55

3.2.1 Thực trạng công tác hỗ trợ về kinh tế 55

3.2.2 Thực trạng hỗ trợ dạy nghề và học nghề 61

3.2.3 Thực trạng công tác hỗ trợ tạo việc làm mới 65

3.3 Những vấn đề bất cập của các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 67

3.3.1 Nguyên nhân của những hạn chế 69

3.3.2 Đánh giá chung 69

3.4 Đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao đông thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp 70

3.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 70

3.4.2 Giải pháp về kinh tế, xã hội 73

3.4.3 Giải pháp về công tác tổ chức, quản lý và thực hiện 77

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

bị thu hồi đất nông nghiệp năm 2012

3.7 Kết quả điều tra về trình độ học vấn của một số người trong

độ tuổi lao động trước và sau khi bị thu hồi đất tại 05 xã: Tây

Mỗ, Thuỵ Phương, Xuân Đỉnh, Mỹ Đình, Minh Khai

47

3.8 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông nghiệp bị

mất đất

48

3.9 Tình hình việc làm của lao động trong diện bị thu hồi đất

nông nghiệp tại 05 xã; Tây Mỗ, Thuỵ Phương, Xuân Đỉnh,

Mỹ Đình, Minh Khai năm 2012

50

3.10 Việc làm trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất của lao

động trong các hộ gia đình thuộc 5 xã: Tây Mỗ, Thuỵ

Phương, Xuân Đỉnh, Mỹ Đình, Minh Khai năm 2012

53

Trang 5

3.11 Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 01/01/2008 đến 31/12/2012

trên địa bàn huyện Từ Liêm

58

3.12 Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất

nông nghiệp trên 30% từ ngày 01/01/2008 đến 31/12/2012

tại huyện Từ Liêm

3.17 Tình hình tuyển dụng lao động nông nghiệp trên địa bàn

Huyện Từ Liêm năm 2012

67

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát triển mạnh các ngành công nghiệp và thương mại - dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Mặt khác

đô thị hoá cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất

Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hoá thuộc loại nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới

Từ Liêm là một huyện ngoại thành Hà Nội, có tốc độ đô thị hoá nhanh với khoảng 300 dự án đầu tư, trong đó phần lớn là phát triển các khu đô thị với tổng diện tích đất thu hồi hàng nghìn ha Đi cùng những dự án, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh vùng quy hoạch cũng được cải tạo và nâng cấp đồng bộ Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng cơ sở và hệ thống, y tế, giáo dục, giao thông ngày càng được cải thiện hơn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động của đô thị hoá đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, không thể không đề cập tới những tác động của nó đối với vấn đề lao động - việc làm

Trang 7

Cùng với quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp của huyện ngày càng bị thu hẹp lại và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp đã tất yếu dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ Vấn đề đặt ra ở đây là cơ cấu lao động và việc làm của người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi đã chuyển đổi như thế nào? Người dân đã thực hiện những chiến lược sinh kế như thế nào để có thể thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện sống mới? Và Nhà nước ta đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp đỡ người dân ổn định đời sống

và sản xuất?

Từ tính cấp thiết trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Giải

pháp hỗ trợ việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm giai đoạn 2008-2012

- Đề xuất các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những chinhs sách, giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm trên địa bàn huyện Từ

Liêm

Trang 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành tại 05 xã (Tây Mỗ, Thụy Phương, Xuân Đỉnh, Mỹ Đình, Minh Khai) trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội

4 Nội dung nghiên cứu

- Những vấn đề lí luận về việc làm, tạo việc làm cho lao động nông thôn

- Sự thay đổi về đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa lao động việc làm của hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi

- Thực trạng về công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp

- Những vấn đề bất cập của các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm

- Đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT

1.1 Cơ sở lý luận về việc làm và tạo việc làm

1.1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm

Trên cơ sở vận dụng khái niệm việc làm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) vào điều kiện cụ thể ở Việt nam, chúng ta có các khái niệm việc làm như sau:

- Người có việc làm là người đang làm việc trong lĩnh vực ngành, nghề dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp phần cho xã hội

Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ban hành năm 1994 khẳng định “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13 Bộ luật lao động), có hai trạng thái việc làm đó là việc làm đầy đủ và thiếu việc làm

- Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm Bất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân, muốn làm việc thì có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn

-Thiếu việc làm được hiểu là việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hết thời gian lao động theo chế độ và mang lại mức thu nhập dưới mức tối thiểu, muốn tìm thêm việc làm bổ sung

Để khắc phục tình trạng thiếu việc làm phải tìm mọi cách tạo việc làm cho người lao động

- Tạo việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn

có của từng đơn vị, từng địa phương và của người lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định cho người lao động những công việc đó phải

Trang 10

đem lại thu nhập đảm bảo thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động

1.1.2 Vai trò của việc làm đối với người lao động

Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội Bởi vì, một xã hội có kinh tế xã hội phát triển phải

là xã hội có đầy đủ việc làm cho người lao động Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, bất kỳ một sự phát triển nào trong nền kinh tế cũng là sự kết quả của sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản; đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, quá trình này cũng là quá trình tạo việc làm cho lao động trong xã hội Bản thân tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm cho con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động C.Mac và P.Ăng Ghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các yếu

tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người [3]

Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yêu cầu khách quan đối với người lao động, bởi con người muốn tồn tại phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ đạc, nhà ở, học tập, phương tiện đi lại Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Như vậy, con người bằng sức lao động của mình đã tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ để phục vụ chính mình Sự phát triển kinh tế, xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn

Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá , hiện đại hoá nền kinh tế Vì vậy, giải quyết

Trang 11

việc làm không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan liên quan trực tiếp quan hệ đến lao động, việc làm mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của bản thân người lao động và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong xã hội Điều 13 Bộ luật lao động đã nêu rõ: "Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội"

Tóm lại, giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế Giải quyết việc làm không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm Đây là vấn đề còn ít được chú ý vì khi đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm người ta chỉ quan tâm đến khía cạnh thứ hai của nó là vấn đề

1.1.3 Ý nghĩa tạo việc làm cho người lao động

* Về mặt kinh tế

Tạo việc làm là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển, Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và thất nghiệp mà quan trọng hơn

nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Ở nước ta hiện nay, tạo việc làm cho người lao động trước hết sẽ tạo điều kiện để khai thác được tối

đa những nguồn lực quan trọng còn đang tiềm ẩn như tài nguyên vốn, ngành nghề thông qua lao động của con người Khi người lao động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo ra tích luỹ Nhà nước không những không phải trợ cấp cho những người nghèo không có việc làm mà khi tạo việc làm cho họ , họ có thể mang lại tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất được mở rộng, thu hút thêm nhiều lao động Mặt khác, khi người lao động có thu nhập, họ sẽ tăng tiêu dùng, từ đó làm tăng sức mua cho xã hội Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung, tăng tiêu dùng sẽ làm cho tổng cầu của

Trang 12

nền kinh tế tăng Nước ta luôn ta tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêm trọng Đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao động cần có việc làm và việc làm hiệu hơn Tạo việc làm ở Việt Nam hiện nay có một ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân

* Về mặt xã hội

Tạo việc làm là một vấn đề mang tính xã hội Mỗi con người khi trưởng thành đều có nhu cầu chính đáng và cũng là quyền lợi của người lao động Chính vì vậy, giải quyết việc làm cho đầy đủ cho người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả xã hội Khi chính phủ có chính sách tạo việc làm thoả đáng, điều đó sẽ đem đến sự công bằng trong xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động Từ đó, mọi người lao động đều có thu nhập, hạn chế được

sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội nhờ đó mà giảm bớt Ngược lại, nếu không giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiện tượng thất nghiệp và thiếu việc làm sẽ tăng lên Điều này luôn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma tuý làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động Thất nghiệp ở mức cao còn gây ra sự bất ổn về kinh tế, chính trị, có khi còn là tác nhân gây ra sự sụp đổ của cả một thể chế, làm mất niềm tin của người dân đối với Nhà nước và các Chính Đảng

- Tạo việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động Trên giác độ này, giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm đáp ứng những yêu cầu thị trường, đồng thời xây dựng nguồn lực lâu dài cho đất nước

- Giải quyết việc làm gắn với quá trình phân công theo ngành và theo lãnh thổ Nếu như không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp lý cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị để tìm việc

Trang 13

làm sẽ gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà cửa, điện nước, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội

1.1.4 Thu hồi đất và sự tác động tới lao động, việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam

1.1.4.1 Tình hình thu hồi đất

Thời gian qua, cùng với sự phát triển của khu công nghiệp và quá trình

đô thị hoá nhanh, mạnh mẽ, do đó diện tích đất nông nghiệp (chủ yếu là đất thâm canh lúa) đang bị nhiều địa phương thu hồi Tình trạng này đó khiến cho người nông dân nhiều địa phương trong cả nước rơi vào tình trạng không có đất canh tác

Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp chiếm 89% diện tích đất thu hồi và số còn lại là diện tích đất thổ cư Mặc dù diện tích đất nông nghiệp thu hồi chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên (chiếm 1-2%), nhưng lại chủ yếu tập trung vào một số xã, huyện có mật độ dân số cao, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có xã có diện tích bị thu hồi chiếm tới 70 - 80% diện tích đất canh tác Theo kế hoạch, những năm tới

có xã có thể chuyển đổi 100% diện tích đất nông nghiệp, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích đất sản xuất Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn nhất là Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Vĩnh Phúc Khoảng 70% số hộ có diện tích đất thu hồi từ 50% diện tích đất sản xuất trở lên Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến năm 2010, bình quân đất nông nghiệp trên một nhân khẩu chỉ còn 0,108 ha (so với 10 năm trước giảm 0,005ha); trong khi đó, mức bình quân đất nông nghiệp của thế giới hiện nay là 0,23 ha/người, vấn đề này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo động nhiều lần Tuy nhiên, tình trạng này không những không ngăn chặn được mà

Trang 14

còn có chiều hướng gia tăng Tính riêng giai đoạn từ 2001-2005, tổng diện tích đất bị thu hồi cả nước đó lên tới trên 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất nông nghiệp); tức mỗi năm thu hồi hơn 73.200 ha [17]

Là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhiều diện tích đất nông nghiệp tại huyện Từ Liêm

bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp Tính trung bình mỗi năm trên địa bàn Huyện có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thống

kê, từ năm 2004 - 2012 huyện Từ Liêm đã thu hồi 2.035,86 ha đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 18.685 hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 54.333 lao động nông thôn trong độ tuổi lao động mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong huyện sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn tư liệu sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chức năng của huyện đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết nhằm ổn định đời sống của nhân dân

1.1.4.2 Lao động, việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp

Đô thị hóa tạo ra cuộc cách mạng về phân công lao động xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm nhiều ngành nghề mới Từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Sự phát triển của các đô thị đã tạo ra một số lượng lớn việc làm cho lao động tại các đô thị, đồng thời cũng giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông nhàn ở các vùng nông thôn Ngoài số lao động làm việc chính thức tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, còn phải kể đến một lực lượng lớn lao động làm việc trong các khu vực phi chính thức, các ngành xây dựng cơ bản, dịch

vụ phục vụ cho sự phát triển các đô thị này

Trang 15

Quá trình đô thị hóa đi cùng với công nghiêp hóa – hiện đại hóa làm cho năng suất lao động cao hơn, tăng thu nhập, đồng thời cũng đòi hỏi sự lựa chọn lao động kỹ hơn, yêu cầu lực lượng lao động có trình độ văn hóa, trình

độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn Do đó, tự nó sẽ hướng một bộ phận lớn dân

số vào các chương trình giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Trong tương lai, chất lượng đội ngũ lao động được cải thiện, lao động có chuyên môn, có tri thức tăng và lao động phổ thông có xu hướng giảm đi

Mặt khác, đô thị hoá kéo theo diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, có tác động lớn đến đời sống kinh tế

và việc làm của người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi Dưới góc độ các vấn đề xã hội, việc thu hồi đất nông nghiệp có tác động đến sinh hoạt hàng ngày của người nông dân và gây ra một số hiện tượng tiêu cực ở một số

bộ phận dân cư trên địa bàn Huyện Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy số người có những biểu hiện tiêu cực và các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc tăng lên và đa phần các hộ có ý kiến sau khi thu hồi đất thì quan hệ trong gia đình, nội tộc có chiều hướng xấu đi có nhiều mâu thuẫn xảy ra

Đất đai là một đại lượng có hạn, chính vì đặc điểm này mà khi người nông dân bị thu hồi đất, rất khó để cấp lại đất cho họ để tiếp tục sinh sống bằng nghề nông, đại bộ phận trong số họ phải chuyển sang hoạt động trong ngành công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, điều hết sức khó khăn là đa số những người nông dân bị thu hồi đất là những người lao động thuần tuý theo kiểu cha truyền con nối, chưa hề được đào tạo những nghề khác Do đó, họ rất khó kiếm được việc làm tốt,

có thu nhập ổn định trong ngành công nghiệp và dịch vụ

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm cho lao động nông thôn

1.1.5.1 Nhân tố về dân số

Dân số là nguồn nhân lực, là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung

Trang 16

cấp nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn, vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân

số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế

Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới tính, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số người trong độ tuổi lao động trong tương lai

Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra thành thị gây ra các áp lực về kinh tế - xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân nhanh chóng Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm Để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác

là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc

1.1.5.2 Nhân tố về chính sách vĩ mô

Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể Có thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu lao động, đồng thời làm cho cả cung và cầu lao động phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa

cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động

- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống… Nhóm chính

Trang 17

sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người tàn tật…

- Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề về sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm…

1.1.5.3 Nhân tố liên quan đến giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ

- Về Giáo dục và đào tạo: Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ của đất đó Trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Giáo và đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc, người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp

- Về khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới và cùng với nó là xu hướng chi thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc

- Trong nền kinh tế phát triển, người lao động phải thích ứng với những công việc mà xã hội yêu cầu, vậy trước hết họ phải là những người được trang

bị một kiến thức nhất định về khoa học công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến, dây truyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình

độ người lao động chưa bắt kịp dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 18

1.2 Cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp

Trong tình trạng chuyển đổi mạnh mẽ đất đai từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, vấn đề phát triển bền vững cần đặt ra thành một ưu tiên hàng đầu Làm thế nào để có thể vừa tập trung quỹ đất cho phát triển, đồng thời vừa giải quyết được vấn đề việc làm, thu nhập cho những người dân bị thu hồi đất, giữ vững ổn định xã hội? Yêu cầu này đòi hỏi các cơ chế, chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư cần được xem xét, hoàn thiện và đang trở nên cấp thiết

Vấn đề giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho những người dân bị thu hồi đất canh tác, mất đất nông nghiệp là một nội dung vừa mang tính kinh

tế, vừa mang ý nghĩa chính trị của địa phương nói riêng và cả nước nói chung Với lý do đó, việc bồi thường, hỗ trợ sau khi thu hồi đất thực hiện các dự án

và tổ chức lại đời sống cho nông dân có đất bị thu hồi là một hoạt động quan trọng và là tiền đề của sự phát triển

Tốc độ đô thị hoá và luồng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị lớn làm gia tăng lao động thành thị lên 4,7% so với 2,0% giai đoạn 1996 -

2008 Lao động nông thôn chiếm khoảng trên 70% tổng lực lượng lao động, mức tăng trưởng GDP nông nghiệp đóng góp 20% tổng GDP quốc gia thì tỷ

lệ lao động nông thôn như vậy là cao, tốc độ thu hút lao động khỏi nông nghiệp vẫn chậm Ở nước ta lao động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước

và tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng xuất lao động thấp

và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần Kết quả là nhiều lao động mất đất sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất dẫn đến dư thừa lao động và thiếu việc làm Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế

mà thấp và thất thường, đây cũng chính là lí do khiến tỷ lệ người nghèo tập trung nhiều ở các vùng nông thôn

Trang 19

Có một thực tế trong vài năm trở lại đây, khi các khu công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều thì cùng với sự phát triển đã có hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hệ lụy kéo theo chính là hàng nghìn người dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề, phải xa xứ kiếm sống…

Theo khảo sát mới đây cho thấy cứ mỗi hecta đất bị lấy đi sẽ có 10 lao động bị ảnh hưởng Chỉ tính trong 3 năm 2010 đến 2012, tổng diện tích đất chuyên dùng đã tăng lên 104.422 ha dẫn đến một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích theo hai hướng chính là phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung theo các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Các khu vực kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi Mặc dù, số diện tích đất nông nghiệp được thu hồi chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng do thu hồi mang tính tập trung nên một số xã bị "mất" từ 70 - 80% diện tích, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích, không còn đất sản xuất Còn lại, đa phần các hộ ở các địa phương có diện tích đất thu hồi lớn như Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Bình Dương… thường bị thu hồi từ 50 - 70% diện tích Dự kiến, việc thu hồi đất nông nghiệp trong năm năm tới sẽ ảnh hưởng tới 2,5 triệu người

Khi công nghiệp hoá – hiện đại hoá diễn ra nhanh thì quỹ đất canh tác

bị thu hẹp lại, có thể là do phục vụ cho việc xây dựng các đô thị, khu công nghiệp hay các công trình cũng có thể là do việc tích tụ ruộng đất của người nông thôn Trước thực tế đó nhiều lao động bị mất đất hoặc thiếu đất sẽ phải chuyển hướng tìm việc làm mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Cũng từ lý do

đó lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần có trình độ

Trang 20

chuyên môn và cập nhật kiến thức đào tạo dạy nghề để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước

1.2.2 Sư ̣ cần thiết ta ̣o viê ̣c làm cho lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p do quá trình đô thi ̣ hóa

Tạo việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết, trước hết là nhằm giảm lao động thất nghiệp cho nền kinh tế Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát

ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, năng suất cao Trong quá trình CNH-HĐH, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động Hơn nữa, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới, hoạt động sản xuất mới ra đời thay thế cho một số hoạt động sản xuất cũ dẫn đến thất nghiệp phát sinh Như vậy, tạo việc làm cho người lao động trước hết nhằm giảm lượng lao động thất nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng sản lượng quốc dân, tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm rất lớn không những của nước ta mà là tất

cả các nước trên thế giới Việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc làm ra của cải vật chất để nuôi sống con người Tạo việc làm cho người lao động giúp họ có thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, ngày một nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội

Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn

có ý nghĩa về mặt xã hội Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Như vậy, tạo

Trang 21

việc làm không những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thích người lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảo công bằng xã hội

Vấn đề tạo việc làm cho lao động là vấn đề cần thiết trong mọi thời kỳ, đặc biệt đối với đối tượng lao động trong diện giải tỏa đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người có trình độ chuyên môn thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp thường thấp hơn so với các đối tượng khác

Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH Do đó, hàng nghìn hộ nông dân kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tư liệu sản xuất dẫn tới mất việc làm, cuộc sống và thu nhập của họ gặp không ít khó khăn Một bộ phận nông dân có kiến thức, có trình độ đã chủ động mở mang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp… tạo việc làm và có cuộc sống ổn định Song bên cạnh đó còn rất nhiều hộ còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị trường, trình độ thấp, không có nghề, hay tuổi đời cao… họ gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm và tạo việc làm mới Do hạn chế về văn hóa và nhận thức, nếu như lực lượng này không được tạo việc làm, không có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộng với việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi pháp như trộm cắp, cướp giật, ma túy, cờ bạc… Vì vậy, tạo việc làm cho những lao động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn

Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn

Trang 22

định xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo đúng hướng đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp

1.3 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

1.3.1 Trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với gần 1,339 tỷ dân (năm 2011) nhưng gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có trên

10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở nên gay gắt hơn

Trước đòi hỏi bức bách đó, thực tế từ những năm 1978 Trung Quốc đã thực hiện mở cửa cải cách nền kinh tế, và thực hiện phương châm “ Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” Do đó Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động ở nông thôn, rút ngắn sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, coi phát triển công nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết vấn

đề việc làm

Những kết quả ngoạn mục về phát triển kinh tế và giải quyết việc làm

ở Trung Quốc đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đều gắn với bước

đi của công nghiệp nông thôn giải quyết việc làm ở nông thôn Trung Quốc thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Thứ nhất, Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, thực hiện phi tập thể hoá trong sản xuất nông nghiệp nông thôn qua hình thức khoán sản phẩm, nhờ đó khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất cả nông nghiệp và mở các hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn

Trang 23

- Thứ hai, Nhà nước tăng thu mua giá nông sản một cách hợp lí, giảm giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp, qua đó tăng sức mua của người nông dân, tăng mạnh cầu cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ở nông thôn Cùng với chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đa dạng hoá theo hướng sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế hơn, phù hợp yêu cầu của thị trường đã có ảnh hưởng lớn đối với thu nhập trong khu vực nông thôn Theo kết quả điều tra cho thấy, thu nhập thực

tế bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đã tăng lên, chính sức mua trong khu vực nông thôn tang lên nhanh chóng đã làm tang cầu về các hàng hoá tiêu dung từ hàng thực phẩm và hàng hoá thiết yếu sang tiêu dùng những sản phẩm có độ co dãn theo thu nhập cao hơn Tăng thu nhập và sức mua của người dân nông thôn đã tạo ra cầu cho các doanh nghiệp công nghiệp ở nông thôn phát triển thu hút thêm lao động

- Thứ ba, Tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp phát triển

- Thứ tư, Thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho doanh nghiệp nông thôn, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn và lao động cho công nghiệp nông thôn

- Thứ năm, Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nông thôn và doanh nghiệp nhà nước

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Khác với các nước ở khu vực ở châu Âu và châu Mỹ, ở Nhật Bản các nhân viên được xí nghiệp tuyển dụng làm thuê suốt đời cho đến khi về hưu Thậm chí có những nhân viên xuất sắc đã đến tuổi về hưu vẫn được thuê làm

cố vấn cho xí nghiệp, truyền thống về kinh tế là nguyên nhân đi tới chế độ thu dụng đặc sắc này

Ở Nhật Bản, vấn đề được giải quyết rất hài hoà Năm 1995, cử một chỗ làm việc trong ngành công nghiệp có 3,6 người xin vào làm thì đến năm 2000

Trang 24

cứ một người xin việc thì có 3 nơi cần tuyển Chính vì thế, tình trạng thất nghiệp ở một nước có 100 triệu dân về cơ bản đã được đã được giải quyết

Xét trên góc độ kinh tế, nhiều tài liệu phương Tây cho biết: Nhật Bản

đã duy trì được một cơ cấu kinh tế "nhiều tầng", tầng trên là các công ty lớn, các xí nghiệp lớn, các tập đoàn tài chính…có từ 3000 - 5000 công nhân, còn tầng dưới là 300 công nhân thậm chí là 10 công nhân Những xí nghiệp này thường có tính chất gia đình và chiếm khoảng 51,5%

Mặc dù là một nước có nền công nghiệp phát triển, nhưng Nhật Bản rất chú ý đến sự phát triển của nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh tế gia đình Nhật Bản đã giải quyết được mâu thuẫn : lao động ít vốn mà mọi người đều có việc làm, trong đó nhà nước là người đề ra chính sách và tổ chức thực hiện

Ngoài ra người lao động Nhật Bản còn làm việc tại nhà bằng máy tính,

cứ 3 người làm việc lại có một người làm việc tại nhà Đối với người tàn tật, nội trợ,về hưu có trình độ chuyên môn tốt mà không thể đến cơ quan làm việc hàng ngày có thể tham gia vào thị trường lao động nhờ làm việc tại nhà.[2]

1.3.1.3 Kinh nghiệm tại Thái Lan

Nét đặc trưng của nền kinh tế Thái Lan là sự chênh lệch quá lớn về tốc

độ tăng trưởng giữa Bangkok với các vùng nông thôn do quá trình công nghiệp hóa phát triển mạnh ở khu vực thành thị, giải quyết việc làm chủ yếu của Thái Lan thời gian qua tập trung vào:

- Chương trình phát triển nông thôn cấp xã, được thực hiện từ năm

1975 nhằm hỗ trợ nông dân tạo việc làm tại chỗ để tang thu nhập Chính phủ tăng đầu tư vào hạ tầng nông thôn và sử dụng chính lao động khu vực nông thôn vào xây dựng các hạng mục hạ tầng này

- Chương trình tạo việc làm cho lao động thôn được đưa ra năm 1980 với mục đích tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân sau kỳ thu hoạch,

Trang 25

tăng năng suất lao động nông nghiệp thông qua các dự án xây dựng, các công trình công cộng, hạn chế di cư theo mùa từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm Phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực…

- Các chính sách khuyến khích tạo việc làm tại chỗ và phát triển doanh nghiệp quy mô nông thôn nhỏ như: Chương trình "mỗi tháng một sản phẩm", trong đó chính phủ hỗ trợ vốn cho các làng trong việc xây dựng vùng sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm; chương trình mỗi tháng 1 triệu Baht”được Chính phủ đầu tư nhằm tạo cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân thông qua việc vay vốn từ Chính phủ Ngoài

ra những chương trình hỗ trợ vốn tạo việc làm thông qua các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên cũng đem lại tiến bộ đáng kể trong giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn

1.3.2 Tại Việt Nam

1.3.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở Việt Nam

Ở Việt Nam, một số chính sách hỗ trợ nhằm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được thực hiện Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giải quyết việc làm ở nước ta cũng còn những bất cập và hạn chế Kết quả và hạn chế đã được thể hiện cụ thể như sau:

* Kết quả đạt được trong giải quyết việc làm cho người lao động

Từ trước năm 2004, thực hiện Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ quy định về việc hỗ trợ nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp, lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất đã được hỗ trợ trực tiếp kinh phí đào tạo để chuyển nghề Nhiều địa phương đã thực hiện tốt như Đà Nằng hỗ trợ 4 triệu đồng/nông dân bị thu hồi đất; Thành phố Hà Nội, nếu hộ bị thu hồi đất 30-50% hỗ trợ chuyển nghề cho 1 lao động, nếu

hộ bị thu hồi đất 50-70% diện tích thì hỗ trợ chuyển nghề cho 2 lao động

Trang 26

Nếu diện tích bị thu hồi trên 70% thì hỗ trợ chuyển nghề cho số lao động của

cả hộ (mỗi lao động nhận 3,8 triệu đồng); Tiền Giang hỗ trợ 1,06 triệu đồng/1 lao động bị thu hồi dưới 0,1 ha, nếu diện tích bị thu hồi lớn hơn thì

hỗ trợ cho cả khoá học nghề

Ngày 03/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thay thế cho Nghị định 22/1998/NĐ-CP, trong đó quy định mới về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo hướng hỗ trợ gián tiếp Nhiều địa phương đã thực hiện cơ chế chuyển tiền cho các cơ sở dạy nghề đào tạo miễn phí cho người lao động

có đất nông nghiệp bị thu hồi, hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp nhận dạy nghề cho người lao động hoặc nhận lao động vùng chuyển đổi như Hải Dương, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ

Trong quá trình thực hiện dạy nghề, tạo việc làm, nhiều địa phương đã điều chỉnh quy hoạch tái định cư gắn với việc làm, bổ sung chính sách, đầu tư ngân sách cho đào tạo nghề, hỗ trợ phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh gắn với khu công nghiệp, khu kinh tế như các tỉnh Bình Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam đã thu được nhiều kết quả khả quan, được nhân dân đồng tình ủng hộ

* Những hạn chế:

Hầu hết các địa phương chưa gắn việc thu hồi đất nông nghiệp với tái quy hoạch định cư, chưa đồng thời có quy hoạch, kế hoạch cụ thể về hỗ trợ dạy nghề, việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất

Việc thông tin, tuyên truyền đến người dân về kế hoạch, quy hoạch chuyển đổi đất thực hiện còn chậm trễ, chưa đầy đủ khiến người dân bị động; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc nâng cao nhận thức

và định hướng cho người dân học nghề, chuyển đổi phù hợp vì vậy số lao động tham gia các khoá đào tạo do địa phương tổ chức còn rất hạn chế

Trang 27

Khả năng thu hút lao động vào các khu công nghiệp còn thấp: hầu hết các địa phương hiện nay đều yêu cầu hoặc khuyến khích các doanh nghiệp đóng tại chỗ, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi, chủ

dự án phải đào tạo tại chỗ ít nhất 10% lao động địa phương Hưng Yên quy định doanh nghiệp thuê 100 m2 đất phải nhận 01 lao động địa phương Tuy nhiên các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp chủ yếu tuyển lao động vào các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao nên việc thu hút lao động rất hạn chế (dưới 35%)

Vấn đề việc làm đối với khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối mặt với nhiều khó khăn do một lượng lớn lao động không đáp ứng được tay nghề (chỉ có 27,23% lao động bị thu hồi đất tốt nghiệp trung học phổ thông, 14% lao động có trình độ sơ cấp trở lên, nhiều địa bàn có tới hàng ngàn lao động bị mất việc, nhưng chỉ có 10-20 người được đào tạo Nguyên nhân do người lao động chưa được các cấp chính quyền thông tin, tuyên truyền đầy đủ

về kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai, đồng thời chưa nhận thức được tầm quan trọng của học nghề để chuyển nghề và tìm việc làm mới

Số lượng lao động trên 35 tuổi chiếm trên 50% Trong sản xuất nông nghiệp đây là lực lượng lao động có kinh nghiệm, song thu hồi đất thị họ có nguy cơ thất nghiệp kéo dài vì tuổi cao khó được tuyển vào các doanh nghiệp Mặt khác, việc tham gia các khoá đào tạo với họ là khó khăn hơn lao động trẻ

Nhận thức của người lao động còn thụ động, phụ thuộc vào tiền đền bù

mà không chủ động tìm kiếm việc làm Tâm lý chờ sự ưu đãi của Nhà nước

và các doanh nghiệp là hiện tượng phổ biến Hiệu quả sử dụng tiền đền bù thấp, rất ít hộ sử dụng tiền đền bù để tham gia học nghề

Như vậy, vấn đề bất cập nhất hiện nay là công tác quy hoạch ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa gắn kết với kế hoạch chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động; việc tố chức thực hiện các cách

Trang 28

hỗ trợ ở địa phương chưa thiết thực và đồng bộ; nguồn lực để hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi chưa thích đáng

1.3.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở Thành phố Hồ Chí Minh

So với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá diễn ra rất nhanh Mỗi năm có hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích

sử dụng Năm 2003, có khoảng 1000 ha đất canh tác chuyển thành đất ở nông thôn, 551ha được chuyển sang làm đất ở đô thị, hơn 2000ha được chuyển sang cho những mục đích sử dụng Năm 2004 có khoảng 10000ha được chuyển sang mục đích chuyên dùng và nhà ở Như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang có hàng ngàn hộ nông dân bỗng nhiên trở thành thị dân Tuy nhiên, hàng trăm vấn đề đã nảy sinh đối với nông dân vì mất đất, cuộc sống thay đổi

Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh - Xã hội 6 tháng đầu năm

2005, thành phố đã giải quyết được 119.850 lao động, đạt 51,99% kế hoạch

cả năm Cụ thể, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 105179 lao động, trong đó có hơn 40.000 chỗ làm mới; quỹ xoá đối giảm nghèo và quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm giải quyết việc làm cho 8.467 lao động; các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn thành phố đã đưa được 5.321 người đi làm việc ở nước ngoài, đạt 35,47% kế hoạch năm Trung tâm bảo trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật giới thiệu việc làm ổn định cho 623 lao động trong đó có 203 lao động khuyết tật Vừa qua Sở lao động - Thương binh - Xã hội cũng tiến hành kiểm tra, rà soát các doanh nghiệp giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố có 2.509 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động có chức năng giới thiệu việc và có 538 doanh nghiệp đang hoạt động giới thiệu việc làm

1.3.2.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở Hà Nam

Theo quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp và đô thị của tỉnh

Trang 29

đến ngày 28/6/2005 tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 601,1 ha số diện tích sẽ tiếp tục thu hồi để phát triển các khu công nghiệp đến năm 2010

là 559 ha

Đến hết năm 2004 Hà Nam có 8018 hộ có đất thu hồi, tổng nhân khẩu trong các hộ này khoản 24 ngàn người Đại bộ phận các hộ nông dân bị thu hồi quyền sử dụng đất là hộ thuần nông cuộc sống chủ yếu dựa vào thu hoạch

từ canh tác đất nông nghiệp và chăn nuôi quy mô nhỏ Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đã làm người nông dân bị mất một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất dẫn đến mất việc làm, gặp khó khăn trong tìm việc và tạo việc làm mới hoặc tìm được việc làm nhưng không đảm bảo được đời sống hoặc việc làm không phù hợp với trình độ tay nghề Theo số liệu điều tra số lao động bị thu hồi đất có nhu cầu tìm việc làm và học nghề đã tăng lên con số:

12360 người có nhu cầu tìm việc và 12.000 người có nhu cầu học nghề để tìm việc làm mới

Trước thực trạng trên Sở lao động - Thương binh - Xã hội tỉnh Hà Nam

đã hướng dẫn, chỉ đạo toàn ngành thực hiện các giải pháp hỗ trợ trực tiếp, trọng điểm về giải quyết việc làm cho các hộ nông dân bị thu hồi đất Cụ thể

về đào tạo nghề, xây dựng và hướng dẫn các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề triển khai thực hiện dự án đào tạo nghề cho các hộ nông dân và bước đầu đào tạo nghề cho 385 người hướng dẫn những nơi có nhiều lao động không còn đất sản xuất mở các lớp dạy nghề, truyền nghề Đơn cử như huyện Duy Tiên

đã dạy nghề cho 500 lao động, thị xã Phủ Lỷ mở 15 lớp đào tạo nghề cho 470 lao động Sở lao động - Thương binh - Xã hội tỉnh Hà Nam cũng triển khai thực hiện cơ chế phối hợp 3 cấp chính quyền trong công tác xuất khẩu lao động, mở các hội nghị về xuất khẩu lao động, giới thiệu các công ty về tuyển dụng lao động xuất khẩu tại các xã có nhiều lao động thất nghiệp do chuyển giao đất, hướng dẫn trung tâm dịch vụ việc làm mở văn phòng đại diện giới

