3.4 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.. Xuất phát từ những lý
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, điều tra số liệu và hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài trường
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Hữu Dào đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các phòng nghiệp vụ cục hải quan TP Hà Nội đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng cho bất cứ một học vị nào khác và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 02 tháng 4 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Đức Quang
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC ÁP DỤNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 4
1.1 Những vấn đề chung về áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan 4
1.1.1 Rủi ro hải quan 4
1.1.2 Áp dụng quản lý rủi ro hải quan 6
1.2 Những vấn đề cơ bản về áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục Hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại 24
1.2.1 Thủ tục Hải Quan điện tử 24
1.2.2 Áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục HQĐT 26
1.3 Kinh nghiệm áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện TTHQĐT của các nước 32
1.3.1 Kinh nghiệm của Hải quan Trung Quốc 32
1.3.2 Kinh nghiệm của Hải quan Singapore 35
1.3.3 Kinh nghiệm của Hải quan Nga 37
1.3.4 Bài học cho Hải quan Việt Nam về áp dụng quản lý rủi ro trong quá trình hiện đại hóa Hải quan 39
1.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan 41
Trang 3Chương 2 TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM CỦA CỤC HẢI QUAN HÀ NỘI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Khái quát về Cục Hải Quan Hà Nội 43
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43
2.1.2 Nhiệm vụ Cục Hải Quan Hà Nội 47
2.1.3 Cơ cấu tổ chức Cục Hải quan Hà Nội 49
2.1.4 Cơ cấu lao động 52
2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 57
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 57
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1.Thực trạng áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan TP Hà Nội 60
3.1.1 Quy trình thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội 60
3.1.2 Cơ sở pháp lý cho áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục Hải quan điện tử 62
3.1.3 Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai hải quan 65
3.1.4 Kiểm tra hồ sơ hải quan điện tử 66
3.1.6 Dừng thông quan đột xuất 71
3.1.7 Kiểm tra sau thông quan 73
3.2 Kết quả đạt được 74
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân tồn tại của việc áp dụng QLRR tại Cục Hải quan TP Hà Nội 79
3.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng 79
3.3.2 Những tồn tại của việc áp dụng quản lý rủi ro trong quá trình thực hiện hải quan điện tử tại Cục 81
Trang 43.4 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội và kiến nghị lên các cơ quan quản lý cấp trên 84 3.4.1 Mục tiêu, định hướng áp dụng quản lý rủi ro của Cục Hải quan Hà Nội trong thời gian tới 84 3.4.2 Giải pháp đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại cục hải quan TP Hà Nội và kiến nghị lên các cơ quan quản lý cấp trên 86 KẾT LUẬN 107TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tần xuất rủi ro 18
Bảng 1.2 Mức độ hậu quả rủi ro 18
Bảng 1.3 Mức độ rủi ro 18
Bảng 3.1: Tình hình hoạt động Xuất - Nhập khẩu 64
Bảng 3.2: Tình hình phân luồng và kiểm tra thực tế hàng hóa 66
Bảng 3.3: Tình hình vi phạm hành chính theo các luồng 67
Bảng 3.4: Tình hình chuyển luồng tại Cục 70
Bảng 3.5: Tình hình lô hàng dừng thông quan đột xuất 71
Bảng 3.6: Công tác kiểm tra sau thông quan 72
Bảng 3.7: Số liệu tình hình hoạt động Xuất - Nhập khẩu 74
Bảng 3.8: Bảng số liệu số thuế thu nộp Ngân sách 75
Bảng 3.9: Đánh giá kết quả phân luồng 77
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ nhưng lại rất phức tạp Rủi ro trong lĩnh vực hải quan là nguy cơ tiềm ẩn việc không tuân thủ pháp luật về hải quan trong thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải khiến cho cơ quan hải quan không thể thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của mình
Trong hoàn cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang có những biến chuyển mạnh mẽ, các hoạt đông buôn bán, thương mại quốc tế ngày càng mở rộng thì khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vào mỗi quốc gia cũng tăng lên nhanh chóng, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài xu thế của
sự phát triển, Việt Nam cũng không ngoại lệ Trong những năm gần đây, nhất
là sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006, khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hành khách xuất nhập cảnh ngày càng gia tăng nhanh chóng Vấn đề đặt ra đối với ngành Hải quan là làm sao vừa có thể kiểm tra, kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh vừa tạo thông thoáng cho hoạt động thương mại quốc tế với nguồn lực có hạn Để giải quyết vấn đề này, ngành Hải quan đang từng bước thực hiện cải cách và hiện đại hóa, đặc biệt đưa quy trình thủ tục Hải quan điện tử vào áp dụng, nhằm để nâng cao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của Hải quan tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp Trong đó, việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro đóng vai trò rất quan trọng, là giải pháp tối ưu cho Hải quan Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế
Trang 9Cục Hải quan Hà Nội đang từng bước áp dụng quản lý rủi ro Với việc áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục Hải quan nói chung và quy trình thủ tục Hải quan điện tử nói riêng, những yêu cầu nêu trên sẽ được xử lý nhanh chóng, chính xác, kịp thời, trong đó tập trung quản lý các đối tượng rủi ro, đồng thời giảm mức độ kiểm tra đối với các đối tượng tuân thủ, nhằm tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí trong quá trình làm thủ tục hải quan
Như vậy, việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử là một tất yếu khách quan trong xu thế hội nhập và phù hợp với nội lực của Hải quan Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Giải pháp đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu áp dụng quản lý rủi ro khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro Hải quan tại Cục Hải quan TP Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc áp dụng quản lý rủi ro khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa XNK
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh, hàng hóa đưa vào- đưa ra kho ngoại quan, hành lý của hành khách xuất nhập cảnh
+ Xác định phương thức, lựa chọn đối tượng giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện - hành khách xuất nhập cảnh
+ Đánh giá thực trạng và đưa ra các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện áp dụng quản lý rủi ro khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Nội
- Phạm vi về không gian: Cục Hải quan TP Hà Nội
- Phạm vi về thời gian: luận văn nghiên cứu từ năm 2008 đến 2012, chủ yếu tập trung giai đoạn từ 2010 đến 2012
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Thực trạng công tác áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc áp dụng quản lý rủi ro trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ÁP DỤNG QUẢN
LÝ RỦI RO TRONG VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN
TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.1 Những vấn đề chung về quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan
1.1.1 Rủi ro hải quan
Rủi ro nghĩa là những nguy cơ tiềm ẩn có khả năng xảy ra và mang đến những tổn thất, nguy hại cho con người, xã hội cũng như môi trường tự nhiên Nói cách khác rủi ro là những gì không mong đợi, những sự kiện không may
có thể xảy ra ngẫu nhiên hoặc do lỗi cố ý hoặc vô ý và luôn gắn liền với các hoạt động và môi trường sống của con người
Theo tài liệu hướng dẫn “ISO/IEC 73:2002, quản lí rủi ro - các khái niệm
và hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn” của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO thì rủi
ro là sự kết hợp của xác suất xảy ra của một sự kiện và hậu quả của sự kiện
đó Rủi ro có thể mang lại lợi ích và có thể gây ảnh hưởng không tốt, dẫn tới kết quả không mong muốn
Như bất kì một vấn đề nào, rủi ro cũng bao gồm hai khía cạnh: nội hàm bên trong và biểu hiện bên ngoài
Nội hàm rủi ro là tổ hợp các yếu tố, các mối liên hệ có tính chất tương đối ổn định, các quy luật về tần suất và hậu quả của rủi ro
Mỗi một rủi ro đều có ngoại diện riêng của nó, đó là những đặc trưng được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hiện tượng đi kèm với các mức tổn thất
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của rủi ro như sau:
- Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn do đó không mang tính chất chắc chắn, khả năng xảy ra và hậu quả của nó phụ thuộc vào các yếu tố tác động tới nó
Trang 12- Rủi ro có thể được đo lường bằng kết quả phân tích, đánh giá về tần suất và hậu quả của nó
- Rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các nhân tố tác động tới
Theo tổ chức Hải quan EU: rủi ro là những điều gây nên cản trở tới việc
thực hiện các biện pháp nghiệp vụ liên quan tới việc kiểm soát hàng hóa của
tổ chức Hải quan cũng như cộng đồng
Theo điều 2 Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC ngày 04 tháng 7 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính [5] ban hành quy định áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan ngày 4/7/2008, rủi ro trong hoạt động
nghiệp vụ Hải quan là “nguy cơ tiềm ẩn việc không tuân thủ pháp luật về Hải
quan trong thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải” Nói cách khác, rủi ro trong hoạt
động nghiệp vụ Hải quan là khả năng có thể xảy ra các sự kiện không tốt của hành vi vi phạm pháp luật Hải quan và các quy định có liên quan đến lĩnh vực này Như vậy có thể thấy nguyên cớ của rủi ro là vi phạm pháp luật Hải quan
và quy định liên quan, rủi ro là hậu quả phỏng đoán, được dự báo trên cơ sở luật pháp khi có hành vi trái quy định Những rủi ro này gây cản trở rất lớn đến quá trình hoạt động của ngành Hải quan nói riêng và các ngành liên quan Nguồn gốc của chúng có thể xuất phát ngay bên trong nội bộ ngành hoặc tác động của đối tượng khác Ví dụ như: sự kém hoàn thiện về hành lang pháp lý,
hệ thống pháp luật chưa phù hợp còn có nhiều cứng nhắc, gây bất cập và chưa thực sự nhất quán; các quy định về trình tự, quy trình, thủ tục Hải quan không phù hợp… Ngoài ra, rủi ro còn nảy sinh bởi sự thiếu trách nhiệm trong quá trình công tác của cán bộ công chức Hải quan, sự tư lợi của chính những cán
bộ, công chức này và các đối tượng liên quan (cá nhân, tổ chức tham gia hoặc
có liên quan đến hoạt động Hải quan)…
Trang 131.1.2 Quản lý rủi ro hải quan
1.1.2.1 Khái niệm, phạm vi áp dụng quản lý rủi ro hải quan
Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn, không mang tính chắc chắn và mang lại những hậu quả nhất định, mặt khác xuất phát từ mong muốn cân bằng giữa chi phí
bỏ ra và lợi ích đạt được, ta cần thiết phải nhận biết rủi ro và tối thiểu hóa ảnh hưởng của nó Do đó phải tiến hành quản lí rủi ro hay còn gọi là quản trị rủi
ro Quản lí rủi ro nói chung có thể hiểu là cái cách cá nhân, tổ chức hay hệ thống thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để hạn chế tần suất rủi ro Chẳng hạn như cá nhân gửi tiền tiết kiệm để phòng lúc đau ốm, siêu thị lắp hệ thống camera để chống trộm, lắp đặt hệ thống báo cháy (báo khói, báo nhiệt, loa, còi hú, ) v.v Hoặc quản lý rủi ro là một phần trong việc lập kế hoạch nhằm xác định những nguy cơ chủ yếu, từ đó xây dựng các kế hoạch phòng chống hay giảm thiểu những tác động bất lợi
Quản lí rủi ro là việc tăng cường nghiên cứu, đưa ra các biện pháp áp dụng đối với cả hai mặt tích cực và tiêu cực của rủi ro, là quá trình mà các cá nhân, tổ chức áp dụng để nhận biết, đánh giá và điều chỉnh rủi ro gây ảnh hưởng tới hoạt động của mình Việc xác định và đưa ra các biện pháp xử lí rủi
ro là tâm điểm của hoạt động quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan
Khái niệm về quản lí rủi ro Hải quan do EU đưa ra: rủi ro nghĩa là khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn các biện pháp xử lí của cộng đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối xử hàng hóa của Hải quan
Theo Điều 2 Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính quản lí rủi ro là việc áp dụng có hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quan Hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lí để tập trung quản lí có hiệu quả đối với các lĩnh vực, đối tượng được xác định là rủi ro [5]
Trang 14Cũng theo Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính [5] tại Điều 1 quy định: cơ quan Hải quan áp dụng quản lí rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ được quy định tại Luật Hải quan, bao gồm:
- Thủ tục Hải quan
- Kiểm tra Hải quan
- Giám sát Hải quan
- Kiểm soát Hải quan
- Kiểm tra sau thông quan
- Các hoạt động nghiệp vụ khác liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
1.1.2.2 Lợi ích của việc áp dụng quản lý rủi ro
Trong kế hoạch cải cách, hiện đại hóa, thực hiện thủ tục hải quan điện tử, một mảng nhiệm vụ rất quan trọng hiện nay đang được thúc đẩy thực hiện đó
là áp dụng quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ Đây là một phương thức quản lý tiên tiến, đem lại lợi ích cho cả Hải quan và doanh nghiệp Với việc
áp dụng thực hiện quản lí rủi ro cho phép cơ quan Hải quan tập trung hơn vào vai trò quản lí nhà nước của mình, không dàn trải nguồn lực vào các nghiệp
vụ kiểm tra, giám sát theo từng lô hàng, vụ việc Lúc này, Hải quan chỉ tập trung phân bổ chủ yếu nguồn lực vào một số giao dịch đã được xác định là có mức độ rủi ro cao Hệ thống quản lí rủi ro trong quá trình hiện đại hóa hiện nay được trang bị kĩ thuật mới hiện đại, áp dụng sự tiên tiến của hệ thống công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ tác động tích cực tới quá trình công tác của cán bộ công chức Hải quan, đẩy nhanh tiến độ thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải… Ngành sẽ thực hiện được “trọng tâm, trọng điểm” kế hoạch đề ra, giảm bớt được một số giao dịch đã được đánh giá là có độ rủi ro thấp (Ví dụ: chỉ kiểm tra thực tế những giao dịch đã
Trang 15được đánh giá là có độ rủi ro cao…) góp phần làm giảm thiểu được khối lượng công việc cần phải làm, tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn lực không chỉ của ngành Hải quan mà còn của cá nhân, doanh nghiệp có liên quan Nếu như thời gian thông quan dựa trên những quy trình, thủ tục cũ tốn nhiều thời gian thì với việc áp dụng quản lý rủi ro mới, hàng hóa sẽ được giải phóng nhanh hơn rất nhiêu, vì vậy tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp Thông quan trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro có thể giúp hải quan giải phóng được
