Nhằm tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho công nghệ sản xuất ván dăm, qua đó góp phần nâng cao giá trị sử dụng ván dăm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ p
Trang 1Để đáp ứng nhu cầu sử dụng, chúng ta đã chuyển hướng mục tiêu từ sử dụng gỗ rừng tự nhiên và sản phẩm xẻ sang gỗ mọc nhanh rừng trồng và sản phẩm ván nhân tạo Trong những năm gần đây, ván dăm đang dần là loại vật liệu góp phần thay thế gỗ tự nhiên và được sử dụng rộng rãi trong đồ mộc, trong xây dựng, kiến trúc
Ở các nước công nghiệp phát triển, người ta đã tạo được các loại ván dăm không những có những tính chất vật lý, cơ học đặc biệt (cách âm, cách nhiệt, chịu nước, độ bền cơ học cao…), mà còn có giá cả rẻ, các loại ván dăm
sử dụng hỗn hợp các nguồn phế liệu nông nghiệp, lâm nghiệp
Ở Việt Nam công nghệ sản xuất ván dăm đã phát triển mạnh từ những năm 1970 Đến nay, ván dăm là một trong các loại ván nhân tạo được sản xuất và thị trường tiêu thụ nhiều Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu cho công nghệ sản xuất ván nhân tạo của nước ta dần hạn chế do quá nhiều loại hình ván nhân tạo cần gỗ Vì vậy, hướng nghiên cứu tìm nguồn nguyên liệu mới hoặc hỗn hợp giữa dăm gỗ và nguyên liệu khác là cần thiết Trong các loại nguyên liệu đó là vỏ quả Jatropha - một loài cây họ thầu dầu đang được người dân Việt Nam ưa chuộng để làm nguyên liệu sản xuất dầu diesel sinh học,
Trang 2thay thế dần nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt Hiện nay, vỏ quả Jatropha sau khi khai thác dầu xong đang bị bỏ đi
Nhằm tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho công nghệ sản xuất ván dăm, qua
đó góp phần nâng cao giá trị sử dụng ván dăm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ pha trộn đến chất lượng ván dăm hỗn hợp vỏ quả cây jatropha và dăm gỗ cao su”
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay, nhu cầu sử dụng gỗ của nhân loại là rất lớn và ngày càng tăng trên toàn cầu Nhưng diện tích rừng ngày càng giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau: tốc độ tăng dân số quá nhanh, nhu cầu về củi đốt cũng như các mặt hàng về đồ gỗ cũng nhiều hơn, khiến cho tổng nhu cầu và khối lượng gỗ tính theo đầu người cũng tăng lên Nhu cầu lương thực tăng không ngừng, do đó nhiều diện tích rừng bị biến mất để nhường chỗ cho việc gieo trồng những loại cây lương thực Thêm vào đó, nạn cháy rừng xảy ra ở tất cả các Châu lục làm cho diện tích rừng trên toàn thế giới ngày càng thu hẹp, khả năng cung cấp gỗ của rừng tự nhiên ngày càng giảm xuống
Để giải quyết vấn đề này các quốc gia đều tập trung theo hướng đẩy mạnh trồng rừng và sử dụng nguồn nguyên liệu mới, phát triển ván nhân tạo
mà chủ yếu là ván dăm, ván sợi, ván mộc các loại…tăng nhanh công nghiệp chế biến lâm sản
Sản phẩm ván dăm của Việt Nam đã có từ những năm 1970, song mãi gần đây mới xuất hiện khả năng sử dụng, tiêu thụ và ngày càng tăng trên thị trường Với ưu thế về giá, ván dăm Việt nam đang tăng dần số lượng tiêu thụ
so với ván nhập ngoại Hiện nay khoảng trống về thị trường còn rất lớn Do
đó, các cơ sở ván dăm đang được xây dựng ở nhiều tỉnh của nước ta
Những cơ sở trên chưa phát huy hết công suất, nhưng đã bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu thiếu nguyên liệu Điều đó có nghĩa là trong một tương lai gần các loại gỗ rừng trồng dùng cho sản xuất ván nhân tạo nói chung và ván dăm nói riêng khó đáp ứng Lời giải cho bài toán nguyên liệu cần phải tìm ở một số hướng khác ngoài gỗ, đó là sử dụng phế liệu và thứ liệu nông nghiệp Thuật thứ liệu ở đây chúng tôi chỉ các loài nguyên liệu được thu hồi sau khi
Trang 4lấy sản phẩm chủ yếu theo mục tiêu mà người gây trồng đạt ra, thí dụ như cao
su nhựa là chủ yếu, gỗ cao su là thứ yếu, cây bông sợi là chủ yếu còn thân cây bông là thứ yếu, cây dừa cơm dừa và nước dừa là chủ yếu còn xơ dừa là thứ yếu, jatrophan hạt là chủ yếu còn vỏ là thứ yếu… Tóm lại, thứ liệu là nguyên liệu sau sản phẩm chính song chưa phải là phế liệu
Các loại nguyên liệu chứa sợi celullose có rất nhiều Trong lâm nghiệp như họ tre trúc, cây bụi , Trong nông nghiệp như bã mía, rơm rạ, vỏ lạc, trấu, thân, quả các cây họ cây cọ (cau, dừa, thốt nốt, cọ), vỏ jatrophan.… Sử dụng các dạng phế liệu và thứ liệu này cần được nhìn nhận như một trong hướng đi mang tính chiến lược của việc tìm nguồn nguyên liệu ngoài gỗ để sản xuất ván dăm Bởi vì đa số các loại phế liệu, thứ phế liệu này rẻ tiền, số lượng lớn, tập trung, ổn định, khả năng tái tạo nhanh, và một số trường hợp chúng có những ưu điểm không kém gỗ gỗ trong phạm vi sản xuất ván nhân tạo
Âu và Mỹ
Trong những năm gần đây, ván dăm là loại sản phẩm chiếm tỷ trọng giá trị lớn trong sản xuất ván nhân tạo (45-50 tỷ đô la), ván dăm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau: Xây dựng, nhà ở, đồ mộc và lĩnh vực
sử dụng ngày càng rộng rãi Phát triển ván nhân tạo đã tạo ra khả năng tận
Trang 5dụng gỗ các loại, từ gỗ lá kim đến gỗ lá rộng, từ phế liệu gỗ đến gỗ tạp, gỗ rừng trồng mọc nhanh, phế liệu nông nghiệp với khối lượng rất lớn và tỷ lệ lợi dụng nguyên liệu cao Hiện nay đã có nhiều quốc gia đưa tỷ lệ sử dụng gỗ đạt tới 90%
Công nghệ sử dụng nguyên liệu từ thực vật có sợi và phế liệu nông nghiệp để sản xuất ván nhân tạo được nhiều nước nghiên cứu, triển khai ứng dụng Nhưng chủng loại và đặc điểm của nguyên liệu ở mỗi nước khác nhau, Công nghệ sản xuất ván dăm từ bã mía được hầu hết các nước như Trung quốc, Brazil, Malaysia, Thái lan nghiên cứu và sản xuất Công nghệ này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1930
Ván vỏ lạc (Trung Quốc, Bắc Mỹ, Nhật ): Vỏ lạc được tách thành sợi
và xe lại thành sợi dài, đan lưới làm thành lớp lõi sản xuất vật liệu composit Trong trường hợp sản xuất ván dăm thông dụng, công nghệ tiến hành giống như sản xuất ván dăm gỗ nhưng không cần công đoạn băm dăm
Ván vỏ hạt hướng dương: Công nghệ sản xuất giống như sản xuất ván dăm gỗ nhưng không có công đoạn băm nghiền Tuy nhiên độ ẩm nguyên liệu cần giữ thích hợp để vỏ không bị quá giòn Tỷ lệ keo tương đương sản xuất ván dăm gỗ
Ván dăm từ trấu: Được các nước Hàn quốc, Ấn độ, Thái lan, Trung quốc nghiên cứu
Năm 1970 tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc đã tổ chức Hội nghị về công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ nguyên liệu phi gỗ đầu tiên trên thế giới Từ đó về sau trên thế giới đã hình thành rất nhiều xưởng sản xuất ván dăm, ván sợi cứng, ván MDF, vật liêu composite từ phế liệu nông nghiệp, đặc biệt từ rơm rạ và thân cây lúa mạch
Tại California, Mỹ, theo nghiên cứu của Kiran L.Kadam và các cộng sự (2000) rơm rạ có thể được sử dụng để sản xuất giấy Theo Alex Wilson