Trang 30

thiệu việc làm ở thị trấn Đồng Văn nơi có khu công nghiệp thu hút nhiều doanh nghiệp và đầu tư Nhờ vậy, năm 2004 đã có hàng chục lao động của huyện Duy Tiên thuộc diện đối tượng bị thu hồi đất đi xuất khẩu lao động, nhiều người đã và đang tiếp tục đăng ký tham gia Bên cạnh đó Sở đã chỉ đạo các huyện, thị xã ưu tiên đầu tư vốn hỗ trợ việc làm cho người lao động thuộc vùng chuyển đổi Nhờ vậy, đến nay đã có 42 dự án được vay vốn với tổng số tiền gần 1,9 tỷ đồng, giải quyết việc làm mới cho 576 lao động Với các giải pháp trên, công tác giải quyết việc làm bước đầu có hiệu quả.Theo báo cáo của huyện Duy Tiên và thị xã Phủ Lý, tổng số lao động được giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng chuyển đổi là 1.279 người, trong đó huyện Duy Tiên là 824 người và thị xã Phủ Lý là 433 người

Được biết năm 2005, toàn tỉnh Hà Nam đã phấn đấu giải quyết việc làm cho 3.500 lao động bị thu hồi đất bằng các hoạt động cụ thể: đưa khoảng 1.150 người vào làm việc trong các khu công nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn , xuất khẩu lao động 100 người, cho vay vốn từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm 550 người, đào tạo nghề cho 1.000 người; các chương trình kinh tế - xã hội khác 1.700 người

Như vậy, chủ yếu các tỉnh có diện tích đất bị thu hồi chuyển sang đất khu công nghiệp giải quyết vấn đề lao động việc làm tập trung vào các vấn đề:

- Hỗ trợ dạy nghề cho lao động mất đất

- Xuất khẩu lao động

- Thu hút lao động vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp

- Hỗ trợ vốn chuyển nghề, khuyến khích phát triển nghề truyền thống

Trang 31

việc làm có thể rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng cho giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta nói chung và huyện Từ Liêm nói riêng như sau:

- Nhà nước cần có những chính sách vĩ mô về vai trò quản lí Nhà nước

để chống thất nghiệp, thiếu việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động

Từ đó đề ra những giải pháp và chính sách đúng đắn, đồng bộ, đồng thời đảm bảo được những điều kiện thực thi Những giải pháp và chính sách đó hướng vào phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thực hiện bằng được phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm

- Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn một cách toàn diện: Đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với sự phát triển đa dạng các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, thu hút lao động, phân công lại lao động, tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn

- Đa dạng hoá các hình thức giải quyết việc làm: Phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân Phát triển hệ thống dịch vụ và chất lượng tìm việc của người lao động Xã hội hoá giải quyết việc làm, huy động tổng hợp các nguồn lực và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội và toàn thể nhân dân

- Đào tạo nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, nhất là các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, yêu cầu chất lượng cao và khu vực thu hút nhiều lao động

- Phát triển hệ thống sự nghiệp về lao động - việc làm như các trung tâm dịch vụ việc làm, cơ sở dạy nghề, các tổ chức xuất khẩu lao động

- Trên cơ sở phát huy nội lực trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế để tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm cho giải quyết việc làm

Trang 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Từ Liêm

2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí kinh tế

Từ Liêm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, bao gồm 15 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 7.562,80 ha với tổng dân

số tính đến 31/12/2012 là 463.136 người Có toạ độ địa lý từ 105o42'10" đến

105o48'00" kinh độ Đông và từ 21o06'50" tới 21o08'20" vĩ độ Bắc:

Phía Bắc giáp huyện Đông Anh và quận Tây Hồ

Phía Nam giáp huyện Thanh Trì và quận Hà Đông;

Phía Đông giáp quận Cầu Giấy, quận Tây Hồ và Quận Thanh Xuân; Phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Đan Phượng

Huyện Từ Liêm nằm trên trục phát triển phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, tập trung nhiều đầu mối giao thông đường bộ quan trọng có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của Thủ đô Hệ thống giao thông huyết mạch do Trung ương và thành phố quản lý bao gồm: Đường Nam cầu Thăng Long - Sân bay quốc tế Nội Bài nối trực tiếp trung tâm thủ đô Hà Nội với sân bay quốc tế Nội Bài; Đường 32 nối Hà Nội - Sơn Tây; Đại Lộ Thăng Long chạy qua các xã Mễ Trì, Đại Mỗ, Tây Mỗ đi Hoà Lạc; Đoạn đường quốc lộ 6A nối

Hà Nội với các tỉnh vùng Tây Bắc; đường 70, đường 23 ven sông Hồng…

Với vị trí như vậy, Từ Liêm được xác định là khu vực mở rộng không gian nội thị có chức năng là trung tâm dịch vụ khoa học, công nghệ của thành phố; Có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, các cụm dân cư đô thị, phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, khoa học công nghệ và quản lý hành chính

Trang 33

2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Từ Liêm có địa hình tương đối bằng phẳng và màu mỡ, có nhiều sông hồ chảy qua Địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao độ trung bình 6,0m - 6,5m; Khu vực có địa hình cao nhất tập trung ở phía Bắc dọc theo sông Hồng, cao từ 8m - 11m; Khu vực có địa hình thấp nhất là những ô trũng, hồ, đầm và vùng phía Nam của huyện

2.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn

Từ Liêm nằm trong khu vực khí hậu chung của thành phố, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều Một năm có 2 mùa

rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô bắt đầu từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình 24 độ C, độ ẩm tương đối là 86%, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15.3độ C, cao nhất khoản 29,6 độ

C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900mm - 2.300mm, song lượng mưa phân bố không đồng đều, tập trung tới 80% lượng mưa vào mùa hạ ( từ tháng 5 đến tháng 10) Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, ít mưa, lạnh, có gió bắc hanh khô

- Hệ thống sông ngòi

Huyện Từ Liêm có hệ thống sông ngòi tương đối dày đặc, chịu sự ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Hồng, sông Nhuệ và sông Pheo là ba tuyến thoát nước chủ yếu cho địa bàn huyện

Ngoài sông Hồng và sông Nhuệ, Từ Liêm còn có các sông nhỏ chảy qua như sông Đăm, sông Cầu Ngà, Sông Pheo và nhiều hồ đầm lớn nhỏ Hệ thống sông, hồ, đầm đã tạo cho Từ Liêm có lượng nước mặt dồi dào, đủ lượng nước tưới quanh năm cho cây trồng và phục vụ sản xuất nông nghiệp

Trang 34

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên đất

Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện tính đến ngày 31/12/2012

là 2.779.93 ha, chiếm 36.76% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó:

- Đất lúa nước 750,65 ha:

- Đất trồng cây lâu năm 379,85 ha;

- Đất nuôi trồng thủy sản 66,07 ha;

- Đất nông nghiệp khác 1551,24 ha;