số lượng lớn hàng hóa ngay sau khi hồ sơ thông quan được nộp cho hải quan Trên nền tảng ứng dụng kỹ thuật áp dụng quản lý rủi ro, Hải quan ngày càng rút ngắn thời gian thông quan và giải phóng hàng, đặc biệt với những lô hàng được phân vào luồng xanh Điều này là động lực rất lớn để các doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật, đảm bảo cho hàng hóa của mình được lọt vào luồng xanh Mặc dù kiểm tra thực tế hàng hóa ít hơn nhưng tính chuyên nghiệp và hiệu suất làm việc của Hải quan được nâng cao, giúp gia tăng số thuế thu được từ doanh nghiệp…
Như vậy, lợi ích của áp dụng quản lý rủi ro đối với nâng cao hiệu quả quản lý Hải quan trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử thể hiện ở một
số điểm cụ thể là:
* Đối với cơ quan quản lý nhà nước
- Tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: QLRR đem lại lợi ích cho công
tác quản lý và chống thất thu thuế Các đơn vị chức năng các cấp Tổng cục, Cục hải quan theo dõi, phân tích kết quả thu, từ đó đề ra các giải pháp quản lý hiệu quả; đẩy mạnh công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, chống thất thu qua công tác tham vấn giá, xác định trị giá, xác định mã số tính thuế, kiểm tra sau thông quan; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành để ngăn ngừa, kiểm tra, phát hiện các hành vi gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa, xác định trọng tâm, trọng điểm các mặt hàng có dấu hiệu kim ngạch bất thường, thuế suất cao Việc áp
Trang 16dụng quản lý rủi ro đã thiết lập và cập nhật danh sách doanh nghiệp có rủi ro cao
về vi phạm pháp luật để tham mưu, trình lãnh đạo Tổng cục Hải quan có văn bản hướng dẫn các cục hải quan địa phương áp dụng biện pháp kiểm tra, kiểm soát đối với nhóm doanh nghiệp này Lập danh sách doanh nghiệp trọng điểm về khai hải quan qua thực hiện chuyên đề tờ khai ảo, tờ khai hủy, cảnh báo biểu hiện man khai, trốn lậu thuế của doanh nghiệp Xây dựng, hoàn thiện hệ thống áp dụng quản lý rủi ro, đảm bảo thông tin có hiệu quả đối với từng khâu nghiệp vụ; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế, trong đó đặc biệt chú trọng các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, các doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập - tái xuất…; phối hợp với các cơ quan liên quan giám sát chặt chẽ việc khai hải quan và kê khai thuế đối với doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, nhằm chống các hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền thuế từ NSNN
- Tập trung kiểm soát chặt chẽ các đối tượng không tuân thủ các quy định
của pháp luật theo quá trình Các biện pháp kiểm tra sẽ tăng mức độ tùy theo
mức độ rủi ro của đối tượng quản lý Các đối tượng có mức độ rủi ro cao và rất cao sẽ được kiểm tra chặt chẽ Kiểm tra tại cửa khẩu sẽ được bổ sung bằng kiểm tra thường xuyên sau thông quan, nhất là khi có dấu hiệu vi phạm Công tác này chú trọng các doanh nghiệp có rủi ro cao, điển hình, rủi ro về thuế như: các trường hợp miễn, giảm, hoàn thuế, không thu thuế; tập trung kiểm tra, hướng dẫn
cơ quan Hải quan địa phương thực hiện việc quản lý, miễn thuế hàng hóa thuộc các dự án ưu đãi đầu tư, đảm bảo hàng hóa trong nước đã sản xuất được thì không được miễn thuế theo đúng quy định nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Thực hiện kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, giám sát chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, kịp thời ngăn chặn hành vi xuất khống hàng hóa nhằm mục đích chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng thông qua khấu trừ, hoàn thuế Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ hàng tạm nhập - tái xuất, hàng gia công nhập sản xuất xuất khẩu…; thường xuyên rà soát tài khoản tạm thu, tạm giữ để chuyển nộp ngân sách các khoản quá
Trang 17135 ngày đúng quy định Nhờ đó cơ quan Hải quan có thể bố trí sắp xếp các nguồn lực phù hợp, thực hiện quản lý hiệu quả dựa trên các rủi ro đã được xác định và đánh giá để kiểm tra có trọng điểm
- Tổ chức hoạt động Hải quan hiệu quả trên cơ sở khoa học, khách
quan, dân chủ QLRR cung cấp cho cơ quan Hải quan một phương pháp
quản lý khoa học, dân chủ, hiệu quả Qua việc xác định đối tượng có rủi ro cao, ưu tiên tập trung nguồn lực vào quản lý đối với số đối tượng này, công tác quản lý sẽ không bị dàn trải, nhờ đó giảm bớt áp lực công việc, cân bằng giữa nhiệm vụ tăng lên và nguồn lực Hải quan hạn chế Giúp nâng cao năng lực kiểm tra kiểm soát của ngành Hải quan Cải thiện khả năng tuân thủ pháp luật của đối tượng chịu quản lý về Hải quan
- Góp phần làm giảm các thủ tục hành chính, giảm sự can thiệp của cán
bộ Hải quan, làm giảm thời gian thông quan Nếu như thời gian thông quan
dựa trên những quy trình, thủ tục cũ có thể lên đến 1-2 tuần thì với kỹ thuật QLRR mới, 80-90% hàng hóa sẽ được giải phóng trong vòng vài giờ, vì vậy tiết kiệm được rất nhiều chi phí giao dịch cho doanh nghiệp Giảm tải khối
lượng công việc phải kiểm tra trong quá trình làm thủ tục Hải quan
nghiệp Áp dụng quản lý rủi ro không chỉ đem lại lợi ích cho cơ quan quản lý
mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chân chính Do đó, mối quan hệ tương tác giữa Hải quan và doanh nghiệp là một phần của quá trình đánh giá rủi ro liên quan đến những hàng hóa được vận chuyển, nhập khẩu hoặc xuất khẩu Thông thường mối quan hệ này càng chặt chẽ sẽ giúp hai bên hiểu và tạo thuận lợi cho nhau hơn, từ đó, nghiệp vụ áp dụng quản lý rủi ro càng được triển khai thực hiện hiệu quả hơn
* Đối với Doanh nghiệp
- Tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại Cơ quan Hải quan áp
Trang 18dụng QLRR là nhằm tạo thuận lợi đối với các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật về Hải quan Những đối tượng này sẽ được hưởng chế độ kiểm tra Hải quan ở mức đơn giản nhất, thời gian thông quan nhanh nhất, chi phí Hải quan thấp Khối lượng hàng hóa XNK phải tiến hành kiểm tra thực tế giảm, lượng hàng hóa không phải kiểm tra tăng lên, tạo điều kiện cho giao lưu hàng hóa qua biên giới được thuận tiện
- Khuyến khích sự tuân thủ tự giác của đối tượng quản lý Hải quan
QLRR thực chất là đối xử phân biệt trong kiểm tra Hải quan với các đối tượng quản lý khác nhau dựa trên thông tin về sự tuân thủ pháp luật Hải quan của họ Mục đích của sự phân biệt này là tạo ưu đãi cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật để khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp tuân thủ pháp luật tốt hơn
- Tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp Nếu như thời gian
thông quan dựa trên nhưng quy trình, thủ tục cũ có thể lên đến 1-2 tuần thì khi
áp dụng quản lý rủi ro mới, 80-90% hàng hóa sẽ được giải phóng trong vòng vài giờ, vì vậy tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí giao dịch cho doanh nghiệp
1.1.2.3 Nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
Theo Thông tư số 175/2013/TT - BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính[5] quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, áp dụng quản lý rủi ro cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế trong quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, đồng thời khuyến khích, tạo thuận lợi đối với người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tuân thủ tốt pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 19Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được đánh giá rủi ro để
áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan và các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác ở mức độ phù hợp nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế
Việc đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ pháp luật của người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được dựa trên tiêu chí
áp dụng quản lý rủi ro, thông tin nghiệp vụ và thông tin, dữ liệu có trên hệ thống thông tin của ngành Hải quan tại thời điểm đánh giá
Cơ quan hải quan tập trung kiểm tra, giám sát, kiểm soát những rủi ro cao, áp dụng các biện pháp phù hợp đối với các rủi ro thấp
Trường hợp xảy ra vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế nhưng trước đó công chức hải quan đã thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời các quy định của pháp luật, quy định tại Thông tư này và các quy định, hướng dẫn về
áp dụng quản lý rủi ro theo phân cấp thì được miễn trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật
1.1.2.4 Quy trình áp dụng quản lý rủi ro
Trước tiên, ta cần phải xem xét vấn đề thật kĩ để cố gắng tìm ra các rủi ro nhìn thấy được cũng như các rủi ro tiềm ẩn xung quanh nó Sau khi xem xét vấn đề, cần tổng quan về tất cả các rủi ro để từ đó xác định được rủi ro nào cần tiến hành quản lí trước hết Muốn vậy, chúng ta cần mô tả rủi ro trên các phương diện như : tên gọi, đặc điểm, nguyên nhân phát sinh rủi ro…từ đó dự đoán mức độ, quy mô rủi ro, hậu quả có thể gặp phải và gợi ý một số giải pháp giảm thiểu tác động của rủi ro Đây có thể gọi là bước phân tích rủi ro
và nó thực sự cần thiết cho quá trình quản lí rủi ro Kế tiếp cần phải tiến hành đánh giá cẩn trọng rủi ro trong mối liên hệ với các yếu tố liên quan như chi phí, lợi nhuận, tính hợp pháp… Qua đó, sẽ phân loại rủi ro nào có thể chấp
Trang 20nhận được, rủi ro nào không thể chấp nhận được đồng thời lập báo cáo hoặc ghi chép về các thông tin đã thu thập, phân tích và kết luận về rủi ro để áp dụng biện pháp xử lí rủi ro phù hợp nhất ví dụ như né tránh rủi ro, chuyển thể rủi ro…Và trong quá trình đó, cần phải bám sát theo dõi và tiến hành đồng thời công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện xử lí rủi ro để kịp thời điều chỉnh nhằm đạt được hiệu quả quản lí
Quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong ngành Hải quan là việc áp dụng
có hệ thống các chính sách, thủ tục và kinh nghiệm thực tế vào việc thiết lập bối cảnh, xác định, phân tích, đánh giá, xử lý, theo dõi và phản hồi kết quả xử
lý rủi ro Công chức Hải quan sẽ phải thực hiện tuần tự các bước trong quy trình nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất có thể Để thực hiện tốt công tác cần một hệ thống biện pháp, quy trình hợp lý cũng như kinh nghiệm áp dụng quản lý rủi ro Quy trình áp dụng quản lý rủi ro là một quy trình động, luôn diễn ra sự cập nhật liên tục thông tin, phân tích, nhận định và đưa ra lựa chọn về biện pháp xử lí rủi ro, đồng thời quan sát, theo dõi và kịp thời điều chỉnh hợp lý để đạt hiệu quả quản lí
Theo quy định chi tiết tại Quyết định số 35/QĐ-TCHQ ngày 10 tháng 7 năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan [20] thì quy trình QLRR trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan là việc tiến hành các hoạt động nghiệp vụ dựa trên việc xem xét bối cảnh, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, đơn vị và công chức thừa hành, theo trình tự 4 bước:
Quy trình này được sơ đồ hóa ngắn gọn như hình sau:
Trang 21Theo dõi, kiểm tra, đánh giá lại & điều chỉnh, bổ sung
- Theo dõi quá trình xử lý rủi ro
- Kiểm tra, đánh giá lại
- Phản hồi thông tin
- Đo lường tuân thủ
- Xếp hạng ưu tiên xử lý rủi ro
Thu thập thông tin,
Xác định rủi ro
- Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi
- Phân tích các yếu tố liên quan
- Thiết lập tiêu chí đánh giá rủi ro
- Thu thập thông tin
Bước 1: Thu thập thông tin, xác định rủi ro
a, Xác định mục tiêu, phạm vi và đối tượng rủi ro
Đây là bước đầu tiên của quy trình QLRR, nhằm thu thập, tổng hợp những thông tin ban đầu về đối tượng rủi ro.Việc xác định mục tiêu áp dụng quản lý rủi ro phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế hiện tại cũng như các chính sách hiện hành Đối tượng rủi ro trong thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại: là tổ chức, cá nhân thực hiện hoặc có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, có khả năng vi phạm pháp luật về Hải quan; hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh có khả năng
bị lợi dụng vi phạm pháp luật về Hải quan
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình quản lý rủi ro
Trang 22b, Thiết lập tiêu chí đánh giá rủi ro
Để đánh giá rủi ro, công chức Hải quan phải so sánh kết quả phân tích
về mức độ rủi ro với tiêu chí QLRR đã được xác định sẵn Bởi vậy, tiêu chí QLRR có vai trò như như một căn cứ để giúp cho công chức Hải quan quyết
định việc xử lý rủi ro như thế nào Tiêu chí QLRR là dấu hiệu có giá trị định
lượng, làm công cụ để đánh giá mức độ rủi ro và hỗ trợ việc quyết định biện pháp xử lý rủi ro một cách phù hợp, có hiệu quả
Theo QĐ 35/QĐ - TCHQ ngày 10/7/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan [20] , một bộ tiêu chí QLRR của Hải quan Việt Nam đang áp dụng bao gồm 4 tiêu chí:
a) Tiêu chí theo quy định của pháp luật Hải quan, chính sách quản lý
nhà nước về Hải quan trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể
b) Tiêu chí phân tích là nhóm các chỉ số phản ánh về dấu hiệu vi phạm
pháp luật về Hải quan
c) Tiêu chí tính điểm rủi ro là nhóm các chỉ số được tập hợp và tính
toán mức độ rủi ro dựa trên việc đánh giá và cho điểm rủi ro trước đối với các chỉ số tham gia vào quá trình tính toán
d) Tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên là việc áp dụng phép toán xác suất,
thống kê dựa trên các chỉ số liên quan để lựa chọn ngẫu nhiên các đối tượng kiểm tra theo tỉ lệ nhất định theo quy định của Luật Hải quan Theo quy định, việc lựa chọn ngẫu nhiên được thực hiện tự động trên hệ thống với tỷ lệ kiểm tra không quá 5% tổng số lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo tỷ lệ bình quân của mỗi ngày trong tháng trước đó tại một Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu (gọi chung là Chi cục Hải quan)
Việc áp dụng tiêu chí QLRR được thực hiện theo thứ tự ưu tiên từ tiêu chí quy định, tiêu chí phân tích, tiêu chí tính điểm rủi ro và cuối cùng là tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên
Trang 23Ngoài ra, hiện nay Hải quan Việt Nam còn áp dụng bộ tiêu chí QLRR khác là: tiêu chí tĩnh và tiêu chí động
Tiêu chí tĩnh: là tiêu chí có tính chất ổn định trong khoảng thời gian
nhất định Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro bằng cách áp dụng các phương pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ quan Hải quan thu thập, phân tích
Tiêu chí động: là tiêu chí có tính chất biến động theo thời gian và được
áp dụng ngay tại thời điểm phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan
Nó có thể được hiểu là các thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa hoặc các thông tin có liên quan khác phản ánh có dấu hiệu vi phạm hoặc cần phải áp dụng biện pháp quản lý đặc thù Tiêu chí động được xây dựng trên cơ sở các tiêu thức của tờ khai Hải quan, gồm 2 loại: tiêu chí đơn (được xác định bởi 1 nguyên tố) và tiêu chí tổ hợp (từ 2 nguyên tố trở lên)
