1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên đồng nai

89 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở thực tiễn và lý luận, cùng với những kiến thức đã học hỏi được từ thầy, cô giáo và để phần nào trả lời được câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tiềm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐÀO THỊ THÙY DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐỒNG QUẢN LÝ RỪNG CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

ĐỒNG QUẢN LÝ TẠI VƯỜN QUỐC GIA

CÁT TIÊN - ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐÀO THỊ THÙY DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐỒNG QUẢN LÝ RỪNG CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỒNG QUẢN LÝ TẠI VƯỜN QUỐC GIA

CÁT TIÊN - ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC

MÃ SỐ: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.NGUYỄN THỊ BẢO LÂM

Hà Nội, 2011

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học bằng việc ban hành nhiều văn kiện mang tính chất pháp lý liên quan đến bảo tồn Đa dạng sinh học; như Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học và tham gia các Công ước Quốc tế

Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 khi rừng bị thu hẹp, đa dạng sinh học bị đẩy lùi tới cả các khu rừng đặc dụng ở vùng sâu vùng xa, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Mỗi một khu rừng đặc dụng có những đặc điểm đặc trưng riêng biệt, nhưng thường có đặc điểm chung là địa hình đi lại khó khăn, kinh tế xã hội chưa phát triển, dân cư thưa thớt Tuy đã được Chính phủ và chính quyền các cấp quan tâm nhưng kinh phí đầu tư cho các hoạt động bảo tồn thiên nhiên vẫn rất hạn hẹp Những đặc điểm này là nguyên nhân dẫn đến rừng và đa dạng sinh học của các khu rừng đặc dụng tiếp tục bị tác động và suy giảm

Khác với rừng sản xuất và rừng phòng hộ, việc thành lập, xây dựng kế hoạch và tổ chức quản lý rừng đặc dụng thường được tiếp cận một chiều từ trên xuống, chưa quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức đến vai trò và vị trí của các bên liên quan, sự phối hợp giữa các bên liên quan trong công tác quản

lý bảo vệ rừng chưa nhịp nhàng, thiếu chặt chẽ dẫn đến có lúc, có nơi khó khăn, lúng túng trong chỉ đạo, triển khai quản lý bảo vệ rừng đặc dụng, trong khi đó tiềm năng quản lý bảo vệ rừng trong xã hội chưa được khai thác, chưa khuyến khích thu hút được các lực lượng tham gia một cách tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng

Trang 4

2

Vườn Quốc Gia Cát Tiên là khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn

ba huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu ( Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lộc ( Lâm Đồng) và

Bù Đăng ( Bình Phước), cách Thành Phố Hồ Chí Minh 150 km về phía Bắc Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng nhiệt đới ẩm VQG Cát Tiên được thành lập theo quyết định số 01/CT ngày 13 tháng 01 năm 1992 của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở kết nối khu rừng cấm Nam Cát Tiên (được thành lập theo quyết định số 360/TTg, ngày 07 tháng 07 năm 1978 của Thủ tướng chính phủ) và khu bảo tồn thiên nhiên Tây Cát Tiên (được thành lập theo quyết định số 194/CT, ngày 09 tháng 08 năm

1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng)

Việc thành lập VQG đã làm thay đổi phần lớn cuộc sống của người dân sống trong khu vực cùng đệm Thực tế cho thấy rằng các cộng đồng chủ yếu tìm nguồn sinh kế từ rừng của VQG như khai thác lâm sản, sử dụng đất rừng trồng cây nông nghiệp, bãi chăn thả gia súc, tạo nên nhiều tiêu cực cho quản

lý bảo vệ rừng nhưng vẫn không nâng cao được đời sống của cộng đồng Những hoạt động này chỉ được xem là cách sinh kế tạm thời, không bền vững

Do đó, các câu hỏi được đặt ra là: Làm thế nào để nâng cao nội lực của cộng đồng, phát huy những tiềm năng sẵn có và lôi cuốn cộng đồng tham gia vào các hoạt động đồng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững của địa phương Đây là bài toán khó không chỉ đối với những nhà quản

lý, các nhà khoa học mà của cả người dân sở tại

Trên cơ sở thực tiễn và lý luận, cùng với những kiến thức đã học hỏi được từ thầy, cô giáo và để phần nào trả lời được câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở

đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên - Đồng Nai”

Trang 5

3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Kha ́ i quát chung về đồng quản lý

“Đồng quản lý” là phương thức quản lý tài nguyên thiên nhiên nói

chung và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng mới hình thành trên thế giới và đang nghiên cứu áp dụng thử nghiệm ở Việt Nam.[5]

Đồng quản lý dựa trên cơ sở thương lượng có sự tham gia, viê ̣c ra quyết

đi ̣nh chung, mô ̣t mức độ chia sẻ quyền ha ̣n và phân phối công bằng lợi ích giữa các bên liên quan [3] Như vậy, để đồ ng quản lý thành công, điều cần thiết là có sự ủng hô ̣ chính tri ̣ đầy đủ của các cấp ( tỉnh qua huyê ̣n đến xã) và

có sự thỏa thuâ ̣n của tất cả các bên liên quan Một ban quản tri ̣ nhiều thành phần (ban đồng quản lý) sẽ đảm bảo tất cả các bên liên quan đươ ̣c tham gia

vào viê ̣c thực hiê ̣n đồng quản lý và quản lý thích ứng

Khi tìm hiểu khái niệm về đồng quản lý các khu bảo tồn (Protected Areas) Borrini – Feyerabend, 1996 [6] chỉ ra rằng: đồng quản lý là tìm kiếm

sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thoả thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dưới tình trạng bảo vệ Cũng theo Borrini – Feyerabend, 2000 khái niệm về đồng quản lý như là một dạng hợp tác trong đó có hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định Đồng thời đối với mục tiêu về văn hoá, chính trị việc đồng quản lý là nhằm tìm kiếm sự “công bằng” trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Trong đó thuật ngữ “tiếp cận số đông” trong quản lý tài nguyên, kết hợp giữa nhiều đối tác có vai trò khác nhau, nhằm mục tiêu chung

là bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và chia sẻ công bằng quyền lợi liên quan đến tài nguyên

Trang 6

4

Đồ ng quản lý ngược với các hợp đồng dựa trên hô ̣ gia đình, bao gồm các khu vực đất khá rô ̣ng có thể đươ ̣c chia thành các khu trong đó áp du ̣ng các chế độ quản lý khác nhau Phân khu cho phép các khu vực được dành riêng cho các hoạt động cụ thể như bảo vê ̣ các môi trường sống quan tro ̣ng, các khu vườn ươm, các điểm chăn nuôi và sử du ̣ng tài nguyên Nó cũng giúp làm giảm mẫu thuẫn giữa những người sử du ̣ng khác nhau và ta ̣o điều kiê ̣n tuân thủ [1]

Cũng nghiên cứu về vấn đề này, Wild và Mutebi, 1996 [4] lại cho rằng đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phương với các

tổ chức Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác Các bên liên quan, Nhà nước hay tư nhân cùng nhau thông qua một hiệp thương, xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được

Bên canh đó, định nghĩa đồng quản lý được Rao và Geisler, 1990 [7] chỉ ra là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những người sử dụng tài nguyên địa phương với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ Các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung là bảo tồn thiên nhiên

để trở thành “đồng minh tự nguyện”

Andrew W Ingle và các tác giả, 1999 [2]lại cho rừng đồng quản lý được coi như sự sắp xếp quản lý được thương lượng bởi nhiều bên liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc quyền hưởng lợi được Nhà nước công nhận mà hầu hết những người sử dụng tài nguyên chấp nhận được Quá trình đó được thể hiện trong việc chia sẻ quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên

Nó i tóm la ̣i, qua các khái niệm của các tác giả nêu trên, đồng quản lý được hiểu như sau: Đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tài nguyên

