Mặc dù vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định, nhưng vốn FDI có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như: bổ sung nguồn vốn đầu tư,
Trang 1
NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUANG HÀ
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập cùng với sự hướng dẫn tận tình
của TS Nguyễn Quang Hà, em chọn đề tài: “Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” Em xin cam đoan luận văn của
em được hoàn thành thông qua việc sưu tầm tài liệu tại cơ quan ban ngành, cùng với một số sách báo, tạp chí trong và ngoài nước chứ hoàn toàn không phải là sao chép từ bất kỳ một công trình nghiên cứu nào Nếu có bất kỳ vi phạm nào em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Em xin chân thành cảm ơn !
Ninh Bình, ngày 30 tháng 3 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn vừa qua, tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Nguyễn Quang Hà đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, khoa sau đại học và các thầy cô giáo những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan ban ngành, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện cung cấp tư liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoàng Yến
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 4
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính sách thu thu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.1.2 Khái niệm, vai trò và các bộ phận cấu thành của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
1.2 Tâm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 16
1.2.1 Tầm quan trọng của chính sách thu hút vốn FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội 16
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn FDI 20
1.3 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước và các tỉnh, thành phố trong nước 27
1.3.1 Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia 27
1.3.2 Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số tỉnh, thành phố trong nước 33 1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Tỉnh Ninh Bình về hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 40
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 42
2.1 Các điều kiện tự nhiện, kinh tế xã hội tác động đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Ninh Bình 42
2.1.1 Vị trí địa lý 42
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 42
2.1.3 Cơ sở hạ tầng 45
2.1.4 Nguồn nhân lực 46
2.2.Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu: 47
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: 48
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Khái quát về các chính sách thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 51
3.1.1 Chính sách cơ cấu đầu tư (cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng) 54
3.1.2 Chính sách đảm bảo các điều kiện về đất đai, lao động 55
3.1.3 Chính sách khuyến khích tài chính 57
3.1.4 Chính sách thương mại, thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu 58
3.1.5 Các chính sách hỗ trợ khác 58
3.2 Kết quả thu hút vốn FDI, những tác động và đóng góp của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình 59
3.2.1 Kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Ninh Bình 59
Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2006 59
3.2.2 Những tác động tích cực của FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 61
3.2.3 Những hạn chế trong thu hút vốn FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 68
3.2.4 Nguyên nhân của các hạn chế trong thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 74
Trang 73.3 Định hướng phát triển kinh tế xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới 77 3.3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 77 3.3.2 Nhu cầu thu hút FDI của tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 79 3.3.3 Định hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian tới 81 3.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Ninh Bình 85 3.4 Các giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 87 3.4.1 Tăng cường công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút FDI và các chính sách bảo đảm đầu tư 87 3.4.2 Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bảo đảm thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 88 3.4.3 Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ lao động và công nhân kỹ thuật về văn hóa, chuyên môn và ý thức pháp luật lao động trong các doanh nghiệp FDI 89 3.4.4 Tăng cường quản lý nhà nước đối với khu vực vốn FDI 91 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Số thuế nộp ngân sách của các doanh nghiệp FD 67 3.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo địa phương 71
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực, sự vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) có ý nghĩa rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định, nhưng vốn FDI có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như: bổ sung nguồn vốn đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, tiếp thu trình độ quản lý hiện đại, tạo nhiều việc làm, đóng góp tích cực vào thu ngân sách v.v Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động mạnh vốn FDI để phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Tỉnh Ninh Bình là địa phương có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nằm cách thủ đô Hà Nội 93km, có địa hình đa dạng với 3 vùng rõ rệt (đồi núi bán sơn địa, đồng chiêm trũng và đồng bằng ven biển), có vị trí đặc biệt về giao thông với Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10, tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua và giao thông đường thủy thuận lợi Thế mạnh kinh tế nổi bật của tỉnh Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch Tuy nhiên, trong thời gian qua, vốn FDI đầu tư vào tỉnh Ninh Bình chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu vốn đầu tư, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương; bên cạnh đó, sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình chưa thực sự nổi bật như kỳ vọng
Do vậy, giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI vào địa bàn tỉnh Ninh Bình, vừa phát huy tối đa ưu điểm, đồng thời khắc phục những tác động tiêu cực của nguồn vốn này đang là đề tài cấp thiết đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách của tỉnh Ninh Bình Đây thực sự là vấn đề nan giải đối với
Trang 11các tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung và đối với tỉnh Ninh Bình nói riêng
Để giải quyết vấn đề trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm luận
- Mục tiêu cụ thể:
Một là: Hệ thống hóa cơ sở lý luận thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Hai là: Khái quát các chính sách thu hút vốn FDI trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình trong thời gian qua
Ba là: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình
Bốn là: Đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường thu hút vốn
FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Quá trình và kết quả thu hút FDI trên địa bàn Ninh Bình
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
+ Phạm vi về nội dung: Các chính sách thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và tác động của chúng đến kết quả thu hút vốn FDI
+ Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu trong 10 năm từ năm 2003 đến 2012
Trang 124.Nội dung nghiên cứu
- Trên cơ sở lý luận về chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài nêu