c, Thu thập thông tin
Việc thu thập thông tin về các đối tượng QLRR được lấy từ rất nhiều nguồn khác nhau gồm:
1) Hệ thống thông tin, dữ liệu của ngành:
- Hệ thống Quản lý rủi ro ( Risk Managemnt);
- Hệ thống quản lý danh mục mã số hang hóa XNK(MHS1.1)
- Hệ thống thu thập, quản lý thông tin phục vụ công tác CBL(CI02)
- Hệ thống thông tin số liệu XNK tập trung(thông quan điện tử V4- VNACCS/VCIS)
- Hệ thống thông tin kế toán thuế(KTTT);
- Hệ thống thông tin giá (GTT2.0);
2) Các nguồn thông tin khác:
- Văn bản quy định về chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
Trang 24- Vụ việc vi phạm pháp luật Hải quan được phát hiện và xử lý tại các đơn vị trong và ngoài ngành Hải quan;
- Các đơn vị trong và ngoài ngành cung cấp;
- Hợp tác trao đổi thông tin với Tổ chức Hải quan quốc tế, khu vực và Hải quan các nước;
- Kết quả kiểm tra sau thông quan;
- Thông tin trước khi hàng hoá cập cảng (manifest);
- Thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng;
- Các nguồn thông tin khác có liên quan
Việc tiến hành thu thập thông tin được thực hiện tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng loại thông tin và nguồn thông tin
Bước 2: Phân tích - đánh giá rủi ro
a, Phân tích rủi ro
Mục đích của hoạt động phân tích rủi ro là phân tách các rủi ro cùng với những đối tượng rủi ro theo 03 mức độ rủi ro khác nhau: cao, trung bình, thấp để phục vụ cho việc đánh giá rủi ro và bố trí nguồn lực kiểm tra, kiểm soát một cách hợp lý
Phân tích rủi ro gồm các công việc phân tích các chỉ tiêu sau:
1) Tần suất rủi ro: tần suất của rủi ro được biểu thị bằng số lần vi phạm
pháp luật Hải quan theo loại rủi ro đã xảy ra hoặc có khả năng sẽ xảy ra Việc tìm ra tần suất của rủi ro được thực hiện bằng phân tích số liệu vụ việc vi phạm (đối với trường hợp có dữ liệu vi phạm) hoặc phân tích dữ liệu có liên quan đến vi phạm, như số lượng tờ khai xuất nhập khẩu, kim ngạch, số doanh nghiệp tham gia, khả năng thất thu thuế hoặc trị giá vi phạm trong trường hợp
vi phạm xảy ra… (đối với trường hợp không có dữ liệu vi phạm) hoặc dựa vào kiến thức, kinh nghiệm của công chức Hải quan để phân tích, dự đoán
Việc xác định mức độ tần suất được kết hợp giữa số liệu phân tích với việc dự đoán để đối chiếu với bảng phân tích sau đây:
Trang 25Bảng 1.1 Tần xuất rủi ro
Trung bình Sự kiện được dự đoán có thể sẽ xảy ra
2) Hậu quả rủi ro: tương tự như phân tích về tần suất, hậu quả của rủi
ro được xác định dựa trên phân tích dữ liệu vi phạm, dữ liệu liên quan và dự đoán theo kiến thức, kinh nghiệm của công chức phân tích để xác định những thiệt hại, tác động, ảnh hưởng của vi phạm gây ra
Việc xác định mức độ của hậu quả được kết hợp giữa số liệu phân tích với việc dự đoán và đối chiếu với bảng phân tích sau đây:
Bảng 1.2 Mức độ hậu quả rủi ro
Cao Sự kiện gây hậu quả nghiêm trọng
Trung bình Sự kiện gây ra hậu quả tương đối nghiêm trọng
Thấp Sự kiện gây ra hậu quả ít nghiêm trọng
3) Mức độ rủi ro: Kết hợp giữa tần suất và hậu quả để xác định mức độ
của rủi ro theo bảng dưới đây:
Bảng 1.3 Mức độ rủi ro Tần suất
Trang 26Đồng thời, quá trình phân tích rủi ro cần xác định được những nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến tình huống vi phạm pháp luật Hải quan (tình huống rủi ro) và các thông tin cụ thể cần thiết (chỉ số rủi ro) cho việc nhận diện ra tình huống vi phạm này
b, Đánh giá rủi ro
Trong quá trình xây dựng hồ sơ QLRR, cần xem xét, đánh giá để lược bỏ những rủi ro thấp (chấp nhận rủi ro) hoặc những rủi ro ngoài chức năng, thẩm quyền xử lý của cơ quan Hải quan hoặc nếu xử lý sẽ không có hiệu quả, để chuyển giao cho các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức, cá nhân liên quan
xử lý theo quy định của pháp luật Kết quả của quá trình này cho phép phân loại ra những rủi ro và đối tượng rủi ro cần ưu tiên xử lý trong bối cảnh áp dụng QLRR Quá trình đánh giá rủi ro và đối tượng rủi ro được thực hiện bằng việc đối chiếu, xem xét từng rủi ro trong danh sách rủi ro được thiết lập dựa trên kết quả phân tích với tiêu chí QLRR và các yếu tố nêu trên Có rất nhiều nguồn thông tin để thu thập, có thể là thu thập từ nội bộ ngành, ngoài ngành Hải quan, từ nguồn trong nước và kể cả các nguồn thông tin bên ngoài Việt Nam về 17 đối tượng cơ bản mà cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro
có thể lấy ví dụ như: các hệ thống lưu trữ hồ sơ, dữ liệu của hoạt động xuất khẩu-nhập khẩu; hệ thống quản lý hàng gia công, hệ thống thông tin quản lý
tờ khai Hải quan; các văn bản quy định về chính sách quản lý thuế; chương trình GTT22 – Trị giá tính thuế; chương trình DOPHIN – Quản lý vi phạm; thông tin từ các mục điểm báo, các bản báo cáo… của các cơ quan ban ngành, đặc biệt là các ban ngành có liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực Hải quan; các văn bản luật, các kí kết, hiệp định của Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước và tổ chức Hải quan quốc tế… Tùy vào đó là nguồn thông tin nào và loại thông tin cần thu thập là gì mà lựa chọn cách thức thu thập khác nhau, từ
đó cơ quan Hải quan sẽ nghiên cứu, phân loại và tập hợp chúng thành các
Trang 27dạng (các bảng, các biểu mẫu…) để phục vụ cho hoạt động phân tích, xác định rủi ro
Tiếp theo, chúng ta tiến hành phân tích và đánh giá rủi ro ở 2 mặt là tần suất rủi ro và hậu quả của rủi ro Trong đó, tần suất rủi ro là đại lượng phản ánh khả năng, xác suất xảy ra của rủi ro, còn hậu quả rủi ro là đại lượng phản ánh về thiệt hại hoặc các tác động, ảnh hưởng trong trường hợp xảy ra rủi ro
Có 2 phương pháp để tiến hành phân tích rủi ro là phân tích định lượng (sử dụng các giá trị bằng số cho cả hậu quả và xác suất dùng những dữ liệu từ các nguồn khác nhau) và phân tích định tính (sử dụng hình thức từ ngữ hoặc những thang mô tả để mô tả độ lớn của những hậu quả và xác suất tiềm năng rằng hậu quả đó sẽ xảy ra) Sau khi phân tích, rủi ro được phân loại theo 3 mức độ: cao; thấp; trung bình Đây chính là căn cứ để đánh giá, quyết định hình thức và mức độ kiểm tra đối với lô hàng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Kết quả đánh giá rủi ro và đối tượng rủi ro cho phép xếp hạng cấp độ
ưu tiên xử lý (sự cần thiết phải áp dụng kiểm tra, kiểm soát) đối với rủi ro và đối tượng rủi ro
Rủi ro và đối tượng rủi ro được đánh giá, xếp hạng theo ba (03) cấp độ
ưu tiên xử lý sau đây:
Cấp độ 1: Không cần thiết phải áp dụng biện pháp kiểm tra, kiểm soát;
Cấp độ 2: Cần xem xét áp dụng biện pháp kiểm tra, kiểm soát tại thời điểm phù hợp;
Cấp độ 3: Cần áp dụng ngay biện pháp kiểm tra, kiểm soát để phát hiện, ngăn chặn vi phạm pháp luật về Hải quan
Tất cả những thông tin thu thập được từ việc thu thập và phân tích rủi
ro được cập nhật vào thành 1 bộ hồ sơ QLRR để phục vụ việc thu thập, cập
Trang 28nhật, tra cứu, khai thác thông tin về rủi ro đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại trong toàn ngành Hải quan
Hồ sơ QLRR là tập hợp thông tin, dữ liệu về quá trình xác định, phân
tích, đánh giá, xử lý đối với một rủi ro cụ thể, được lưu trữ dưới dạng văn bản hoặc dữ liệu điện tử, nhằm phục vụ QLRR trong hoạt động nghiệp vụ Hải
quan (Khoản 7, Điều 3 Quyết định 48/2008/QĐ-BTC ngày 4/7/2008 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính)[5]
Như vậy có thể coi hồ sơ quản lý rủi ro là kết quả đầu ra của quá trình