Trang 7

5

trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thoả thuận thống nhất về quản lý tài nguyên khu bảo tồn vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được và phù hợp với từng đối tác

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý nghiên cứu đồng quản lý

1.2.1 Cơ sơ ̉ lý luận

1.2.1.1 Tính đa dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên rừng

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, [8] có 4 chủ thể chính tham gia quản lý rừng là Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân

- Quản lý nhà nước về lâm nghiệp (tài nguyên rừng) là một hình thức khẳng định chủ quyền của nhà nước đối với tài nguyên rừng Nhà nước quản

lý, sử dụng tài nguyên rừng phục vụ mục tiêu kinh tế-xã hội, môi trường quốc gia Quản lý nhà nước có thế mạnh về pháp luật, chính sách và tài chính

- Tổ chức và doanh nghiệp quản lý tài nguyên thiên nhiên với nhiều hình thức khác nhau và hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau Các tổ chức quân đội quản lý rừng với mục tiêu quốc phòng và quân sự là chủ đạo Các hệ thống quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với mục tiêu chính là bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp quản lý, sử dụng tài nguyên lại có mục tiêu chủ đạo là kinh doanh Các tổ chức có thế mạnh trong quản lý về khoa học-công nghệ, vốn và thị trường

- Hộ gia đình và cá nhân quản lý tài nguyên rừng là thành phần được công nhận khi có Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ [14]về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài và đã được sửa đổi bổ sung tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 Mục tiêu chính của đối tượng này là tạo điều kiện về tư liệu để người dân gắn bó với rừng, bảo vệ rừng, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình và xã hội Hộ gia đình và cá nhân có thế mạnh về lực lượng tại chỗ và có nhiều hiểu biết về kiến thức bản địa

Trang 8

6

- Quản lý tài nguyên rừng cộng đồng là một hình thức quản lý truyền thống, xuất phát từ tính cộng đồng của con người từ thời nguyên thủy Trải qua nhiều thay đổi của xã hội, hình thức quản lý cộng đồng được điều chỉnh

để thích hợp với hoàn cảnh mới Nó được đúc rút thành những hiểu biết, kinh nghiệm, hình thành nên các luật lệ và còn tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh Tuy nhiên, do tính đa dạng của các cộng đồng dân cư dẫn đến sự đa dạng về văn hoá Sự đa dạng này cũng dẫn đến sự đa dạng về cách thức quản lý tài nguyên rừng cộng đồng Mục tiêu chính của hình thức quản lý này là nhằm đáp ứng những yêu cầu của các thành viên nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng Cộng đồng quản lý tài nguyên có thế mạnh về tính tổ chức, thể chế, tính tự nguyện, sự ổn định tại chỗ và những hiểu biết bản địa

Trên một đơn vị tài nguyên rừng không chỉ tồn tại một hình thức quản

lý mà tồn tại song song nhiều hình thức Vấn đề đặt ra là các hình thức này nên hợp tác, liên kết với nhau như thế nào [11]? Muốn đạt được sự công bằng đối với các chủ thể quản lý, đạt được các mục tiêu tổng thể cũng như cụ thể của từng đối tượng thì đồng quản lý rừng sẽ là một phương thức thích hợp Trong thực tế, nhà nước không đủ khả năng để quản lý toàn bộ tài nguyên trên lãnh thổ quốc gia Gánh nặng này cần phải được chia sẻ với các chủ thể quản lý tài nguyên khác trong xã hội Hợp tác trong quản lý sẽ phát huy được những thế mạnh của các chủ thể, đặc biệt cộng đồng dân cư là những người trực tiếp tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng và có những hiểu biết sâu sắc về chúng Trên cơ sở đó, hợp tác quản lý sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp đảm bảo cho sự thành công của công tác quản lý tài nguyên rừng

Trang 9

7

1.2.1.2 Đồng quản lý bản chất là sự phát triển bền vững tài nguyên rừng

- Tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng là

nguồn nguyên liệu cần thiết đối với phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Để phục vụ cho mục tiêu phát triển, con người đã không ngừng khai thác các nguồn tài nguyên hữu hạn này Bảo tồn tài nguyên rừng sẽ mâu thuẫn với phát triển kinh tế Tuy nhiên, nếu khai thác một cách quá mức, bữa bãi không theo kế hoạch làm cạn kiệt tài nguyên rừng, hệ quả không bền vững về kinh tế-xã hội và môi trường Chính vì vậy, cần phải bảo tồn, duy trì khả năng tái tạo các tài nguyên cho sự phát triển ổn định lâu dài Đồng quản lý tài nguyên khu bảo tồn sẽ là phương thức hiệu quả cho tiến trình bảo tồn và phát triển Như vâ ̣y bảo tồn và phát triển là hai mặt đối lập nhưng thống nhất.[9]

- Bên ca ̣nh đó, Nhà nước có chiến lược, chính sách bảo tồn nguồn tài

nguyên thiên nhiên và thường nảy sinh mâu thuẫn với các cộng đồng địa phương đang sử dụng tài nguyên (đối tượng bảo tồn) phục vụ đời sống Giữa cộng đồng và quốc gia sẽ đạt được đồng nhất trong các mục tiêu bảo tồn và phát triển nếu như tiến tới thỏa thuận về một phương thức đồng quản lý Vì

vậy, đồng quản lý giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển

1.2.1.3 Đồng quản lý dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học và kiến thức bản địa

- Đồng quản lý sẽ ứng dụng kết hợp sự hiểu biết về đa dạng sinh học của khoa học với những kiến thức sinh thái bản địa Những nghiên cứu đánh giá các giá trị đa dạng sinh học cần phải bảo tồn là cơ sở thiết lập khu bảo tồn thiên nhiên Kiến thức sinh thái bản địa về đặc tính của các tài nguyên là cơ

sở kinh nghiệm giúp cho công tác bảo tồn phát triển tài nguyên rừng Đồng quản lý dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các thành tựu của khoa học quản lý

và kinh nghiệm về quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương [15] Khoa học quản lý sử dụng các biện pháp quản lý tiên tiến khu bảo tồn, kinh nghiệm quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng sẽ là cơ sở để ứng dụng khoa

Trang 10

8

học quản lý cho phù hợp với địa phương

- Khi giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học và kiến thức bản địa không những đảm bảo cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư trong khu vực

1.2.1.4 Đồng quản lý dựa trên cơ sở phối hợp lợi ích quốc gia và cộng đồng

- Nhà nước tính đến lợi ích mang tính toàn cục khi đặt vấn đề quản lý một khu bảo tồn nào đó Với mục tiêu chung là bảo vệ đa dạng sinh học, bảo

vệ môi trường, phòng hộ cho các ngành sản xuất và đời sống xã hội trong khu vực

- Đờ i sống của cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên rừng Lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người dân là đảm bảo sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cho nhiều thế hệ

- Các bên quan tâm khác về du lịch, khai khoáng,chế biến, thủ công mỹ nghệ lợi ích của họ cũng dựa trên các nguồn tài nguyên vốn có của khu bảo tồn Mục tiêu của họ là khai thác một cách bền vững các nguồn tài nguyên này.[10]

- Mục tiêu củ a đồng quản lý phải không làm ảnh hưởng quá mức hoặc làm mất đi lợi ích của các bên liên quan mà phải gắn lợi ích của họ với trách nhiệm quản lý, bảo vệ các nguồn tài nguyên rừng mà họ đang quan tâm

1.2.1.5 Đồng quản lý trong bảo tồn bản sắc văn hoá cộng đồng và xoá đói giảm nghèo

Với sự phát triển của xã hội, sự hoà nhập về văn hoá cũng càng ngày càng tăng Điều này đã làm mai một không ít những bản sắc văn hoá độc đáo của cộng đồng người địa phương Những bộ quần áo truyền thống, những sinh hoạt văn hoá dân gian và cả những tri thức về quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị mai mô ̣t Bởi vậy, bảo tồn bản sắc văn hoá,