- Đất nông nghiệp còn lại 32,11 ha

+ Tài nguyên nước

Từ Liêm có nguồn nước khá dồi dào, nguồn nước mặt của huyện khá lớn với diện tích mặt nước sông chiếm 5,2% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là nguồn nước mặt từ sông Hồng, sông Nhuệ, sông Pheo Ngoài ra, các ao

hồ chứa nước cũng tạo cho Huyện nguồn nước mặt khá phong phú

Nguồn nước ngầm phân bố trên toàn địa bàn huyện với chất lượng tốt

đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt, mực nước ngầm không sâu và tương đối ổn định, thuận lợi cho khai thác, sản xuất và tưới tiêu

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan

môi trường

+ Thuận lợi

Từ Liêm có vị trí thuận lợi,là cửa ngõ thủ đô, là đầu mối giao lưu kinh

tế nên có khả năng tạo mở nhiều việc làm mới cho lao động theo nhiều hướng khác nhau

- Với các tuyến đường và quốc lộ huyết mạch đi qua huyện là Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 32 và tuyến đường cao tốc Phạm Văn Đồng - Nội Bài, đường sông tạo thế mạnh và tiềm năng phát triển trao đổi hàng hoá, là đầu mối trung chuyển hàng hoá với các quận huyện trong thành phố và các tỉnh

Trang 35

thành lân cận Ngoài ra, huyện cũng có nguồn lao động dồi dào, cơ bản được đào tạo có tay nghề, đáp ứng cho nhiều ngành kinh tế Huyện cũng có một cơ

sở hạ tầng vững chắc đã được hình thành lâu dài và ngày càng được củng cố phát triển

- Hệ thống sông ngòi phong phú (sông Hồng, sông Nhuệ, sông Pheo) rất thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp

- Từ Liêm có quỹ đất dồi dào, là huyện nằm trong vùng quy hoạch đô thị hoá - công nghiệp hoá nên có tiềm năng kinh tế lớn Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác giải quyết việc làm của huyện, cũng như thuận lợi cho

sự phát triển bền vững của huyện hiện tại và trong tương lai

* Khó khăn, hạn chế

Hiện nay, huyện Từ Liêm tồn tại ba vấn đề khó khăn lớn, cụ thể:

Thứ nhất: Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở nhiều điểm dân cư đang dần được nâng cấp theo chương trình xây dựng nông thôn mới tuy nhiên còn chưa hoàn thiện; tình trạng thiếu điện, thiếu nước sạch vẫn xẩy

ra ở một số nơi gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất và đời sống của người dân trong Huyện

Thứ hai: Công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị chưa đảm bảo theo nhu cầu phát triển của xã hội Vấn

đề ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải tại các làng nghề chưa được giải quyết triệt để Chưa hoàn thành trạm xử lý nước thải tại Cụm Công nghiệp gây mất mỹ quan

Thứ ba: huyện Từ Liêm đang trong quá trình đô thị hoá cao, tỉ lệ dân số

cơ học tăng nhanh, điều này tạo sức ép tới môi trường, chất lượng cuộc sống, quỹ đất hiện có Do đó, công tác quy hoạch cần phải được cân nhắc đúng đắn, có định hướng dài hạn nhằm giải quyết tốt các vấn đề trên

Trang 36

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Nguồn: UBND huyện Từ Liêm

Năm 2012 cơ cấu kinh tế của Huyện tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, đạt tốc độ tăng trưởng cao Tổng giá trị sản xuất năm 2012 của các ngành đạt được

là 10.384 tỷ đồng vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện đề

ra trong năm là 5,2% Đồng thời tăng 20% so với năm 2011

Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Từ Liêm qua các năm

Trang 37

Ngành nông nghiệp

Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong năm 2012 chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu các ngành kinh tế với 1,5% Tốc độ tăng giảm dần qua các năm là do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần bởi Nhà nước thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị phục vụ quá trình đô thị hóa hồi 2011, giá trị sản xuất nông nghiệp là 294 tỷ đồng đến năm 2012 chỉ còn

201 tỷ đồng Công tác khuyến nông tiếp tục được quan tâm, Huyện đã chỉ đạo chuyển đổi 68,6ha đất trồng lúa sang trồng các cây trồng khác ít phụ thuộc vào nguồn nước tại các xã: Trung Văn, Đông Ngạc, Tây Mỗ, Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Xuân Phương Tuy nhiên, đầu tư vào nông nghiệp không cho hiệu quả cao bằng các ngành khác, nên nhiều hộ gia đình, nhiều lao động đã lựa chọn việc chuyển sang ngành nghề khác thay vì làm nông nghiệp

Ngành công nghiệp - xây dựng:

Ngành công nghiệp - xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế, đem lại nguồn thu lớn nhất cho địa phương Năm 2012,

tỷ trọng của ngành công nghiệp chiếm 54,5% tổng giá trị sản xuất Sản phẩm phong phú, đa dạng, chất lượng ngày càng nâng cao Huyện đang đẩy mạnh xây dựng cụm Công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm giai đoạn 2, đã hoàn thành 70% việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải trong Cụm công nghiệp, tiến hành đầu tư xây dựng khu phụ trợ và giới thiệu sản phẩm Trên địa bàn huyện

có hai làng nghề được Thành phố công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống là: làng bún Phú Đô -Mễ Trì và làng may Cổ Nhuế

Ngành thương mại - dịch vụ:

Huyện đã chỉ đạo tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, sắp xếp ổn định các mạng lưới chợ hợp lý, hiệu quả Triển khai thí điểm việc đầu tư xây dựng chợ theo phương thức xã hội hoá gắn với giải quyết việc làm cho nông dân như: chợ Cầu Diễn, chợ Canh, chợ Đầu mối Minh Khai, chợ Nhổn, đầu tư xây

Trang 38

dựng chợ nông sản Thượng Cát (xã Thượng Cát) trên khuôn viên mới, xây dựng các siêu thị, các trung tâm thương mại…

2.1.2.2 Dân số và lao động

Từ Liêm là huyện có số dân đông nhất thành phố Hà Nôi, mật độ dân

số trung bình năm 2012 là 6.124 người/km2, phân bố không đồng đều, có sự chênh lệch giữa các khu vực, đa số tập trung mật độ cao tại các khu đô thị, thị trấn, những nơi có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế Theo số liệu của phòng thống kê huyện Từ Liêm , tổng dân số toàn huyện tính đến 31/12/2012

là 463.136 người chiếm 21% dân số của Thành phố Số người trong độ tuổi lao động chiếm 69.82% điều này cho thấy huyện có một nguồn lao động dồi dào và do đó cần phải có một chương trình tạo việc làm cho lực lượng lao động này

+ Số người trong độ tuổi lao động là 323.361 người, trong đó:

Lao động nông nghiệp 104.380 người, chiếm 32,28 %

Lao động ngànhh công nghiệp - xây dựng 145.577 người, chiếm 45,02 % Lao động trong ngànhh thương mại - dịch vụ 734.029 người, chiếm 22,70 % + Toàn huyện hiện nay có 8 làng nghề được UBND Thành phố Hà Nội công nhận gồm các láng nghề: bánh kẹo Xuân Đỉnh, làng may Cổ Nhuế, làng bún Phú Đô, Cốm làng Vòng, làng hoa Tây Tựu, dệt vải Đại Mỗ, làng nhựa Trung Văn, đậu phụ Phú Diễn.[18]