Trang 6(1995) nguyên liệu rơm rạ (từ lúa mạch, lúa gạo, lúa mạch đen) có thể là một loại nguyên liệu mới cho ngành xây dựng như tạo các vách tường trong các ngôi nhà
Từ rơm rạ đóng kiện (straw bale), sản xuất ván nhân tạo (vật liệu dạng tấm) cả loại ván dày và ván mỏng để làm vật liệu xây dựng chịu lực, cách âm, cách nhiệt Từ những năm 90, trên thế giới đã bắt đầu hình thành ngành công nghiệp sản xuất ván dăm rừ rơm Tuy nhiên, do rơm rạ có đặc điểm là phía vỏ bên ngoài có lớp sáp (wax) kỵ nước khiến cho việc sử dụng các loại keo gốc formaldehyde thông dụng trong sản xuất ván dăm trở nên khó khăn do chỉ có thể sử dụng keo MDI - là loại keo khá đắt, để sản xuất Ván dăm từ rơm rạ chỉ thực sự phát triển từ những năm 2000 trở lại đây với giải pháp xử lý rơm rạ trước khi ép bằng giải pháp hoá-cơ-nhiệt tại một số nước như Mỹ, Úc, Philippin với sản phẩm chủ yếu sử dụng trong xây dựng Tuy nhiên, chủ yếu nguồn rơm rạ mới là lúa mì, lúa mạch, còn nguyên liệu rơm rạ từ lúa gạo rất hạn chế do sản lượng ít
Tại Hàn quốc, Han Seung Yang và các cộng sự (2003) đã tiến hành sản xuất ván dăm từ hỗn hợp rơm rạ và gỗ sử dụng keo U-F để tạo vật liệu cách
âm dùng trong xây dựng
Ở Trung Quốc ngành công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ phế liệu nông nghiệp đã hình thành từ đầu những năm 50 của thế kỷ 20, thông qua hàng chục năm nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm để phát triển về kỹ thuật, công nghệ, quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm, đến nay
có thể nói về kỹ thuật và công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ phế liệu nông nghiệp của Trung Quốc đã đạt tới mức độ thành thục Tính đến nay Trung Quốc đã có 210 nhà máy sản xuất ván nhân tạo từ phế liệu nông nghiệp, năng suất hàng năm đạt trên 500.000 m3 sản phẩm
Trang 7Cây Jatropha curcas L., thuộc chi Jatropha, họ Thầu dầu có nguồn gốc từ châu Phi, Bắc Mỹ và vùng biển Caribê Chi Jatropha có nguồn gốc từ tiếng
Hy Lạp, ghép từ hai chữ Iatrós (bác sĩ) và trophé (thức ăn), ám chỉ công dụng làm thuốc của cây này Curcas là tên gọi thông thường của cây Physic nut ở Malabar, Ấn Độ Tên thông dụng ở các nước hiện nay là Jatropha, ở Việt Nam gọi là cây Cọc giậu, Cọc rào, Cây li, Ba đậu nam, Dầu mè
Jatropha là một loài cây có lịch sử 70 triệu năm, nguồn gốc từ Mexico (nơi duy nhất có hóa thạch của cây này) và Trung Mỹ, được người Bồ Đào Nha đưa qua Cape Verde, rồi lan truyền sang Châu Phi, Châu Á, sau đó được trồng ở nhiều nước, trở thành cây bản địa ở khắp các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới trên toàn thế giới
Từ năm 1991, Giáo sư người Đức là Klause Becker của Trường Đại học Stuttgart đã nhận đơn đặt hàng của Tập đoàn Daimler Chrysler hợp tác với 1 hãng tư vấn của Áo tiến hành nghiên cứu cây Jatropha ở Nicaragua, để làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học, từ đó dấy lên cơn sốt Jatropha trên phạm
vi toàn cầu Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang chạy đua phát triển cây này, nhất là các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philippin, Mianma và nhiều nước Châu Phi, nhằm phục vụ nhu cầu năng lượng tại chỗ và xuất khẩu
Jatropha vốn dĩ là một cây dại, bán hoang dại mà người dân các nước trồng chỉ để làm bờ rào và làm thuốc, nhưng với những phát hiện mới của khoa học, đã cho thấy Jatropha có tiềm lực giá trị cực kỳ to lớn, được đánh giá rất cao, thậm chí đã có những lời ca ngợi có phần quá đáng Nhưng dù sao, Jatropha vẫn là một loại cây hết sức quý giá mà loài người phải quan tâm khai thác tốt những giá trị sinh học của cây này
Sau khi ép dầu, bã khô dầu có hàm lượng Nitrơ 4.14-4.78%, P2O5 0.66%, CaO 0.60-0.65%, MgO 0.17-0.21% được sử dụng làm phân hữu cơ rất
Trang 80.5-tốt để bón cho các loại cây trồng, nhất là cho vùng sản xuất nông nghiệp hữu
cơ, nông nghiệp sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ phì của đất
Trong thành phần hạt Jatropha có độc tố curcin, có thể gây tử vong cho người và gây hại cho vật nuôi
Hiện nay, nhu cầu về nhiên liệu tái tạo nói chung và nhiên liệu sinh học nói riêng ngày càng tăng Nguồn nhiên liệu hóa thạch đã bước vào thời kỳ cạn kiệt, dự đoán chỉ còn khai thác được khoảng 40 năm nữa
Bên cạnh nhu cầu sử dụng nhiên liệu sinh học thì sản phẩm phụ của cây jatrophan còn trở thành nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác đặc biệt là vỏ jatrophan có thể trở thành nguyên liệu của công nghiệp ván nhân tạo qua đó nâng cao hiệu ích của việc trồng jatropha cũng như nâng cao đời sống người dân, mở ra một nguồn nguyên liệu mới
Khi khẳng định được nhu cầu thị trường, thì thu nhập của nông dân trồng Jatropha đã trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngành sản xuất hàng hóa mới mẻ này
Số liệu về Jatropha ở các nước được công bố được trình bày ở bảng 1.1 Giáo sư Bobby Jee, nhà tạo giống Jatropha ở Malaixia cho rằng, Jatropha có thể đạt năng suất hạt 9 tấn/ha/năm
Satis Lele (Ấn Độ), cho biết, ở đất cằn cỗi, năng suất hạt Jatropha đạt 1kg/cây/năm Ở nơi đất nghèo, mưa nhiều, năng suất hạt đạt 2kg/cây/năm, quy ra 2,5 – 5 tấn/ha/năm, tùy thuộc độ phì của đất
Với giống hiện nay, năng suất hạt dự báo khoảng 5 – 6tấn/ha/năm, với giá 200 USD/tấn (3.200VND/kg), giá trị tạo ra từ 1 ha trồng Jatropha đạt khoảng 1000 – 1200 USD/năm, tức khoảng 16 – 20 triệu VND/ha năm, trừ chi phí về giống, phân bón, lợi nhuận của người dân thu được khoảng 10 – 15 triệu VND/ha năm, đảm bảo nông dân có lời
Trang 9Bảng 1.1 Số liệu về Jatropha
Gay dou và cộng sự (2007) 6.0-8.0 Madagascar
Eijck và Romigin (2006) 10-20 (?) Tanzania
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng
để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong
dịp hội hè Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa
là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ Uchouk là chảy ra hay khóc)
Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazonas) và Belém (bang Paras), thuộc Brasil
Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm
vi Brasil diễn ra vào năm 1873 Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ
để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực
Trang 10hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875 Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi trong các thùng Ward tới Ceylon, và 22 đã được gửi tới các vườn thực vật tại Singapore Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao
su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Các cây cao su
đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883[1] Vào năm
