1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá tác động của công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án khu đô thị sinh thái vincom village, quận long biên, thành phố hà nội

93 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn - Luật đất đai 2013 và các văn bản dưới luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất - Các báo cáo của các cấp: thành phố, quận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

Đồng Thị Minh Hằng

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ SINH THÁI VINCOM VILLAGE,

QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60850103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thị Hà Thành

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đồng Thị Minh Hằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, đồng nghiệp và nhân dân địa phương

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Hà Thành đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Đi ̣a Lý - Trường Đại học Khoa ho ̣c t ự nhiên - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣ i, Ban Bồi thường GPMB quận Long Biên, phòng Tài nguyên và Môi trường quận Long Biên, các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các phường Việt Hưng, Phúc Lợi, Long Biên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp

và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đồng Thị Minh Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn 3

6 Cấu trúc của Luận văn: 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN 5

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và sinh kế 5

1.1.1 Các khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 5

1.1.2 Nhu cầu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa 6

1.1.3 Cơ sở lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững 10

1.2 Cơ sở pháp lý về THĐ, GPMB 15

1.2.1 Các văn bản pháp lý hiện hành của thành phố về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 15

1.2.2 Nguyên tắc chung của bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 16

1.2.3 Những nội dung cơ bản của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 19

1.3 Tình hình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án ở Việt Nam25 1.3.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất, GPMB để thực hiện các dự án ở Việt Nam 25

1.3.2 Khái quát kết quả thực hiện công tác THĐ, GPMB để thực hiện các dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội 29

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, GPMB CỦA DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ SINH THÁI VINCOM VILLAGE, QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31

Trang 6

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Long Biên, thành phố Hà

Nội 31

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 31

2.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội 33

2.2 Tình hình sử dụng đất và biến động đất đai của quận Long Biên giai đoạn 2010 – 2014 36

2.2.1 Công tác quản lý đất đai 36

2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 36

2.2.3 Đánh giá tình hình biến động đất đai giai đoạn 2010-2014 41

2.3 Tổng quan các dự án xây dựng khu đô thị mới trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 43

2.4 Khái quát về dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội 45

2.4.1 Giới thiệu về dự án KĐT Sinh thái Vincom Village và tầm quan trọng của dự án đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Long Biên 45

2.4.2 Các Văn bản và căn cứ pháp lý nghiên cứu liên quan đến việc thực hiện dự án 47

2.4.3 Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ của dự án 49

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT, GPMB CỦA DỰ ÁN KHU ĐÔ THỊ SINH THÁI VINCOM VILLAGE ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÀ GIẢI PHÁP 57

3.1 Đặc điểm của hộ gia đình, cá nhân được phỏng vấn 57

3.2 Tác động của việc thu hồi đất, GPMB đến sinh kế của người dân 58

3.2.1 Thay đổi về nguồn vốn tự nhiên 58

3.2.2 Thay đổi về nguồn vốn con người 59

3.2.3 Thay đổi về nguồn vốn tài chính 60

3.2.4 Thay đổi về nguồn vốn vật chất 64

3.2.5 Nguồn vốn xã hội 66

3.2.6 Sự thay đổi sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 68

Trang 7

3.2.7 Đánh giá tổng hợp về các nguồn vốn phục vụ sinh kế của các hộ nông dân sau

khi thu hồi đất nông nghiệp thực hiện dự án 72

3.3 Đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB thực hiện dự án xây dựng KĐT sinh thái giúp ổn định sinh kế đối với người dân 74

3.3.1 Về cơ chế, chính sách 74

3.3.2 Về tổ chức và quản lý 75

3.3.3 Một số giải pháp khác để đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 83

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê diện tích đất tự nhiên 36

Bảng 2.2 Thống kê đất nông nghiệp quận Long Biên 2013-2014 38

Bảng 2.3 Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp quận Long Biên 39