lên tầm quan trọng của chính sách thu hút FDI Từ kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia và một số tỉnh thành đưa ra những bài học kinh nghiệm và thực tiễn thu hút vốn FDI ở Ninh Bình
- Khái quát về các chính sách thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Kết quả thu hút FDI và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI ở tỉnh Ninh Bình
- Dự báo xu hướng thu hút FDI ở Ninh Bình giai đoạn 2015-2020
- Giải pháp thu hút FDI và đề xuất chính sách phù hợp với tỉnh Ninh Bình
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính sách thu thu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một loại hình của đầu tư quốc tế, trong đó người chủ đầu tư có quyền kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lợi ích của mình ở một hãng nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm quyền sở hữu và quyền kiểm soát sản xuất kinh doanh ở nước ngoài Để tiến hành đầu tư trực tiếp, một công ty
có thể đặt công ty con ở nước ngoài, mua (thuê hoặc xây dựng) những tài sản hiện vật hoặc mua một lượng đủ lớn cổ phiếu của một công ty ở nước ngoài
để có thể có được quyền kiểm soát toàn bộ hay từng phần công ty Mức cổ phiếu tối thiểu để có thể có quyền kiểm soát quản lư công ty tùy thuộc vào luật của từng nước Ở hầu hết các nước, ngưỡng đó từ 10% đến 25%, riêng ở
Mỹ ngưỡng đó là 10% Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường do các công ty đa quốc gia hay công ty xuyên quốc gia thực hiện
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài
có thể thực hiện thông qua các hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và hợp đồng BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) và BT (xây dựng - chuyển giao) và một số hình thức khác Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, chính phủ nước sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và đặc khu kinh tế
Trang 14Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng của đầu tư nước ngoài Các nhà kinh tế phân chia vốn đầu tư nước ngoài thành một số loại hình cơ bản như sau:
1.1.1.2 Khái quát các quan niệm về vốn FDI trong lịch sử
* Quan điểm của V.I Lênin về xuất khẩu tư bản
V I Lênin là người có công đặt nền móng cho nghiên cứu đầu tư nước ngoài Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của Chủ nghĩa tư bản (CNTB) thấy rằng CNTB đã trải qua các thời kỳ:
+ Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII: đây là thời kỳ hình thành phương thức sản xuất TBCN Đặc trưng về kinh tế của CNTB trong thời kỳ này là tích lũy nguyên thủy và sự phát triển của công trường thủ công
+ Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX: đây là thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước tư bản phát triển như Anh và Pháp Lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc Nền kinh tế trong thời kỳ này diễn ra theo nguyên tắc dự do, còn gọi là giai đoạn tự do
Đầu tư nước ngoài
Đầu tư của DN, cá
nhân nước ngoài
Trợ giúp phát triển chính thức của CP và tổ chức quốc tế
Tín dụng thương mại
Hỗ trợ
dự
án (ODA)
…
Hỗ trợ phi
dự án (NGO)
Tín dụng thương mại
Trang 15cạnh tranh của CNTB V.I Lênin chỉ ra rằng xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh Xuất khẩu hàng hóa là việc đem tư bản hàng hóa ra bán ở nước ngoài để thực hiện giá trị hàng hóa, trong đó có giá trị thặng dư
+ Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến chiến tranh thế giới thứ hai: đây là thời kỳ độc quyền tư nhân của CNTB Trong thời kỳ này diễn ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực chất là sự tranh giành thuộc địa giữa 2 phe đế quốc già (Anh, Pháp, Nga) và đế quốc trẻ (Đức, Mỹ, Nhật) + Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay: CNTB chuyển sang thời
kỳ độc quyền nhà nước với sự xuất hiện của sở hữu nhà nước và các hoạt động can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước vào các quá trình kinh tế
Sống trong thời kỳ CNTB độc quyền, vận dụng sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử mới của thế giới, Lênin
đã chứng minh rằng CNTB đã chuyển sang CNTB độc quyền, đồng thời nêu ra 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền trong tác phẩm
“Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” V.I Lênin chỉ ra rằng xuất khẩu tư bản là đặc điểm của CNTB độc quyền Xuất khẩu
tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở nước nhập khẩu tư bản
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì:
+ Một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn
và có một số “tư bản thừa” tương đối, cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận hơn so với đầu tư trong nước
+ Nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới nhưng lại rất thiếu tư bản, giá ruộng đất tương đối hạ, tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư tư bản
Trang 16Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới 2 hình thức chủ yếu là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Việc thực hiện các hình thức xuất khẩu tư bản, xét về phương diện chủ sở hữu tư bản, được chia thành xuất khẩu tư bản tư nhân và
xuất khẩu tư bản nhà nước V.I Lênin cho rằng: “Việc xuất khẩu tư bản ảnh
hưởng đến sự phát triển của CNTB và thúc đẩy hết sức nhanh sự phát triển đó trong những nước đã được đầu tư Cho nên, nếu trên một mức độ nào đó, việc xuất khẩu tư bản có thể gây ra một sự ngừng trệ nào đó trong sự phát triển của các nước xuất khẩu tư bản ” Từ đó, V.I Lênin rút ra kết luận: “Các nước xuất khẩu tư bản hầu như bao giờ cũng có khả năng thu được một số khoản lợi nào đó và tính chất của những khoản lợi này làm sáng tỏ đặc trưng của thời đại tư bản tài chính và độc quyền ” [17]
Như vậy, xuất khẩu tư bản có ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản nhưng lại giúp các tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận độc quyền cao ở nước ngoài; ngoài ra còn để nhà nước tư bản độc quyền thực hiện những mục tiêu kinh tế, chính trị và quân sự có chủ ý riêng Thực chất việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị, bóc lột,
nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới
* Quan điểm của P.A.Samuelson về “cú huých từ bên ngoài”
Giữa thế kỷ XX, hoạt động xuất khẩu tư bản (nhất là FDI) tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, thu nhập thực tế theo đầu người ở các nước đang phát triển thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Ở các nước đang phát triển tuổi thọ trung bình thấp; thành tựu giáo dục, văn hóa kém; tỷ trọng tăng dân số và số người làm việc ở nông thôn cao Vì thế vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách của các nước đang phát triển Các nhà kinh tế học tư sản, cho rằng để tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nước đang phát triển phải có biện pháp thu hút được FDI
Trang 17Lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài là lý thuyết do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, tiêu biểu là P.Samuelson Theo
đó, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải đảm bảo 4 nhân tố là: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật
Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, bốn nhân tố đó rất khan hiếm và việc kết hợp chúng đang gặp trở ngại lớn Ở nhiều nước khó khăn lại càng khó khăn thêm trong “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khổ P.A.Samuelson cho biết khoảng 50% dân số thế giới ở châu Á và châu Phi - những nước nghèo nhất thế giới chia nhau 5% thu nhập thế giới Trong khi đó, 6% dân số thế giới (số dân nước Mỹ) chiếm 25% thu nhập toàn thế giới [21]