1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaya, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới Các cố gắng gieo trồng cây cao su tại Nam Mỹ bản địa của nó thì lại không diễn ra tốt đẹp như vậy
Ở các nước trên thế giới, cây cao sư chủ yếu dùng để lấy nhựa Thân gỗ chủ yếu dùng làm củi đun hoặc chế biến đồ mộc Gần đây một số nước cũng
đã đưa thân cây cao su vào làm ván nhân tạo Ván dăm dùng cây cao su rất ít nước sản xuất
Nói tóm lại: vấn đề nghiên cứu sử dụng cây cao su, cây Jatropha và hạt cây Jatropha đã có nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, việc sử dụng hỗn hợp hai loại này thì chưa có công trình nào công bố
1.2.2 Trong nước
Công nghệ sản xuất ván dăm của Việt Nam phát triển mạnh từ những năm 1970 trở lại đây Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về ván dăm và nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra ván dăm Tuy nhiên, công nghệ sản xuất ván dăm từ phế liệu nông nghiệp thực sự còn chưa phát triển và vẫn còn nhiều việc phải nghiên cứu
Theo định hướng nghiên cứu tìm nguồn nguyên liệu mới thay thế gỗ trong sản xuất ván dăm, đặc biệt sử dụng thứ, phế liệu nông, lâm nghiệp, các nhà khoa học đã ứng dụng những thành quả khoa học trên thế giới vào điều
Trang 11kiện Việt Nam Các nghiên cứu tập trung vào nguyên liệu: tre, xơ dừa, bã mía, thây cây, cở, bèo,…
Năm 1995, Nhà máy đường Hiệp Hòa – Long An tổ chức sản xuất ván dăm từ bã mía Mười năm sau nhà máy đường La Ngà – Đồng Nai, tổ chức sản xuất ván dăm từ bã mía vào năm 2005 Công nghệ sản xuất và máy thiết
bị nhập từ Trung quốc [10]
Ván sản xuất dăm từ xơ dừa đã được một số nhà khoa học nghiên cứu
từ những năm 1980 và Công ty Chỉ Xơ dừa 25/8 – Bến tre đã sản xuất ván dăm từ xơ dừa từ những năm 2005
Năm 1999, Nguyễn Trọng Nhân nghiên cứu sử dụng cọng dừa nước làm nguyên liệu sản xuất ván dăm Cọng dừa nước có thể đập thành sợi hoặc chẻ thành dăm mảnh Trộn đều dăm với 12% keo U-F
Ván sản xuất từ phế liệu nông nghiệp gồm thân cây mỳ (sắn); thân cây ngô; cọng dừa nước, vỏ lạc, vỏ cà phê, thân chuối cũng đã được một số nhà khoa học nghiên cứu Kết quả ban đầu cho thấy các hướng nghiên cứu rất khả quan Ngoài ra, ván dăm sản xuất từ rơm rạ kết hợp với trấu, mụn chỉ xơ dừa kết hợp với trấu được Phạm Ngọc Nam, Lâm Trần Vũ nghiên cứu và báo cáo trong các đề tài cấp bộ
Vỏ Jatrophan sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất ván dăm là một lĩnh vực khá mới mẻ, từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tỉ lệ phố i trộn giữa dăm gỗ và phế liệu nông nghiệp và sản xuất ván dăm Như vậy, nghiên cứu vỏ Jatrophan như một loài nguyên liệu của công nghệ sản xuất ván nhân tạo và quy trình công nghệ phù hợp với loại nguyên liệu này, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào công bố Trên mạng Internet và theo thông báo của tập san “thế giới jatropha” cũng không có nhiều thông tin về sản phẩm ván dăm từ dăm gỗ và vỏ Jatropha
Trang 12Tóm lại Jatropha là một cây vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, số lượng Jatropha khá lớn, song sản phẩm chính mới chỉ có quả Vì vậy giá trị kinh tế cây jatrophan còn thấp, đời sống người trồng Jatropha rất khó khăn Việc đầu tư nghiên cứu sử dụng tổng hợp nguyên liệu từ cây Jatropha, trong
đó có vỏ quả làm ván dăm, nhằm góp phần nâng cao đời sống của dân, ổn định và phát triển cây Jatropha là một vấn đề cấp bách không những chỉ của nước ta mà của nhiều nước trên thế giới
Tại Việt Nam được trồng nhiều ở Bình Thuận, Ninh Thuận, Đăk Lăk… Cây có chiều cao 2-5m, dùng hạt để ép dầu, mỗi quả có 3–4 hạt
Cây Jatropha trồng được trên mọi loại đất (khu vực khí hậu nóng), ưa sáng, chịu hạn tốt Vòng đời cây 30-50 năm, cho thu hái hạt trong khoảng thời gian ít nhất 20-40 năm Cây cho quả hạt sớm, năng suất 10–12 tấn/ha (năng suất này còn phụ thuộc nhiều vào loại giống), hàm lượng dầu cao 32–35%, năng suất dầu biodiesel 2.500–3.000 lít/ha/năm
So sánh với cây trồng khác có cùng điều kiện để chứng minh khả năng cạnh tranh của Jatropha Trên đất dốc, nghèo kiệt ở trên miền núi phía Bắc nước ta, cây lâm nghiệp được trồng phổ biến là keo Tai tượng
Theo tư liệu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, trồng Keo tai tượng để sản xuất gỗ lớn với mức thâm canh thấp, thu nhập của nông dân đạt 8,3 triệu VND/ha năm, nếu thâm canh cao đạt 32 triệu VND/ha năm
Như vậy, trong điều kiện quảng canh, thu nhập từ trồng Jatropha cao hơn trồng keo, nhưng trong điều kiện thâm canh cao, thu nhập từ trồng Jatropha không bằng trồng keo Nhưng trồng Jatropha lại có nguồn thu ngay
từ năm đầu, trồng một lần thu liên tục trong 50 năm, còn trồng keo lấy gỗ lớn phải sau 12 năm mới được thu và phải trồng lại sau mỗi kỳ thu hoạch
Tập đoàn Xenerga của Mỹ đã xây dựng 160 nhà máy biodiesel khắp thế giới, sử dụng các nguyên liệu Jatropha, tảo và mỡ súc vật, đã tuyển dụng được
Trang 13giống Jatropha, năng suất hạt đạt 20 tấn/ha năm, chế biến dầu đạt 9370 lít/ha Nếu năng suất đạt mức như trên, thì thu nhập Jatropha cao hơn hẳn keo Tai tượng
Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống
Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km)
Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907 Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu
là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau
đó ngưng vì chiến tranh
Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ) Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha
Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha
Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ
Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do
Trang 14các nông trường quân đội, sau 1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh
Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2 % Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37 % Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha
Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6.500 ha).hiện nay vào khoảng tháng 05/2010 có một số bệnh lạ khiến người dân khốn khổ, bệnh bắt đầu có biểu hiện như, nhẹ thì vàng lá nặng hơn một chút thì rụng lá rồi chết mà cách đặc trị thì chua thực sụ hiệu quả
1.2.3 Nhận xét chung
Qua điều tra về các nghiên cứu của các nhà khoa học của các nước, chúng tôi thấy: các nhà khoa học của các nước Mỹ, Đức, Phần Lan, Thuỵ Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga…, đã có những nghiên cứu về ván dăm rất
kỹ lưỡng Cây cao su, cây Jatropha cũng đã có một số công trình nghiên cứu
và sản xuất các mặt hàng Tuy nhiên, các công bố đó chỉ có giá trị tham khảo
và chỉ dừng lại ở những thông tin khoa học hết sức chung chung Chúng ta không thể áp dụng những kết quả đó vào sản xuất ván dăm của nước ta