Bảng 2.4 Biến động đất đai năm 2010-2014 41

Bảng 2.5 Kết quả thực hiện GPMB của dự án tại phường Việt Hưng 50

Bảng 2.6 Tổng kinh phí bồi thường hỗ trợ của dự án tại phường Việt Hưng 51

Bảng 3.1 Đặc điểm người lao động ở các hộ bị thu hồi đất 57

Bảng 3.2 Diện tích đất nông nghiệp bình quân của các hộ trước và sau thu hồi đất 58

Bảng 3.3 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 61

Bảng 3.4 Tổng số tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ gia đình 62

Bảng 3.5 Tỷ lệ hộ theo mục đích sử dụng tiền BT-HT 63

Bảng 3.6.Tài sản của các hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất 65

Bảng 3.7 Mối quan hệ xã hội của các hộ điều tra 66

Bảng 3.8 Các loại sinh kế trước và sau thu hồi đất 68

Bảng 3.9 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất tại dự án 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 11

Hình 2.1 Sơ đồ Hành chính quận Long Biên 31

Hình 2.2 Cơ cấu kinh tế quận Long Biên năm 2014 34

Hình 2.3 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 37

Hình 2.4 Biểu đồ biến động đất đai quận Long Biên giai đoạn 2010-2014 42

Hình 2.5 Sơ đồ vị trí dự án trong khu vực nghiên cứu 45

Hình 2.6 Mối liên hệ của dự án với các tuyến đường và nút giao thông 46

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện số hộ dân được BT-HT với các mức khác nhau 62

Hình 3.2 Tỷ lệ hộ sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ vào các mục đích 63

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, số lượng các dự án đầu tư ở cả khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội đã tăng rất nhanh Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư thì giải phóng mặt bằng là một khâu quan trọng và có tính đặc thù, không những ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ đầu tư các dự án mà còn liên quan đến sự ổn định tình hình kinh

tế, chính trị, xã hội Việc sử dụng đất để triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội một mặt đem lại những lợi ích rõ rệt về kinh tế, về hạ tầng đô thị, làm thay đổi chất lượng cuộc sống của người dân, song mặt khác cũng gây không ít khó khăn cho một bộ phận dân cư do bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất mà mất đi tư liệu sản xuất chính, mất nguồn thu nhập và kế sinh nhai Sự thay đổi điều kiện sống của người dân có đất bị thu hồi là một vấn đề lớn, mang tính thời sự cấp bách và trở thành vấn đề mang tính xã hội của cả nước.Vì vậy, vấn đề đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất, công tác đền bù giải phóng mặt bằng còn là vấn đề phức tạp mang tính chất chính trị, kinh tế - xã hội tổng hợp, đòi hỏi được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, tổ chức và cá nhân Đền bù thiệt hại về đất không chỉ thể hiện bản chất kinh tế các mối quan hệ về đất đai (giữa Nhà nước với các tổ chức và cá nhân

sử dụng đất, giữa các tổ chức kinh tế này với các tổ chức kinh tế khác và giữa các

cá nhân với nhau), mà còn thể hiện về các mối quan hệ về chính trị, xã hội Qua đó cũng đủ thấy vấn đề đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là một vấn đề cực kỳ phức tạp và đặt ra nhiều thử thách

Để làm giảm những mâu thuẫn nêu trên, Thành phố Hà Nội đã có rất nhiều

cố gắng trong việc cải thiện các chính sách về đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, do tính phức tạp của vấn đề, cùng với vốn đầu tư còn mỏng, việc thực hiện bồi thường đối với đất bị thu hồi vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định, nhất là đối với mức giá bồi thường thiệt hại và việc khôi phục mức sống cho các hộ dân bị

di chuyển đến nơi ở mới, hoặc mất nguồn thu nhập chính do phải di chuyển, giải phóng mặt bằng

Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB của

Trang 11

dự án này sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm và các giải pháp góp phần xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của thành phố Hà Nội Xuất phát

từ lý do này, tôi đã chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động của công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ tác động tích cực và tiêu cực của việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án xây dựng Khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội đến đời sống của người dân tại khu vực bị thu hồi đất

- Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bồi thường, GPMB và hỗ trợ ổn định đời sống, việc làm cho người dân có đất bị thu hồi khi thực hiện dự án