Cái vòng luẩn quẩn của các nước nghèo
Để tăng trưởng và phát triển phải có “cú huých từ bên ngoài” nhằm phá
“cái vòng luẩn quẩn” ở nhiều điểm Điều này có nghĩa là phải có đầu tư lớn của nước ngoài vào các nước đang phát triển Muốn vậy, các nước đang phát triển phải tạo ra các điều kiện thuận lợi nhằm kích thích tính tích cực đầu tư của tư bản nước ngoài
Thu nhập bình
quân thấp
Tốc độ tích lũy vốn thấp
Tiết kiệm và đầu tư thấp
Năng suất thấp
Trang 18* Quan điểm của R.Nurkse về hình thành vốn ở các nước chậm phát triển
Lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, trong đó có P.Samuelson và R.Nurkse Trong cuốn sách “Những vấn đề hình thành vốn ở các nước chậm phát triển”, R.Nurkse trình bày có hệ thống cách giải quyết vấn đề về vốn R.Nurkse lấy
“cái vòng luẩn quẩn” của sự đói nghèo làm lý luận về tạo vốn Trong cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo thì thiếu vốn là nguyên nhân cơ bản
Do vậy, R.Nurkse cho rằng mở cửa để thu hút FDI được cho là giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển Việc mở cửa cho FDI giúp hàng hóa của các nước đang phát triển có thể thâm nhập thị trường mới, khuyến khích ứng dụng kỹ thuật hiện đại và phương pháp quản lý hiệu quả Đồng thời nguồn vốn FDI còn giúp các nước đang phát triển tránh được những ràng buộc về lãi suất, điều kiện thanh toán nợ v.v của vốn vay quốc
tế FDI giúp các nước có thu nhập thấp có thể chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu và thực phẩm xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế Ông cho rằng, mặc dù FDI phục vụ lợi ích của các nước công nghiệp xuất khẩu vốn chứ không phải nước nhận vốn, thậm chí một số nước đang phát triển phải chịu sự mất cân bằng, nhưng vẫn nên mở cửa hơn đóng cửa, vì FDI đem lại lợi ích chung cho cả hai bên dù chẳng bao giờ có cân bằng tuyệt đối Mở cửa cho FDI là đòi hỏi tự nhiên và tất yếu của quá trình vận động thị trường vốn quốc tế Đầu tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động tự do của các động cơ tìm kiếm lợi nhuận, và do đó, đầu
tư FDI của tư nhân chịu sự tác động lớn của xu hướng vận động thị trường vốn quốc tế [21]
1.1.1.3 Đặc điểm vận động của vốn FDI
* Đối với nước đầu tư:
- Đầu tư ra nước ngoài sẽ góp phần làm tăng thu nhập quốc dân của nước đầu tư
Trang 19- Việc đầu tư ra nước ngoài có thể làm tăng hiệu suất của vốn đầu tư, nhờ đó có thể làm tăng tổng lợi tức (hay tổng thu nhập) của chủ sở hữu vốn của quốc gia
- Tuy nhiên đầu tư ra nước ngoài có thể làm giảm hiệu suất hay thu nhập
từ các yếu tố sản xuất khác như lao động và đất đai do giảm việc làm và mức tiền công thực tế
- Hệ quả của hai điều trên là sự tái phân phối thu nhập giữa công nhân và chủ tư bản với sự bất lợi nghiêng về phía người lao động Nhiều việc làm mất
đi do đầu tư ra nước ngoài Đó cũng là lý do mà nhiều nghiệp đoàn lao động,
ví dụ ở Mỹ, phản đối việc đầu tư ra nước ngoài
- Đầu tư ra nước ngoài sẽ ảnh hưởng tới cán cân thanh toán của quốc gia
cả về mặt ngắn hạn cũng như dài hạn Ảnh hưởng này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước trong từng thời kỳ nhất định
- Đầu tư ra nước ngoài ảnh hưởng tới sản lượng của ngành cũng như của quốc gia và khối lượng xuất khẩu, do đó sẽ ảnh hưởng tới hệ số thương mại
* Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc nội của nước tiếp nhận đầu tư
- Đầu tư nước ngoài có khuynh hướng làm giảm hiệu suất của vốn đầu tư
do đầu tư nước ngoài đổ vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận lớn Do vậy, tổng thu nhập của chủ sở hữu vốn sẽ giảm
- Đầu tư nước ngoài có thể làm tăng hiệu suất hay thu nhập từ các yếu tố sản xuất khác như lao động và đất đai
- Ở các nước tiếp nhận đầu tư sẽ diễn ra khuynh hướng tái phân bổ thu nhập nội địa từ chủ sở hữu vốn chuyển sang cho người lao động Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại nhiều việc làm hơn cũng như góp phần làm tăng mức tiền công của người lao động
Trang 20- Tiếp nhận đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng tới sản lượng của ngành cũng như của quốc gia và xuất khẩu Hệ quả là sẽ ảnh hướng tới hệ số thương mại Riêng đối với Việt Nam, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay là khu vực có đóng góp lớn nhất cho xuất khẩu của đất nước
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đối với Việt Nam, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một đầu tàu quan trọng của tăng trưởng kinh tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đi kèm với chuyển giao công nghệ, bao gồm cả công nghệ quản lý Mức độ cải thiện công nghệ của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách công nghệ của nước đó
- Ngoài ra đầu tư nước ngoài cũng có thể làm cho nền kinh tế phụ thuộc nhiều hơn vào nước ngoài, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát nền kinh tế của Chính phủ Các nhà đầu tư nước ngoài có thể chạy theo mục tiêu lợi nhuận gây hậu quả ô nhiễm môi trường hoặc tận dụng những kẽ hở của luật pháp để thực hiện việc “chuyển giá” trong hoạt động đầu tư
* Đối với nền kinh tế thế giới:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần làm tăng sản lượng cũng như
phúc lợi của toàn bộ thế giới
1.1.2 Khái niệm, vai trò và các bộ phận cấu thành của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Khái niệm về chính sách thu hút vốn FDI
Chính sách thu hút vốn FDI là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó
Trang 21Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối ngoại
Theo lĩnh vực áp dụng, chính sách đối ngoại của một quốc gia được chia thành chính sách ngoại giao (lĩnh vực chính trị) và chính sách kinh tế đối ngoại (lĩnh vực kinh tế) Theo nội dung, chính sách kinh tế đối ngoại lại chia
ra thành chính sách đầu tư nước ngoài, chính sách ngoại thương, chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối, chính sách dịch vụ đối ngoại, chính sách hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ, chính sách tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế…
Theo dòng chảy của vốn đầu tư, chính sách đầu tư nước ngoài được phân chia thành chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và chính sách đầu tư ra nước ngoài Theo tính chất, chính sách đầu tư nước ngoài được chia thành chính sách đầu tư tự do và chính sách đầu tư hạn chế Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được chia thành: chính sách mặt hàng (ngành và lĩnh vực đầu tư), chính sách thị trường (đối tác và địa bàn đầu tư) và chính sách hỗ trợ đầu tư Trong mỗi chính sách bộ phận trên lại có hàng loạt các chính sách khác Đối với mỗi quốc gia, việc thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau Theo thời gian, một nước đang phát triển sẽ có nhu cầu về vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước lớn hơn ở giai đoạn đầu, sau đó khi các doanh nghiệp trong nước đã tích lũy đủ vốn thì họ sẽ
có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài
Như vậy, chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận của chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Trên cơ sở các chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về đầu tư nói chung, đầu tư FDI nói riêng, các tỉnh, thành phố có thể linh hoạt vận dụng để quy định ưu đãi khuyến khích cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường thu hút vốn FDI, góp phần phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 221.1.2.2 Vai trò của chính sách thu hút vốn FDI