Nguyên liệu gỗ cho sản xuất ván dăm có rất nhiều Trên thế giới, cũng
có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng nguyên liệu cho ván dăm Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về sử dụng bèo Nhật bản đề làm nguyên liệu cho sản xuất ván dăm thông dụng
Ở Việt Nam, cây cao su, cây Jatropha đã được dùng làm nguyên liệu cho sản xuất các mặt hàng đồ mộc, chế biến dầu Tuy nhiên, sử dụng hỗn hợp
vỏ Jatropha và dăm cao su thì chưa có công trình nào nghiên cứu
Trang 15Do đó, hướng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu, tạo ra loại ván dăm từ vỏ hạt Jatropha, dăm gỗ cao su có các tính chất cơ học, vật lý đáp ứng yêu cầu Quy trình sản xuất ván dăm không xáo trộn (hoặc thay đổi rất ít) so với quy trình sản xuất ván dăm thông dụng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu lý thuyết
- Nghiên cứu, tạo ra loại ván dăm từ vỏ quả cây Jatropha, dăm gỗ cao su đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật của ván dăm dùng trong xây dựng, hàng mộc, trong điều kiện công nghệ sản xuất của Việt Nam và đóng góp những cơ sở khoa học cho việc sản xuất đó
- Nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi sử dụng nguồn nguyên liệu trong lĩnh vực chế biến gỗ Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm từ phế liệu nông nghiệp, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người sử dụng đối với ván dăm
1.3.2 Mục tiêu thực tiễn
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của tỉ lệ phố i trộn giữa dăm lớp mặt và dăm lớp lõi đến chất lượng ván dăm 01 lớp và 3 lớp, các giải pháp công nghệ tạo ván dăm phù hợp khi sản xuất ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ hạt cây Jatropha trong điều kiện sản xuất ván dăm của Việt Nam
- Xây dựng và đề xuất được quy trình công nghệ sản xuất ván dăm từ vỏ hạt cây Jatropha, dăm gỗ cao su và bước đầu đề xuất triển khai công nghệ vào
sản xuất thực tiễn
1.4 Đối tượng nghiên cứu
- Vỏ quả cây Jatropha được khai thác từ Đăklak, gỗ cao su ở tỉnh Đồng Nai
Trang 16- Các thông số công nghệ tạo ván dăm từ vỏ quả Jatropha, dăm gỗ cao su (tỷ lệ phối trộn dăm gỗ và vỏ quả Jatropha, các thông số chế độ ép ván dăm, các thông số của keo dán)
1.5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm cấu tạo, tính chất cơ bản của gỗ cao su và
1.6 Phạm vi nghiên cứu
1.6.1 Các yếu tố cố định
- Dăm gỗ: Dăm từ gỗ Cao su và dăm từ vỏ quả Jatropha
Các thông số kích thước dăm được cố định cho các tấm ván ép
Ván dăm 3 lớp có tỷ lệ kết cấu 1:4:1, chiều dày 18mm Khối lượng thể tích ván 0.7g/m3
Ván dăm 01 lớp có khối lượng thể tích ván 0.7g/m3, chiều dày 18mm
- Keo Urea- Formaldehyde (U-F) của hãng Gia Hân – Đài Loan Tỷ lệ keo trộn lớp trong 10% và lớp mặt 13% (so với lượng dăm khô kiệt) Lượng chất đóng rắn NH4Cl 1% (so với lượng keo khô kiệt)
- Phương pháp ép sử dụng là ép phẳng có gia nhiệt bàn ép Thanh cữ kim loại 18mm
- Các thông số chế độ ép: Áp suất ép: 2.2 MPa, nhiệt độ ép: 1600C, thời gian ép: 0.6 phút/mm chiều dày
Trang 171.6.2 Các yếu tố thay đổi
Tỷ lệ phối trộn giữa dăm gỗ cao su và vỏ quả Jatropha trong ván dăm là 75:25, 60:40, 50:50, 40:60
1.7 Phương pháp nghiên cứu
1.7.1 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng khi điều tra, khảo sát nghiên cứu
về hiện trạng công nghệ sản xuất ván dăm, khi tạo ván dăm từ dăm gỗ cao su
và vỏ quả Jatropha Các tư liệu, tài liệu có tính lịch sử, tài liệu cung cấp các thông tin tổng quan về kinh tế xã hội, tự nhiên thuộc các vùng lãnh thổ và các kết quả nghiên cứu có liên quan đã được xuất bản,
1.7.3 Phương pháp thực nghiệm
Căn cứ vào nội dung luận văn, điều kiện tiến hành luận văn, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu thực nghiệm theo lý thuyết quy hoạch thực nghiệm đơn yếu tố
Trong kế hoạch thực nghiệm đơn yếu tố, các số liệu đo đếm theo mô hình bố trí thí nghiệm sẽ được xử lý theo phương trình toán học bậc nhất trước Khi xử lý số liệu, nếu các số liệu tính toán đảm bảo tính tương thích của mô hình toán học thì mô hình toán bậc nhất được chấp nhận Nếu không tương thích thì phải nâng bậc của mô hình toán lên bậc hai
Trang 18Quá trình kiểm tra theo thống kê toán học nếu đảm bảo độ tin cậy của các yếu tố và tính tương thích của mô hình thì các phương trình tương quan sẽ
ở dạng bậc 2
Chúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo kế hoạch thực nghiệm đơn yếu
tố nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tỷ lệ phối trộn dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ hạt cây Jatropha đến chất lượng ván dăm
Thực nghiệm đơn yếu tố được tiến hành theo các bước sau:
- Bố trí thí nghiệm căn cứ vào thiết kế tỷ lệ phối trộn
Bố trí thí nghiệm khi tạo ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ quả Jatropha được trình bày ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Tỷ lệ phối trộn ván dăm (dăm gỗ: dăm từ hạt Jatropha) (%)
- Thực hiện thí nghiệm với thông số thay đổi với số mức không nhỏ hơn
4, khoảng thay đổi lớn hơn 2 lần sai số bình phương trung bình của phép đo giá trị thông số đó Số thí nghiệm lặp lại n = 3 (theo tính toán)
- Sau khi thí nghiệm xong, tiến hành xác định độ tin cậy về ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ quả Jatropha
- Đánh giá tính thuần nhất của phương sai trong quá trình thí nghiệm, để chứng tỏ ảnh hưởng khác đối với thông số cần xét là không có hoặc không đáng kể
- Kiểm tra độ tương thích của mô hình theo tiêu chuẩn Fisher
Trang 19- Quan hệ giữ các hàm chỉ tiêu Y và các thông số ảnh hưởng xi:
Y = bo + bi xi + bii xi2 (1.1) Trong công thức: Y - các hàm chỉ tiêu (tỷ lệ co rút, tỷ lệ giãn nở ); xi- giá trị mã hóa của các biến số; bo – hệ số tự do; bi – các hệ số tuyến tính; bii : - các hệ số bậc hai
yt – phương sai do sự thay đổi của các thông số vào gây nên; S2tn – phương sai do nhiễu thực nghiệm gây ra
Để kiểm nghiệm “giả định không” so sánh F với Fb, nếu F > Fb thì ảnh hưởng của các yếu tố là đáng tin cậy Fb - chuẩn Fisher tra bảng với mức ý nghĩa α = 0,05 và 2 bậc tự do (k-1), k(m-1)
+ Tính đồng nhất của phương sai đánh giá qua tiêu chuẩn Kohren [17]:
u u S
S G
1 2
2 max
S
1
2- tổng tất cả các ước lượng phương sai; N- số điểm thí nghiệm Nếu giá trị G trong công thức (1.3) nhỏ hơn hoặc bằng Gb thì các phương sai được coi là đồng nhất Gb – giá trị Kohren tra trong bảng với xác suất ấn định α = 0,05 và
2 bậc tự do (m-1), k Nếu giá trị tính toán: G > Gb thì giả thuyết bị bác bỏ
1.7.3.2 Phân tích đánh giá mô hình hồi quy
(1) Kiểm tra độ tương thích của mô hình hồi quy
Trang 20Độ tương thích của mô hình hồi quy kiểm tra theo tiêu chuẩn Fisher Giá trị tính toán của tiêu chuẩn Fisher là:
2 2
b
a tt
do nhiễu tạo ra
Bậc tự do ở đây bao gồm: ka = N – k*; kb = N(m-1); m - số lần lặp lại của mỗi thí nghiệm Nếu Ftt nhỏ hơn giá trị Fisher tra bảng với bậc tự do ka, kb với mức ý nghĩa α = 0,05 thì mô hình tương thích
(2) Kiểm tra mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy
Mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy kiểm tra theo tiêu chuẩn Student Chuẩn Student của từng hệ số hồi quy tính theo công thức:
S
b
t (1.5) Trong công thức (1.5): Sb0, Sbi, … ước lượng phương sai theo các hệ số hồi quy; b0, bi, … giá trị các hệ số hồi quy cần kiểm tra
Nếu tiêu chuẩn Student của các hệ số hồi quy ti nào đó lớn hơn chuẩn Student tra bảng tb thì hệ số có ý nghĩa Chuẩn tb được tra bảng với bậc tự do
γ = N(m-1) và mức ý nghĩa α = 0,05
(3) Chuyển phương trình hồi quy sang dạng chính tắc
Để phương trình hồi quy ở dạng đơn giản hơn và phản ánh rõ tính chất hình học của nó, cần chuyển phương trình hồi quy từ dạng mã sang dạng chính tắc bằng cách rời gốc toạ độ O(x1 = 0, x2 = 0, …xk = 0) về điểm đặc biệt: S(xs
1, xs
2,…xs
k) Ở dạng chính tắc phương trình hồi quy sẽ là:
2 i
Trang 21Trong công thức (1.6): ys - cực trị của hàm tối ưu; Xi – các thông số vào theo giá trị mới; Bii - hệ số của phương trình chính tắc; k - số thông số
1.7.4 Kiểm tra chất lượng ván dăm
1.7.4.1 Kiểm tra chất lượng keo
Độ pH của hỗn hợp keo, thời gian gel hoá của hỗn hợp keo được đo bằng máy đo độ pH (HI 9224 Microprocessor printing pH meter) Độ chính xác của máy đo độ pH là 0.1 Độ nhớt của dung dịch keo đo bằng máy đo độ nhớt (Rion Viscoteter VT-04)
1.7.4.2 Kiểm tra kích thước dăm
Để kiểm tra kích thước dăm, chúng tôi dùng theo sàng Dụng cụ và thiết bị sàng dăm được trình bày ở hình 1.1
1.7.4.3 Khối lượng thể tích ván dăm
Hình 1.1 dụng cụ và thiết bị phân loại dăm
Trang 22Hình 1.2 Vị trí kiểm tra chiều dày mẫu thử
Mẫu thử để trong điều kiện cho đến khi khối lượng không thay đổi Xác định chiều dày ván ở 4 điểm khoanh tròn (hình 1.2), chính xác đến 0,01mm Tính giá trị bình quân chiều dày ván ở 4 điểm, chính xác đến 0,01mm Chiều dày, chiều rộng mẫu thử đo ở điểm giữa cạnh mẫu, chính xác đến 0,01mm
Khối lượng thể tích mẫu thử được tính theo công thức sau, chính xác đến 0,01g/cm3:
Trong đó: γ - khối lượng thể tích mẫu thử (g/cm3)
m - khối lượng mẫu thử (g)
V - thể tích mẫu thử (cm3) Khối lượng thể tích của một tấm ván là trị số bình quân toán học của khối lượng thể tích toàn bộ mẫu thử trong cùng tấm ván đó, chính xác đến 0,01g Biểu thị chênh lệch % của khối lượng thể tích 1 tấm ván được tính theo công thức sau, chính xác đến 0,1%:
Trong đó: Δγ - chênh lệch khối lượng thể tích (%)
γmax - khối lượng thể tích lớn nhất (g/cm3)
Trang 23γmin - khối lượng thể tích nhỏ nhất (g/cm3)
- khối lượng thể tích bình quân (g/cm3)
1.7.4.4 Tỷ lệ trương nở theo chiều dày
Dụng cụ: Tủ bảo ôn, phạm vi điều khiển nhiệt độ 20 ± 20C Thước panme, độ chính xác 0,01mm
Phương pháp đo: mẫu đặt trong điều kiện chuẩn cho đến khi khối lượng không thay đổi Xác định chiều dày ở trung tâm của điểm đo, chính xác đến 0,01mm Mẫu được ngâm trong bình nước ở nhiệt độ 20 ± 20C, ngập trong nước khoảng 20mm Mặt dưới mẫu và đáy bình cách nhau một khoảng nhất định, giữa các mẫu có khe hở nhất định để đảm bảo mẫu trương nở tự do Sau khi ngâm 2h ± 5 phút, lấy mẫu ra, lau nước bám trên bề mặt mẫu Đo chiều dày ở điểm đo, việc đo phải tiến hành trong 30 phút
Kết quả được xác định theo công thức sau:
100x
1
1 2
t
t t
D
Trong đó: D - độ trương nở chiều dày (%); t1 - chiều dày mẫu thử trước khi ngâm nước (mm); t2 - chiều dày mẫu thử sau khi ngâm nước (mm)
Giá trị bình quân có độ chính xác đến 0,1% Giá trị trương nở được công bố là giá trị trương nở trung bình nhất của các mẫu thử của ván
1.7.4.5 Độ bền uốn tĩnh của ván dăm
Độ bền uốn tĩnh, độ bền kéo vuông góc, tỷ lệ trương nở chiều dày, khối lượng thể tích của ván dăm kiểm tra theo tiêu chuẩn GB 9842-88 [21] Phương pháp xác định các số liệu trên máy thử tính chất cơ lý của Trường Đại Học Nông Lâm – Thành phố Hồ Chí Minh
Dụng cụ: Máy kéo vạn năng, độ chính xác đến 10N Thước kẹp độ chính xác 0,1mm Thước panme có độ chính xác 0,01mm Đồng hồ bấm giây
Trang 24Hình 1.3 Sơ đồ kiểm tra độ bền uốn tĩnh
Phương pháp kiểm tra như sau:
Mẫu đặt trong điều kiện chuẩn cho đến khi khối lượng không đổi Chiều rộng được xác định ở điểm giữa cạnh dài mẫu, độ chính xác đến 0,1mm Chiều dày được xác định ở điểm giữa cạnh dài mẫu, cách mép cạnh 10mm, mỗi cạnh xác định một điểm, độ chính xác đến 0,1mm, khi tính dùng giá trị bình quân toán học của hai điểm, chính xác đến 0,1mm
Khi chiều dày mẫu thử ≤ 7mm thì đường kính đặt tải và gối đỡ 15±0,5mm Khi chiều dày mẫu thử > 7mm thì đường kính đặt tải và gối đỡ 30
± 0,5mm Chiều rộng bộ phận đặt tải và gối đỡ nên lớn hơn chiều rộng mẫu thử Khoảng cách giữa hai gối đỡ bằng 10 lần chiều dày danh nghĩa ván nhưng không nhỏ hơn 150mm
Giao tuyến giữa mặt trục gia tải và mặt ván phải vuông góc với trục dài mẫu thử Khi xác định, căn cứ vào sự khác nhau giữa hướng trải thảm và bề mặt phải trái mỗi loại xác định ba mẫu Khi xác định tải trọng tăng đều (trong vòng 30– 90 giây mẫu phải bị phá hủy) Ghi tải trọng lớn nhất chính xác 10N
Độ bền uốn tĩnh
xbxt
L P
2
xx3
(N/mm2)(KG/cm2)
Tải trọng
Trang 25Trong đó: P - lực cực đại (N)(KG/cm2); L - khoảng cách giữa 2 gối đỡ (mm)(cm); b - chiều rộng mẫu kiểm tra (mm)(cm); t - chiều dày mẫu kiểm tra (mm)(cm)
Khi tính tìm ra giá trị bình quân của các mẫu thử cường độ bề mặt của ván và công bố giá trị đó
Máy đo Máy đo
Trang 27Một số dụng cụ, thiết bị kiểm tra chất lượng ván dăm được trình bày ở hình 1.4
- Phương pháp: + Mỗi mẫu thử được dán lên tai kéo bằng chất kết dính phù
hợp, keo Epoxy hoặc Phenolic, gạt bỏ keo thừa Khi dán không dùng lực nén lên mẫu thử Mẫu thử đã dán được duy trì ở môi trường có độ ẩm tương đối là (65 ± 5)% và nhiệt độ là (27± 2)oC trong một thời gian đủ để mẫu thử dính chặt với tai kéo mới đem thử (Theo kinh nghiệm thường duy trì trong thời gian 24 giờ đối với keo Epoxy và 72 giờ đối với các loại keo khác) Tiến hành thử nghiệm không quá 1
giờ sau khi lấy mẫu thử ra khỏi môi trường dưỡng hộ như trên
12
mm
Trang 28+ Lắp tai kéo lên bộ gá và đặt tải trọng tăng dần với tốc độ không đổi cho đến khi mẫu bị đứt Tốc độ tăng tải được điều chỉnh sao cho đạt mức cực đại trong thời gian (60 ± 30) giây
+ Đo tải trọng phá hủy: Ghi tải trọng cực đại, chính xác đến 1% Loại bỏ các kết quả từ bất kỳ mẫu thử nào có biểu hiện hư hỏng trên toàn bộ hay một phần mối dán với tai kéo hoặc hư hỏng ở tai kéo Trong trường hợp này phép thử phải được làm lại với mẫu thử mới và ghi vào báo cáo thử nghiệm