áp dụng quản lý rủi ro, tập hợp các bộ hồ sơ quản lý rủi ro cho cái nhìn tổng quan về rủi ro trong hoạt động của Hải quan, giúp đưa ra quyết định nên áp dụng biện pháp quản lý nào phù hợp nhất Theo Điều 7 Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính)[5] quy định nội dung cơ bản của hồ sơ quản lý rủi ro bao gồm:
+) Danh mục rủi ro trong quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
+) Kết quả đánh giá mức độ rủi ro theo danh mục rủi ro được xác định; +) Các tiêu chí phân tích định hướng hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan;
+) Biện pháp xử lý và chỉ dẫn nghiệp vụ nhằm hỗ trợ quá trình xử lý rủi ro; +) Các yêu cầu phản hồi thông tin
+) Bộ chỉ tiêu thông tin phản ánh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp; +) Bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật Hải quan; +) Bộ tiêu chí đánh giá, phân loại mức độ rủi ro của doanh nghiệp;
+) Các tổ hợp xác định rủi ro của doanh nghiệp dựa trên kết quả phân tích, đánh giá rủi ro;
Trang 29Hiện nay, Hải quan Việt Nam triển khai công tác quản lý hồ sơ rủi ro theo các bước: xây dựng hồ sơ rủi ro; quản lý hồ sơ rủi ro; áp dụng hồ sơ quản lý rủi ro; bổ sung và phát triển hồ sơ quản lý rủi ro:
+) Xây dựng hồ sơ quản lý rủi ro là bước thu thập thông tin, phân tích, đánh giá rủi ro từ đó xây dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ thông tin về rủi ro đã đánh giá; cho phép cơ quan Hải quan chủ động hơn trong áp dụng quản lý rủi ro
+) Quản lý hồ sơ về rủi ro: đây là một bước khá quan trọng, nếu quản
lý hồ sơ rủi ro tốt thì sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở dữ liệu về rủi ro thống nhất, đầy đủ, kịp thời và đảm bảo cho sự khai thác, sử dụng trong quá trình áp dụng quản lý rủi ro Ở khâu này, phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây: hồ sơ phải được quản lý thống nhất trong toàn ngành, đơn vị áp dụng quản lý rủi ro tại từng cấp thực hiện việc quản lý hồ sơ rủi ro ở cấp mình; hồ sơ quản lý theo
số đăng ký đối với từng loại rủi ro cụ thể tại từng cấp; được lưu trữ dưới dạng tài liệu giấy hoặc cơ sở dữ liệu; định kỳ hằng năm, đơn vị áp dụng quản lý rủi
ro do cấp tổng cục phải tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ quản lý, sử dụng hồ sơ
+) Áp dụng hồ sơ quản lý rủi ro: là việc sử dụng các thông tin có trong
hồ sơ vào việc nhận biết rủi ro, tổ chức và chọn lựa biện pháp xử lý phù hợp +) Bổ sung và phát triển hồ sơ quản lý rủi ro: trong quá trình áp dụng quản lý rủi ro không thể thiếu công tác theo dõi, đánh giá kết quả xử lý rủi ro,
từ đó tiến hành điều chỉnh cấp độ rủi ro (tăng, giảm); đề xuất điều chỉnh biện pháp xử lý rủi ro; bổ sung/loại bỏ chỉ số rủi ro mới trong tổ hợp rủi ro; phát hiện đăng kí rủi ro mới được xác định; thanh loại hồ sơ đối với những rủi ro được xác định là thấp hoặc không còn tồn tại; lưu trữ hồ sơ rủi ro theo chế độ quy định để phục vụ ngiên cứu, phân tích các rủi ro tương tự hoặc để tái sử dụng
Trang 30Việc xây dựng và quản lý hồ sơ rủi ro được thực hiện theo biểu mẫu thống nhất trong toàn ngành Mặt khác, công tác hồ sơ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan bao gồm các hoạt động rà soát, lập danh sách, đánh giá, phân loại và tiến hành theo dõi, áp dụng quản lý rủi ro và các đối tượng rủi ro nhằm phòng ngừa và ngăn chặn tối đa các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan Có 2 loại hồ sơ rủi ro: hồ sơ quản lý rủi ro theo danh mục rủi ro (danh mục này do tổng cục ban hành, ví dụ như danh mục áp dụng quản lý rủi
ro hàng nhập khẩu và mức giá kèm theo…) và hồ sơ quản lý theo lĩnh vực rủi
ro (tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm tiềm ẩn nguy cơ vi phạm pháp luật Hải quan)
Để tạo thuận lợi hơn cho việc tra cứu thông tin về đối tượng rủi ro, cơ quan Hải quan còn xây dựng bộ hồ sơ quản lý doanh nghiệp
Hồ sơ quản lý doanh nghiệp là tập hợp thông tin, dữ liệu được cập nhật
thường xuyên, phản ánh trạng thái hoạt động và thái độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp nhằm phục vụ QLRR trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan
1) Hình thức 1 Chấp nhận rủi ro và theo dõi tiếp: áp dụng đối với đối
tượng rủi ro được đánh giá ở cấp độ 1 hoặc cấp độ 2 nhưng có cơ sở cho rằng việc xử lý rủi ro có thể sẽ không đạt hiệu quả;
Trang 312) Hình thức 2 Cần thu thập, bổ sung thông tin: áp dụng đối với
trường hợp chưa có đầy đủ thông tin về rủi ro Kết quả thu thập thông tin, làm
rõ về rủi ro là cơ sở cho việc xem xét quyết định chấp nhận rủi ro (hình thức 1) hoặc áp dụng biện pháp xử lý cụ thể (theo hình thức 3)
3) Hình thức 3 Áp dụng các biện pháp xử lý đối tượng rủi ro
Bước 4: Theo dõi, kiểm tra, đánh giá lại, điều chỉnh và bổ sung
Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình QLRR nhằm đánh giá hiệu quả việc áp dụng quản lý rủi ro và rút ra những kinh nghiệm cũng như có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời
1.2 Những vấn đề cơ bản về áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục Hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại
1.2.1 Thủ tục Hải Quan điện tử
1.2.1.1 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử
Theo Công ước Kyoto về đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi): Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên liên quan và Hải quan phải thực hiện nhằm bảo đảm đảm tuân thủ Luật Hải quan.Theo luật Hải quan Việt Nam “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa, phương tiện vận tải’’
Trong xu thế hội nhập hiện nay, Việt Nam đang phải đối phó với những thách thức và đứng trước những cơ hội mới, hàng hóa, phương tiện vận tải, hành khách xuât cảnh, nhập cảnh ngày càng nhiều nên khối lượng công việc thực hiện thủ tục hải quan sẽ tăng lên Trong khi áp dụng thực hiện thủ tục hải quan truyền thống không thể đáp ứng được nhu cầu hiện nay, do đó cần phải thay đổi từ thủ tục hải quan truyền thống sang thủ tục hải quan điện tử Tuy nhiên, quá trình tiến hành chuyển đổi đó phải phụ thuộc vào tình hình cơ sở vật chất, đặc biệt là công nghệ thông tin hiện nay Những năm gần đây, trình
Trang 32độ công nghệ thông tin của nước ta ngày càng phát triển, vì vậy việc thay đổi phương thức làm việc theo hướng áp dụng công nghệ là tất yếu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực và hải quan cũng không ngoại lệ Hải quan Việt Nam
đã và đang chú trọng đến ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý “Về ứng dụng công nghệ thông tin: xây dựng hệ thống công nghệ thông tin Hải quan hiện đại trên nền tảng tập trung hoá xử lý dữ liệu, tích hợp đầy đủ các chức năng, xử lý hồ sơ Hải quan điện tử, manifest điện tử, thanh toán diện tử, giấy phép điện tử; xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu cấp vùng đạt mức độ 2+ trở lên, trung tâm xử lý dữ liệu ngành đạt mức độ 3+ trở lên, đảm bảo hệ thống công nghệ thông tin đạt tiêu chuẩn an ninh, an toàn cao (24/24 và 24/7)
và quản lý theo hướng dịch vụ; xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối, trao đổi thông tin với các cơ quan liên quan, thực hiện cơ chế Hải quan một cửa quốc gia và một cửa khu vực ASEAN Đảm bảo tính đầy đủ, chính xác, kịp thời của số liệu thống kê nhà nước về Hải quan làm cơ sở cho việc theo dõi, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động khác phục vụ kịp thời cho công tác hoạch định, chỉ đạo, điều hành về các
chính sách kinh tế, thương mại và thuế của các cơ quan nhà nước.” (theo
Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của thủ tướng Chính phủ)[21]
Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan được hải quan thực hiện
bằng các thông điệp dữ liệu điện tử thông qua hệ thống xữ lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật
Trong khái niệm trên thì thông điệp dữ liệu hải quan điện tử là những thông tin được tạo ra, gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử để thực hiện thủ tục hải quan điện tử Hệ thống dữ liệu điện tử hải quan là hệ thống thông tin do Tổng cục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, được sử dụng để tiếp nhận, lưu trữ, xử lý và phản hồi các thông điệp dữ liệu điện tử hải quan để thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Trang 33“Chứng từ điện tử” là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử trong hoạt động tài chính Chứng từ điện tử là một hình thức của thông điệp dữ liệu, bao gồm: chứng từ kế toán điện tử; chứng từ thu, chi ngân sách điện tử; thông tin khai và thực hiện thủ tục hải quan điện tử; thông tin khai và thực hiện thủ tục thuế điện tử; chứng từ giao dịch chứng khoán điện tử; báo cáo tài chính điện tử; báo cáo quyết toán điện tử và các loại chứng từ điện tử khác phù hợp với từng loại giao dịch theo quy định của pháp luật
Hệ thống khai hải quan điện tử: Là hệ thống thông tin do người khai hải quan quản lý, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử
1.2.2 Áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục HQĐT
1.2.2.1 Khái niệm áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử là việc
áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để đánh giá độ tuân thủ và phân luồng hàng hóa dựa trên bộ tiêu chí quản lý rủi ro và hồ sơ tuân thủ doanh nghiệp Trên
cơ sở đó ra quyết định dựa trên việc phân tích thông tin với sự hỗ trợ của hệ thống xử lý dữ liệu điện tử
1.2.2.2 Nội dung áp dụng quản lý rủi ro
a) Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai hải quan
Theo Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính
[2] có hiệu lực từ thi hành ngày 01/11/2013 quy định chi tiết về địa điểm đăng
ký tờ khai, điều kiện và thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, việc đăng ký tờ khai được thực hiện ngay sau khi người khai hải quan khai, nộp đủ hồ sơ hải quan theo quy định và được cơ quan hải quan kiểm tra các điều kiện đăng ký
tờ khai hải quan, bao gồm:
Trang 34- Kiểm tra điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế, tạm dừng làm thủ tục hải quan
- Kiểm tra tính đầy đủ hợp lệ của các thông tin khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan
- Kiểm tra việc tuân thủ chế độ, chính sách quản lý và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trường hợp đủ điều kiện đăng ký tờ khai, công chức hải quan cấp số đăng
ký tờ khai, cập nhật vào hệ thống Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai, công chức hải quan thông báo lý do bằng văn bản cho người khai hải quan Quy định này áp dụng đối với cả thủ tục hải quan điện tử theo quy định tại Thông tư số 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính [6]
Quy trình tóm tắt như sau: Thu thập thông tin doanh nghiệp khai không đáp ứng điều kiện đăng ký tờ khai -> đánh giá trình độ, năng lực khai hải quan -
> từ chối tiếp nhận thông tin khai trực tiếp -> sử dụng đại lý khai hải quan
b) Kiểm tra hồ sơ hải quan điện tử, kiểm tra thực tế hàng hóa:
- Thu thập thông tin các doanh nghiệp khai sai; Thu thập thông tin doanh nghiệp hủy, sửa tờ khai -> đánh giá mức độ rủi ro của doanh nghiệp ->
Nội dung cụ thể kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá
trình làm thủ tục hải quan: (Điều 16 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày
10/9/2013).[2]
Trang 35- Kiểm tra tên hàng, mã số hàng hoá theo quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Kiểm tra về lượng hàng hoá
- Kiểm tra chất lượng hàng hóa
- Kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu
- Đối với hàng hóa phải kiểm tra nhà nước về chất lượng, kiểm dịch động vật, thực vật, y tế, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ quan hải quan căn cứ giấy đăng ký kiểm tra chuyên ngành hoặc giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết luận lô hàng đạt yêu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của
cơ quan kiểm tra chuyên ngành để làm thủ tục hải quan
- Kiểm tra xuất xứ hàng hoá căn cứ vào thực tế hàng hoá, hồ sơ hải quan, những thông tin có liên quan đến hàng hoá và quy định tại Điều 15 Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ, các văn bản hướng dẫn có liên quan
- Kiểm tra thuế
- Đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập không thực hiện việc niêm phong hải quan khi kiểm tra hải quan, công chức hải quan mô
tả cụ thể tên hàng, số lượng, chủng loại, ký mã hiệu, xuất xứ (nếu có) trên Phiếu ghi kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc chụp ảnh nguyên trạng hàng hóa lưu cùng hồ sơ hải quan Khi làm thủ tục tái xuất, tái nhập, công chức hải quan kiểm tra hàng hóa, đối chiếu với mô tả hàng hóa trên bộ hồ sơ hải quan tạm nhập, tạm xuất (do cơ quan hải quan lưu) và xác nhận hàng hóa tái xuất, tái nhập đúng với hàng hóa đã tạm nhập, tạm xuất
Kết thúc kiểm tra thực tế hàng hoá, công chức hải quan thực hiện kiểm tra ghi kết quả kiểm tra theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan
c) Thu thập, kiểm tra, phân tích thông tin quản lý rủi ro để rà soát kết quả thông quan hàng hóa
Trang 36- Thu thập thông tin và đánh giá rủi ro để dừng thông quan đột xuất, áp dụng biện pháp kiểm soát, kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp
Triển khai việc thu thập thông tin theo Bộ tiêu chí thông tin quản lý doanh nghiệp
Phân tích, tổng hợp, lập danh sách các mặt hàng có nguy cơ gian lận cao phục vụ áp dụng quản lý rủi ro: hàng tháng đưa ra danh sách các mặt hàng có nguy cơ gian lận cao, được áp mã 10 số và chuyển giao cho đơn vị đầu mối áp dụng quản lý rủi ro cùng cấp Đưa ra biện pháp áp dụng đối với từng nhóm hoặc mặt hang Phân tích, tổng hợp, lập danh sách các mặt hàng thuộc diện quản lý có điều kiện (giấy phép phải đăng ký chất lượng ), hàng hoá nhạy cảm, hàng khó phân loại hoặc dễ gây nhầm lẫn, thu thập, phân thông tin xác định các phương thức, thủ đoạn vi phạm và các đối tượng trọng điểm phục vụ áp dụng quản lý rủi ro
d) Dừng thông quan đột xuất
Thông báo dừng thông quan đột xuất được tiến hành đối với tờ khai đã
có lệnh thông quan khi nghi ngờ có gian lận thương mại Hàng hóa chưa ra khỏi khu vực giám sát, Chi cục trưởng là người có thẩm quyền ra lệnh dừng thông quan Sau đó các cán bộ Chi cục làm thủ tục Hải quan thực hiện có nhiệm vụ sẽ áp dụng kiểm tra toàn bộ hồ sơ, toàn bộ hàng hóa
Cơ quan hải quan chỉ được dừng thông quan đột xuất để kiểm tra hải quan đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh đã hoàn thành việc kiểm tra hải quan hoặc hoàn thành thủ tục hải quan nhưng chưa đưa qua khu vực giám sát hải quan khi có cơ sở xác định lô hàng buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại
Cụ thể, khi kiểm tra các tờ khai luồng xanh, công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra xử lý như sau: khi phát hiện lô hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan Trường hợp có nghi vấn gian lận thương mại qua giá,
Trang 37công chức thừa hành thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử Hải quan chuyển thông tin cụ thể về dấu hiệu, nội dung nghi ngờ cho các bộ phận, đơn