Ở các quốc gia đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực phần lớn chưa qua đào tạo Trong khi đó nhu cầu phát triển luôn phải đối mặt với sức ép cần vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác lợi thế so sánh nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng cao, giải quyết việc làm và ổn định đời sống xã hội Từ cuối thập kỷ 80 đến hết thập kỷ 90 của thế kỷ trước, xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác, công nghiệp chế tạo và những ngành cần nhiều lao động Trong bối cảnh đó, chính sách của các nước đang phát triển rất khó thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, sản xuất những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hoặc vào những ngành phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về bảo vệ môi trường Vì vậy chính sách thu hút FDI vào những ngành có lợi thế tự nhiên, phù hợp với trình độ phát triển và đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế là khá phù hợp Do đó mặc dù chính sách thu hút FDI có những hạn chế nhất định, nhưng đã có những đóng góp rất tích cực, thể hiện được vai trò là trụ cột đối với thành công của chính sách kinh tế đối ngoại
- Thứ nhất, Vai trò quan trọng dễ thấy nhất của chính sách thu hút FDI là
tăng cường nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng Ở Việt Nam, lượng vốn FDI giải ngân đã tăng từ 2,45 tỷ USD năm 2001 lên 8,1 tỷ USD năm 2007 và đạt được trên 40 tỷ USD năm 1998, đến năm 2013 đạt trên 200 tỉ USD Đóng góp của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng chiếm 13,1% năm 1990 đã tăng lên mức 32,3% năm 1995 Tỷ lệ này giảm dần trong giai đoạn 2001-2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội Như vậy, chính sách thu hút FDI đã khuyến khích dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào trong nước Để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia thường sử dụng các
Trang 23công cụ rất đa dạng; bao gồm công cụ tài chính (các khuyến khích về thuế )
và phi tài chính (quyền sở hữu đất đai, thời gian thực hiện dự án, quy định về ngành và lĩnh vực đầu tư, quy định về hình thức đầu tư, quy định về tỷ lệ góp vốn, sự chuyển vốn ra nước ngoài, chính sách liên quan đến lao động, thủ tục thẩm định các dự án, quyền sở hữu trí tuệ )
- Thứ hai, Chính sách thu hút FDI điều chỉnh mối quan hệ giữa các loại
hình đầu tư, các hình thức đầu tư cụ thể, cũng như mối quan hệ giữa các ngành và các vùng lãnh thổ trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Hình thức đầu tư rất đa dạng và phong phú như: hợp tác kinh doanh trên cơ
sở hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; BOT; BTO; BT; đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp Trong những h́nh thức đầu tư trên, hình thức nào được cấp phép của chính phủ và chính phủ khuyến khích loại hình đầu tư nào Những quy định về ngành và lĩnh vực đầu tư; trong đó quy định rõ những ngành và lĩnh vực được khuyến khích, những ngành và lĩnh vực đòi hỏi những điều kiện nhất định
1.1.2.3 Các bộ phận cấu thành chính sách thu hút vốn FDI
Thứ nhất, Chính sách về cơ cấu đầu tư: Những ngành, lĩnh vực mà các
nhà đầu tư nước ngoài được tự do đầu tư tự do hoặc đòi hỏi một số điều kiện nhất định hoặc những ngành, lĩnh vực được ưu đãi, khuyến khích Chính sách
về cơ cấu đầu tư còn cho biết sự đa dạng của loại hình đầu tư và mức độ phù hợp đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ hai, chính sách về đất đai và lao động:
Về đất đai, chính sách này xác định quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ sở hữu đất đai, thời hạn và mức tiền thuê đất, thuê mặt nước
Về lao động, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được phép
tự do tuyển dụng lao động hay không và phải tôn trọng các nguyên tắc nào trong mối quan hệ chủ - thợ Thông thường, các nhà đầu tư phải ưu tiên tuyển dụng các lao động của nước sở tại, đặc biệt là các lao động ở địa phương đặt
Trang 24trụ sở Việc tuyển dụng lao động có thể thông qua văn phòng tuyển dụng, tư vấn đầu tư hay các tổ chức dịch vụ Chỉ khi nào những cơ quan trên không cung cấp được cho doanh nghiệp những lao động phù hợp về số lượng và chất lượng thì doanh nghiệp mới trực tiếp đứng ra tuyển dụng
Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, các bên hợp doanh cần giải trình sự cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài có kèm theo chứng chỉ nghề nghiệp của người lao động nước ngoài gửi Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp để xem xét việc cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động Doanh nghiệp cần có kế hoạch thay thế lao động nước ngoài này bằng lao động trong nước
Thứ ba, Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính: Chính sách
này bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp cho ngân sách Nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận Sau kỳ chịu thuế này, các doanh nghiệp có thể được giảm thuế trong một thời gian nào đó Các doanh nghiệp thuộc các địa bàn đặc biệt (khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao) được khuyến khích ưu đãi về thuế doanh thu, thuế thu nhập…
Luật thuế xuất nhập khẩu: cũng là một công cụ để khuyến khích hay hạn chế đầu tư nước ngoài Nếu một hàng hoá được khuyến khích đầu tư sản xuất bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một nước thì có thể được miễn giảm thuế xuất (nhập) khẩu
Hoàn trả thuế lợi tức: Một khi lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế lợi tức đã nộp Thuế chuyển lợi nhuận về nước: Thông thường, vốn trả nợ cho nước ngoài không phải chịu thuế, song khoản vay mượn này phải được kê khai trong hồ sơ dự án đầu tư khi xin giấy phép đầu tư Lợi nhuận chuyển ra nước
Trang 25ngoài cần được xem xét về mức độ đánh thuế của nó
Thuế thu nhập cá nhân: được đánh vào những người có thu nhập cao làm việc trong các dự án đầu tư nước ngoài
Quy định hình thức và tỷ lệ góp vốn: Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài có thể góp vốn dưới các hình thức khác nhau như: bằng tiền mặt, máy móc, nguyên vật liệu, quyền sở hữu công nghiệp hay giá trị quyền sử dụng đất Các nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh có thể dùng lợi nhuận để tái đầu tư vào liên doanh hay tiến hành một hoạt động kinh doanh mới hay không
Sự chuyển vốn ra nước ngoài: Thông thường, sau khi chịu thuế, nhà đầu
tư nước ngoài có thể chuyển về nước những khoản lợi nhuận, giá trị chuyển nhượng công nghệ và dịch vụ, vốn đầu tư thu hồi, gốc và lãi từ các khoản nợ thu được
Thứ tư, Chính sách về thương mại: Chính sách về thương mại bao gồm
chính thị trường trong nước và chính sách xuất nhập khẩu Các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến chính sách thương mại của mỗi quốc gia, sự cân nhắc xem xét đầu tư có liên quan đến sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm đầu ra ở đâu, trong nước hay ngoài nước; cũng như thu mua nguyên liệu đầu vào từ đâu, trong nước hay ngoài nước Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới hoặc tham gia các cam kết, hiệp định thương mại song phương hoặc
đa phương sẽ góp phần thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
1.2 Tâm quan trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Tầm quan trọng của chính sách thu hút vốn FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trên cơ sở xem xét đặc điểm vận động của vốn FDI, cho thấy FDI mang tính hai mặt: tích cực và hạn chế Dù vẫn chịu chi phối của Chính Phủ, nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai nước Mặt khác, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh nên mức độ khả thi của