Hình 1.5 Thiết bị đo cường độ kéo vuông góc
Trang 291.8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.8.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn nêu ra các vấn đề cốt yếu về lý thuyết nghiên cứu tạo ván dăm
từ các nguồn phế liệu hay với các trang thiết bị và điều kiện sản xuất của Việt Nam Các vấn đề cốt yếu về lý thuyết tạo ván dăm đã được trình bày rõ như:
- Quá trình công nghệ xác định các thông số kích thước dăm vỏ quả Jatropha và dăm gỗ cao su
- Các vấn đề về kỹ thuật khi tạo ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ quả Jatropha, như: sự ảnh hưởng của nhiệt độ ép, thời gian ép, lượng keo đến các chỉ tiêu chất lượng ván dăm
1.8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tạo ván dăm từ các nguồn phế liệu hoặc từ hỗn hơ ̣p vỏ quả Jatropha và dăm gỗ là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn lớn Những kết quả nghiên cứu và kết luận của luận án hoàn toàn có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất ván dăm của Việt Nam Điều này chẳng những giúp cho ván dăm của Việt Nam nâng cao chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm và mở ra hướng
sự dụng vật liệu mới
Trang 30Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Công nghệ sản xuất ván dăm
2.1.1 Nguyên lý hình thành ván dăm
Ván dăm là loại ván nhân tạo được tạo bởi sự liên kết các dăm gỗ lại với nhau nhờ keo dán và các chất phụ gia trong điều kiện áp suất, nhiệt độ và thời gian nhất định
Quá trình sản xuất ván dăm được khái quát như sau:
Từ nguyên liệu gỗ (cành ngọn, bìa bắp ) qua khâu băm dăm để tạo nên dải dăm gỗ, có kích thước chiều dầy và chiều rộng nhất định Sau đó, dăm được chuyển qua khâu nghiền dăm và phân loại để tạo ra kích thước cuối cùng của dăm, đảm bảo các yêu cầu công nghệ Tiếp theo, dăm được chuyển qua khâu sấy để tạo độ ẩm theo yêu cầu công nghệ Sau đó, dăm được chuyển sang quá trình chộn keo, đảm bảo lượng keo và độ đồng đều cho các phần tử dăm Sau khi trộn keo, dăm được chuyển qua bộ phận rải dăm để tạo nên kết cấu của ván Cuối cùng, qua khâu ép, với nhiệt độ và áp suất ép nhất định phù hợp với loại keo và yêu cầu công nghệ, ta sẽ có được sản phẩm ván dăm Trong công nghệ sản xuất ván dăm, dựa vào nguyên lý ép dăm để tạo ván, người ta phân ra hai phương pháp sản xuất dăm chủ yếu sau:
- Phương pháp ép bằng là: dăm nằm song song với bề mặt ván và dăm liên kết nhờ lực ép tác dụng vuông góc với bề mặt ván
- Phương pháp ép đẩy là: dăm sắp xếp vuông góc với bề mặt ván và dăm liên kết nhờ lực ép tác dụng song song với bề mặt ván
Trong sản xuất ván dăm theo phương pháp ép bằng có nhiều phương pháp, ở đây ta tiến hành tìm hiểu công nghệ sản xuất ván dăm theo phương pháp ép bằng với loại ván dăm ba lớp, thiết bị là máy ép nhiều tầng Dây chuyền công nghệ được chia ra các công đoạn sau đây:
Trang 31- Xử lý nguyên liệu: Nguồn nguyên liệu cung cấp cho sản xuất ván dăm rất đa dạng, do vậy trước khi gia công cần phải tiến hành xử lý bao gồm: phân loại, bóc vỏ, xử lý tạp chất, xử lý độ ẩm, xử lý độ cứng cho thích hợp với công nghệ tạo dăm Độ ẩm thích hợp của nguyên liệu cho khâu tạo dăm khoảng 40 - 60 % [4] Thiết bị cho khâu xử lý bao gồm: máy cắt khúc, máy bóc vỏ, máy phun rửa, bể ngâm, bể hấp v.v
- Tạo dăm: Đối với sản phẩm ván dăm 3 lớp tốt nhất là dăm lớp lõi và dăm lớp mặt được sản xuất tách biệt Các công đoạn gia công như sau:
Nguyên liệu được đưa vào máy băm dăm để tạo thành những dải dăm và được đưa đến thùng chứa dăm ướt Từ thùng chứa dải dăm sẽ được đưa vào máy nghiền dăm ở đây dải dăm sẽ được nghiền thành dăm có kích thước theo yêu cầu công nghệ Các yêu cầu công nghệ của dăm như sau:
Đảm bảo dạng hình học và kích thước, chủ yếu là kích thước chiều dài
và chiều dầy dăm Đối với dăm lớp mặt chiều dầy từ: 0,15 - 0,3 mm, độ thon
từ 100 - 200 Đối với dăm lớp lõi chiều dầy từ: 0,4- 0,7 mm, độ thon từ 60-
100 Bề mặt dăm phải phẳng nhẵn Dăm phải đồng đều về kích thước và tính chất cơ lý Đảm bảo được tỷ suất dăm và tỷ suất dăm công nghệ
- Sấy dăm: Dăm từ máy nghiền được hệ thống vận chuyển bằng sức gió đưa vào máy sấy kiểu trống Dăm sau khi đã sấy phải đảm bảo ít vỡ vụn, ít nứt nẻ, độ ẩm lớp mặt từ 3 - 4%, lớp lõi từ 1 - 2% [4]
- Sàng tuyển dăm: Dăm sau khi đã sấy khô được hệ thống vận chuyển bằng sức gió đưa vào máy sàng rung Tại đây sẽ loại bỏ các phần tử dăm không đạt quy cách Sau đó dăm được chuyển tới thùng chứa dăm khô
- Trộn keo và chất phụ gia: Dăm từ thùng chứa dăm khô qua một chiếc cân điều tiết lượng dăm và đưa vào máy trộn keo Tại đây đồng thời tiến hành phun keo qua hệ thống ống, vòi phun keo được dẫn từ thiết bị pha chế keo và dăm được trộn quấy đều
Trang 32Keo thông thường sử dụng là: keo U-F, keo P-F, keo M-F Lượng keo dùng tính theo tỷ lệ giữa hàm lượng keo khô và khối lượng dăm khô là: dăm lớp mặt từ 9.5 – 15.5%, dăm lớp mặt từ 6.5 – 11.5% [5] Các chất phụ gia thông thường được trộn cùng với keo và cùng được phun vào dăm
Yêu cầu với công đoạn này là phải kiểm soát chặt chẽ lượng keo và lượng dăm đưa vào, đảm bảo đủ lượng keo và trộn đều các phần tử dăm
- Trải thảm dăm: Dăm sau khi trộn keo nhờ hệ thống băng chuyền đưa đến máy rải dăm để định hình và kết cấu Tại máy rải dăm, dăm sẽ được rải lên tấm đệm, những tấm đệm này được vận chuyển thành một chu kỳ khép kín trên băng chuyền vận chuyển Với loại ván dăm 3 lớp người ta bố trí các máy rải dăm nối tiếp nhau Máy rải dăm số 1 sẽ rải dăm lớp mặt dưới, máy rải dăm số 2 sẽ rải dăm lớp giữa, máy rải dăm số 3 sẽ rải dăm lớp mặt trên
Yêu cầu trải thảm dăm là ván dăm phải đồng đều trên toàn bộ bề mặt, các lớp dăm phải có chiều dầy đồng đều về tỷ lệ cấu trúc giữa các lớp
- Ép sơ bộ: Chiều dày thảm dăm phụ thuộc vào kích thước và hình dạng của dăm, loại nguyên liệu sản xuất dăm, khối lượng thể tích của sản phẩm Với sản phẩm có khối lượng thể tích trung bình 0.6 – 0.7kg/m3, chiều dày của thảm dăm có thể bằng bội số 3 - 20 lần chiều dày của ván Ép thảm dăm dày, đòi hỏi khoảng cách giữa các tấm gia nhiệt của máy ép phải đủ lớn Điều này liên quan đến chiều cao của máy, bơm áp lực, xi lanh thuỷ lực … dẫn đến tăng giá thành của máy ép Trong khi đó, máy ép nhiệt chiếm từ 25 - 50% giá thành của dây chuyền công nghệ sản xuất ván dăm
Trong quá trình vận chuyển trong xưởng, vùng biên của thảm dăm dày, xốp sẽ rơi xuống làm tăng thêm hao phí khi cắt cạnh bên của sản phẩm Những dăm nhẹ, nhỏ sẽ rơi xuống bên dưới thảm qua lỗ hổng giữ các phần tử dăm Kết quả là lớp trên của thảm có nhiều dăm thô, còn lớp dưới nhiều dăm
Trang 33nhỏ mịn Những khuyết điểm trên sẽ bị loại bỏ khi thực hiện ép sơ bộ, nghĩa
là nén cho các dăm sít lại