2.1.2.3 Kết quả kinh tế của huyện

Trong những năm gần đây, huyện Từ Liêm có tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh, nhịp độ tăng trưởng ( GDP) bình quân giai đoạn 2010 -2012 là 19,7% Tổng giá trị tăng thêm năm 2010 là 2.934 tỷ đồng, năm 2011 - 2012 là 3.52 tỷ đồng Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khá cao, riêng năm 2012 tỷ lệ công nghiệp xây dựng là 57,8%, thương mại - dịch vụ là 32%, nông nghiệp chỉ còn 10,2% Cơ cấu kinh tế có xu hướng tăng

Trang 39

tỷ lệ công nghiệp, thương mại, giảm tỷ lệ nông nghiệp Các chỉ tiêu xã hội có chiều hướng phát triển tốt.[18]

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập và tính toán từ những số liệu của các cơ quan thống kê

-Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: các văn bản chính sách, các thông tin, số liệu thứ cấp, các công trình nghiên cứu đã được công bố tại cơ quan lưu trữ tư liệu, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan và truy cập internet

Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Điều tra, phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với phiếu câu hỏi được soạn sẵn ( tổng số phiếu điều tra là 200 phiếu)

- Phỏng vấn chuyên gia đối với các ban ngànhh huyện có liên quan đến GQVL cho lao động nông thôn.( Mẫu phiếu điều tra khảo sát được miêu tả chi tiết ở phần phụ lục)

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Nghiên cứu lựa chọn 200 hộ trong 05 xã đại diện có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn để làm nghiên cứu điển hình Đây là các xã phải đối diện những vấn đề nóng bỏng về thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp cũng như sinh

kế của hộ bị thu hồi đất tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn huyện

05 xã được chọn nghiên cứu là xã Tây Mỗ, xã Thuỵ Phương, xã Xuân Đỉnh, xã Mỹ Đình, xã Minh Khai

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu thông qua chương trình Excel

- Đối với thông tin thứ cấp: Số liệu được phân nhóm theo nội dung của

đề tài, từ đó tính toán các chỉ tiêu tuỳ theo mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đối với thông tin sơ cấp: Dùng một số phương pháp sau để thực hiện phân tích:

Trang 40

+ Phương pháp chỉ số

+ Phương pháp phân tích kinh tế: Sau khi điều tra, khảo sát thực địa và phân tích các tài liệu thứ cấp, việc xem xét so sánh những đánh giá từ cấp Trung ương tới các địa phương, từ các cán bộ chính quyền tới những người dân, các thông tin được tổng hợp, phân tích so sánh từ đó đưa ra những nhận định chủ quan dựa trên những bằng chứng xác thực trong các cuộc điều tra, những nhận định có tính thực tế và các đề xuất có tính xác thực

+ Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng lao động việc làm của người lao động tại địa bàn nghiên cứu

Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường , mô tả và trình bày số liệu thô và lập biểu phân phối tần số Thí dụ như thống kê theo nhóm tuổi, trình độ học vấn…

Biểu thống kê là hình thức bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận cũng là biểu trình bày kết quả nghiên cứu

2.2.4.Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.4.1 Các chỉ tiêu thu hồi đất

- Kết quả giao và thu hồi đất nông nghiệp

- Mục đích sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi

2.2.4.2 Các chỉ tiêu hỗ trợ giải quyết việc làm

- Số lao động đang làm việc trong các cụm công nghiệp

- Số lao động đi làm bên ngoài

- Số lao động chuyển đổi nghề nghiệp tại địa phương

- Thu nhập của những lao động có việc làm

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động khi bị thu hồi đất

2.2.4.3 Chỉ tiêu thay đổi thu nhập của người dân

- Thu nhập của người dân trước và sau khi thu hồi đất

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
3. Chính phủ (1993), Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định: về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
4. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ: Về thi hành Luật Đất đai năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ: Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất 6. Chính Phủ (2005), Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 củaThủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ:" Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất 6. Chính Phủ (2005), "Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của "Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Chính phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ: Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất 6. Chính Phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ: Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
8. Chính Phủ (2009), Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2009
9. Chính Phủ (2012), Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 “Chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 “Chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2012
11. Đinh Văn Đãn và Lưu Văn Duy (2009): Chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn khi thu hồi đất nông nghiệp. In: Chính sách pháp luật đất đai liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn khi thu hồi đất nông nghiệp
Tác giả: Đinh Văn Đãn và Lưu Văn Duy
Năm: 2009
12. Nguyễn Duy Hoàn (2008), “Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Duy Hoàn
Năm: 2008
13. Ngô Văn Hoàng (2008), “Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây”
Tác giả: Ngô Văn Hoàng
Năm: 2008
14. Phí Thị Hương (2009), “Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình”, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình”
Tác giả: Phí Thị Hương
Năm: 2009
15. Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thuý Nga (2010), “Từ Liêm huyện đăng khoa chí”, Nhà xuất bản dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Liêm huyện đăng khoa chí”
Tác giả: Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thuý Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản dân trí
Năm: 2010
16. Nguyễn Chí Mỳ - Hoàng Xuân Nghĩa – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội (2009), “Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, vấn đề và giải pháp”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, vấn đề và giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Chí Mỳ - Hoàng Xuân Nghĩa – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2009
17. Nguyễn Hữu Tiến (2010), Vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá
Tác giả: Nguyễn Hữu Tiến
Năm: 2010
20. UBND thành phố Hà Nội (2008), Quyết định số 2383/QĐ-UBND ngày 23/6/2008 về việc phê duyệt đề án: “Hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 – 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 – 2010
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Năm: 2008
23. Nguyễn Thị Dung (2009), Chính sách đền bù, thu hồi đất của một số nước trong khu vực, Số 11 (179), http://www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù, thu hồi đất của một số nước trong khu vực
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2009
24. Nguyễn Trung Kiên (2008). “Giải quyết việc làm lao động nông thôn có đất bị thu hồi ở Vĩnh Phúc”: Dạy nghề, tạo việc làm tại chỗ. Cập nhật ngày 28/5/2008. Nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm lao động nông thôn có đất bị thu hồi ở Vĩnh Phúc”
Tác giả: Nguyễn Trung Kiên
Năm: 2008
26. Phạm Thị Túy (2008), Vấn đề việc làm của nông dân hiện nay – Bài toán không dễ giải, số 7 (151) cập nhật ngày 12/4/2008. Nguồn http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news-_ID=11448185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề việc làm của nông dân hiện nay – Bài toán không dễ giải
Tác giả: Phạm Thị Túy
Năm: 2008
29. Vĩnh Phúc: Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất. Theo TTXVN. Cập nhật ngày 25/10/2008. Nguồnhttp://dangcongsan.vn/print_preview.asp?id=BT25100857345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Phúc: Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất. "Theo TTXVN
27. Nghịch cảnh nông dân mất đất, mất nghề. Cập nhật ngày 24/10/2008. Nguồn http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT2410088126 28. Nông dân mất đất, thất nghiệp do đô thị hóa. Cập nhật ngày 02/7/2005 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm