1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình

125 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng việc thực hiện các giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo Luật quản lý thuế hiện hành của Chi cục thuế Nho Quan .... Định hướng thực hiện việc nâng

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được

cám ơn và các thông tin trích dẫn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Ninh Bình, ngày 20 tháng 3 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Minh Thành

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phúc Thọ người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau đại học trường Đại học Lâm Nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và công chức Chi cục thuế huyện Nho Quan, Cục thuế Ninh Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình, Phòng TCKH huyện Nho Quan, các phòng thuộc Cục thuế tỉnh Ninh Bình, các doanh nghiệp và

hộ kinh doanh thuộc huyện Nho Quan đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cung cấp những thông tin cần thiết để tôi nghiên cứu và thực hiện luận văn

Qua đây, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích

lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn !

Ninh Bình, ngày 20 tháng 3 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Minh Thành

Trang 3

iii

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ VÀ TÍNH TUÂN THỦ PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ 4

1.1 Những vấn đề chung về thuế 4

1.1.1 Khái niệm thuế 4

1.1.2 Đặc điểm của thuế 4

1.1.3 Chức năng của thuế 6

1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế 8

1.2 Người nộp thuế và tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 10

1.2.1 Người nộp thuế 10

1.2.2 Tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 11

1.2.3 Các nhân tố tác động đến tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế 16

1.3 Kinh nghiệm một số nước trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 21

1.3.1 Kinh nghiệm của Cơ quan thu nội địa Vương quốc Anh 21

1.3.2 Kinh nghiệm của Cục thu nội địa Singapo (IRAS) 23

1.3.3 Kinh nghiệm của các quốc gia trong hiệp hội nghiên cứu và quản lý thuế châu Á (SGATAR) 23

1.3.4 Một số kinh nghiệm khác 24

1.4 Thực tiễn về công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong thời gian qua 26

1.4.1 Những thành tựu của công tác quản lý thuế 26

Trang 4

iv

1.4.2 Những hạn chế, yếu kém của công tác quản lý thuế 27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 29

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

29

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 29

2.1.3 Đặc điểm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn 30

2.2 Đặc điểm của Chi cục thuế huyện Nho Quan 32

2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 32

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 33

2.2.3 Lao động 34

2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị 35

2.2.5 Kết quả hoạt động 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 39

2.3.1 Thu thập tài liệu 39

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu: 41

2.3.3 Phương pháp phân tích 41

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 46

3.1 Thực trạng việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo Luật quản lý thuế hiện hành ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 46

3.1.1 Thực trạng việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 46

3.1.2 Các nhân tố tác động đến tính tuân thủ của người nộp thuế 63

3.2 Thực trạng việc thực hiện các giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo Luật quản lý thuế hiện hành của Chi cục thuế Nho Quan 69

3.2.1 Thực trạng các giải pháp đã thực hiện của Chi cục thuế Nho Quan nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 69

3.2.2 Những nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện các giải pháp của Chi cục thuế huyện Nho Quan 87

Trang 5

v

3.3 Định hướng và các giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo Luật Quản lý thuế hiện nay ở huyện Nho Quan 92 3.3.1 Định hướng thực hiện việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo Luật Quản lý thuế hiện nay ở huyện Nho Quan 92 3.3.2 Giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế ở huyện Nho Quan theo Luật Quản lý thuế hiện nay 94 KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCTC Ứng dụng Báo cáo tài chính doanh nghiệp

CNTT Công nghệ thông tin

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

GTGT Giá trị gia tăng

HTKK Ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế bằng mã vạch

IRAS Cục thu nội địa Singapo

KIOSK Ứng dụng tra cứu thông tin thuế

NNT Ứng dụng Nhận tờ khai mã vạch

NSNN Ngân sách Nhà nước

NTK Người nộp thuế

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

QHS Ứng dụng Trao đổi số thu Kho bạc - Thuế

QLT_TKN Ứng dụng Nhận trả hồ sơ thuế theo cơ chế “Một cửa”

QTN Ứng dụng Quản lý thuế doanh nghiệp

TDTT Ứng dụng Quản lý thu nợ

TINC Ứng dụng Đăng ký thuế

TINCC_TT Ứng dụng Đăng ký thuế hộ cá thể

TK-TN Tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật TNCN Thu nhập doanh nghiệp

TNDN Thu nhập cá nhân

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TTR Ứng dụng Hỗ trợ thanh tra, kiểm tra

Trang 7

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quản lý thuế 37

3.1 Số lượng người nộp thuế ở Nho Quan (2010-2013) 46 3.2 Tình hình tuân thủ đăng ký thuế (2011-2013) 48 3.3 Tình hình tuân thủ đăng ký thay đổi thông tin (2011-2013) 50

3.6 Tình hình nợ thuế thời điểm 31/12 hàng năm 55

3.8 Số thuế truy thu bình quân đối với doanh nghiệp 59 3.9 Tỷ lệ truy thu bình quân đối với doanh nghiệp 60 3.10 Kết quả kiểm tra thuế đối với hộ kinh doanh 61

3.12 Kết quả trả lời nhận thức về thuế và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật thuế 65 3.13 Tỷ lệ người nộp thuế tham gia tập huấn về thuế 67 3.14 Nhận thức của người nộp thuế về tuân thủ pháp luật thuế 68

3.18 Kết quả kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 76 3.19 Số cuộc thanh tra, kiểm tra có thuế truy thu 78 3.20 Tình hình xử lý vi phạm về đăng ký, khai thuế 80 3.21 Tình hình xử lý vi phạm qua thanh tra, kiểm tra 82

3.23 Các biện pháp đôn đốc thu nợ đã áp dụng 86

Trang 8

2.4 Đồ thị kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách (2009 - 2013) 38 3.1 Đồ thị tỷ trọng các khoản nợ thuế theo tuổi nợ 56

Trang 9

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Ở nước ta, Luật thuế do Quốc hội ban hành và được đảm bảo thực hiện thông qua các biện pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước Luật quản lý thuế hiện hành đã góp phần làm minh bạch thêm công tác quản lý thuế ở Việt Nam Nhìn chung, pháp luật thuế của nước ta nhận được sự đồng thuận của đa số quần chúng nhân dân và được đông đảo người dân nghiêm chỉnh thực hiện

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số người nộp thuế (NNT) chưa chấp hành tốt pháp luật về thuế như: Kinh doanh nhưng không tiến hành thủ tục đăng ký thuế; Không nộp hoặc nộp không đúng hạn hồ sơ khai thuế, nộp không đủ các thông tin cần thiết liên quan đến thuế; Báo cáo các thông tin không đầy đủ và chính xác; Không nộp hoặc nộp không đúng hạn tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước (NSNN);

Cố tình trốn thuế, gian lận thuế Tình trạng trên hiện đang diễn ra khá phổ biến

Những năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình vẫn giữ được ổn định với mức tăng trưởng bình quân trên 10% Sự tăng trưởng kinh tế, cùng với ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế ngày càng cao nên đóng góp vào NSNN ngày càng nhiều, năm sau có tốc độ tăng cao hơn năm trước Nhờ tăng trưởng về thu ngân sách

mà tỉnh có thêm nguồn vốn để chi cho đầu tư phát triển và giải quyết nhiều vấn đề

về giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, dịch bệnh Nhưng bên cạnh đó cũng còn một bộ phận doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh chưa chấp hành tốt các quy định về đăng ký thuế, kê khai thuế, chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước Đặc biệt có trường hợp cố tình vi phạm pháp luật để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước, trốn thuế, thể hiện tính tuân thủ pháp luật thấp

Trang 10

2

Tình trạng này đã gây ra nhiều tác động tiêu cực như làm mất kỷ cương, phép nước; gây thất thu cho ngân sách nhà nước; làm mất bình đẳng trong cạnh tranh và hoạt động kinh doanh; ảnh hưởng tới vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua công cụ thuế, Vậy mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế ra sao? Những nguyên nhân nào liên quan đến hành vi không tuân thủ pháp luật thuế của họ? Cần thực hiện những giải pháp gì để nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế? Đó là những câu hỏi đặt ra cần nghiên cứu trong công tác quản lý thuế ở Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình hiện nay

Để góp phần trả lời những câu hỏi trên đây, học viên tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật Quản lý thuế ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế theo Luật Quản lý thuế ở Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật Quản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Luật quản lý thuế hiện hành và các nhân tố liên quan đến việc tuân thủ theo luật Quản lý thuế như người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, chính sách thuế

Trang 11

3

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu tính tuân thủ pháp luật của người nộp

thuế tập trung vào hai sắc thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Các nhân tố chủ yếu liên quan đến việc tuân thủ pháp luật thuế như người nộp thuế (chỉ nghiên cứu trong phạm vi là các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể), quản lý của cơ quan thuế và nội dung cơ bản của các Luật thuế GTGT và thuế TNDN; Các giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế hiện nay

Về không gian: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn huyện Nho Quan,

tỉnh Ninh Bình

Về thời gian: Số liệu được công bố và thu thập trong 3 năm từ năm 2011 đến

năm 2013 ( Khi đã thực hiện Luật Quản lý thuế)

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về thuế và tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật Quản lý thuế ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

- Thực trạng về việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật Quản lý thuế ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

- Giải pháp đề xuất nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật Quản lý thuế áp dụng trong hoàn cảnh thực tế ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Trang 12

4

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ

VÀ TÍNH TUÂN THỦ PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

1.1 Những vấn đề chung về thuế

1.1.1 Khái niệm thuế

Lịch sử phát triển cả xã hội loài người đã chứng minh thuế ra đời là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế Mặc dù còn nhiều khái niệm khác nhau nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì khái niệm về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa

Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;

Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách

khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước;

Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản đã

được pháp luật quy định

Từ những nội dung trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:

Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

1.1.2 Đặc điểm của thuế

1.1.2.1 Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền

Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền

Trang 13

5

kinh tế phi thị trường Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền

đã làm cho thuế phát triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền

đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế

Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi trong hệ thống chính sách thuế đương đại

1.1.2.2 Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành

Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho NSNN khác

1.1.2.3 Thuế luôn gắn liền với thu nhập

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

1.1.2.4 Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng

Tính chất này được thể hiện trên các khía cạnh:

Trang 14

6

Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối

giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế (NNT) thừa hưởng những dịch vụ

và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước

Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực

tiếp cho NNT Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà NNT được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả

Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bó hẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy nhà nước Trên thực tế, nhà nước hiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá và tất yếu các hoạt động này cũng chỉ được chi trả bằng thuế

1.1.3 Chức năng của thuế

1.1.3.1 Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập

Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước, trong tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế

Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm

xã hội và thu nhập quốc dân Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế

Trang 15

7

Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế

1.1.3.2 Chức năng điều tiết

Điều tiết kinh tế: Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã

hội bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Trong đó thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bằng việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thuế suất thấp, có chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế Thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ

Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh tế trong cả nước Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động vào hoạt động xuất nhập khẩu nhằm thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế

Điều tiết tiêu dùng: Nhà nước hướng dẫn tiêu dùng có thể bằng nhiều biện

pháp kể cả hành chính, xã hội và kinh tế Tuy nhiên, giải pháp hữu hiệu nhất có thể

áp dụng trong một đất nước cởi mở, dân chủ theo nền kinh tế thị trường là áp dụng chính sách thuế Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ làm giảm cầu với những hàng hoá, dịch vụ mà nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi Điều cần chú ý là tránh phân biệt đối xử với hàng hoá, dịch vụ trong và ngoài nước kể cả trên việc áp dụng thuế suất nhập khẩu hay thuế nội địa, vì việc này vi phạm các cam kết quốc tế khi

đã tham gia hội nhập

Trang 16

8

Điều tiết xã hội: Sự phân hoá giàu nghèo trong một nền kinh tế hội nhập sẽ

có nguy cơ diễn ra cao hơn, sự phân hoá này về lâu dài vẫn duy trì và mở rộng, cho

dù thu nhập tuyệt đối của toàn xã hội được nâng cao Đây chính là động lực để người lao động cải thiện kỹ năng và nâng cao trình độ tay nghề, nhưng cũng chính

là nguyên nhân tạo ra những hố ngăn cách xã hội Thực hiện chính sách công bằng theo quan điểm cào bằng sẽ làm triệt tiêu động lực làm việc của người lao động, ngược lại sẽ làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước Trong bối cảnh đó, thuế, đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hoá giàu nghèo

1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế

1.1.4.1 Tên gọi của sắc thuế

Mỗi sắc thuế đều có một tên gọi nhằm phân biệt giữa các hình thức thuế khác nhau, đồng thời phản ánh những tính chất chung nhất của hình thức thuế đó Trong nhiều trường hợp, tên gọi của sắc thuế đã hàm chứa nội dung, mục đích và phạm vi điều chỉnh của sắc thuế đó

1.1.4.2 Đối tượng nộp thuế

Trong một luật thuế bao giờ cũng quy định cụ thể ai phải nộp thuế, và người

đó được gọi là đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế có thể là thể nhân hoặc pháp nhân mà được pháp luật xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho cho Nhà nước Người có trách nhiệm trả thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế Trong nhiều trường hợp người có trách nhiệm trả thuế cũng chính là người chịu thuế

1.1.4.3 Đối tượng chịu thuế

Khách thể chịu sự điều chỉnh của một sắc thuế chính là đối tượng được đưa

ra để đánh thuế Nói một cách khác, khách thể của một sắc thuế chính là cơ sở tính thuế hay đối tượng chịu thuế

Cần phân biệt giữa đối tượng chịu thuế và đối tượng bị đánh thuế Đối tượng chịu thuế của một loại thuế là người phải trả khoản thuế đó Còn đối tượng bị đánh

Trang 17

9

thuế là cơ sở để áp dụng và tính thuế đó Luật thuế hiện hành của Việt Nam thường đồng nhất giữa đối tượng chịu thuế và đối tượng bị đánh thuế Vì vậy, đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hoá hay tài sản Do đó, tuỳ theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế mà đối tượng chịu thuế cũng có thể là thu nhập, giá trị của hàng hoá hoặc giá trị của tài sản Mỗi một sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặc một đơn vị vật lý

1.1.4.4 Cơ sở tính thuế

Luật thuế quy định thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước được xác định trên các căn cứ nhất định Những căn cứ dùng để xác định số thuế phải nộp của một loại thuế cho từng đối tượng nộp thuế được gọi là cơ sở thuế hoặc căn cứ tính thuế của loại thuế đó Cơ sở thuế của một loại thuế thường gồm các yếu tố sau:

Đối tượng tính thuế: Đối tượng tính thuế là loại hàng hoá, dịch vụ hoặc một

yếu tố khác có thể đo lường được như: độ ồn, độ ô nhiễm Mỗi loại thuế có một đối tượng tính thuế riêng

Giá tính thuế: Trong việc xác định cơ sở thuế, giá tính thuế cũng được quy

định cụ thể Giá tính thuế được quy định để xác định giá trị tính thuế của hàng hoá, dịch vụ Thông thường giá tính thuế được quy định là giá chưa có loại thuế đó của hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, tùy theo tính chất của từng loại thuế mà trong giá tính thuế của loại này có thuế của loại kia, hoặc giá tính thuế là giá bán ra hay giá mua vào, hoặc có kèm theo các khoản phụ thu được hưởng hay không

Trang 18

10

ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế

1.1.4.6 Miễn, giảm thuế

Một số sắc thuế có quy định cho phép NNT không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho Nhà nước (gọi là miễn thuế) hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó (gọi là giảm thuế) Miễn thuế, giảm thuế chỉ

là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế

Tuy nhiên thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó tính công bằng của một sắc thuế

1.2 Người nộp thuế và tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

1.2.1 Người nộp thuế

Theo Luật quản lý thuế hiện hành, người nộp thuế (NNT) là khái niệm để chỉ các thể nhân hoặc pháp nhân được pháp luật xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước, bao gồm:

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế

- Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách nhà nước

- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, gồm: Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam; Tổ chức,

cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân; Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển từ các cảng biển Việt Nam ra nước ngoài hoặc giữa các cảng biển Việt Nam;

- Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế);

Trang 19

11

Như vậy, Người nộp thuế có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước,

có thể là trực tiếp lấy thu nhập của mình hoặc lấy thu nhập từ đối tượng khác hoặc được uỷ quyền để nộp thuế

Người nộp thuế có thể chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có người nộp thuế, trong cùng một thời gian có thể kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau

Việc thực hiện trách nhiệm thuế của người nộp thuế với nhà nước như thế nào? Người nộp thuế có thực hiện đầy đủ trách nhiệm thuế của mình hay không? Chúng ta đi tìm hiểu tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

1.2.2 Tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

Nhà nước ban hành pháp luật nhằm xác định những khả năng hành vi, cách

xử sự của mọi người, mọi tổ chức Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật

Như vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Tất cả các hành vi, hoạt động xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của các quy phạm pháp luật đều được coi là sự thực hiện pháp luật Căn cứ và tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã chia các hình thức thực hiện pháp luật: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Ở hình thức

này đòi hỏi con người tự kiềm chế mình thực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm Chủ thể tuân thủ pháp luật là mọi công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức, các nhà chức trách

Mục tiêu chính của cơ quan quản lý thuế là thu thuế và các khoản phải thu khác phù hợp với luật pháp và vẫn đảm bảo củng cố được niềm tin của người nộp thuế vào

hệ thống thuế và quản lý thuế Mọi hành vi của người nộp thuế dù là sơ ý, không cẩn thận, hay hành vi cố tình trốn thuế hoặc là sự yếu kém trong công tác quản lý thuế đều cho thấy việc không tuân thủ pháp luật là không thể tránh khỏi Do đó, cơ quan thuế cần có chiến lược và chương trình để đảm bảo rằng việc không tuân thủ pháp luật về

Trang 20

12

thuế được giảm tới mức tối thiểu Tuy nhiên, trước khi cơ quan ra quyết định thực hiện các chương trình hành động để nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế thì cần phải hiểu thế nào là tính tuân thủ, những yếu tố ảnh hưởng đến tình tuân thủ, những phương pháp nào để đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ

Các cơ quan quản lý thuế có vai trò trung tâm (và mong thu được lợi ích) trong việc đảm bảo NNT và các bên liên quan khác hiểu được nghĩa vụ của họ theo quy định của luật thuế Về phía NNT và các bên có liên quan thì họ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình bởi vì trong nhiều trường hợp chỉ có họ mới có thể hiểu được rằng họ có nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Nghĩa vụ cụ thể của NNT có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các

cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà NNT chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào “Vấn đề tuân thủ” thực sự có liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ của NNT Bốn loại nghĩa vụ của NNT là: Đăng ký thuế; Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); và nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn

Nếu NNT không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ trên đây thì có thể coi là không tuân thủ Tuy nhiên, mức độ không tuân thủ là khác nhau rõ rệt Do đó nên sắp xếp các rủi ro tuân thủ theo thứ tự ưu tiên như thế nào? Cơ quan thuế nên quyết định như thế nào về những hành vi không tuân thủ có thể bỏ qua và những hành vi không tuân thủ cần có biện pháp xử lý ngay lập tức? Ví dụ, theo như định nghĩa trên đây thì hành vi không tuân thủ có thể là do lỗi vô ý cũng như có thể là gian lận cố ý- và cũng có thể có cả trường hợp nộp thừa thuế Ngoài ra, về mặt kỹ thuật thì NNT có thể đã thực hiện nghĩa vụ của họ nhưng vấn đề không tuân thủ vẫn được đặt ra do các cách diễn giải luật khác nhau Trong những trường hợp đó, tính

rõ ràng của luật thuế cũng là một loại rủi ro cần được xử lý- có thể bằng cách sửa đổi luật hoặc bằng cách thay đổi phương thức quản lý

Trang 21

13

Theo quan niệm quốc tế, tính tuân thủ của người nộp thuế là việc người nộp thuế chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời các qui định, thủ tục về thuế theo pháp luật

Để có thể đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế, mỗi quốc gia sử dụng các phương pháp, cách thức tiếp cận khác nhau do đó việc phân loại tính tuân thủ của người nộp thuế cũng được thực hiện theo các tiêu chí và mục đích riêng của từng nước cụ thể:

Theo quan điểm của Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế của

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì tính tuân thủ của người nộp thuế được chia thành hai nhóm chính đó là tuân thủ qui định hành chính và tuân thủ kỹ thuật Tuân thủ qui định hành chính là việc người nộp thuế tuân thủ các qui định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đầy đủ và đúng hạn Còn tuân thủ kỹ thuật và việc người nộp thuế thực hiện tính toán và nộp thuế đúng hạn theo qui định của luật thuế Thông thường các qui định liên quan đến xác định hành vi tuân thủ qui định hành chính thường được thể hiện khá rõ ràng trong các văn bản luật Tuy nhiên, việc xác định mức độ tuân thủ kỹ thuật lại khá phức tạp đối với nhiều cơ quan thuế

vì khi các luật thuế qui định không rõ ràng và dễ hiểu thì việc xác định chính xác số thuế phải nộp sẽ gặp nhiều khó khăn

Tại một số nước thuộc khu vực Bắc Mỹ, quan điểm về tính tuân thủ của người nộp thuế được phân loại theo nghĩa vụ của người nộp thuế: tuân thủ trong việc đăng ký thuế, tuân thủ trong việc nộp tờ khai thuế và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế, tuân thủ trong việc báo cáo các thông tin (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách) và tuân thủ trong việc nộp thuế Để đo lường mức độ tuân thủ của người nộp thuế thì người ta sử dụng kết hợp các chỉ tiêu như: tỷ lệ phần trăm tờ khai được kê khai đúng hạn so với số tờ khai được nộp, tỷ lệ phần trăm số tiền thuế được kê khai so với tổng số tiền thuế phải nộp theo qui định của luật thuế, tỷ lệ phần trăm số tiền thuế đã kê khai được nộp đúng hạn so với tổng số tiền thuế được nộp

Theo quan điểm của cơ quan thuế Úc, New Zealand và một số nước châu Á như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, thì tính tuân thủ của NNT sẽ được phân loại

Trang 22

14

và xác định theo các mức độ rủi ro quản lý Theo đó, cơ quan thuế căn cứ vào lịch

sử tuân thủ (hồ sơ các hành vi của NNT về kê khai, nộp thuế trong một thời gian) và đặc điểm của từng loại hình, ngành nghề kinh doanh của NNT để chia NNT thành các nhóm theo mức độ tuân thủ, từ đó đưa ra các chiến lược áp dụng quản lý thích hợp với từng nhóm

Như vậy có thể hiểu, tính tuân thủ của người nộp thuế là việc người nộp thuế chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời các qui định, thủ tục

về thuế theo pháp luật

Với quan niệm như trên, tính tuân thủ bao gồm việc NNT thực hiện đúng các quy định, thủ tục về thuế theo pháp luật ở bốn nghĩa vụ cơ bản đó là:

Về nghĩa vụ đăng ký thuế, người nộp thuế kê khai đầy đủ những thông tin

của mình, nghĩa vụ phải nộp một (hoặc một số) loại thuế theo mẫu quy định và nộp

tờ khai cho cơ quan quản lý thuế đúng thời hạn; kê khai đầy đủ những thay đổi về thông tin đăng ký thuế đúng thời hạn quy định

Về nghĩa vụ khai thuế, người nộp thuế sử dụng hồ sơ khai thuế (biểu mẫu)

của từng loại thuế theo qui định của Luật quản lý thuế để kê khai đầy đủ các chỉ tiêu

và nộp cho cơ quan thuế đúng thời hạn

Về nghĩa vụ nộp thuế, người nộp thuế tự nộp đẩy đủ, đúng hạn số thuế phải

nộp theo hồ sơ đã kê khai hoặc hoặc theo thông báo của cơ quan thuế

Về nghĩa vụ cung cấp thông tin, người nộp thuế tự tính đúng số thuế số thuế

phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo qui định của từng Luật thuế, Pháp luật thuế; cung cấp (hoặc lưu giữ) đầy đủ các hồ sơ, chứng từ liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp

Ở mức cao nhất chính là sự tuân thủ tự nguyện, đó là việc NNT nộp tờ

khai đúng hạn và báo cáo đầy đủ thông tin thuế theo yêu cầu, tự tính đúng số thuế phải nộp và nộp đúng hạn tất cả các khoản thuế mà không cần có hành vi chế tài nào Trong trường hợp NNT không thực hiện hoặc không đúng một trong bốn nghĩa vụ trên có nghĩa là có sự không tuân thủ pháp luật thuế

Tuy nhiên, việc không tuân thủ có thể do lỗi chủ quan, cố ý nhưng cũng có thể do lỗi khách quan, vô ý Đây là những cơ sở để phân loại thành bốn mức độ tuân thủ sau:

Trang 23

15

- Nhóm từ chối nghĩa vụ thuế, những đối tượng có thái độ này hoặc là cố tình

trốn thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc là chọn lựa cách đứng ngoài Đây là nhóm

mà cơ quan thuế phải dành nhiều nguồn lực nhất trong việc quản lý Với nhóm này,

cơ quan thuế cần áp dụng toàn bộ quyền lực theo luật pháp qui định để ngăn chặn

và xử lý các hành vi chống đối hoặc trốn thuế

- Nhóm miễn cưỡng tuân thủ (nhóm chống đối), thái độ của những người chống đối thể hiện sự sẵn sàng đối đầu Nhóm người này cho rằng hệ thống thuế thật vô lý, rắc rối và không linh hoạt Thái độ này thể hiện những NNT không muốn tuân thủ nhưng cũng có thể phải tuân thủ nếu họ biết rằng hành vi của họ có thể bị xử lý Với nhóm này,

cơ quan thuế cần có biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật và biện pháp theo dõi, kiểm tra để răn đe, ngăn chặn

- Nhóm cố gắng tuân thủ, thái độ của nhóm này tích cực hơn, về cơ bản họ

muốn tuân thủ nhưng gặp khó khăn và không phải lúc nào cũng tuân thủ được

Có thể họ chưa hiểu rõ về nghĩa vụ của mình, nhưng chủ định của họ là nếu có bất cứ tranh chấp nào thì tính hợp tác và trung thực sẽ chiến thắng Đối với nhóm NNT này, cơ quan thuế cần trợ giúp họ bằng cách cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải đáp và các dịch vụ tiện ích khác để họ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình

- Nhóm sẵn sàng tuân thủ, đây là nhóm chiếm số lượng lớn nhất trong tổng

số NNT của mỗi quốc gia Thái độ của nhóm này là sẵn sàng làm điều đúng, họ có ý thức ủng hộ cho hệ thống thuế, chấp nhận và thực hiện có hiệu quả các yêu cầu của

hệ thống thuế Do vậy, cơ quan thuế cần tạo điều kiện tốt nhất để NNT thuộc nhóm này hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình

Các mức độ tuân thủ của NNT được thể hiện như sơ đồ 1.1 dưới đây:

Trang 24

16

Hình 1.1: Sơ đồ mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế

Điều quan trọng là phải nhận thấy rằng mỗi NNT tùy từng thời kỳ có thể thuộc một trong các nhóm nêu trên Cũng có thể ở tại thời điểm nào đấy có thể

có những NNT thuộc tất cả các nhóm thái độ nói trên khi có các vấn đề về thuế khác nhau Các nhóm thái độ này không phải là đặc tính cố định của một đối tượng hoặc một nhóm, mà nó phản ánh được mối quan hệ giữa cá nhân hoặc nhóm NNT với những yêu cầu (về thuế) đặt ra cho họ

1.2.3 Các nhân tố tác động đến tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Sự tuân thủ thuế của NNT là một khái niệm phức tạp và diễn ra ở nhiều cấp

độ khác nhau Cấp độ tích cực nhất là sẵn sàng tuân thủ, tiếp theo là cố gắng tuân thủ, tiêu cực hơn là miễn cưỡng tuân thủ và từ chối nghĩa vụ thuế Vấn đề đặt ra đối với cơ quan thuế là, tại sao NNT tuân thủ hoặc không tuân thủ và tại sao NNT lại ở một cấp độ tuân thủ nhất định nào đó trên tháp biểu đồ cấp độ tuân thủ? Điều quan trọng nhất là cơ quan thuế cần làm gì để đảm bảo sự tuân thủ của NNT ở mức tích

cực nhất?

Để trả lời được hai câu hỏi này, cơ quan thuế phải hiểu được tính tuân thủ của NNT bị tác động bởi những nhân tố nào và mức độ tác động của những nhân tố

Trang 25

17

này ra sao? từ đó cơ quan thuế mới sử dụng các chiến lược và biện pháp thích hợp, hiệu quả để nâng cao tính tuân thủ của NNT Có thể khái quát những nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của NNT thành bốn nhóm sau:

1.2.3.1 Nhóm nhân tố về tình hình kinh tế - xã hội

Đây là nhóm nhân tố vĩ mô phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, tình hình chính trị Vì đây là nhân tố vĩ mô nên nhóm nhân tố này ảnh hưởng đến tính tuân thủ của tất cả các nhóm NNT Thông thường, khi nền kinh tế phát triển, tình hình chính trị,

xã hội ổn định thì thì nhóm nhân tố này có thể bỏ qua vì khi đánh giá mức độ ảnh hưởng tới tính tuân thủ của NNT qua các năm là tương đối ổn định

Tuy nhiên, trong trường hợp tình hình kinh tế xã hội bất ổn thì tác động của nhóm nhân tố này đến tình tuân thủ của NNT lại rất lớn cả về phạm vi và mức độ ảnh hưởng

Thứ nhất về yếu tố kinh tế: Lãi suất thị trường và lãi suất ngân hàng là yếu tố

tác động đến quyết định tuân thủ, trì hoãn hay không tuân thủ thuế Trong trường hợp lãi suất tăng, một NNT có tinh thần và đạo đức thuế không tốt sẽ có khả năng trì hoãn việc nộp thuế; hoặc tuân thủ nhưng không tự nguyện; hoặc có khả năng trốn thuế hay tránh thuế Vì vậy, lãi suất thị trường thường được các nhà phân tích theo cách tiếp cận kinh tế lấy làm cơ sở cho việc thiết lập các hình phạt đối với NNT khi

họ không tuân thủ

Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của NNT khi nó tác động vào mức sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lạm phát quá cao sẽ cản trở hành vi tuân thủ thuế Lạm phát ổn định ở mức hợp lý sẽ kích thích sản xuất kinh doanh và tác động đến sự tuân thủ thuế của NNT thông qua hiệu ứng thu nhập

Thứ hai là nhân tố xã hội: Các nhân tố xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến nội

dung cơ bản của từng sắc thuế và cả hệ thống chính sách thuế, từ đó tác động đến sự tuân thủ thuế thông qua những nhân tố như:

Chuẩn mực xã hội, sự hỗ trợ xã hội và trách nhiệm của NNT trong cộng đồng Chuẩn mực xã hội là những tiêu chuẩn hành vi trong tuân thủ thuế do xã hội

Trang 26

18

mong muốn và được chấp nhận chung của đa số người trong xã hội Khi NNT xác định được nhóm xã hội tác động lên hành vi tuân thủ thuế của họ thì chuẩn mực xã hội sẽ tác động lên đạo đức thuế của NNT thông qua ảnh hưởng xã hội và sự hỗ trợ

xã hội Mọi người có thể thấy rằng, tư lợi cá nhân có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấy bản thân họ là các cá nhân độc lập với các cá nhân khác, trong khi trách nhiệm công dân có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấy họ là thành viên của một nhóm, của cộng đồng xã hội Trong cộng đồng đó, sự tuân thủ thuế sẽ phụ thuộc vào ảnh hưởng xã hội lên nhận thức của NNT rằng, hầu hết mọi người đều tuân thủ, chỉ một số người là không tuân thủ và hầu hết mọi người là những công dân tốt Sự tuân thủ sẽ hạn chế khi đối tượng nhận thức rằng, ít người có trách nhiệm công dân Tiếp theo, sự đồng thuận về thuế của một đối tượng sẽ tác động lên chuẩn mực xã hội về sự tuân thủ thuế và tác động lên tích cực các NNT khác Vì vậy, chuẩn mực xã hội tác động lên hành vi tuân thủ thuế là nhân tố mà cơ quan thuế cần quan tâm

Dư luận xã hội, danh tiếng, vị thế và vai trò của NNT trong cộng đồng xã hội Vai trò của NNT trong xã hội và những chuẩn mực hành vi của họ cũng rất

quan trọng NNT không chỉ tối ưu hoá hành vi một cách cô lập và ích kỷ mà còn bị tác động bởi dư luận tích cực từ xã hội do tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế và từ đó làm hình thành nên danh tiếng vị thế và vai trò của NNT trong cộng đồng xã hội Tiếp đó, danh tiếng, vai trò của NNT sẽ tác động đến sự vươn lên thực hiện tốt nghĩa vụ thuế

1.2.3.2 Nhóm nhân tố chính trị, luật pháp

Hiệu quả của chi tiêu công: Ngân sách Nhà nước (NSNN) được sử dụng như

thế nào là một trong những vấn đề được NNT quan tâm nhất NSNN được sử dụng cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, phục vụ trở lại cho NNT, nuôi bộ máy công quyền và những mục đích chung khác Nhận thức của NNT về tính hiệu quả của các khoản chi tiêu này sẽ tác động đến sự tuân thủ thuế của NNT Tham nhũng, thất thoát ngân sách, đầu tư công phi hiệu quả sẽ là những yếu tố cản trở hành vi tuân thủ tích cực

Trang 27

19

Chính sách thuế: Là một trong những yếu tố quan trọng trong phân tích sự

tuân thủ của NNT, nhìn từ giác độ kinh tế và cả giác độ tâm lý xã hội Chính sách thuế ổn định, có thể dự đoán, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và công bằng là những tiền

đề đầu tiên để có một quá trình quản lý thuế hiệu lực và hiệu quả Người nộp thuế chỉ sẵn sàng và chấp nhận tuân thủ khi các sắc thuế rõ ràng, minh bạch và công bằng Người nộp thuế cũng chỉ có thể tuân thủ khi các sắc thuế đơn giản, dễ hiểu, không chồng chéo, mâu thuẫn và có thể dự đoán Sự ổn định và dễ dự đoán được coi là cốt lõi của một hệ thống thuế tốt

1.2.3.3 Nhóm nhân tố xuất phát từ bản thân người nộp thuế

Sự hiểu biết nghĩa vụ thuế, quy trình tuân thủ thuế và kế toán thuế: Mức độ tuân

thủ thuế của NNT phụ thuộc vào yếu tố hiểu biết về luật thuế, những yêu cầu của luật thuế, thủ tục hoàn thành nghĩa vụ thuế Nhiều NNT có thể vui lòng tuân thủ nhưng không có khả năng làm như vậy, vì họ không nhận thức được, hoặc không hiểu phạm

vi nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ Điều này sẽ làm gia tăng tỷ lệ lỗi trong kê khai

và thanh toán thuế, tăng chi phí tuân thủ thuế và cản trở sự tuân thủ Ngoài ra, tình trạng mù thông tin và kiến thức cơ bản về hoạt động kế toán, đặc biệt chiếm tỷ lệ khá cao ở các nước đang phát triển, điển hình đối với các NNT vừa và nhỏ

Nhận thức về sự công bằng và bình đẳng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế Đây

là một trong những tác động tâm lý rất lớn đến hành vi của NNT Ý định tuân thủ thuế là một hàm của “sự tin tưởng hay lòng tin nói chung” từ sự công bằng của hệ thống thuế Sự không tin tưởng do nhận thức của NNT về sự không công bằng và nền kinh tế ngầm sẽ dẫn đến sự chấp nhận trốn thuế Ngược lại, sự tuân thủ của NNT cũng sẽ tác động đến đạo đức thuế của những đối tượng khác thông qua nhận thức về sự công bằng Bên cạnh đó, nhận thức về tính công bằng trong tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính thuế tác động không nhỏ đến tâm lý tuân thủ thuế, đặc biệt khi hệ thống thủ tục tuân thủ phức tạp và rườm rà

Nhận thức của người nộp thuế đối với sự đối xử của chính quyền và cơ quan quản lý thuế Khi cơ quan thuế được nhận thức là người đại diện và hoạt động vì lợi

ích Nhà nước và cộng đồng, coi NNT là khách hàng, thì sự tuân thủ thuế sẽ đạt

Trang 28

20

được ở mức cao Một chính quyền không đại diện cho quyền lợi chung sẽ giảm sự hợp tác và tăng sự chống đối Mặt khác, sự đại diện của một cơ quan thuế còn được NNT nhận thức ở sự công tâm, trong sạch, không nhận hối lộ và không tham nhũng

Cảm nhận về rủi ro: Nếu một NNT có cơ hội không tuân thủ và nghĩ rằng

chỉ có rủi ro không đáng kể nếu bị phát hiện thì NNT đó có thể chấp nhận rủi ro này Điều này có thể dẫn đến việc kê khai thấp một số loại thu nhập nào đó; Một số người nhìn nhận việc tránh thuế là một trò chơi và có thắng thua, họ thích thử nghiệm kỹ năng của mình trong việc tránh các nghĩa vụ và tránh để không bị bắt

Các tác động về kinh tế: Thứ nhất là gánh nặng về tài chính, luôn có một mối

liên hệ giữa số nợ thuế và hành vi tuân thủ Nếu nghĩa vụ thuế lớn thì NNT có thể tránh phải nộp toàn bộ hoặc tìm cách điều chỉnh số liệu báo cáo để làm giảm nghĩa

vụ thuế; Thứ hai là chi phí tuân thủ, các chi phí này bao gồm thời gian bỏ ra để hoàn tất thủ tục thuế, chi phí chi kế toán viên và có thể bao gồm cả chi phí về mặt tâm lý như căng thẳng thần kinh do NNT không biết chắc họ có đáp ứng các qui định của luật thuế hay không Người nộp thuế phải bỏ ra một số khoản chi phí trên

để tuân thủ các nghĩa vụ thuế, do đó làm cho thuế phải chịu của NNT cao hơn số thuế thực nộp

1.2.3.4 Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế

Trình độ, chất lượng công tác quản lý thuế của Nhà nước có tính quyết định đến mức độ tuân thủ thuế của NNT Những yếu tố thuộc quản lý thuế của Nhà nước bao gồm:

Tính ổn định, minh bạch, rõ ràng của quy trình và thủ tục tuân thủ thuế như các quy trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, sự ổn định và mức độ minh bạch cao sẽ giảm chi phí tuân thủ và giảm rủi ro do tham nhũng và phiền hà

Tính đơn giản, dễ hiểu của quy trình và thủ tục tuân thủ thuế Với khả năng hạn chế về nhân lực hiện nay, nhiều cơ quan thuế không thể kiểm soát để đảm bảo

sự tuân thủ thuế một cách toàn diện khi số lượng NNT ngày càng tăng lên Vì vậy, việc áp dụng một hệ thống đơn giản đặc biệt là cho đối tượng NNT vừa và nhỏ sẽ làm giảm gánh nặng quản lý của cơ quan thuế và gánh nặng tuân thủ thuế cho NNT

Trang 29

21

Tính sẵn có, phù hợp và dễ tiếp cận của các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn thuế sẽ giúp NNT giảm gánh nặng tìm kiếm thông tin về quy định của luật thuế cũng như quy trình tuân thủ Những dịch vụ nghèo nàn, khó tiếp cận thường là lý do giải thích cho chi phí tuân thủ thuế cao, đặc biệt là đối với các NNT nhỏ Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản của trốn thuế

Tính cưỡng chế hợp lý của quản lý thuế được thể hiện ở tần suất thanh tra thuế, khả năng phát hiện trốn thuế và rủi ro về thuế, các biện pháp cưỡng chế thuế, mức độ nghiêm khắc của hình phạt do trốn thuế

Tính động viên, khuyến khích sự tuân thủ mà đặc trưng là các hình thức khuyến khích, tuyên dương NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, công nhận hình ảnh vị thế của NNT bằng các phần thưởng khuyến khích tinh thần và vật chất Bên cạnh

đó, sự tuân thủ thuế của NNT còn phụ thuộc vào tính trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ, công chức quản lý thuế

Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế giúp cơ quan thuế đánh giá sự đa dạng phức tạp của môi trường NNT, từ đó phát triển các hướng khác nhau để quản lý thuế Sự phức tạp của những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế và mối quan hệ giữa những yếu tố này đòi hỏi cơ quan thuế cam kết thực hiện lâu dài các chiến lược tăng cường sự tuân thủ thuế của NNT, theo đó thách thức lớn nhất là tăng sự tuân thủ thuế trong khi giảm chi phí tuân thủ và thích ứng đối với NNT, tăng sự tin tưởng của NNT đối với cơ quan thuế

1.3 Kinh nghiệm một số nước trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

1.3.1 Kinh nghiệm của Cơ quan thu nội địa Vương quốc Anh

Cơ quan Thu nội địa Vương quốc Anh trực thuộc Bộ Ngân khố (Bộ Tài chính) của Anh, chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế trực thu Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế được cơ quan thu nội địa Anh áp dụng từ năm 1996, tác động tới hơn 8 triệu NNT cá nhân, 700.000 tổ chức hợp danh và 300.000 quĩ tín thác Việc

áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp của cơ quan thuế đã tăng số thu khoảng 350 triệu Bảng trong năm 1999-2000 Đây là kết quả của các giải pháp mà Cơ quan thuế thực

Trang 30

22

hiện nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật của NNT

Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT: Đây được coi là nhiệm vụ cơ bản của

cơ quan thuế, nên được tăng cường cả cán bộ và cơ sở vật chất Số cán bộ làm công tác này là rất lớn chiếm 28% số cán bộ toàn ngành thuế và 55% số cán bộ của các Cục thuế và Chi cục thuế Tổng số chi cho công tác này chiếm đến 18% tổng số các khoản chi phí cho điều hành thu của cơ quan thu nội địa Các phòng hỗ trợ NNT rất thuận tiện cho người nộp thuế, có nơi đón tiếp, có ghế ngồi chờ, có giá để tài liệu hướng dẫn và tờ khai về nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề và bằng nhiều ngôn ngữ; trang

bị một số máy tính nối mạng để NNT có thể truy cập tìm hiểu chính sách thuế Tính đến tháng 8/2004 toàn ngành thuế nước Anh có 76.600 công chức nhưng được trang

bị đến 90.000 máy tính cá nhân và 3.500 máy in, 750 máy chủ để hỗ trợ NNT

Công tác thanh tra cũng được chú trọng với số lượng cán bộ làm công tác

thanh tra chiếm khoảng 31% tổng số cán bộ toàn ngành Việc thanh tra được thực hiện theo kế hoạch với cơ cấu 40% là khối lượng công việc thanh tra từ cơ quan thuế trung ương chỉ đạo xuống bên dưới thực hiện, 10% đối tượng thanh tra lựa chọn ngẫu nhiên, 50% đối tượng thanh tra là kế hoạch xây dựng của Cục và Chi cục Đối tượng thanh tra do các đội chuyên gia tiến hành đánh giá rủi ro và lựa chọn trên cơ sở sử dụng số liệu tờ khai thuế năm, hệ thống báo cáo tài chính, các thông tin trên hệ thống máy tính, kho dữ liệu lịch sử về đối tượng (kho dữ liệu lưu trữ về tình hình hoạt động kinh doanh của đối tượng trong 6 năm liên tục); thông tin của các bên thứ ba; phân tích dữ liệu đối với số thuế thu được từ các trường hợp thanh tra đã kết thúc

Công tác thu nợ được thực hiện theo phương pháp rủi ro với các tiêu chí tuân

thủ về thời gian kê khai, mức nợ thuế, mức thuế năm trước… Trong đó nếu số tiền

nợ nhỏ hơn 100 bảng, có thể tự động bỏ ra khỏi hệ thống thu nợ vì không đáng chi phí thu; Các biện pháp thu nợ mạnh mẽ được áp dụng như là tịch biên tài sản hoặc

có thể thực hiện tố tụng

Mục tiêu của cơ quan thuế là thông qua các hoạt động thu nợ để cho phép NNT nộp khoản nợ và tránh việc khởi kiện hay qua các thủ tục tố tụng Do vậy, cơ

Trang 31

23

quan thuế cho phép NNT có những thoả thuận trả dần các khoản nợ thuế

1.3.2 Kinh nghiệm của Cục thu nội địa Singapo (IRAS)

Singapo là một quốc đảo của khu vực Đông Nam Á, sau hơn 10 năm đổi mới, hệ thống quản lý thuế của Singapore là một hệ thống quản lý hiện đại, hiệu quả với tốc độ triển khai công nghệ thông tin hàng đầu trong khu vực và trên thế giới Theo đó, IRAS luôn là cơ quan đi đầu trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công và luôn được NNT đánh giá cao hoạt động của mình

Có được những thành công kể trên trước hết là nhờ IRAS có chiến lược cải thiện hoạt động của cơ quan thuế hướng đến NNT, tạo điều kiện cho họ có những

hiểu biết về thuế và cung cấp các phương tiện để NNT đơn giản hoá việc thực hiện

nghĩa vụ với nhà nước Bước đi đầu tiên mà IRAS thực hiện là tăng cường việc kê khai thuế thông qua hệ thống điện thoại và kê khai điện tử Bằng những nỗ lực

trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ và tăng cường tuyên truyền, quảng bá về các hình thức kê khai mới, đến năm 2000 có tới 1/3 NNT thực hiện kê khai thuế điện tử

và số còn lại hầu hết đều kê khai qua hệ thống điện thoại

Thông qua chương trình, kế hoạch phối hợp cung cấp thông tin với các cơ

quan khác của Chính phủ, IRAS đang xây dựng chiến lược phát triển với mục tiêu dài hạn là xoá bỏ mọi hình thức yêu cầu NNT phải kê khai thuế, IRAS cùng với các

cơ quan của Chính phủ sẽ kiểm soát mọi trường hợp đăng ký kinh doanh, kiểm soát các luồng tiền, thu nhập, từ đó tự xác định nghĩa vụ thuế cho từng NNT

Chính nhờ những bước cải tiển triệt để này mà IRAS đã giúp cho NNT giảm đáng kể chi phí cho việc tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, từ đó xây dựng và củng cố lòng tin của Chính phủ và người dân vào hoạt động quản lý của mình

1.3.3 Kinh nghiệm của các quốc gia trong hiệp hội nghiên cứu và quản lý thuế châu Á (SGATAR)

Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, các quốc gia trong hiệp hội SGATAR (gồm Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin, Việt Nam, Hồng Công,

Inđonêxia, Niudilân) đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác thanh tra

Trang 32

24

thuế Mục tiêu là hiện đại hoá dựa trên kỹ thuật phân tích quản lý các khả năng thất

thu về thuế (còn gọi là quản lý rủi ro) để đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức hoạt động thanh tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra thuế

Cùng với việc tin học hoá ngành thuế, hệ thống thanh tra thuế được trang bị đồng bộ hệ thống máy tính, khai thác mạng nội bộ, kết nối Internet, kết nối với hệ

thống mạng của các cơ quan chính phủ (liên quan đến thanh tra thuế)

Xây dựng hệ thống tích hợp thông tin, dữ liệu từ doanh nghiệp (kê khai thuế,

hoá đơn hàng hoá bán ra, báo cáo tài chính, báo cáo thu nhập) và thông tin bên ngoài (Ngân hàng và tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý vốn, cơ quan Hải quan, hiệp hội ngành nghề, cơ quan thống kê, cơ quan Cảnh sát )

Xây dựng hệ thống tiêu chí phục vụ kỹ thuật phân tích, đánh giá, quản lý rủi

ro Đồng thời xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro theo loại hình doanh nghiệp,

lĩnh vực kinh doanh và sắc thuế

Đổi mới tổ chức và đào tạo cán bộ thanh tra cùng với đổi mới phương pháp,

quy trình và chuẩn hoá nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra thuế

Thiết kế phần mềm ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ thanh tra thuế qua các khâu

thu thập dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, phân tích xác định rủi ro, đối chiếu kiểm tra trên máy tính, lựa chọn đối tượng thanh tra và thanh tra kiểm tra tại đơn vị

Bổ sung, sửa đổi hệ thống luật cho phù hợp với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử nói chung và hiện đại hoá ngành thuế nói riêng

hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thuế đầy đủ, phục vụ cho công tác quản lý thu và thanh tra thuế Đồng thời cơ quan thuế ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện

Trang 33

25

nhiều hoạt động để xác minh việc tuân thủ, từ việc rà soát tờ khai, xác minh các thông tin của NNT, tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra trên mạng hoặc phối hợp với các cơ quan khác (các bên thứ ba, toà án ) để có những hành động thích hợp trong trường hợp NNT có các hành vi cố ý không tuân thủ, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế cho mọi NNT

Áp dụng kỹ thuật quản lý thuế theo rủi ro: Do nguồn lực và chi phí của cơ

quan thuế có hạn, mà nhiệm vụ quản lý thuế ngày càng tăng (số NNT, số tiền thuế ngày càng tăng lên, phạm vi quy mô kinh doanh của NNT ngày càng phức tạp ), nên cơ quan thuế không thể áp dụng phương pháp truyền thống là kiểm tra tất cả các tờ khai thuế, tất cả các NNT , tuy nhiên, để đảm bảo quản lý thuế công bằng và hiệu lực thì cơ quan thuế vẫn phải phát hiện được và có biện pháp ngay đối với những trường hợp vi phạm hoặc gây thất thu lớn về tiền thuế Cùng với việc chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp là việc nhấn mạnh hơn đến việc hỗ trợ đối tượng nộp thuế “làm đúng” ngay từ đầu và tự nguyện chấp hành thông qua việc giáo dục, hỗ trợ có trọng điểm và tăng tính rõ ràng của luật thông qua các công văn hướng dẫn

và đơn giản hóa thì cơ quan thuế thường sử dụng phương pháp phân chia NNT thành các nhóm hoặc bộ phận theo nhiều thuộc tính cho phép tập trung tốt hơn vào nhóm NNT có rủi ro đến số thu thuế khá cao, còn nhóm NNT chấp hành tốt thì cơ quan thuế không cần thiết phải can thiệp

Xây dựng đội ngũ cán bộ thuế chuyên nghiệp, tận tâm: Cùng với sự thay đổi

về phương pháp quản lý thuế và sự chuyển đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy ngành thuế, công tác cán bộ thuế cũng được đặc biệt coi trọng Nguồn nhân lực thường xuyên được tuyển dụng bổ sung để đáp ứng được các yêu cầu mới của công việc Các cán bộ thuế cũ phải được đào tạo lại về cả kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và

kỹ năng phục vụ Cơ quan thuế đặc biệt coi trọng việc đào tạo các kỹ năng ứng xử, giao tiếp văn hoá, lịch sự, tạo ra đội ngũ nhân viên có năng lực để cung cấp các dịch

vụ có chất lượng cho người dân Bên cạnh đó, việc tạo môi trường làm việc tốt cho cán bộ thuế cũng được quan tâm

Trang 34

26

Nhận xét: Việc tổ chức quản lý thuế của các nước trên thế giới có thể rất

khác nhau, song hầu hết đều hướng tới một mục tiêu là thu thuế nhưng phải đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả (số thuế thu được so với chi phí bỏ ra để thu) và tính hiệu lực (mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế) Nhìn chung, tuỳ theo từng đặc điểm kinh tế - xã hội và tuỳ từng thời kỳ phát triển, mỗi nước sẽ có một định hướng tập trung nguồn lực khác nhau, nhưng đều chuyển đổi hướng tới mục tiêu là cân đối giữa chức năng tuyên truyền, hỗ trợ và giám sát, cưỡng chế, trong đó tập trung phát triển các dịch vụ cho người nộp thuế; Việc quản

lý thuế dựa trên kỹ thuật quản lý theo rủi ro, tìm hiểu và phân tích nhu cầu, hành vi tuân thủ của NNT để có chiến lược hợp lý để đạt sự tuân thủ cao nhất

1.4 Thực tiễn về công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong thời gian qua

1.4.1 Những thành tựu của công tác quản lý thuế

Cùng với sự đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, công tác quản lý thuế ở nước ta đã có những đổi mới rất quan trọng

Cơ quan quản lý thuế được sắp xếp lại hợp lý Cán bộ thuế được đào tạo bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp cả về trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, phẩm chất đạo đức

Thủ tục hành chính thuế đã từng bước được sửa đổi theo hướng đơn giản, rõ

ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa

vụ thuế nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước

Hệ thống quản lý thuế ngày càng được củng cố và hoàn thiện; Nhận thức về

thuế của nhiều tổ chức, cá nhân và tính tuân thủ tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế ngày càng được nâng cao Đến nay, đã có hơn 30.800 các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh giỏi, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn được các cơ quan Nhà nước tôn vinh

Các quy trình và biện pháp quản lý thuế ngày càng được hoàn thiện theo hướng hợp lý, khoa học Đã từng bước đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ để nâng cao

tính hiểu biết và trên cơ sở đó nâng cao tính tuân thủ tự giác của các tổ chức, cá nhân nộp thuế Đồng thời cũng tăng cường phát triển ứng dụng tin học vào các khâu

Trang 35

Nhờ có đổi mới quan trọng nêu trên, chính sách thuế ngày càng đi vào cuộc sống, công tác thuế của Đảng và Nhà nước đã góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng Liên tục trong nhiều năm vừa qua, tỷ lệ động viên về thuế và phí

đã đạt vượt mục tiêu do Đảng và Nhà nước đề ra Số thu về thuế và phí năm sau luôn cao hơn năm trước Thuế và phí đã trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN

1.4.2 Những hạn chế, yếu kém của công tác quản lý thuế

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý thuế của Việt Nam trong thời kỳ này vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

Một bộ phận người nộp thuế chưa thực sự tự giác tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp; nộp đúng, nộp đủ số thuế đã kê khai Một số doanh nghiệp, hộ kinh doanh

cố tình gian lận thuế với các hành vi, thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp Tình trạng thành lập doanh nghiệp để buôn bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, tiếp tay cho doanh nghiệp khác trốn thuế, rút tiền nhà nước dưới nhiều hình thức còn khá bức xúc ở một số địa phương Tình trạng nợ đọng, chây ỳ nộp thuế ở một số địa phương chậm được khắc phục

Các tổ chức, cá nhân liên quan chưa thật sự chủ động phối hợp trong việc cung cấp thông tin, chia sẻ trách nhiệm với cơ quan thuế để thu thuế Môi trường

quản lý thuế chưa được cải thiện, thanh toán dùng tiền mặt vẫn là chủ yếu; người mua hàng hoá, dịch vụ vẫn chưa yêu cầu người bán lập hoá đơn; hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn mác, giá rẻ, vẫn được bày bán tràn lan

Một số cơ quan thuế, đặc biệt là các đô thị lớn, thành phố lớn chưa có biện pháp theo dõi, giám sát chặt chẽ người nộp thuế nên chưa nắm được chính xác các

Trang 36

Chưa kiên quyết áp dụng các biện pháp đôn đốc, xử phạt các trường hợp kê

khai chậm, không nộp tờ khai, hoặc tờ khai có nhiều sai sót Việc nhận và nhập tờ khai chủ yếu vẫn là thủ công, vừa thiếu chính xác, vừa tốn nhiều nhân lực, không giành thời gian cho công việc kiểm tra, thanh tra thuế

Công tác quản lý nợ của nhiều Cục thuế còn chưa chặt chẽ, phân tán do đó

không kiểm soát được số nợ thuế chính xác, phân loại các khoản nợ thiếu kịp thời, chưa cương quyết áp dụng các biện pháp xử phạt; tổ chức cưỡng chế nợ còn nhiều lúng túng

Công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro theo quy định của Luật quản lý thuế ở nhiều nơi còn lúng túng nhất

là ở cấp chi cục thuế nên kết quả còn hạn chế

Cán bộ công chức thuế tuy đã chuyển đổi theo mô hình chức năng nhưng kỹ năng quản lý thuế theo từng chức năng chưa được đào tạo và đào tạo lại cho phù hợp Trình độ sử dụng khai thác các chương trình ứng dụng tin học của cán bộ thuế,

kể cả cán bộ lãnh đạo cơ quan thuế các cấp còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại hoá

Để có thể đưa ra chiến lược quản lý tuân thủ của NNT cho Chi cục thuế huyện Nho Quan trong điều kiện cơ quan thuế thực hiện cơ chế tự khai, tự tính,

tự nộp theo Luật Quản lý thuế nhằm mục đích nâng cao tính tuân thủ của NNT, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, toàn diện về tình hình tuân thủ của NNT ở huyện Nho Quan hiện nay

Trang 37

29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Nho Quan là một huyện lâu đời thuộc tỉnh Ninh Bình Thời kỳ 1975-1991, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 27/4/1977 huyện Nho Quan hợp nhất với huyện Gia Viễn thành huyện Hoàng Long, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 9/4/1981, tách huyện Gia Viễn khỏi huyện Hoàng Long Ngày 23/11/1993, đổi tên huyện Hoàng Long thành huyện Nho Quan

Trang 38

30

Nho Quan gồm có thị trấn Nho Quan và 26 xã Theo quyết định số UBND ngày 12/10/2012 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Ninh Bình đến năm 2030, Nho Quan có các đô thị sau:

796/QĐ- Thị trấn Nho Quan được xây dựng trở thành thị xã Nho Quan trước năm 2015 Đây sẽ là đô thị trung tâm khu vực tây bắc Ninh Bình

 Thị trấn Rịa: Đô thị Rịa sẽ trở thành trung tâm huyện lỵ Nho Quan khi nâng cấp thị trấn Nho Quan thành thị xã

 Thị trấn Ngã ba Anh Trỗi: nâng cấp khu vực ngã 3 quốc lộ 38B và quốc lộ 12B tại xã Quỳnh Lưu trở thành thị trấn

 Thị trấn Gia Lâm: nâng cấp xã Gia Lâm thành thị trấn Gia Lâm

Từ nay đến năm 2015, Nho Quan dự kiến tập trung thực hiện các dự án nâng cấp, hoàn chỉnh các tuyến đường giao thông phục vụ cho các tua du lịch; dự án tuyến hồ Yên Quang - đình Mống Lá (với sản phẩm du lịch là vui chơi bằng xe ngựa, du thuyền, câu cá); dự án du lịch đường sông Nho Quan - động Vân Trình bằng tàu thuỷ, kết hợp xây dựng khu công viên vui chơi thể thao, giải trí thị trấn Nho Quan; đầu tư nâng cấp các điểm di tích lịch sử khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, nâng cấp đền Phủ Đồi, quy hoạch phục vụ khách du lịch tâm linh; các dự án khách sạn, nghỉ dưỡng cao cấp ở thị trấn Nho Quan, Rịa và khu du lịch tắm ngâm Cúc Phương

2.1.3 Đặc điểm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn

Từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp năm 2005, số lượng các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tăng nhanh Đến hết năm 2013 toàn huyện có 357 doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã tạo việc làm cho trên 10.000 người lao động Bên cạnh sự đóng góp của các doanh nghiệp vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện, còn có sự đóng góp tích cực của khu vực kinh tế hộ với hơn 1000 hộ kinh doanh

Về cơ cấu theo loại hình doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp dân doanh (Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân) chiếm tỷ trọng lớn, đây là khu vực kinh tế phát triển nhanh cả về số lượng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tạo việc làm mới và thu nhập cho người lao động cũng như đóng góp cho ngân sách nhà nước Thể hiện qua đồ thị 2.1:

Trang 39

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu loại hình doanh nghiệp năm 2013

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình)

Việc đầu tư của các doanh nghiệp trên địa bàn còn mang tính tự phát chủ yếu tập trung ở thị trấn Lĩnh vực đầu tư chủ yếu vào xây dựng và dịch vụ thương mại Việc đầu tư vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, gia công, chế biến nông, lâm sản, hàng thủ công mỹ nghệ và các ngành nghề truyền thống của địa phương còn rất hạn chế Điều này thấy rõ qua đồ thị 2.2

Nông lâm nghiệp

Hình 2.2 Đồ thị cơ cấu lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp năm 2013

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình)

Trang 40

32

Các doanh nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa (số vốn bình quân một doanh nghiệp mới đạt trên 1,1 tỷ đồng), hoạt động sản xuất kinh doanh thường không có kế hoạch, phương án, bị động khi thị trường có biến động dẫn đến khả năng cạnh tranh chưa cao

2.2 Đặc điểm của Chi cục thuế huyện Nho Quan

2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ

Chi cục thuế huyện Nho Quan là tổ chức trực thuộc Cục thuế tỉnh Ninh Bình trong hệ thống Tổng cục thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn của huyện theo quy định của pháp luật

Chi cục thuế huyện Nho Quan thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm

theo quy định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các quy định pháp luật có liên quan khác và những quyền hạn, trách nhiệm cụ thể trong quản lý thuế

Trước tiên là các hoạt động đảm bảo và tạo thuận lợi phục vụ cho NNT tuân thủ pháp luật về thuế: Thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách

thuế của Nhà nước; Hỗ trợ NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật; Công khai, cải cách các thủ tục về thuế

Thứ hai là các hoạt động nhằm giải quyết các quyền lợi cho NNT như miễn,

giảm thuế; hoàn thuế; gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế; xoá

nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật; Bồi thường thiệt hại cho NNT; giữ bí mật thông tin của NNT; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT;

Thứ ba là thực hiện quyền giám sát sự tuân thủ pháp luật của NNT, gồm:

yêu cầu NNT, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho việc quản lý thu thuế; Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế; Thanh tra

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1  Sơ đồ mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế  16 - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
1.1 Sơ đồ mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế 16 (Trang 8)
Hình 1.1: Sơ đồ mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 1.1 Sơ đồ mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế (Trang 24)
Hình 2.2. Đồ thị cơ cấu lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp năm 2013 - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 2.2. Đồ thị cơ cấu lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp năm 2013 (Trang 39)
Hình 2.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 2.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục thuế (Trang 42)
Bảng 2.1.  Số lượng, chất lượng lao động - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 2.1. Số lượng, chất lượng lao động (Trang 43)
Hình 2.4. Đồ thị kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách (2009 - 2013) - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 2.4. Đồ thị kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách (2009 - 2013) (Trang 46)
Bảng 2.3.  Số lượng mẫu điều tra - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 2.3. Số lượng mẫu điều tra (Trang 48)
Hình 3.1. Đồ thị tỷ trọng các khoản nợ thuế theo tuổi nợ - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 3.1. Đồ thị tỷ trọng các khoản nợ thuế theo tuổi nợ (Trang 64)
Bảng 3.12. Kết quả trả lời nhận thức về thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.12. Kết quả trả lời nhận thức về thuế (Trang 73)
Bảng 3.13. Tỷ lệ người nộp thuế tham gia tập huấn về thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.13. Tỷ lệ người nộp thuế tham gia tập huấn về thuế (Trang 75)
Bảng 3.21. Tình hình xử lý vi phạm qua thanh tra, kiểm tra - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.21. Tình hình xử lý vi phạm qua thanh tra, kiểm tra (Trang 90)
Hình 3.2. Đồ thị tỷ trọng các khoản nợ thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 3.2. Đồ thị tỷ trọng các khoản nợ thuế (Trang 92)
Bảng 3.22. Kết quả quản lý nợ thuế - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.22. Kết quả quản lý nợ thuế (Trang 93)
Bảng 3.23. Các biện pháp đôn đốc thu nợ đã áp dụng - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.23. Các biện pháp đôn đốc thu nợ đã áp dụng (Trang 94)
Bảng 3.24. Số lượng công chức ở các chức năng - Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế theo luật quản lý thuế ở huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.24. Số lượng công chức ở các chức năng (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w