Trang 11

9

kiến thức bản địa cũng là một trong những chiến lược lâu dài của đất nước [12] Đồng quản lý tài nguyên rừng sẽ khuyến khích người dân sử dụng những kiến thức, sáng kiến và thể chế cộng đồng cho công tác bảo tồn và phát triển

1.2.2 Cơ sở pháp lý về đồng quản lý

1.2.2.1.Căn cứ pháp luật

Một số Luật có nội dung liên quan đến đồng quản lý:

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2001[13] , sửa đổi năm 2004

- Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2005;

- Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, sửa đổi năm 2005.[18]

- Luật Đất đai năm 2003, sửa đổi năm 2009

1.2.2.2 Các văn bản dưới luật

- Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [16] về việc hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản,

ấp

- Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên.[17]

- Công ước Đa dạng sinh học mà Việt Nam đã tham gia năm 1994, [19] trong đó Điều 8 phần (j) ghi rõ “Tuỳ theo luật pháp quốc gia, sự tôn trọng và duy trì các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ của cộng đồng bản xứ và địa phương, biểu hiện bằng lối sống truyền thống phù hợp với bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, mà khuyến khích áp dụng rộng rãi các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ này, với sự đồng ý và cùng tham gia của những người sở hữu, cũng như khuyến khích sự chia sẻ công bằng những lợi ích có được từ các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ đó”

Trang 12

10

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng

- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 8 năm

2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường;

- Quyết định 192/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược Quản lý hệ thống các khu Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, trong đó Cát Tiên được xác định là VQG;[20]

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng;

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020;[19]

- Quyết định số 574/QĐ/KL-VP ngày 17/6/2008 của Cục trưởng Cục Kiểm lâm về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vườn quốc gia Cát Tiên;[29]

Tóm lại: Chìa khoá thành công trong quản lý tài nguyên rừng là hợp

tác trong quản lý sẽ phát huy được những thế mạnh của các chủ thể, đặc biệt cộng đồng dân cư là những người trực tiếp tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng Trên cơ sở đó, hợp tác quản lý sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp đảm bảo cho sự thành công trong quản lý bền vững tài nguyên rừng

1.3 Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới

Chương trình ĐQLR đã có mô ̣t ảnh hưởng to lớn Ta ̣i Ấn đô ̣, hơn 63.000 nhó m đã ghi tên vào chương trình quản lý rừng liên hợp để tái sinh 14 triệu ha rừng Ta ̣i Nepal, 9000 nhóm người sử du ̣ng rừng cố gắng tái sinh 700.000 ha rừ ng Ta ̣i Brazin, nông dân giúp quản lý 2,2 triê ̣u ha khu bảo tồn khai khoáng Phân nửa các quâ ̣n huyê ̣n của Zimbabwe tham gia vào mô hình

Trang 13

11

lử a tra ̣i qua đó các cô ̣ng đồng đi ̣a phương có thể chia sẻ thu nhâ ̣p từ kinh doanh du lịch những vùng đất hoang dã Những chương trình này nói chung giú p bảo vê ̣ rừng và hỗ trơ ̣ quyền tiếp cận tài nguyên rừng của người nghèo nông thôn nhưng chúng thường thiếu cơ sở để cải thiê ̣n đáng kể sinh kế của người nghèo như mong đợi Hành đô ̣ng tâ ̣p thể này là nét đă ̣c trưng chính của những thỏa thuâ ̣n về mă ̣t tổ chức cho đồng quản lý [22]

Đây là những bài học quý giá cho quá trình xây dựng những giải pháp đồng quản lý bền vững tài nguyên rừng ở Việt Nam

Ở Canada kể từ khi ký hiệp định Northern Quebec và James Bay năm

1975, việc sắp xếp công tác đồng quản lý ở Canada đã tăng lên nhanh chóng

Có rất nhiều hình thức sắp xếp công tác đồng quản lý và nhiều ban chính thức liên quan đến Tuần lộc, cá Vôi trắng, các sản phẩm lâm nghiệp và phi lâm nghiệp và các loại cá được đặt tên nhưng rất ít Việc sắp xếp quyền đồng quản

lý đối với chủ đề này là một chủ điểm giữa tỉnh Saskatchewan, công ty quản

lý lâm nghiệp Mistik và các cộng đồng người dân thuộc Hội đồng bộ lạc Meadow.[24]

Theo Poffenberger M và MêGan B, 1993 việc đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại VQG Dong Yai - Thái Lan đã có sự phối hợp giữa người dân với cục Lâm nghiệp Hoàng gia để xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực

Theo Wild và Mutebi, 1996 [33]tại VQG Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda việc hợp tác quản lý được thực hiện theo quy ước giữa ban quản lý VQG và cộng đồng dân cư Trong đó, người dân được phép khai thác một số lâm sản trên quan điểm khai thác sử dụng bền vững, đồng thời có nghĩa vụ quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Như vậy, việc

Trang 14

Theo Oli Krishna Prasad, 1999 [33] việc đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, cộng đồng dân cư địa phương được hưởng từ 30%-50% lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh

du lịch hàng năm thông qua việc đầu tư cho các hoạt động phát triển kinh

tế-xã hội của cộng đồng Song, việc đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên này mới chỉ dừng lại ở vùng đệm khu bảo tồn

Theo Reid H, 2000 [23]việc hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại VQG Kruger được thực hiện trên nguyên tắc: Người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG, đồng thời họ cũng chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch

Quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phương pháp tham gia quản lý tài nguyên rừng và khái niệm tham gia quản lý rừng nói chung lần đầu tiên được biết đến là Ấn Độ vào năm 2004 Đồng quản lý (hay hợp tác quản lý) bảo vệ rừng được tiến hành trong thời gian này và nhanh chóng lan rộng tới các quốc gia thuộc các nước châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á

Trang 15

13

Thông qua việc chia sẻ nguồn lợi giữa các nhóm người dân địa phương với nhà nước, các chương trình dự án cũng đã giúp hoà giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân và nhà nước Các chương trình đồng quản lý hoặc hợp tác rừng đã đem lại những kết quả to lớn Ở Ấn Độ có hơn 63.000 nhóm - tổ tham gia tham gia vào các chương trình trồng mới 14 triệu ha rừng

Ở Nam Phi, tại VQG Kruger [27] trước đây người dân đã chuyển đi từ Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để sinh sống Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG đồng thời

họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch Từ những kết quả đạt được

về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác (Reid, H 2000) [33]

Năm 1989, [28]nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: Rừng tư nhân và rừng nhà nước cùng với hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu rừng tư nhân và sở hữu rừng nhà nước Trong quyền sở hữu của nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng khác nhau như rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng

1.4 Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam

Nguyễn Quốc Dựng, 2004 [5]cho rằng: đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thỏa thuận thống nhất về quản lý vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được phù hợp với từng đối tác

Lần đầu tiên khái niê ̣m đồng quản lý được đưa vào Việt Nam năm

1997 Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nên khái niêm

Trang 16

14

này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Qua quá trình thực hiện quản lý rừng tại các địa phương, khái niệm về đồng quản lý đã được nhiều tổ chức, các tác giả trong và ngoài nước đưa ra Trong đó tiêu biểu là khái niệm của IUCN: “Các khu bảo tồn do Nhà nước thiết lập, nơi quyền ra quyết định, trách nhiệm quyền và quyền lợi chia sẻ giữa các cơ quan Nhà nước và các bên tham gia, đặc biệt cộng đồng địa phương sống dựa vào tài nguyên rừng tại các khu bảo tồn đó” [30]

Khi nghiên cứu về đồng quản lý năm 2008, [3] một dự án GTZ của cộng hoà Liên Bang Đức về đồng quản lý đã được triển khai tại Ấp Âu Thọ B

xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng Mục tiêu tổng thể của dự án

“quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc Trăng” là bảo vệ và

sử dụng bền vững đất rừng ngập nước ven biển ở đây vì lợi ích của người dân địa phương Đến năm 2010 dự án đã tổng kết sau 3 năm hoạt động với báo cáo tóm tắt: “Đồng quản lý tại Ấp Âu thọ B: một thí nghiệm thí điểm cho vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” Qua báo cáo người ta nhận thấy rằng, mặc dù quá trình đồng quản lý rừng ngập mặn được bắt đầu chỉ cách đây ba năm, kinh nghiệm đầu tiên đã cho thấy đồng quản lý là một cách hiệu quả để duy trì và tăng cường chức năng phòng hộ của đai rừng ngập mặn và đồng thời cung cấp sinh kế cho cộng đồng địa phương Trong báo cáo này dự án đã mô

tả chi tiết quá trình đồng quản lý từ lúc bắt đầu đến lúc có được thoả thuận; liệt kê bài học kinh nghiệm và một vài kinh nghiệm đầu tiên của việc thực hiện đồng quản lý Một báo cáo thứ hai, được dự kiến vào cuối năm 2011, sẽ tập trung vào bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đồng quản lý, gồm từ lúc có được thoả thuận đến thực hiện thoả thuận

Như chúng ta đã biết, tài nguyên rừng ở nước ta trước đây do nhà nước quản lý và quyết định mọi phương án quản lý và sử dụng Do vậy, diện tích rừng ở nước ta trong thời gian qua suy giảm nhanh chóng cả về số lượng lẫn

Trang 17

15

chất lượng, ngay các khu rừng đặc dụng cũng bị xâm phạm nghiêm trọng làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt Đã có một số đề tài, dự án của các tổ chức nước ngoài và trong nước được thực hiện nhằm quản lý bền vững cho các khu rừng đặc dụng

Theo Uirich Apel, Oliver C Maxwell và các tác giả, 2002 đã nghiên cứu về đồng quản lý tại khu bảo tồn Pù Luông- Nghệ An [26] cho thấy việc quy hoạch sử dụng đất, tình hình quản lý tài nguyên rừng còn nhiều vấn đề bất cập Đồng thời những nghiên cứu này còn chỉ ra cuộc sống của người dân địa phương còn phụ thuộc vào rừng, một số thể chế chính sách còn chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Song các nghiên cứu chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng và giải pháp thực hiện

Đòi hỏi của thực tiễn là cần có tiến trình, nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên rừng Đây là câu trả lời mà các dự án triển khai trong thời gian gần đây đang lúng túng Ngày 4/8/2003 hội thảo về “ý tưởng thành lập khu BTTN Phu Xai Leng do cộng đồng quản lý” được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An [30] đã đề xuất một

số vấn đề đồng quản lý khu bảo tồn Tuy nhiên, hội thảo cũng chưa thống nhất được các nguyên tắc quản lý và giải quyết triệt để vấn đề

Khi nghiên cứ u về đồ ng quản lý rừng, ở Việt Nam đã có một số dự án được triển khai thực hiện với mục tiêu xây dựng mô hình đồng quản lý Điển hình như: Dự án MOSAIC, 2002 [27] đã triển khai thực hiện tại khu vực sông Thanh -Quảng Nam, nội dung đồng quản lý mới được bắt đầu và đang trong thời gian thử nghiệm cho giai đoạn tiếp theo; Dự án về xây dựng mô hình đồng quản lý giữa khu bảo tồn, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cơ quan liên quan (bao gồm cả tổ chức chính phủ và phi chính phủ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh thừa Thiên - Huế Song các dự án nói trên đều chưa

Trang 18

16

đưa ra được nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên

Năm 1997 tại VQG Cát Tiên trong khoá tập huấn về “kết hợp bảo tồn

và phát triển” phương pháp đồng quản lý tài nguyên rừng lần đầu tiên được đưa vào giới thiệu và thảo luận Sau thời gian đó, đồng quản lý tiếp tục được giới thiệu trong một số khoá tập huấn về bảo tồn thiên nhiên của các dự án được triển khai thực hiện [31]

Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp tại Hà Nội năm 2001 đã làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận như “Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” [25] của các tác giả Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân; Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải,… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển như không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương đã

có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất, giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên Huế, Đăk Lăk

Khi tìm hiểu về vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá

Trang 19

17

Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung, Bảo Huy Tác giả Phạm Xuân Phương [30] đã khảo sát đánh giá tình hình triển khai tính chất hưởng lợi đối với hộ gia đình,

cá nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003

Việc đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam là mới, các thể chế chính sách còn nhiều vấn đề bấc cập, chưa phù hợp với hướng phát triển của mô hình này Do vậy, việc tham gia của các bên liên quan còn mang nặng tính hình thức và chồng chéo về quản lý Đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực vùng đệm của các khu bảo tồn và VQG, việc tham gia vào mô hình còn mang tính thụ động, họ chưa được coi là chủ thể tích cực trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Do đó, nhất thiết cần phải có những nghiên cứu để xây dựng phương thức đồng quản lý nhằm thu hút người dân địa phương tự nguyện tham gia đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên

1.5 Hướng nghiên cứu của đề tài

Qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn

đề liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành khá đồng bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau, từ việc đưa ra các quan điểm, khái niệm về đồng quản lý, nghiên cứu về sự hưởng lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan và các phương thức hợp tác quản lý rừng Những nghiên cứu này đã tạo

ra cơ sở khoa học cho việc triển khai thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng

ở các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, đồng quản lý rừng là một vấn đề mới, còn đang trong giai đoạn thử nghiệm và gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn do tính phức tạp của các yếu tố xã hội Thực hiện đồng quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cần phải được triển khai thực hiện để có tổng kết đánh giá nhân rộng; các bước tiến hành về quản lý phải phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn ở nước ta và đặc biệt là sự hợp tác nhiệt tình của địa phương

Trang 20

18

VQG Cát Tiên là một trong những rừng tự nhiên có diện tích rộng nhất trong cả nước, rất đa dạng về sinh học Cho đến nay tại đây đã có rất nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học, thành phần thực vật và động vật ở đây Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào có tính hệ thống về đồng quản lý tài nguyên rừng Vậy làm sao để quản lý rừng bền vững? Cần có những nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý như thế nào để giải quyết được các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên rừng tại VQG Cát Tiên Đây là những yêu cầu, đòi hỏi cần giải quyết của đề tài trên cở sở phân tích, đánh giá tiềm năng đồng quản lý

rừ ng của VQG Cát Tiên

Trang 21

19

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần bảo vệ và phát triển bền vững rừng của VQG Cát Tiên - Đồng Nai thông qua áp dụng phương thức đồng quản lý rừng

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

- Thiết lập các nguyên tắc đồng quản lý rừng giữa các bên liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Cơ chế chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý hệ thống rừng đặc dụng

- Những tác động của các bên liên quan đến quản lý rừng tại VQG Cát Tiên -Đồng Nai

- Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư trong quản lý tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên thiên nhiên tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

2.3 Giới hạn nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu: Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh

phí của đề tài còn hạn chế nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể ở xã Tà Lài huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai, là một trong 36 xã thuộc vùng đệm vườn quốc gia Cát Tiên

Trang 22

20

- Về nội dung nghiên cứu: Chỉ tập trung phân tích cơ sở lý luận - thực

tiễn thực hiện đồng quản lý rừng và đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên và hỗ trợ để các đối tác thiết lập được các nguyên tắc và giải pháp thực hiện Đồng quản lý

2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Phân tích tiềm năng quản lý rừng của VQG Cát Tiên - Đồng Nai

1) Hiện trạng TNR và thực trạng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

- Hiện trạng số, chất lượng các loại rừng

- Trách nhiệm quản lý

- Các chương trình quản lý thuộc BQLR

- Thực trạng quản lý và mức độ tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý

2) Sự phụ thuộc của người dân vùng đệm vào nguồn tài nguyên rừng

- Các hình thức khai thác tài nguyên rừng chủ yếu hiện nay của cộng đồng

- Đánh giá mức độ phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng

- Quan điểm của người dân về khai thác tài nguyên và vấn đề bảo vệ

3) Kiến thức và thể chế bản địa trong quản lý rừng

- Những vấn đề chung về kiến thức và thể chế bản địa

- Kiến thức bản địa, thể chế quản lý rừng và giới trong quản lý rừng tại

xã Tà Lài

4) Phân tích các bên liên quan đến quản lý rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

- Vai trò các bên liên quan

- Phân tích mâu thuẫn và khả năng hợp tác giữa các bên liên quan

Trang 23

- Những quy định về chia xẻ quyền lợi giữa cộng đồng tham gia quản

lý rừng đối với VQG Cát Tiên - Đồng Nai

2.4.3 Thiết lập các nguyên tắc đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

2.4.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện các nguyên tắc đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên - Đồng Nai

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Cách tiếp cận và phương hướng giải quyết vấn đề

- Đề tài bắt đầu từ việc tìm hiểu các thông tin về đồng quản lý rừng và khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu để chọn ra được địa điểm nghiên cứu phù hợp nhất với các yêu cầu đặt ra

- Đồng quản lý là việc quản lý rừng có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, người dân, cộng đồng xã hội Cho nên để giải quyết hài hòa mối quan

hệ giữa các bên tham gia thì cần phải tiếp cận từ đa phương

- Đề tài kế thừa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đồng thời tiến hành điều tra thu thập bổ sung các thông tin sơ cấp Trên cơ sở đánh giá, phân tích các kết quả này, đề tài đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng tại địa phương theo hướng phát triển tài nguyên rừng

- Triển khai thực hiện các nội dung nghiên cứu vai trò của tác giả là hỗ trợ còn các đối tác là người thực hiện chính (đồng quản lý trên cơ sở tự

nguyện của các đối tác và chính họ xây dựng và thực hiện sau này)

2.5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các bước thực hiện nghiên cứu được sơ đồ hoá như sau:

Trang 24

22

Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành nghiên cứu

2.5.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về đồng quản lý, kể cả các tài liệu nghiên cứu đã có trên thế giới

- Kế thừa các tài liệu có sẵn ở các cơ quan và ban, ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương gồm những tài liệu liên quan đến các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng, những kết quả nghiên cứu về đồng quản lý ở các địa phương, những tài liệu về tổng kết chính sách lâm nghiệp trong nước, các văn bản qui phạm pháp luật về vấn đề liên quan

- Thu thập số liệu từ Ban quản lý VQG và cán bộ địa phương để nắm tình hình chung và các số liệu thứ cấp cơ bản

Thu thập các tài liệu có liên

quan đến đề tài NC Khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn của đồng quản lý tài nguyên rừng tại VQG Cát Tiên

Trang 25

23

Các tài liệu kế thừa đảm bảo được tính cập nhật (mới nhất), chính thống (cơ quan, tổ chức có chức năng ban hành) và đảm bảo độ chính xác phù hợp với yêu cầu của chủ đề nghiên cứu

2.5.2.2 Thu thập tài liêu, thông tin ngoại nghiệp

* Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu là đại diện điển hình của khu vực, thuộc vùng đệm của VQG, bao gồm các thôn (ấp) phân bố gần rừng, các yếu tố về địa hình và khả năng tiếp cận với rừng tương đối đồng nhất Thành phần dân tô ̣c phong phú , trình độ dân trí, thu nhập bình quân điển hình cho khu vực nghiên

cứ u

- Trên cơ sở các tiêu chí như trên, xã Tà Lài được chọn làm địa điểm nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp điều tra tiềm năng đồng quản lý trong cộng đồng

Các phương pháp sau được sử dụng để điều tra tiềm năng đồng quản lý tại cộng đồng:

Phương pháp đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (Participatory/ Rapid Rural Appraisal – PRA/RRA): Đây là phương pháp nghiên cứu mang tính định lượng, đánh giá nhu cầu ở cộng đồng với sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu và thu thập thông tin tại cộng đồng về những hành động (hoạt động) của người dân đối với VQG, như:

- Thái độ của người dân đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vườn Quốc gia Cát Tiên

- Lôi cuốn người dân cùng tham gia chia sẻ, thảo luận Đồng thời phân tích nhận thức, thái độ của của người dân về Vườn Quốc gia Cát Tiên, trên cơ

sở điều kiện thực tế của các hộ gia đình Bên cạnh đó sẽ đánh giá được nhận

Trang 26

24

thức, thái độ trong việc phát triển sinh kế gia đình với trách nhiệm bảo vệ Vườn Quốc gia

- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khó khăn, thuận lợi đồng thời đưa

ra các giải pháp, quyết định kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn của cộng đồng

* Các công cụ sử dụng trong điều tra

- Phương pháp điều tra bằng anketa (bảng hỏi): Trong phương pháp điều tra xã hội học truyền thống này, Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi được sử dụng như một công cụ đặc trưng nhất để thu thập thông tin Bảng hỏi

sẽ được tư vấn thiết kế theo mục tiêu công việc, theo từng nhóm đối tượng khác nhau, trên cơ sở sự hỗ trợ, tham vấn của GVHD, cán bô ̣ VQG và xã Tà

Lài (phụ l)

- Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn bán cấu trúc được triển khai trên

cơ sở các câu hỏi đã được định trước theo các chủ để, ví dụ chủ đề về quản lý

ở cấp huyện, cấp xã và cấp thôn để tìm hiểu các cách nhìn nhận về trách nhiệm thể chế cũng như trách nhiệm cá nhân, các cách thức quản lý, những vấn đề trở ngại, vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên, các thiết chế quản lý

và bảo tồn và các chủ đề khác Đối tượng phỏng vấn sẽ là các cán bộ lãnh đạo địa phương, các nhà quản lý vườn quốc gia và đại diện dân sống trong vùng Hình thức phỏng vấn này sẽ giúp làm rõ hơn các thông tin cả định tính lẫn định lượng

- Ma trận SWOTvà sơ đồ đánh giá tiềm năng các bên liên quan

- Ma trận đánh giá mâu thuẫn trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng.(chương 4)

- Ma trận đánh giá khả năng tham gia của các bên liên quan trong quản

lý VQG( chương 4)

Trang 27

25

* Dung lượng mẫu

- Việc xác định dung lượng mẫu được áp dụng theo nguyên tắc là không làm mất đi các đặc tính của mẫu, đồng thời đảm bảo độ tin cậy của số liệu đại diện cho số đông

- Việc xác định số mẫu phỏng vấn sẽ được tính toán dựa trên những nguyên tắc nhất định

+ Dung lượng mẫu cấp huyện: 1huyện, tỷ lệ rút mẫu là 100%

+ Dung lượng mẫu cấp xã: cán bộ Vườn và xã nghiên cứu, tỷ lệ rút mẫu là 100%

+ Dung lượng mẫu phỏng vấn người dân: Áp dụng công thức xác định dung lượng mẫu không lặp lại:

n = N.t

2.S2N.d2 + t2.S2Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn

N: Số hộ của xã điều tra t: Là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả (95%) d: Sai số mẫu (cho trước d=5%-10%)

S2: Phương sai của tổng thể (cho trước S2=0,25)

* Chọn hộ gia đình phỏng vấn

- Trướ c tiên thảo luận với trưởng thôn về tiêu chí và cách phân loại hộ gia đình trong thôn để chọn ra những hộ gia đình phỏng vấn mang tính đại diện