- Ép nhiệt: Bánh dăm sau khi định hình được ép sơ bộ trong máy ép một tầng Áp suất ép tuỳ thuộc vào loại gỗ, khối lượng riêng của ván, phụ thuộc vào công nghệ Sau đó được chuyển đến máy ép nhiệt Máy ép nhiệt thường
là máy ép nhiều tầng Thảm dăm được xếp vào trong các khoang của máy ép nhiệt, được tiến hành ép với chế độ nhiệt, thời gian và áp suất nhất định Chế
độ ép phụ thuộc vào bề dầy và khối lượng riêng của ván, loại keo, loại gỗ, hình dạng và độ ẩm dăm
2.1.2 Yêu cầu nguyên liệu trong sản xuất ván dăm
2.1.2.1 Nguyên liệu gỗ
Nguyên liệu gỗ để sản xuất ván dăm có các yêu cầu sau:
- Khối lượng thể tích lớp lõi ván dăm phải lớn hơn khối lượng thể tích gỗ
từ 1.2 -1.3 Khối lượng thể tích lớp mặt lớn hơn 1.5 lần khối lượng thể tích
gỗ Chính vì vậy các loại gỗ có khối lượng thể tích từ 0.4 -0.6 g/cm3 được dùng làm nguyên liệu cho công nghệ sản xuất ván dăm
- Đường kính của gỗ khi khai thác là 8 -20 cm, đượng kính lớn khoảng
25 - 30cm; hàm lượng xenlolô >30%; độ ẩm gỗ khi băm dăm 40 -60%
- Lượng gỗ mục và vỏ trong ván dăm không được vượt quá 10% (so với lượng dăm khô kiệt)
- Các loại gỗ không chứa các chất chiết suất có hại cho khả năng liên kết của keo dán Các loại gỗ được dùng có độ pH= 5-6
2.1.2.2 Dăm công nghệ
Dăm dùng cho sản xuất ván dăm có những yêu cầu sau: Chiều dày dăm
mặt 0.2 - 0.3 mm, chiều dày dăm lõi 0.4 - 0.7mm, chiều dài dăm mặt tốt nhất 20mm, chiều dài dăm lõi tốt nhất 40mm, độ thon 60 -120 (tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng); bề mặt dăm phải nhẵn phẳng, dăm phải có hình dạng nhất
Trang 34định Dăm phải có độ ẩm sau khi sấy là 2-4% cho lớp mặt và 1- 3% cho lớp lõi Lượng bụi và dăm quá nhỏ trong dăm không được vượt quá 10%
Chiều dày ván dăm thông thường có thể từ 12mm đến 25mm, với độ phân cấp 1 mm Nhưng tùy theo yêu cầu sử dụng để sản xuất ván có chiều dày tới 180mm hoặc mỏng 6mm Chiều dày của ván quyết định đến khoảng cách khe hở giữa hai tấm gia nhiệt của máy, do đó ảnh hưởng đến chiều cao của máy Ván dăm thường có độ sai lệch về chiều dày trên một tấm ván , vì vậy cần lưu ý để không hụt chiều dày sau khi đánh nhẵn
Chiều dài và chiều rộng của ván xác định kích thước của máy ép Máy
ép thủy lực một tầng, nhiều tầng ép theo chu kỳ có chiều dài và chiều rộng theo quy cách xác định của sản phẩm Trên máy ép đùn chiều dài sản phẩm không hạn chế Điều này làm cho hao hụt do cắt cạnh được hạn chế
Quy cách về chiều dài và chiều rộng : ván dăm thông thường là chiều dài x chiều rộng = 1220mm x 2440mm Nhưng tùy vào mục dích sử dụng, mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn cụ thể về quy cách của ván
Để sản xuất ván dăm người ta có thể sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu
và tận dụng từ các ngành sản xuất khác:
Các loại cây nông nghiệp như: rơm, rạ, vỏ trấu, bã mía, sơ dừa v.v Các phế liệu từ công nghiệp gỗ dán như lõi gỗ bóc, mảnh ván vụn v.v Các phế liệu từ xưởng cưa xẻ gỗ như mùn cưa, phoi bào, đầu mẩu gỗ, bìa bắp,
Các phế liệu từ các ngành công nghiệp khác như chế biến tre nứa, sản xuất bút chì, diêm, đũa,
Gỗ tròn có kích thước nhỏ có đường kính từ 4 cm trở lên từ các khâu khai thác như: cành, ngọn, rễ cây, gỗ tỉa thưa,
Trang 35Các nguyên liệu khác nhau có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất Chúng yêu về công nghệ, thiết bị phù hợp, do vậy việc lựa chọn nguyên liệu
để sản xuất phải căn cứ vào điều kiện thực tế
Hiện nay, ở Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới, người ta tăng cường sử dụng các nguồn nguyên liệu từ phế thải của nông nghiệp như bã mía, vỏ quả dừa, vỏ quả bông… Để sử dụng các loại nguyên liệu này đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các đặc tính của nguyên liệu từ đó bố trí dây chuyên công nghệ phù hợp
Các nguồn nguyên liệu tận dụng từ xưởng chế biến cũng được tăng cường sử dụng Mùn cưa được nghiên cứu đưa vào trong ván dăm với tỷ lệ thích hợp, được nghiền nhỏ để trộn vào dăm lớp mặt, nếu tỷ lệ này quá lớn sẽ làm giảm tính chất cơ lý của ván Phoi bào chiếm tỷ trọng không lớn lắm, nhưng nó dễ tạo ra được kích thước dăm phù hợp Các dạng nguyên liệu từ đầu mẩu gỗ, bìa bắp sử dụng tốt cho nguyên liệu ván dăm Song đối với dạng nguyên liệu này cần phải phân loại kỹ trước khi tạo dăm và yêu cầu dây chuyền công nghệ phù hợp Các loại phế liệu từ tre cũng được sử dụng để tạo dăm, loại dăm này thường được sử dụng ở dạng hỗn hợp, được trộn thêm dăm
gỗ để nâng cao chất lượng ván
Đối với nguồn nguyên liệu từ gỗ củi, gỗ nhỏ, theo quy định của ngành Lâm nghiệp có đường kính không quá 25 cm Dạng nguyên liệu này thường chứa tỷ lệ vỏ lớn, tỷ lệ mắt lớn, vì vậy trong quy trình công nghệ phải loại bớt
vỏ, đảm bảo tỷ lệ cho phép
2.1.2.3 Keo dán
Keo là các hợp chất hoá học có khả năng kết dính các phần tử dăm gỗ lại với nhau dưới điều kiện tác động của nhiệt và áp lực Keo thông thường sử dụng là: keo Urea – Formaldehyde (U-F), keo Phenol – Formaldehyde (P-F), keo Melamine - Formaldehyde (M-F) Đây là 3 loại keo chủ yếu, các loại keo
Trang 36này có các ưu nhược điểm riêng như:
Keo U-F có cường độ dán dính cao, có mầu sáng, khả năng chịu nước tốt, giá thành hạ, sản xuất đơn giản, nhược điểm dễ lão hóa Keo P-F có cường độ dán dính cao, khả năng chịu nước rất tốt, chịu nhiệt, sản xuất đơn giản, nhược điểm có mầu sẫm, độc hại Keo M-F có cường độ dán dính cao,
có mầu sáng, khả năng chịu nước tốt, có khả năng đóng rắn ở nhiệt độ thấp, chịu được mài mòn, nhược điểm có tính giòn giá thành cao
Phụ gia chống cháy: Ván dăm được sản xuất từ gỗ nên dễ cháy, để hạn chế khả năng cháy của ván dăm, người ta cho các chất phụ gia chống cháy vào trong ván Yêu cầu của chất phụ gia là: có khả năng chống cháy, ổn định hoá học, không độc, không ảnh hưởng đến cường độ ván
Phụ gia chống nấm và sinh vật hại gỗ: Ván dăm thường hay bị các loài nấm, sâu, mọt phá hoại, vì vậy cần thiết phải cho thuốc bảo quản vào trong ván Thuốc bảo quản phải độc với sinh vật nhưng không độc với người và gia súc, có tính ổn định cao, không ảnh hưởng đến khả năng dán dính, không ảnh hưởng đến cường độ của ván
Trang 372.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng ván dăm
Chất lượng ván dăm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, từ nguyên liệu đến công nghệ như đã trình bày ở trên Tổng quát lại ta có thể chia thành ba yếu tố chính là:
- Các yếu tố thuộc về nguyên liệu tạo dăm
- Các yếu tố thuộc về chất kết dính và nguyên liệu phụ gia khác
- Các yếu tố thuộc về công nghệ thiết bị
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đi sâu phần ảnh hưởng của tính chất công nghệ, của nguyên liệu
2.1.3.1 Nguyên liệu gỗ