Trang 26dự án khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu Vì quyền lợi gắn chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân Do vậy, hoạch định đúng chính sách thu hút FDI sẽ
có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước nhận đầu tư
Hiện nay có nhiều trường phái đánh giá về vai trò của chính sách FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư Có thể nêu 4 trường phái chính là: Trường phái ủng hộ, Trường phái lệ thuộc, Trường phái thương lượng, Trường phái cấu trúc Trường phái ủng hộ chính sách thu hút FDI cho rằng các công ty nước ngoài, nếu được phép hoạt động trong điều kiện cạnh tranh cùng các công ty trong nước, sẽ tạo ra cho các nước đang phát triển một triển vọng tốt nhất để đẩy nhanh sự tăng trưởng của đất nước Ngược lại, trường phái lệ thuộc lại cho rằng, các công ty đa quốc gia sẽ gây cho các nước đang phát triển hàng loạt các vấn đề như chiếm giữ vị trí độc quyền, làm suy yếu cán cân thanh toán, khuyến khích tiêu dùng hàng sang trọng, tăng nợ nước ngoài và thất nghiệp Trường phái thương lượng cho rằng sự phân phối lợi ích tuỳ thuộc vào sự thương lượng giữa chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư và các công ty
đa quốc gia, vì vậy các nước chủ nhà cần thiết lập các tổ chức và thể chế nhằm khai thác những lợi thế lâu dài và giảm bớt rủi ro Trường phái cấu trúc cho rằng, chính sự liên minh của các công ty đa quốc gia với tầng lớp trên của
xã hội, kể cả lao động có trình độ cao ở các nước đang phát triển đang làm giảm quyền lực và hạn chế những tham vọng chính trị của chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư trong việc thương lượng với các công ty đa quốc gia trong khuôn khổ cấu trúc của sự tham gia của chúng về thị trường
Mặc dù đánh giá về ảnh hưởng của chính sách thu hút FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư là rất phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cũng
Trang 27không thể phủ nhận được rằng, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phân công lao động xã hội ngày càng mang tính chất quốc tế Việc phân công lao động quốc tế với những ưu thế của mình đã và đang cho phép khai thác tối đa tiềm năng của từng vùng, từng quốc gia và toàn cầu Quá trình phát triển của phân công lao động mang tính quốc tế đã đòi hỏi sự ra đời của các loại hình hợp tác quốc tế trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thúc đẩy quá trình phân công lao động Trong những hình thức đó đầu
tư trực tiếp của nước ngoài đang đóng vai trò hết sức quan trọng Ở Việt Nam, chính sách thu hút FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội Chủ trương của Đảng đã khẳng định: kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong năm thành phần kinh tế của cơ cấu kinh tế nước ta Nhìn chung, chính sách thu hút FDI có những tác động ảnh hưởng sau:
Trước hết: Chính sách thu hút FDI có vai trò quan trọng trong việc tạo vốn cho phát triển kinh tế Với bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển đều cần
vốn đầu tư, không có đầu tư không thể phát triển và tăng trưởng kinh tế Để
có nguồn vốn đầu tư, các quốc gia đều dựa vào hai nguồn: nguồn vốn tích luỹ trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Chính sách thu hút FDI để thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh của nước chủ nhà, bởi vậy
nó có ý nghĩa tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ dừng lại ở đồng vốn trực tiếp được đưa vào, mà còn khơi dậy, sử dụng các nguồn lực trong nước cùng vận hành như đất đai, tài nguyên, vốn của các doanh nghiệp trong nước trực tiếp tham gia đầu tư hoặc dự án đầu tư FDI kéo theo hoạt động của các doanh nghiệp trong nước như: xây dựng, vận tải, cung ứng vật
tư, nguyên liệu, dịch vụ
Thứ hai: Chính sách thu hút FDI có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ khoa học - công nghệ Khi tiến hành đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, để có
thể tiêu thụ được sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, nâng cao hiệu
Trang 28quả đầu tư, các nhà đầu tư về nguyên tắc đều phải trang bị các loại máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại nhằm sử dụng trình độ lao động rẻ của nước chủ nhà Kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới cho thấy, chính sách thu hút FDI là một trong những giải pháp nhanh nhất để nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ, quản lý, sớm tiếp cận với những thành tựu khoa học mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Với các nước đang phát triển, việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường quốc tế là một trong những việc cần thiết nhưng vô cùng khó khăn, do chưa
có kinh nghiệm trên thương trường quốc tế, sản phẩm chất lượng chưa tốt, giá cao, bạn hàng ít Bởi vậy, để có thể mở rộng thị trường, có thể thông qua nhà đầu tư nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm, lựa chọn máy móc thiết bị và công nghệ thích hợp Các nhà đầu tư tiến hành đầu tư ở các nước khác để tận dụng những lợi thế so sánh về nguyên liệu, lao động để hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Việc hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài để
có thể tận dụng những kinh nghiệm, uy tín của các công ty nước ngoài để bán sản phẩm, thâm nhập thị trường là một yêu cầu quan trọng và tất yếu đối với các nước đang phát triển, đổi mới mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ ba: Chính sách thu hút FDI có vai trò quan trọng trong chiến lược tạo việc làm cho người lao ðộng Hoạt động đầu tư FDI tạo ra việc làm trực
tiếp cho người lao động, các nước đi đầu tư đều nhằm mục tiêu sử dụng lao động nhiều, rẻ của các nước sở tại (đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động) Vì vậy, khi thực hiện các giải pháp thu hút vốn FDI, đồng nghĩa với nó
là giải quyết việc làm cho người lao động Thậm chí, đối với một số nước có dân số lớn, việc thu hút FDI được coi là giải pháp cơ bản trong chiến lược giải quyết việc làm cho người lao động
Thứ tư: Chính sách thu hút FDI góp phần đổi mới phương pháp quản lý
và tác phong sản xuất công nghiệp Thông qua làm việc trong các doanh
Trang 29nghiệp có vốn FDI, nhờ việc tiếp cận với máy móc, thiết bị mới, công nghệ hiện đại mà người lao động có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, kỷ luật lao động của một nền sản xuất hiện đại, phương thức sản xuất tiên tiến Các nhà quản trị doanh nghiệp trong nước có thể học tập kinh nghiệm phương pháp quản trị tiên tiến của nước ngoài để ứng dụng vào hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, để thu hút vốn FDI cũng như quản lý hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi các nhà quản lý Nhà nước ở Trung ương, Bộ, Ngành, địa phương phải học tập và trau dồi kiến thức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn FDI
Chính sách thu hút FDI của một nước chịu sự chi phối của: Môi trường chính trị - xã hội; Hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô; Cơ sở
hạ tầng cho đầu tư phát triển; Trình độ đội ngũ lao động và công nhân kỹ thuật; Tổ chức quản lý nhà nước và năng lực đội ngũ cán bộ Cụ thể như sau:
1.2.2.1 Môi trường kinh tế, chính trị - xã hội
Đây có thể được coi là nhân tố khách quan của việc thu hút FDI của các địa phương