- Lập danh sách với sự thống nhất thuộc trưởng thôn và chọn ngẫu

nhiên 6 hộ đại diện cho 3 nhóm để phỏng vấn: 2 hộ thuộc nhóm giàu và khá,

2 hộ thuộc nhóm trung bình, 2 hộ thuộc nhóm nghèo đói Xã Tà lài đã có tiêu chí phân loa ̣i 3 nhóm hô ̣ trên theo tiêu chí chung của huyê ̣n và tỉnh

Trang 28

26

* Phương pháp chuyên gia: Nhằm tham khảo thêm những nhận xét và

ý kiến góp ý của các chuyên gia có kinh nghiệm làm cơ sở đề xuất các nguyên

tắc, giải pháp thực hiện đồng quản lý tại xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng

Nai.Tổ chứ c tham khảo bằng cách trình bày vấn đề, xin ý kiến góp ý

2.5.3 Phân tích số liệu và viết báo cáo

Các số liệu thứ cấp và sơ cấp qua thu thập được tiến hành xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 5.0

- Phân tích sự tương quan giữa các nguồn thu thập liên quan đến tài nguyên rừng đối với tổng thu nhập của hộ gia đình trong cộng đồng dân cư thôn Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu

đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, được phân tích theo phương pháp định tính

- Phân tích ảnh hưởng của các nguồn thu nhập từ tài nguyên rừng đến tổng thu nhập của các hộ gia đình trong vùng chọn nghiên cứu

- Dùng phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả, so sánh, đánh giá tiềm năng phát triển đồng quản lý tài nguyên rừng tại VQG Cát Tiên Phân tích kết quả sử du ̣ng đất lâm nghiê ̣p của địa bàn nghiên cứu, các kết quả thảo luâ ̣n xây dựng tổ chức đồng quản lý từ đó so sánh, đánh giá tìm ra quy trình, nguyên tắ c và những giải pháp cơ bản, thích hơ ̣p cho phương thức đồng quản lý VQG

Cát Tiên

Trang 29

27

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Vườn Quốc Gia Cát Tiên nằm ở khu vực có tọa độ 11020’50’’ tới

11050’20’’ vĩ độ Bắc, và từ 107009’05’’ tới 107035’20’’ kinh độ Đông, trên địa bàn của ba tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước với tổng diện tích là 71.920ha

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Phước

- Phía Nam có ranh giới là đường 323, giáp Công ty lâm nghiệp La Ngà, Tỉnh Lâm Đồng

- Phía Đông giáp với tỉnh Lâm Đồng

- Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (Đồng Nai)

3.1.2 Địa hình

VQG Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ đến Đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ

3.1.3 Khí hậu thuỷ văn

- Chế độ nhiệt

VQG Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 4, 5 đến tháng 10, 11

Số liệu thu thập từ 2 trạm thuỷ văn:

Trang 30

28

Bảng 3.1: Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên

Tiên

2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (T6) 28,6 (T 6)

3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (T 12) 20,5 (T 1)

5 Lượng mưa TB tháng cao nhất (mm) 494,8 (T 9) 368 (T 9)

6 Lượng mưa TB tháng thấp nhất (mm) 23,8 (T 2) 11 (T2)

9 Thời gian mưa TB trong mùa mưa (tháng) 10 (T 3-12) 8 (T 4-11)

- Chế độ thuỷ văn

Điều kiện thuỷ văn ở Vườn Quốc gia Cát Tiên phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ dòng chảy của sông Đồng Nai và các hệ thống suối, các bàu nước Sông Đồng Nai chảy qua Vườn Quốc gia Cát Tiên dài khoảng 90 km làm thành ranh giới tự nhiên bao bọc 1/3 chu vi của Vườn về phía Bắc, phía Tây và phía Đông Các suối lớn nhỏ trong Vườn đều chảy ra sông Đồng Nai

3.1.4 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng và hiện trạng các loại đất đai trong VQG

3.1.4.1.Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

Cấu trúc địa chất của VQG Cát Tiên nguyên là sa phiến thạch, quá trình

hoạt động của núi lửa thuộc vùng cao nguyên mà những phần thấp của khu

Trang 31

29

vực đã bị phủ lấp của lớp đá bazan Cùng với quá trình phun trào phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ đã tạo nên một lớp phù sa suối, phù sa sông, quá trình diễn biến niên đại tiếp theo đã tạo ra địa hình Cát Tiên ngày nay

3.1.4.2.Hiện trạng rừng và các loại đất đai trong VQG

+ Diện tích đất có rừng: 61.819,54ha, chiếm 85,96%;

+ Diện tích đất không có rừng: 4.837,85ha, chiếm 6,73%;

+ Diện tích đất khác: 5.262,61ha, chiếm 7,32%;

Bảng 3.2: Diện tích trạng thái rừng và các loại đất VQG Cát Tiên

Trang 32

3.1.5 Tài nguyên thực vật rừng VQG Cát Tiên

VQG Cát Tiên nằm giữa hai vùng sinh học địa lý chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, đa dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh của các tỉnh Đông Nam Bộ, Việt Nam

* Thành phần loài thực vật

Thành phần gồm các loài ưu thế thuộc họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae),

họ Đậu (Fabaceae) và họ Tử vi (Lythraceae) Cho đến nay VQG Cát Tiên đã

xác định được 1.610 loài, 75 bộ, 162 họ, 724 chi Trong đó các loài cây quí

hiếm: 31 loài thuộc 13 họ như gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), cẩm lai (Dalbergia

sp.), dáng hương (Pterocarpus macrocarpus), gõ mật (Sindora siamensis),

cẩm thị (Diospyros maritima), căm xe (Xylia xylocarpa), có trên trong sách

Đỏ Việt Nam

Bảng 3.3 Thành phần taxon hệ thực vật bậc cao có mạch VQG Cát Tiên

Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) 2 3 11 Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 18 37 50 Ngành Thông (Pinophyta) 2 2 8 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 137 658 1541

Trang 33

3.1.6.2 Các loài động vật đặc hữu, quý hiếm

Trong số 1589 loài động vật đã ghi nhận 48 loài động vật đặc hữu cho phân vùng địa sinh học Đông Dương và Việt Nam, trong đó thú có 3 loài đặc

hữu Việt Nam như Chà vá chân đen Pygathrix nigripes, Tê giác một sừng việt nam Rhinoceros sondaicus annamiticus, Hoãng nam bộ Muntiacus muntjak

annamensis, bò sát và ếch nhái có 4 loài đặc hữu Việt Nam như Cóc mắt

trung gian Brachytarsophrys intermedia, Nhái bầu vẽ Microhyla picta, Chàng mile Silvirana milleti, Thạch sùng ngón vằn lưng Cyrtodactylus irregularis,

Trang 34

32

cá có 1 loài đặc hữu cá chiên Bagarius suchus Robert 1983 Ngoài ra VQG

Cát Tiên nằm trong vùng Chim Đặc hữu (EBA) vùng đất thấp nam Việt Nam,

đã ghi nhận quần thể của 3 loài chim trong vùng chim đặc hữu là: Gà so cổ

hung Arborophila davidi, Gà tiền mặt vàng Polyplectron germaini, Chích chạch má xám Macronous kelleyi ( phu ̣ biểu 5)

3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

3.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội các xã vùng đệm

VQG Cát Tiên có tổng cộng 36 xã nằm trong khu vực vùng đệm ( phu ̣ biểu 7) Tổng dân số tại 36 xã trong khu vực vùng đệm của VQG Cát Tiên theo số liệu điều tra năm 2007 là khoảng 182.000 khẩu

a Dân số

VQG Cát Tiên có vùng đệm tương đối rộng, với diện tích 251.445 ha, gồm 36 xã, thị trấn của 8 huyện thuộc 4 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đắc Nông Theo số liệu thống kê năm 2000, có khoảng 17 vạn người đang cư trú và sinh sống trong vùng đệm VQG Cát Tiên Dân số đa số

từ nơi khác chuyển đến, tập trung trong khoảng thời gian từ năm 1990 – 1998

Trang 35

33

b Thành phần dân tộc

Thành phần dân tộc sống trong VQG Cát Tiên gồm hơn 30 dân tộc Chiếm đa số là người Kinh (67,1 %), tiếp đến là các dân tộc ít người thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Tày (11,1%); Nùng (8,1%); H’Mông (1,1%), Dao (1,3%);và sau cùng là các dân tộc bản địa tại chỗ Trước đây các dân tộc bản địa S’tiêng (2,3%); Châu Mạ (6,2%); Hoa (1,1%); Châu Ro (0,1%); Mường (0,7%); Ê đê (0,001%); dân tộc khác (0,001%) ( phu ̣ biểu 8)

c Đặc điểm kinh tế xã hội

Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người dân sống trong Vườn, chiếm khoảng 95- 98% Đa số người Kinh có tập quán canh tác lúa nước Theo thống kê, có khoảng 1.816,9 ha lúa nước đang được canh tác trong VQG Cát Tiên