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy.định pháp lý về hồi đất, bồi thường, hỗ trợ của nhà nước ta từ sau khi có Luật đất đai 2003 đến nay

- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác thu hồi đất, GPMB dự án khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

- Điều tra, khảo sát về giá đất bồi thường, hỗ trợ của dự án, phỏng vấn các hộ thuộc diện bị thu hồi đất và nhận bồi thường, hỗ trợ

- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, làm rõ những nguyên nhân, những khó khăn vướng mắc trong GPMB của dự án và những ảnh hưởng đến đời sống việc làm của người dân có đất bị thu hồi

- Đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ GPMB

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng quan tài liệu: đây là phương pháp quan trọng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Việc tổng quan tài liệu phục vụ cho việc làm rõ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu, khái quát được vấn đề thu hồi đất, GPMB tại quận Long Biên nói chung cũng như nêu được đặc điểm thu

Trang 12

hồi đất và GPMB của dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village nói riêng Đồng thời phương pháp này cũng được sử dụng trong tổng quan các dự án, đề tài về vấn

đề thu hồi đất, GPMB đã được thực hiện trong nước

- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu; nguồn tài liệu, số liệu thu thập được sử dụng để thu thập thông tin tư liệu về vấn đề kinh tế - xã hội, công tác thu hồi đất, GPMB tại quận Long Biên nói chung và các dữ liệu về số hộ gia đình bị thu hồi đất, số tiền bồi thường và các bước thực hiện công tác thu hồi đất, GPMB

dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village

- Phương pháp điều tra xã hội học: với việc điều tra, phỏng vấn trực tiếp 100

hộ gia đình, cá nhân phân bố ở 3 địa bàn phường Việt Hưng, Phúc Lợi, Giang Biên quận Long Biên, Hà Nội (có kèm bảng hỏi) là các hộ gia đình, cá nhân trong diện được bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất để thu thập các thông tin

về giá đất, giá bồi thường hỗ trợ, công ăn việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

- Phương pháp toán thống kê: được sử dụng để thống kê, phân tích và tính toán, tổng hợp các dữ liệu về kinh tế - xã hội thu thập được sau khi đi phỏng vấn, các số liệu về giá đất và tài sản gắn liền với đất đối với dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village để đưa ra những kết quả quan trọng của nghiên cứu

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn

- Luật đất đai 2013 và các văn bản dưới luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi nhà nước thu hồi đất

- Các báo cáo của các cấp: thành phố, quận Long Biên, các phường có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Các báo cáo của Hội đồng GPMB, tổ công tác GPMB của các phường thực hiện dự án

- Các giáo trình cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ thống chính sách pháp luật đất đai,

- Tài liệu chuyên ngành của các chuyên gia

- Thu thập thông tin từ việc điều tra thực tế tại địa phương

Trang 13

6 Cấu trúc của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và sinh kế của người dân

- Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng của dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

- Chương 3: Đánh giá tác động của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng của dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village tới sinh kế của người dân và giải pháp

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và sinh kế

1.1.1 Các khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Theo Luật đất đai 2013, các thuật ngữ về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được định nghĩa như sau:

+ Thu hồi đất :“Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của

người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”

+ Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:

- Bồi thường có nghĩa là trả la ̣i tương xứng giá tri ̣ hoă ̣c công lao cho mô ̣t chủ thể nào đó bi ̣ thiê ̣t ha ̣i vì mô ̣t hành vi của chủ thể khác

- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi

cho người sử dụng đất”( Điều 3, khoản 12)

+ Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

Là việc Nhà nước giúp đỡ người có đất bị thu hồi để ổn định đời sống, sản

xuất và phát triển (Điều 3, khoản 14)

+ Tái định cư:

Theo đó tái định cư được hiểu là: Định cư lại; cụ thể hơn: Tái định cư là việc

di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn Tái định

cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển

+ Giá đất: Là số tiền tính trênmột đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất

+ Giá trị quyền sử dụng đất: Là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [26]

Trang 15

1.1.2 Nhu cầu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Đại hội XI (2011) với Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, coi phương thức cơ bản số một là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”