vị áp dụng quản lý rủi ro, điều tra chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan của cấp Chi cục, Cục để tiến hành các biện pháp nghiệp vụ tiếp theo Thông tin về dấu hiệu vi phạm được cập nhật vào hệ thống để đưa ra yêu cầu dừng thông quan đột xuất Công chức thừa hành phối hợp với Cục Điều tra chống buôn lậu hoặc Đội Kiểm soát chống buôn lậu thuộc Cục Hải quan tiến hành kiểm tra đối với những lô hàng có thông tin, dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan Người đưa ra yêu cầu dừng thông quan đột xuất để kiểm tra hải quan đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình
e) Kiểm tra hàng hóa sau thông quan – kiểm soát:
- Hàng đã được thông quan; đã qua khu vực giám sát
- Chi cục hải quan thông báo và yêu cầu đội kiểm soát kiểm tra hàng hóa
Điều 142 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính[2] đã bổ sung thêm 1 nội dung kiểm tra sau thông quan, đó là kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan tại trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp, cửa hàng, nơi sản xuất hoặc nơi lưu giữ hàng hóa trong trường hợp cần thiết
Hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải quan là các nghiệp vụ do cơ quan hải quan tiến hành theo quy định (như thu thập thông tin trong nước và ngoài nước liên quan đến hoạt động hải quan; vận động quần chúng; điều tra nghiên cứu nắm tình hình; tuần tra kiểm soát, cơ sở bí mật, sưu tra, đấu tranh chuyên án; trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật; các biện pháp ngăn chặn; tiến hành một số hoạt động điều tra theo thẩm quyền quy định tại
Bộ Luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự) để thực hiện
Trang 38nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; phòng, chống buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy; chống hàng giả và thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan; phòng, chống khủng bố, rửa tiền và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
Đơn vị kiểm soát hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố gồm: Đội Kiểm soát hải quan; Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy; Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm; Tổ làm nhiệm vụ tham mưu chống buôn lậu và xử
lý vi phạm, thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan, chống hàng giả và thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan thuộc Phòng Nghiệp vụ thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố
f) Kiểm tra sau thông quan
Kiểm tra sau thông quan áp dụng khi tờ khai đã được thông quan, hàng
đã qua khu vực giám sát Chi cục hải quan yêu cầu Chi cục kiểm tra sau thông quan thực hiện kiểm tra sau tại doanh nghiệp đối với các tờ khai nghi ngờ có dấu hiệu gian lận thương mại qua giá, qua mã HS…
Đối tượng kiểm tra sau thông quan là hồ sơ hải quan, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, chứng từ, tài liệu, dữ liệu có liên quan, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan của chủ hàng; của người được chủ hàng ủy quyền; của tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu; của đại lý làm thủ tục hải quan và của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh
Nội dung kiểm tra sau thông quan
- Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính xác của việc khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu, được hoàn;
- Kiểm tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về thuế;
Trang 39- Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan
- Kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan tại trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp, cửa hàng, nơi sản xuất hoặc nơi lưu giữ hàng hóa trong trường hợp cần thiết
1.3 Kinh nghiệm áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện TTHQĐT của các nước
1.3.1 Kinh nghiệm của Hải quan Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế thương mại vượt bậc trong mấy năm gần đây, là bạn hàng lớn của rất nhiều nước trên thế giới Bình quân mỗi ngày, lượng hàng lưu thông trên thị trường nước này rất lớn,
do vậy, áp lực đặt ra với ngành Hải quan Trung Quốc là rất nặng nề Trước tình hình đó, Hải quan Trung Quốc đã không ngừng đổi mới và phát triển, làm tốt nhiệm vụ của mình Họ đã tiến hành thực hiện cải cách, hiện đại hóa
từ năm 1998, thử nghiệm khai báo Hải quan điện tử từ năm 2000 (chương trình H2000) và bắt đầu triển khai hệ thống thủ tục Hải quan điện tử mới từ năm 2010 Phương châm chính của Hải quan Trung Quốc là áp dụng quản lý rủi ro là trung tâm cho mọi hoạt động trong cải cách và quản lý ngành Điều này đã góp phần tạo nên thành công đáng kể cho quá trình đổi mới, phát triển của họ Cũng giống như chúng ta, công tác quản lí rủi ro của Hải quan Trung Quốc được quy định cụ thể trong Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn dưới luật của Chính Phủ và Tổng Cục Hải quan với nguyên tắc là quản lý tập trung theo hai cấp: Tổng cục Hải quan và cục Hải quan vùng Bộ phận đảm nhiệm chính về vấn đề áp dụng quản lý rủi ro là Phòng Quản lý rủi ro thuộc Cục Kiểm tra sau thông quan Bên cạnh đó, họ còn thành lập các bộ phận áp dụng quản lý rủi ro nhỏ tại các cục Hải quan vùng (đây là bộ phận hoạt động độc lập với các bộ phận nghiệp vụ khác của ngành) Nhiệm vụ chính của các
bộ phận này bao gồm: thu thập thông tin rủi ro từ hệ thống thủ tục Hải quan
Trang 40điện tử; thu thập thông tin từ các nguồn khác; phân tích - đánh giá rủi ro; xây dựng tiêu chí rủi ro; xây dựng các chỉ dẫn rủi ro; phân tích thông tin phản hồi; định kỳ rà soát - điều chỉnh - bổ sung - loại bỏ các tiêu chí rủi ro Có hai tiêu chí rủi ro:
Tiêu chí rủi ro cấp Tổng cục: có hiệu lực trên toàn quốc gia
Tiêu chí rủi ro cấp vùng- liên vùng hoặc Cục Hải quan: có hiệu lực trong
vùng, liên vùng hoặc thuộc thẩm quyền quản lý Hải quan của một Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
Trung Quốc xây dựng và trang bị một hệ thống tự động để tiến hành áp dụng quản lý rủi ro dưới sự quản trị và quản lý của các bộ phận chuyên trách cấp Trung ương và cấp vùng Mọi hoạt động của công chức đều phải tuân thủ theo các chỉ dẫn và hướng dẫn nghiệp vụ của hệ thống áp dụng quản lý rủi ro Đây có thể nói là một tập hợp các chương trình, các kĩ thuật đã được hệ thống hóa và tự động hóa để xử lý và áp dụng quản lý rủi ro Hệ thống này đã giúp giảm đáng kể lượng công việc cho công chức Hải quan Chẳng hạn như công chức Hải quan tại địa điểm làm thủ tục Hải quan sẽ tiến hành theo các thao tác trên hệ thống mà hệ thống yêu cầu, phản hồi và báo cáo kết quả vào hệ thống dưới sự giám sát của lãnh đạo đơn vị đó, giảm nhẹ sự tác động trực tiếp của công chức lên tờ khai Hải quan, đảm bảo nhanh gọn, giúp đẩy nhanh tốc
độ thông quan Áp dụng quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc được thực hiện theo hệ thống khép kín, gồm các bước: thu thập thông tin rủi ro - phân tích rủi ro - kiểm soát rủi ro - đánh giá rủi ro - quyết định xử lý nghiệp vụ Việc thu thập thông tin rủi ro được hỗ trợ bằng một hệ thống phần mềm chức năng mà tất cả các công chức Hải quan ở các vị trí khác nhau đều được phân quyền và có nhiệm vụ cập nhật thông tin tại chỗ Do vậy, thông tin rủi ro trên
hệ thống áp dụng quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc có tính toàn diện và kịp thời, giúp nâng cao hiệu quả phân tích rủi ro và có những hướng dẫn