Thu nhập của người dân địa phương thấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong đó trồng trọt chiếm từ 60 – 80% tổng thu nhập, năng suất thấp, bình quân từ 150 – 200 kg/ha (năm 2001) Ở Phước Cát 2, chỉ đạt khoảng 75.000 – 80.000 đồng/tháng Tại Gia Viễn là 127.000 đ/tháng Tà Lài là 170.000 đ/tháng Đắc Lua có mức thu nhập cao hơn nhưng cũng chỉ đạt khoảng 190.000 đ/tháng Tỷ lệ hộ thuộc diện đói nghèo trong vùng cao, chiếm khoảng 30%

3.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội của xã Tài Lài

a Dân số, dân tộc:

Tà Lài là một xã vùng đồng bằng thuô ̣c vùng đê ̣m có diện tích tự nhiên

là 2.791,13 ha trong đó có 57 ha nằm trong VQG Tổng dân số toàn xã là

8435 với 1851 hộ, số nhân khẩu trung bình trong một hô ̣ là 5 và có 7 thôn (ấp), làng Trong đó có 100 hộ số ng trong vù ng đê ̣m ( ấp 4 và 5) Mật độ dân

số xã Tà lài: 267 người/1 km2 Xã Tà Lài có 12 dân tộc sinh sống như sau:

Trang 36

34

Ba ̉ ng 3.7 Thành phõ̀n các dõn tụ̣c xã Tà Lài

( Nguụ̀ n sụ́ liờ ̣u điờ̀u tra của UBND xã Tà Lài tháng 09 năm 2011)

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ cơ cấu thành phần dõn tộc xó Tà Lài

b Tỡnh hỡnh kinh tế:

Kinh tế xó chủ yếu là sản xuất nụng nghiệp mà hoạt động chớnh là trồng cõy lương thực, chăn nuụi Tuy nhiờn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa ổn định, sản xuất nụng nghiệp bị ảnh hưởng và chi phối của nhiều yếu tố: Thời tiết, dịch bệnh, trình đụ ̣ thõm canh

Do thành phần kinh tế kém đa dạng và khụng phỏt triển nờn nguồn thu nhập của người dõn hạn chế, đời sống khú khăn Kết quả điều tra cho thấy hộ đúi nghốo chiếm 47% - gần ẵ sụ́ hụ ̣ trong toàn xã , hộ giàu là 15% và hộ trung là 38%

c Tỡnh hỡnh sử dụng đất:

- Sản xuất nụng nghiệp: Thu nhập người dõn chủ yếu dựa vào canh tỏc

nụng nghiệp Tổng diện tớch sản xuất nụng nghiệp của xã là 2493,64 ha Canh

Trang 37

35

tác chủ yếu các loài cây trồng chính là lúa nước, sắn, bắp xen, đâ ̣u xanh, rau xanh Sản lượng lương thực năm 2010 là 1.600 tấn năng xuất bình quân đạt 4,5 tấn/ha Năng suất bình quân đầu người là 142,83 kg/người/năm

- Sản xuất lâm nghiệp: Vớ i chương trình 661 kết thúc năm 2011 đã có

335 hộ thuộc hai thôn (4,5) tham gia nhận khoán bảo vệ rừng với diện tích

3580 ha Mỗi thôn đã thành lập 2 nhóm bảo vệ rừng do ban quản lý VQG phối hợp chính quyền địa phương thực hiện, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng

Các hô ̣ dân rất thích thú với viê ̣c tham gia bảo vê ̣ rừng Vì không những ho ̣ được hưởng lơ ̣i nhiều từ chương trình này mà còn có kiều kiê ̣n được tâ ̣p huấn

mở rô ̣ng kiến thức về nhiều mă ̣t

d Điều kiện dân sinh

- Y tế: Xã Tà Lài có 01 Trạm y tế mới đươ ̣c sửa chữa tu bổ, có 01 bác

sỹ, 02 y sĩ, 01 y tá và có 03 giường bệnh Đội ngũ y bác sỹ ngoài nhiệm vụ khám chữa cho nhân dân còn góp phần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là công tác sinh đẻ, kế hoạch hoá gia đình.Tuy nhiên, xã

cũng vâ ̣n đô ̣ng đươ ̣c 80 hô ̣ gia đình có hoàn cảnh khó khăn mua bảo hiểm y tế để đảm bảo điều kiê ̣n khám chữa bê ̣nh

- Giáo dục: Ta ̣i xã Tà Lài có mô ̣t trường tiểu học với 12 phòng ho ̣c, số

học sinh tiểu học là 652 và 15 giáo viên.Mô ̣t trường trung học cơ sở với phòng học là 14, số học sinh trung ho ̣c cơ sở là 705 và 26 giáo viên Hiê ̣n ta ̣i

số trẻ em trong độ tuổi đến trườ ng là tương đố i cao khoảng 94%, xã cũng đã vận động một số gia đình đông con, có hoàn cảnh khó khăn cho con em của

họ đến trường thường xuyên Bên cạnh đó, vẫn còn mô ̣t số hộ gia đình dân

tộc ít người như Tày, Cơ ho, Cao Lan không biết chữ

- Giao thông: Hệ thống giao thông toàn xã Tà Lài từ tuyến đường Quốc

lộ 21 chạy vào trung tâm xã là 24 km Giao thông thực hiên theo 2 phương thứ c là đường bô ̣ và đường sông Tuyến đường bô ̣ chính được trải nhựa có

Trang 38

36

chiều dài 14 km qua 5 thôn ( thôn 1,2,3,6,7) Kế tiếp viê ̣c đi la ̣i của thôn 4,5 là qua cầu treo, phía bên kia sông Đồ ng Nai Người dân ở 2 thôn này ngoài viê ̣c lưu thông trên con đường bê tông còn sử du ̣ng phương tiê ̣n là đường sông

- Thủy lợi: Trên địa bàn xã Tà Lài hiện có 2 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, đảm bảo cho việc tưới tiêu cho 2493,64 ha cây trồng hàng năm Bên cạnh đó người dân các vùng đê ̣m còn đươ ̣c hưởng lơ ̣i nhờ hê ̣ thố ng tra ̣m bơm

củ a VQG trong mùa khô

3.3 Đánh giá nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến TNR, bảo vệ và phát triển rừng Vườn Quốc Gia

3.3.1 Về điề u kiê ̣n tự nhiên

- Vị trí đi ̣a lý: do VQG nằm trên đi ̣a bàn của 3 tỉnh là Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai cho nên việc quản lý, bảo vê ̣ là tương đối khó khăn

- Điều kiện khí hâ ̣u, thổ nhưỡng; VQG nằm trong vùng nhiê ̣t đới ẩm nên phân bố khí hậy, thủy văn và lượng mưa tương đối thuâ ̣n lợi cho viê ̣c sinh sống đi lại củ a người dân ca ̣nh rừng cũng như phát triển mở rô ̣ng diê ̣n tích tự nhiên củ a khu rừng Điều kiê ̣n khí hậu trong vùng đệm khá tốt do công tác quản lý bảo vệ rừ ng đươ ̣c quan tâm phối hơ ̣p đúng mức giữa chính quyền và