Môi trường chính trị - xã hội là tổng thể những quan điểm chính trị và điều kiện xã hội của một nước thể hiện ý chí của một nước đối với các nhà đầu tư Hai vấn đề quan trọng cấu thành lên môi trường chính trị - xã hội Chính trị và xã hội ổn định được coi là những nhân tố hàng đầu khi các nhà đầu tư bàn đến để quyết định địa bàn kinh doanh Chính trị - xã hội và mức tăng trưởng kinh tế ổn định, tạo được niềm tin hạn chế được rủi ro đối với các nhà đầu tư sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh thu hút FDI
Trước hết là sự ủng hộ hay không ủng hộ đầu tư nước ngoài Điều này thể hiện ở chỗ nhà đầu tư có được hoan nghênh, ủng hộ hay không khi đến đầu tư ở một nước khác Môi trường chính trị - xã hội phụ thuộc vào nhận
Trang 30thức của nước chủ nhà Nếu coi đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế, có vai trò tạo nguồn lực cho sự phát triển, tất yếu sẽ
có môi trường chính trị - xã hội thân thiện giữa nước chủ nhà với các nhà đầu
tư nước ngoài Còn nếu nhìn đầu tư nước ngoài dưới góc độ là một hình thức
mà nhà đầu tư nước ngoài khai thác và bóc lột nguồn lực của nước nhận đầu
tư tất yếu sẽ dẫn đến môi trường chính trị - xã hội không thuận lợi, một tâm lý
xã hội kỳ thị đầu tư nước ngoài
Nhìn chung, môi trường chính trị xã hội ảnh hưởng đến chính sách thu hút FDI thể hiện tập trung nhất ở hệ thống quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, như xác định rõ FDI có vai trò như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của nước đó từ đó có thái độ và chính sách đối với FDI
Xuất phát từ lý luận về xuất khẩu tư bản của Lênin, từ vai trò nguồn vốn nước ngoài của các nhà kinh tế học hiện đại cho thấy, FDI là nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước, nhất là các nước đang phát triển Thiếu nguồn vốn này, các nước khó có thể vượt khỏi “cái vòng luẩn quẩn” của sự đói nghèo để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội Với tư cách là những nước nhận đầu tư, FDI có những tác động tích cực đối với sự phát triển song cũng có những hạn chế của nó Vấn đề là ở chỗ, chính sách thu hút như thế nào và biện pháp xử lý ra sao nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của loại hình đầu tư này
Từ kinh nghiệm của các nước đang phát triển thành công trong chính sách thu hút FDI, nhìn chung các nước này đều có thái độ và chính sách ưu đãi với các nhà đầu tư nước ngoài Hoạt động FDI được nhìn nhận không phải
là hoạt động nhằm bóc lột nguồn lực của nước mình, mà là những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Chính vì vậy, các nước thường có những chính sách ưu đãi, nhất quán đối với các nhà đầu tư, tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI Là nhà đầu tư, họ quan tâm đến những lợi ích và những vấn đề ưu đãi mà họ có thể thu được từ dự án đầu tư
Trang 31thực hiện ở nước sở tại, các vấn đề liên quan đến việc thành lập và triển khai
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong việc thành lập dự án, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới việc phải hoàn thành những gì trong bộ hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư, các ngành các cấp nào sẽ tham gia vào việc cấp giấy phép đầu tư, liệu nhà đầu tư có nhận được các thông tin trợ giúp từ phía Chính phủ và các tổ chức môi giới hay không, thời gian trung bình để có được một giấy phép đầu tư là bao lâu…
Môi trường chính trị - xã hội còn được thể hiện ở sự an toàn về thân thể đối với nhà đầu tư Nhà đầu tư hoạt động tại một nước sở tại, họ phải sinh sống và làm việc ở nước đó Nếu một nước môi trường xã hội ổn định, tình trạng tội phạm thấp, sự an toàn thân thể của nhà đầu tư được bảo đảm cao, sẽ tạo cho nhà đầu tư yên tâm trong hoạt động đầu tư
Môi trường chính trị - xã hội còn thể hiện ở chỗ có hay không có và nếu
có thì ở mức độ nào của tình trạng tham nhũng trong bộ máy quản lý nhà nước, trước hết là ở bộ phận quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nếu tình trạng tham nhũng thấp sẽ kích thích tâm lý đầu tư và ngược lại
1.2.2.2 Hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô
Hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô là bộ phận quan trọng nhất của môi trường đầu tư nước ngoài Nó phản ánh tình trạng hệ thống luật pháp để thực hiện đầu tư nước ngoài
Như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động đầu tư nước ngoài về bản chất là nhằm thu lợi nhuận cho nhà đầu tư Lợi nhuận đầu tư lại phụ thuộc vào rất nhiều những nhân tố, trong đó, hệ thống luật pháp là nhân tố hàng đầu Luật pháp không những có vai trò bảo vệ quyền tài sản của nhà đầu tư mà còn chỉ cho nhà đầu tư biết họ được làm gì và không được làm gì khi đầu tư vào một nước khác Vì thế việc tạo môi trường luật pháp rõ ràng, ổn định tạo cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong việc đầu tư vốn vào một nước khác
Trang 32Trong hệ thống luật pháp, trước hết là các bộ luật và luật trực tiếp liên quan đến FDI Yêu cầu của các bộ luật này là đồng bộ, minh bạch, ổn định, và phù hợp với thông lệ quốc tế đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút FDI
Cùng với hệ thống luật pháp là các công cụ chính sách vĩ mô để điều chỉnh hoạt động đầu tư Một hệ thống công cụ chính sách vĩ mô thích hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nói chung, FDI nói riêng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đối với một tỉnh, thành phố, để thu hút được nguồn FDI, cần thiết phải vận dụng hệ thống luật pháp của nhà nước vào địa phương Yêu cầu chung là phải căn cứ vào khung khổ luật pháp chung của cả nước, địa phương đưa ra những quy định không trái với quy định pháp luật chung và phù hợp với điều kiện của địa phương
Điều quan trọng là địa phương phải xây dựng được quy hoạch, kế hoạch định rõ mục tiêu, phương hướng và biện pháp kích thích để thu hút nguồn FDI Có như vậy, việc thu hút FDI vào các địa phương vừa thống nhất với quy hoạch, kế hoạch chung của cả nước, vừa chủ động khai thác tiềm năng, thế mạnh để thu hút nguồn vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh thị trường
1.2.2.3 Cơ sở hạ tầng cho đầu tư phát triển
Hệ thống cơ sở hạ tầng (độ tin cậy, chất lượng và tiện ích) như: hạ tầng giao thông, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện, cung cấp nước sạch và hệ thống thoát nước của nước nhận đầu tư tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh
tế các dự án đầu tư của các công ty Là những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định đối với các nhà đầu tư khi lựa chọn địa bàn đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn địa điểm thuận lợi trong việc triển khai dự án Đây vừa là tiền đề triển khai vừa là yếu tố đầu vào của dự án có vốn đầu tư
Trang 33tực tiếp nước ngoài Để so sánh, quyết định nên đầu tư vào quốc gia nào, ở đâu thì một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng đồng bộ, có chất lượng giúp dự án sớm đi vào hoạt động, đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
và giải quyết các vấn đề xã hội Chính sách thu hút FDI của các quốc gia trong trường hợp này thường là đầu tư cơ sở hạ tầng tập trung ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao để vừa nâng cao hiệu quả hiệu quả
sử dụng nguồn vốn trong nước vừa thu hút mạnh được nguồn vốn FDI
1.2.2.4 Trình độ đội ngũ lao động và công nhân kỹ thuật
Khi triển khai dự án đầu tư, bên cạnh việc quan tâm tới những vấn đề như việc giải phóng mặt bằng có thuận lợi hay không, việc đưa máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu vào nước sở tại để sản xuất kinh doanh có thuận lợi