Nguyên liệu gỗ tạo dăm rất đa dạng và phong phú, vì vậy tuỳ từng loại nguyên liệu mà ta có các loại ván dăm có chất lượng khác nhau, các dạng nguyên liệu ảnh hưởng đên ván dăm như sau:
- Loại gỗ và cấu tạo gỗ: Loại gỗ khác nhau, cấu tạo gỗ khác nhau sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ván Các loại gỗ nhẹ, mềm, dai thớ sẽ tăng khả năng tiếp xúc và liên kết trong quá trình ép ván Gỗ có thân tgiòn đều, cấu tạo thẳng thớ sẽ tạo ra dăm có chất lượng tốt, nâng cao được tỷ suất dăm Gỗ có cấu tạo không đồng đều, thân cong, nghiêng thớ, chéo thớ sẽ tạo ra dăm gẫy vụn, tỷ suất dăm thấp Vì vậy, nguyên liệu để sản xuất ván dăm thì gỗ cây lá kim tốt hơn gỗ cây lá rộng, gỗ mềm nhẹ tốt hơn gỗ cứng nặng
- Tỷ trọng và độ cứng gỗ Khối lượng thể tích gỗ thường tỷ lệ với độ cứng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình băm dăm và kết cấu của ván Độ cứng gỗ tăng sẽ làm tăng lực khi băm dăm, tăng tỷ lệ dăm vụn, mặt khác làm tăng độ cứng của dăm, giảm diện tích tiếp xúc khi ép nên giảm chất lượng ván Khối lượng thể tích tăng cũng làm tăng độ co giãn, nhưng lại giảm khả năng hút ẩm của ván Khối lượng thể tích gỗ phù hợp cho sản xuất ván dăm
Trang 38là: = 0,4 - 0,6 (cm3) Khi khối lượng thể tích nguyên liệu tăng thì dăm có xu hướng giảm chiều dầy, sử dụng hỗn hợp với dăm có khối lượng thể tích nhỏ
- Gỗ giác, gỗ lõi Gỗ giác thường mền dẻo hơn nên phù hợp với công nghệ ván dăm, nhưng tính chất cơ lý, độ bền tự nhiên kém hơn Gỗ lõi thường cứng và giòn hơn nên làm giảm chất lượng và tỷ suất dăm Phần giữa của gỗ lõi thường có phần gỗ già, phần này rất giòn do vậy làm giảm tính chất của ván Đối với gỗ có giác, lõi phân biệt rõ rệt sẽ gây nên sự chênh lệch tính chất của các phần tử dăm, sẽ làm giảm tính chất ván dăm
- Tỷ lệ vỏ trong ván sẽ làm giảm ứng suất của ván Với tỷ lệ vỏ chiếm trong dăm từ 10-12 % thì ứng suất của ván dăm một lớp giảm đi từ 9 - 16 %, ván dăm ba lớp giảm từ 5-10 % [4] Khi trộn vỏ vào dăm lớp mặt sẽ làm cho
bề mặt của ván sấu đi rất nhiều, sẽ có những vết mầu sẫm của vỏ Do vậy, lượng vỏ trong ván càng it càng tốt, đối với ván không yêu cầu chất lượng cao cho phép lượng vỏ là 10-12 %
- Tỷ lệ mắt gỗ: Mắt gỗ là dấu vết của cành nhánh để lại trên thân cây, vì vậy gỗ có mắt là điều tất nhiên, song mắt gỗ có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ suất dăm Mắt gỗ có nhiều loại như mắt sống, mắt chết, mắt mục do vậy cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ suất và chất lượng dăm Mắt gỗ thường suất phát từ tâm
ra ngoài, nằm ngang chiều thân cây, vì vậy khi băm dăm thì phần này sẽ bị băm ngang thớ và trở thành bụi gỗ Tại các vị trí mắt, phần gỗ xung quanh bị nghiêng thớ, xoắn thớ và có độ cứng cao hơn chỗ bình thường Nên, khi băm dăm xẩy ra hiên tượng đứt ngang thớ gỗ dẫn đến tỷ lệ dăm vụn tăng Mặt khác, trong quá trình băm dăm, khi gặp mắt gỗ thì chiều thớ và độ cứng thay đổi đột ngột, dễ gây ra hỏng dao cắt
- Độ ẩm nguyên liệu ảnh hưởng đến quá trình băm dăm, sấy dăm Nếu
độ ẩm của nguyên liệu quá thấp, khi băm dăm nguyên liệu giòn sẽ tạo ra dăm vụn nhiều, giảm tỷ suất dăm Nếu độ ẩm của nguyên liệu quá cao, sẽ kéo dài
Trang 39thời gian sấy dăm gây ra nứt vỡ giảm chất lượng dăm Theo các tài liệu tham khảo [4], [5] thì độ ẩm nguyên liệu thích hợp là: 40 - 60 %
- Tuổi cây gỗ cũng ảnh hưởng đến chất lượng ván dăm Trong quá trình sinh trưởng của cây, các tế bào gỗ cũng được phát sinh và phát triển Vách tế bào dầy thêm, độ cứng độ giòn tăng lên, tỷ trọng thay đổi, đến một tuổi nhất định thì tế bào trở thành gỗ lõi Đây là một quá trình biến đổi hoá lý phức tạp, đồng thời các chất mầu, tinh dầu, chất chát ngấm vào tế bào, làm cho tế bào
có mầu sẫm Thành phần chủ yếu tạo nên vách tế bào là Xenlulô và linhin, cũng thay đổi theo tuổi cây Vì vậy, với cây non thì độ cứng, độ bền của dăm thấp Với cây già thì độ cứng, độ bền của dăm cao song dăm bị giòn và ở lõi
gỗ xuất hiện phần gỗ già mền, xốp không có lợi cho chất lượng ván dăm ở tuổi thành thục thì cho tỷ suất và chất lượng dăm cao nhất
- Đường kính cây gỗ, nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình băm dăm, nó bị giới hạn bởi thông số kỹ thuật máy băm dăm Đường kính nguyên liệu quá nhỏ sẽ làm tăng tỷ lệ dăm không đạt quy cách, gây khó khăn cho quá trình tạo dăm Đường kính nguyên liệu càng lớn (nằm trong giới hạn cho phép của máy băm dăm) thì tỷ suất dăm càng cao
- Độ pH của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đóng rắn của keo Độ pH quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến chất lượng của ván Thông thường độ pH của gỗ vào khoảng 6,0 - 6,5 là thích hợp, nếu
độ pH nằm ngoài khoảng thích hợp thì cần phải điều chỉnh lượng chất đóng rắn cho phù hợp
- Độ thoát ẩm nguyên liệu, hút ẩm của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến công nghệ sản xuất dăm, quá trình thoát ẩm quy định chế độ sấy, tốc độ hút ẩm ảnh hưởng đến dăm sau sấy Mặt khác, độ hút ẩm của dăm ảnh hưởng đến độ hút ẩm của ván dăm
Trang 40- Độ bám dính keo của nguyên liệu ảnh hưởng rất lớn đến các tính chất của ván dăm, độ bám dính keo tốt thì chất lượng ván cao Đối với dạng nguyên liệu có nhiều chất dầu, nhựa sẽ cản trở đến khả năng bán dính của keo, vì vậy cần được xử lý trước khi trộn keo
2.1.3.2 Dăm
Dăm gỗ có kích thước lớn theo chiều rộng và chiều dài dạng thon mảnh
có quy cách (dài x rộng x dày) = (60 – 90) x (5 – 12) x (0.3 – 0.6) mm
Dăm gỗ kích thước lớn có dạng gần hình vuông có quy cách: (35 x 35) hoặc (40 x 40) x (0,4 – 0,8) mm
Ván dăm sản xuất từ những dăm gỗ có kích thước lớn hơn dăm gỗ thông thường, có các tính chất cơ lý cao
- Ảnh hưởng của tỷ suất dăm công nghệ: Tỷ suất dăm công nghệ cao hay thấp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của ván dăm Nếu tỷ lệ dăm vụn quá nhiều sẽ làm tăng diện tích bề mặt và gây ra hiên tượng thiếu keo Nếu tỷ lệ dăm quá thô sẽ làm giảm diện tích bề mặt tiếp xúc giữa các phần tử dăm làm giảm khả năng bám dính, mặt khác làm giảm chất lượng bề mặt ván Vì vậy,
tỷ lệ các thành phần dăm phải đảm bảo đúng yêu cầu công nghệ
- Độ ẩm dăm trước khi trộn keo mà quá thấp sẽ dẫn đến keo bị hút mạnh vào các lỗ mạch gây nên hiện tượng thiếu keo, làm giảm tính chất cơ lý của ván Nếu độ ẩm dăm trước khi trộn keo mà quá cao sẽ làm tăng độ ẩm của bánh dăm, làm giảm độ bám dính của keo, dễ gây nổ ván khi ép, giảm tính chất cơ lý của ván Do vậy, cần đảm bảo nghiêm ngặt độ ẩm của bánh dăm trong một giới hạn nhất định, độ ẩm tổng thể của ván dăm không vượt quá 13- 15%
2.1.3.3 Keo dán
Keo là nguyên liệu để kết dính các phần tử dăm trong kết cấu ván dăm Loại keo khác nhau sẽ tạo ra tính chất, chất lượng ván khác nhau Vì vậy, tuỳ