đi ̣a phương

- Tài nguyên thực vâ ̣t và đô ̣ng vâ ̣t rừng: với thiên nhiên ưu ái như vâ ̣y cho nên ở đây đã và đang hình thành rất nhiều thành phần loài thực vâ ̣t và động vật phong phú Nhiều loài quý hiếm mà chỉ có ở VQG Cát Tiên, không

có ở khu rừng đặc du ̣ng nào khác ta ̣i Viê ̣t Nam Chính vì vâ ̣y công tác quản lý

bảo vê ̣ các loài quý hiếm này càn phải được quan tâm bảo tồn và phát triển nhiều hơn

- Hoạt đô ̣ng nghiên cứu khoa ho ̣c và du li ̣ch sinh thái: Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu DTSQ Cát Tiên là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của Khu Dự trữ Sinh quyển toàn cầu, Vườn sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để

Trang 39

37

mở rộng giao lưu, trao đổi, hợp tác với các Vườn Quốc gia, Khu DTSQ khác

ở Việt Nam và quốc tế

3.3.2 Về điề u kiê ̣n kinh tế xã hội

- Văn bản pháp luật Nhà Nước chưa được chặt chẽ, không đủ mạnh để

có thể kiểm soát và đấu tranh các hành vi vi phạm Do vậy, đã gây nhiều khó khăn cho lực lượng kiểm lâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Do vậy các đối tượng phá rừng luôn có những hành vi tinh vi, liều lĩnh, có nhiều thủ đoạn chống trả lại khi lực lượng Kiểm lâm đang làm nhiệm

vụ

- Ngườ i dân trong vùng lõi sống hoàn toàn phu ̣ thuô ̣c vào tài nguyên

rừ ng VQG nên công tác quản lý và bảo vê ̣ còn ha ̣n chế Mức sống của dân số ng trong vù ng lõi rất thấp do thu nhâ ̣p của ho ̣ chủ yếu là hoa ̣t đô ̣ng nông lâm nghiệp nên vi pha ̣m về rừng mang tính chất nghiêm tro ̣ng

- Đờ i số ng của người dân vùng đê ̣m có thay đổi nhiều đă ̣c các chính sách thông tin về rừ ng tuyên truyền đươ ̣c thông tin rô ̣ng rãi hơn Tuy nhiên do số ng ở vùng đê ̣m nên đa số thu nhập của họ là rất cao từ rất nhiều hoa ̣t đô ̣ng như; đi rừng, làm nương rẫy, thủ công mỹ nghê ̣, buôn bán mă ̣t khác công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đươ ̣c đánh giá cao hơn vùng lõi, vi pha ̣m

rừ ng ít xảy ra hơn

No ́ i tóm lại: Việc phân tích đánh giá những thuận lợi, khó khăn về điều

kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của VQG Cát Tiên cho thấy bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển bền vững tài nguyên rừng thì vẫn còn rất nhiều khó khăn Các xã và ấp vùng đê ̣m còn sống chủ yếu dựa vào rừng, vi pha ̣m rừng vẫn xảy ra thường ngày làm cho công tác quản lý rừng càng trở nên phức tạp

Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản

lý rừng là rất cần thiết và có ý nghĩa ta ̣i VQG Cát Tiên

Trang 40

38

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại VQG Cát Tiên

4.1.1 Khái quát về VQG Ca ́ t Tiên

Việc quản lý tài nguyên vốn có của rừng đóng vài trò quyết định đến hiệu quả của công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững của VQG

4.1.1.1 Ranh giới:

VQG Cát Tiên gồm hai khu vực: Nam Cát Tiên thuộc xã Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Tây Cát Tiên thuộc xã Đăng Hà, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước và Cát Lộc thuộc xã Tiên Hoàng, Gia Viên và Phước Cát II, huyện Cát Tiên và Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tổng diện tích hiện tại của vườn quốc gia là 71,920 ha (Cat Tien OMP 2008-2012)

Sông Đồng Nai, con sông lớn thứ hai tại miền Nam Việt Nam, chảy qua vườn quốc gia, hình thành ranh giới phía Tây của khu vực Cát Lộc và ranh giới phía Đông của khu vực Nam Cát Tiên VQG Cát Tiên giáp ranh với địa bàn phân khu đặc trừng của nhiều tỉnh, huyện và nhiều xã vùng đê ̣m nên rất khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng

4.1.1.2 Phân khu chức năng:

Tổng diện tích tự nhiên là 71.350 ha trong đó:(71.920ha)

Khu Nam Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai: 39.627 ha

Khu Tây Cát Tiên thuộc địa phận tỉnh Bình Phước: 4.193 ha

Khu Cát Lộc thuộc địa phận tỉnh Lâm Đồng: 27.530 ha

Chia thành các phân khu sau:

a Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

Tổng diện tích tự nhiên Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 54.055 ha, chiếm 76% diện tích của VQG

* Chức năng

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành nghiên cứu  2.5.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 2.5.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (Trang 24)
Bảng 3.1: Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 3.1 Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên (Trang 30)
Bảng 3.2: Diện tích trạng thái rừng và các loại đất VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 3.2 Diện tích trạng thái rừng và các loại đất VQG Cát Tiên (Trang 31)
Bảng 3.3. Thành phần taxon hệ thực vật bậc cao có mạch VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 3.3. Thành phần taxon hệ thực vật bậc cao có mạch VQG Cát Tiên (Trang 32)
Sơ đồ dưới đây. - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ d ưới đây (Trang 42)
Bảng 4.2: Cơ cấu nguồn nhân lực của VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 4.2 Cơ cấu nguồn nhân lực của VQG Cát Tiên (Trang 43)
Bảng 4.4:  Lấn chiếm đất rừng làm đất canh tác nông nghiê ̣p - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 4.4 Lấn chiếm đất rừng làm đất canh tác nông nghiê ̣p (Trang 48)
Hình 4.2: Khai thác đô ̣ng vâ ̣t trong VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Hình 4.2 Khai thác đô ̣ng vâ ̣t trong VQG Cát Tiên (Trang 50)
Bảng 4.6: Mức độ khai thác đô ̣ng vâ ̣t hoang dã, thú, rau và dược liê ̣u của  các hộ gia đình - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 4.6 Mức độ khai thác đô ̣ng vâ ̣t hoang dã, thú, rau và dược liê ̣u của các hộ gia đình (Trang 51)
Bảng 4.7: Mức độ chăn thả gia súc của các hộ gia đình trên đất rừng - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 4.7 Mức độ chăn thả gia súc của các hộ gia đình trên đất rừng (Trang 53)
Bảng 4.8: Nguồn thu tiền mặt của các hộ gia đình - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Bảng 4.8 Nguồn thu tiền mặt của các hộ gia đình (Trang 54)
Sơ đồ 4.11: Sơ đồ VENN các thành phần tham gia ĐQL thôn 5 xã Tà Lài  Ghi chú: Đô ̣ lớn của vòng tròn thể hiê ̣n mức độ quan trọng - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ 4.11 Sơ đồ VENN các thành phần tham gia ĐQL thôn 5 xã Tà Lài Ghi chú: Đô ̣ lớn của vòng tròn thể hiê ̣n mức độ quan trọng (Trang 58)
Sơ đồ 4.12: Ảnh hưởng của các bên tham gia đồng quản lý - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ 4.12 Ảnh hưởng của các bên tham gia đồng quản lý (Trang 64)
Sơ đồ 4.12: Nguyên tắc thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ 4.12 Nguyên tắc thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng (Trang 67)
Sơ đồ 4.14: Cơ cấu tổ chức đồng quản lý VQG Cát Tiên - Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý tại vườn quốc gia cát tiên   đồng nai
Sơ đồ 4.14 Cơ cấu tổ chức đồng quản lý VQG Cát Tiên (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w