và khó khăn gì nhà đầu tư còn đặc biệt quan tâm đến việc tuyển dụng nhân công ở nước sở tại có sẵn hay không, kể cả lao động phổ thông và lao động có trình độ cao Trong một số trường hợp còn xem xét việc tuyển dụng nhân công nước ngoài có gặp khó khăn gì không hoặc những vấn đề khác liên quan đến chính sách sử dụng lao động, giải quyết tranh chấp về lao động Việc tuyển dụng người nước ngoài là đảm bảo lợi ích cho các bên đầu tư Vì những mục đích như số lượng việc làm hạn chế, học hỏi kinh nghiệm nước ngoài, tiết kiệm ngoại tệ và những lý do khác nên các nước vẫn mong muốn càng sử dụng ít lao động thuê từ nước ngoài càng tốt Tuy nhiên, nhiều dự án lại đòi hỏi bắt buộc phải sử dụng lao động nước ngoài Đây chính là vấn đề chính sách thu hút FDI cần quy định Một số quy định mà các nước thường sử dụng
để quy định việc tuyển dụng người nước ngoài như: Quy định tổng số lao động nước ngoài không được vượt quá một mức quy định nào đó; Ban hành các thẻ cư trú cho lao động nước ngoài hay thẻ lao động nước ngoài cũng như những quy định về đối tượng bắt buộc phải có các thẻ đó mới được làm việc ở
Trang 34nước sở tại; Quy định những ngành nghề cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài (những ngành nghề còn lại sẽ không cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài); Quy định việc thiết kế các chương trình đào tạo để thay thế lao động nước ngoài bằng các lao động trong nước
1.2.2.5 Tổ chức quản lý nhà nước và năng lực đội ngũ cán bộ
Tổ chức quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài bao gồm hoạt động thẩm định, cấp giấy phép đầu tư, tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, theo dõi
và phối hợp trong việc thanh tra, kiểm tra, tổng hợp tình hình và đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, ban hành luật, nghị định có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài được thực hiện thông qua cấp Trung ương và cấp địa phương Để nâng cao hiệu năng của các
cơ quan Nhà nước thì cần xác định rõ chức năng, quy định cụ thể phạm vi quyền hạn của từng Bộ, mỗi việc chỉ nên do một Bộ chịu trách nhiệm giải quyết Việc thực hiện chức năng của từng Bộ, cũng như việc hợp tác liên ngành tuỳ thuộc vào phẩm chất và năng lực của công chức nhà nước, những người hàng ngày nhân danh Nhà nước để ra các quyết định đối với từng trường hợp, từng sự việc trong những hoàn cảnh cụ thể Nếu đội ngũ công chức nhà nước không đủ phẩm chất, thiếu kiến thức và năng lực chuyên môn, thiếu tinh thần hợp tác thì trở thành lực cản lớn đối với việc nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn FDI Quan hệ chiều
dọc trong quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn FDI được thực
hiện thông qua sự phân công và hợp tác giữa các cơ quan trung ương với
chính quyền địa phương Cần phải bảo đảm tính thống nhất trong cả nước về
việc thực hiện luật pháp, nghiêm cấm việc chính quyền các cấp ban hành những quy định trái pháp luật Nhà nước; đồng thời phải tôn trọng sự sáng tạo
của từng cấp chính quyền trong việc vận dụng các quy định của luật pháp để
khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của từng vùng lãnh thổ Việc phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động của doanh nghiệp Trên cơ sở đó cần thống nhất quy định về mức
Trang 35vốn đầu tư và dự án đầu tư mà Chính phủ uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân
Tỉnh, Thành phố và Ban quản lý khu công nghiệp; không nên duy trì tình trạng các Ban quản lý khu công nghiệp được phân cấp nhiều hơn Uỷ ban Nhân dân Tỉnh và Thành phố Việc cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút FDI cần được khuyến khích theo hướng cải tiến môi trường đầu tư, cải cách hành chính, giảm thiểu thủ tục không cần thiết, giúp đỡ nhà đầu tư giải quyết khó khăn trong triển khai dự án và trong kinh doanh
Các nước tiếp nhận đầu tư nhìn chung đều quan tâm đến chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và đội ngũ cán bộ kinh doanh quốc tế để có thể đáp ứng những yêu cầu của quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài như: tham gia thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài, tham gia hoạch định chính sách đầu tư trên phạm vi khu vực và quốc
tế, tham gia kinh doanh với nhà đầu tư nước ngoài
Trong việc chỉ đạo thực hiện chiến lược thu hút nguồn FDI, cần chú ý để
đẩy mạnh việc giải ngân nguồn vốn Thực tiễn cho thấy, việc thu hút vốn FDI
cũng chịu ảnh hưởng của tỷ lệ giải ngân vốn FDI Số vốn FDI được cấp phép tăng trong khi tỷ lệ giải ngân vốn FDI giảm, điều đó chứng tỏ năng lực giải ngân đã không bắt kịp sự vận động của luồng vốn FDI Có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân nguồn vốn FDI, như: kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở Việt Nam phải mất tới 7 ngày
Lượng vốn FDI đổ vào quá lớn sẽ làm sức mua tăng đột ngột, tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn vốn đổ vào sẽ khiến ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động, dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay, từ đó có thể làm tăng tốc độ lạm phát, như vậy đầu tư FDI sẽ mất đi tính hấp dẫn
Do vậy, chính sách thu hút FDI thì cần phải thực hiện các giải pháp như: cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng để thúc đẩy việc giải ngân vốn FDI, nâng cao tỷ lệ thực hiện vốn cam kết
Trang 361.3 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước và các tỉnh, thành phố trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số quốc gia
Trong số các nước thành viên Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) có rất nhiều nền kinh tế có môi trường đầu tư hấp dẫn và thu hút được nguồn vốn FDI lớn hàng đầu thế giới, tiêu biểu có Trung Quốc, Thái Lan và Singapore Các nước thành viên APEC đều có chung nhận định về FDI, cho rằng đây là nguồn vốn quan trọng, kỳ vọng của các nước phát triển, đang phát triển và nhất là các nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi, như Việt Nam hiện nay Việt Nam là nước đi sau trong quá trình thu hút FDI nên chúng ta có cơ hội tiếp cận bài học kinh nghiệm của những nước đi trước, đặc biệt là những nước có những điểm tương tự với nước ta Từ đó, có thể tiếp thu kinh nghiệm và tránh được những sai lầm mà các nước này đã mắc phải, để
có thể thu hút và quản lý có hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài
1.3.1.1 Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách thu hút vốn FDI của Trung Quốc
Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước có môi trường đầu tư hấp dẫn thứ hai sau Singapore Theo Bộ thương mại Trung Quốc năm
2012 nguồn vốn FDI đổ vào Trung Quốc là 91,46 tỷ USD, năm 2013 đạt 117,59 tỷ USD Dòng vốn FDI vào Trung Quốc nhiều nhất là từ nhóm 10 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á: Hong Kong, Macau, Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia và Hàn Quốc, đạt 16,9 tỷ USD (tăng 11,6%), trong đó từ Hàn Quốc là 834 triệu USD và tăng tới 224% Đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc ước đạt 711 triệu USD
Chính sách cơ bản đem lại thành công trong việc thu hút FDI của Trung Quốc là:
Thứ nhất: Chính sách phát triển ngành sản xuất: trong từng giai đoạn,
Chính phủ Trung Quốc ban hành những quy định hướng dẫn đầu tư đối với thương nhân nước ngoài và danh mục hướng dẫn về ngành sản xuất để thu hút vốn FDI
Trang 37Thứ hai: Chính sách phát triển vùng lãnh thổ: Chính phủ Trung Quốc
chủ yếu thông qua các biện pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học kỹ thuật và mở cửa các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút FDI vào những khu vực đó Từ năm 1999, trọng điểm chiến lược phát triển kinh tế từng bước chuyển về phía Tây Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách nâng đỡ và hỗ trợ các tỉnh miền Tây Trung Quốc Đồng thời tích cực hướng dẫn thương nhân nước ngoài đầu tư vào địa phương này bằng các biện pháp:
- Ban hành “danh mục ngành sản xuất ưu thế của miền Trung và miền Tây kêu gọi thương nhân nước ngoài đầu tư”
- Chính phủ gia tăng một cách thích đáng nguồn vốn tín dụng trong nước, các khoản vay chính phủ nước ngoài và các khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm sử dụng chủ yếu vào xây dựngc các công trình hạ tầng, công trình bảo vệ môi trường trọng điểm của miền Trung và miền Tây
- Đối với những hạng mục trong danh mục khuyến khích đầu tư nước ngoài, nếu đầu tư vào miền Trung và miền Tây, sau khi hết thời hạn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thì tiếp tục được giảm 15% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo
- Khuyến khích thương nhân nước ngoài đã đầu tư vào khu vực miền Đông thực hiện tái đầu tư vào khu vực miền Tây và miền Trung
- Cho phép các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các thành phố ven biển nhận khoán quản lý kinh doanh các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
và các xí nghiệp Trung Quốc tại các tỉnh miền Tây và miền Trung
- Cho phép các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc tỉnh và khu vực tự trị của miền Tây, miền Trung lựa chọn thành lập khu phát triển cấp Nhà nước
- Nhà nước ưu tiên lựa chọn một số hạng mục về nông nghiệp, giao thông, năng lượng, nguyên vật liệu để bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các tỉnh miền Tây và miền Trung Đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ về vốn và các biện pháp khác đối với các hạng mục trên
Trang 38Thứ ba: Chính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư
nước ngoài, đó là:
- Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp luật được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc Thời hạn, lãi suất và phí vay về cơ bản áp dụng như các xí nghiệp của Trung Quốc
- Xí nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngân hàng thương mại của Trung Quốc bảo lãnh Các khoản tiền vốn ngoại tệ của các đơn vị này có thể dùng để thế chấp vay vốn
- Cho phép xí nghiệp nước ngoài đầu tư dùng tài sản của họ ở hải ngoại
để thế chấp vay vốn tại các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài
- Các xí nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc nếu có đủ tiêu chuẩn được xin phép phát hành cổ phiếu
- Căn cứ theo nguyên tắc chủ động và thỏa đáng, Chính phủ Trung Quốc cung cấp sự đảm bảo về rủi ro chính trị, bảo hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hiểm về bảo lãnh đối với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông mà Chính phủ khuyến khích đầu tư
Thứ tư: Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài Trung Quốc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài như: Luật xí nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài, Điều lệ chi tiết thi hành Luật Xí nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài, Luật xí nghiệp do nước ngoài đầu tư, các quy định và ưu đãi về thuế, ưu đãi về vay vốn đầu tư, về quyền sử dụng đất v.v
Như vậy, bài học kinh nghiệm từ thực tế Trung Quốc trong thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài cho thấy, cần tiến tới xây dựng mặt bằng pháp lý thống nhất cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phù hợp với thông lệ quốc tế Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện chính sách khá thông thoáng, thuận lợi mà trọng tâm là dành cho đầu tư nước
Trang 39ngoài một số ưu đãi với mức độ khác nhau để thu hút dòng vốn quan trọng này Đồng thời thực hiện các chính sách và biện pháp hiệu quả trong thu hút đầu tư nước ngoài Kết hợp chính sách ưu đãi thuế và cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư nước ngoài, tiến tới thu hút đầu tư nước ngoài qua lợi thế về nhân lực, hạ tầng cơ sở, công nghệ và chi phí giao dịch Thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Đổi mới về nội dung và phương thức vận động, xúc tiến đầu tư theo một chương trình chủ động, có hiệu quả phù hợp với từng địa bàn; chú trọng xúc tiến đầu tư trực tiếp đối với từng dự án, từng nhà đầu tư có tiềm năng Đối với một số dự án lớn, quan trọng, cần chuẩn bị kỹ dự án, lựa chọn đàm phán trực tiếp với các tập đoàn có tiềm lực về tài chính, công nghệ Ngân sách Nhà nước dành một khoản phù hợp cho công tác xúc tiến đầu tư
1.3.1.2 Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách thu hút vốn FDI của Thái Lan
Từ một nước phát triển nông nghiệp là chủ yếu, Thái Lan đã trở thành một nước công nghiệp mới nhờ vai trò quan trọng của chính sách thu hút vốn nước ngoài thích hợp và hiệu quả trong giai đoạn đầu
Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được ban hành vào năm
1954, đến năm 1972 ban hành Luật Đầu tư nước ngoài và sau đó sửa đổi vào các năm 1986 và 1989 Luật Đầu tư nước ngoài không cho phép người nước ngoài đầu tư vào ngành trồng lúa, nghề khai thác muối (muối mỏ), buôn bán nông sản trong nước, buôn bán bất động sản, xây dựng…
Thời kỳ 1961-1971: là thời kỳ nền kinh tế thiếu cả vốn lẫn kỹ thuật để phát triển kinh tế trong nước Vì thế trong giai đoạn này chính sách đầu tư tập trung khuyến khích phát triển các liên doanh với nước ngoài
Thời kỳ 1972-1986: là thời kỳ thực thi chính sách giảm nhập khẩu, chỉ cho phép nhập khẩu chủ yếu là máy móc, trang thiết bị và nguyên vật liệu chưa sản xuất được trong nước Trong giai đoạn này, chính sách đầu tư tập
Trang 40trung vào khuyến khích các dự án làm hàng xuất khẩu, các dự án phải tạo ra 80% sản phẩm phục vụ xuất khẩu
Thời kỳ 1987-1997: là thời kỳ khuyến khích mạnh mẽ các dự án sản xuất hàng xuất khẩu Những công ty có 50% sản phẩm làm ra để xuất khẩu thì các nhà đầu tư nước ngoài có thể chiếm phần lớn cổ phần, còn các công ty có 100% sản phẩm phục vụ xuất khẩu thì có quyền bỏ 100% vốn để mua cổ phần công ty đó Giảm bớt các dự án tập trung ở Băngcốc, đồng thời cũng cho phép các nhà tư bản Thái Lan đầu tư ra nước ngoài
Theo số liệu của Cục Phát triển doanh nghiệp thuộc Bộ Thương mại Thái Lan cho biết trong năm 2012, Thái Lan đã có thêm 336 công ty nước ngoài được phép đầu tư vào Thái Lan Vốn đầu tư năm 2012 là 18 tỷ USD cao hơn rất nhiều so với năm 2011 Thái Lan luôn nhấn mạnh đến 2 yếu tố then chốt là nguồn nhân lực và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Thái Lan khẳng định đặt ưu tiên phát triển SME và hỗ trợ các doanh nghiệp này về công nghệ thông tin, tài chính và quản lý; đồng thời giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của SME trong thương mại quốc tế, thâm nhập thị trường mới Một số chuyên gia Mỹ và Nhật Bản được mời đến Thái Lan làm cố vấn Thái Lan đã tham khảo các mô hình thành công của SME ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan Các doanh nghiệp SME hiện chiếm 90% tổng số nhà hoạt động kinh doanh trong nước của Thái Lan Các doanh nghiệp này cần phải cải tiến hoạt động, bớt dựa vào nhà nước đồng thời hợp tác chặt chẽ với ngành giáo dục nhằm đào tạo người lao động có tay nghề phù hợp với yêu cầu của thị trường
Hiện nay, Thái Lan đang theo đuổi các nguyên tắc minh bạch, công lý, hiệu quả và sử dụng các nguồn lực kinh tế bền vững để thu hút FDI Sau các đợt khủng hoảng chính trị, tình hình FDI vào Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng Đây là cơ sở giúp Thái Lan xây dựng một xã hội vững mạnh dựa trên nền kinh tế tri thức