Như vậy là từ Đại hội IX đến nay, Đảng ta không chỉ gắn kết công nghiệp hóa với hiện đại hóa mà còn cho rằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, phải gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XII nhấn mạnh: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển…

Trong quá trình triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đòi hỏi quỹ đất khá lớn mà Nhà nước cần thu hồi Vì vậy, thu hồi đất, GPMB là việc cần thiết để thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH vì những lý do sau:

- Thứ nhất, thu hồi đất để có mặt bằng xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế xã hội

- Thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

- Thu hồi đất để nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh

Để phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị, không thể không thu hồi đất

mà người dân đang sử dụng Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị là một yêu cầu phát triển khách quan của cả nước nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng

Tuy nhiên, các dự án đó cũng tiềm ẩn nhiều thách thức lớn như việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ cho nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp chưa thỏa đáng; ở một số dự án, một số địa phương thực hiện không thống nhất, không

Trang 16

đồng bộ; vấn đề ổn định đời sống, ổn định sản xuất và tạo việc làm mới cho người

bị thu hồi đất vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng; nơi tái định cư cho người bị thu hồi đất ở chưa thực sự hợp lý Tình trạng bất cập nêu trên đã gây nên tình trạng khiếu kiện phức tạp của người bị thu hồi đất, nhiều nơi đã tạo ra nguy cơ mất ổn định an ninh chính trị và an toàn xã hội, không đảm bảo tính bền vững xã hội trong quá trình phát triển

Trong những năm qua, chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB đã đi vào cuộc sống, tạo mặt bằng cho các dự án xây dựng ở Việt Nam, thu hút nguồn vốn đầu tư, tạo nguồn lực sản xuất, chuyển đổi cơ cấu, phát triển đô thị và đổi mới diện mạo đô thị, nông thôn

Qua báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tính đến năm 2010

có 757 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 19.009 ha Các địa phương còn tồn tại nhiều dự án giải tỏa “treo” gồm: Bình Thuận 133 dự án, Đồng Nai 88 dự án, Quảng Ninh 56 dự án, Vĩnh Phúc 33 dự án, Bắc Ninh 32 dự án, Cao Bằng 35 dự án, Hưng Yên 26 dự án, Quảng Nam 21 dự án, Kiên Giang 30 dự án và An Giang 26 dự án

Kết quả giải quyết BT-HT: cả nước có 192 dự án (25,30%) với tổng diện tích

đã giải quyết là 4.339 ha (22,82%) Bên cạnh đó còn có 148 dự án (19,55%) đang làm thủ tục giải quyết với tổng diện tích 1.720 ha

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua các địa phương đã tiến hành rà soát và có quyết định hủy bỏ 87 dự án đã thu hồi đất với tổng diện tích 1.087 ha, trong đó: Đồng Nai hủy bỏ 10 dự án (373,98 ha), Hưng Yên hủy bỏ 7 dự án (66,64 ha), Hải Phòng hủy bỏ 10 dự án (50,30 ha), Bắc Ninh hủy bỏ

8 dự án (23,56%) Tuy nhiên vẫn còn tồn đọng tổng số 433 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 12.645 ha chưa có hướng giải quyết [3]

Về thu hồi đất: Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2012, sau gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế và thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598

hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai Những tỉnh thu hồi nhiều đất do

Trang 17

vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước 6.070 ha, Phú Yên 5.813 ha, Đắk Nông 5.791 ha, Quảng Nam 5.217 ha, Gia Lai 2.719 ha, Quảng Ninh 2.245 ha, Khánh Hòa 604 ha, Hà Nội 594 ha

- Việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự

án vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây bức xúc cho cả người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền nơi có đất thu hồi do các nguyên nhân sau:

- Việc thực hiện cơ chế tự thỏa thuận đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, hạn chế khiếu kiện, đồng thời giảm tải cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc thu hồi đất Tuy nhiên, đã tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất so với dự án do Nhà nước thu hồi trong cùng khu vực Nhiều địa phương còn áp dụng cơ chế này đối với những dự án lớn (diện tích đất và số hộ dân bị thu hồi lớn), nên nhà đầu tư rất khó

có thể hoàn thành việc giải phóng mặt bằng do một số người có đất nằm trong khu vực dự án không hợp tác với nhà đầu tư, không bảo đảm thực hiện dự án theo đúng tiến độ và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất nên khó khăn trong thực hiện nhất là đối với trường hợp người bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện đo đạc, kiểm đếm Chưa quy định việc sử dụng tư vấn giá đất, giải quyết khiếu nại về giá đất và cơ chế bắt buộc để đảm bảo có quỹ đất, có nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất

- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá đất thị trường; còn tình trạng không thống nhất về cơ chế bồi thường giữa các dự án đầu tư có nguồn vốn trong nước và dự án từ vốn vay của các ngân hàng nước ngoài (ADB, WB)

- Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người

Trang 18

bị thu hồi đất Nhiều địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng chất lượng chưa đảm bảo yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; việc lập và thực hiện phương án bồi thường của một số dự án chưa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch; một số nơi chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; một số dự án còn thiếu công khai, dân chủ, minh bạch Tổ chức thực hiện còn thiếu kiên quyết, chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện

- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn hạn chế và thiếu chuyên nghiệp Trong khi đó, Tổ chức Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã được phê duyệt, tạo quỹ "đất sạch" triển khai khi có dự án đầu tư

- Nhà nước thiếu vốn để giao cho các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện nên phổ biến vẫn thực hiện thu hồi đất và giao chỉ định cho chủ đầu tư, cho phép chủ đầu tư ứng vốn để trả trước tiền bồi thường giải phóng mặt bằng dễ dẫn đến khiếu kiện của người dân Đồng thời, nhà nước chưa thu được đầy đủ phần giá trị tăng thêm từ đất do chuyển mục đích sử dụng đất mà không do nhà đầu tư mang lại để điều tiết chung

- Thẩm quyền thu hồi đất đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện,trong đó có nhiều dự án thu hồi diện tích lớn, thu hồi đất trồng lúa, đất rừng

để chuyển sang đất phi nông nghiệp ảnh hưởng đếnđời sống và việc làm của nhiều

hộ dân nhưng thực hiện còn thiếu cân nhắc, tính toán, trong khi việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên còn thiếu chặt chẽ

- Luật Đất đai đã quy định các trường hợp không sử dụng, chậm sử dụng hoặc sử dụng đất không đúng mục đích thì Nhà nước thu hồi và không bồi thường

Trang 19

về đất, nhưng được bồi thường đối với tài sản đã đầu tư gắn liền với đất Quy định này đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc thu hồi đất trong các trường hợp trên (xác định chi phí đã đầu tư, kinh phí để bồi thường) để giao lại cho các nhà đầu tư

có năng lực, đồng thời làm cho việc thực thi pháp luật về đất đai của nhà đầu tư thiếu nghiêm minh; dẫn đến còn tình trạng lãng phía đất đai và gây bất bình trong

dư luận

- Mặc dù, chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự đã được đổi mới từ khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003 nhưng bất cập chủ yếu tại địa phương hiện nay là tình trạng khiếu kiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó có vướng mắc trong thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

Có những dự án thu hồi đất, GPMB thành công đã làm cho đời sống của người dân có đất bị thu hồi tốt hơn trước do họ nhận được khoản tiền bồi thường cao, nhận được sự quan tâm hỗ trợ lớn để ổn định đời sống Đồng thời, chủ đầu tư cũng nhanh chóng có được mặt bằng để tiến hành xây dựng, sản xuất, thu hồi vốn nhanh chóng, góp phần phát triển nền kinh tế chung của cả nước và sự tiến bộ xã hội

Nhưng bên cạnh đó, những chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB

đã tạo ra không ít những tiêu cực và bất cập Một điều cho thấy rằng việc áp dụng chính sách này đối với đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất ít xảy ra tình trạng khiếu kiện, còn đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh đặc biệt ở những đô thị lớn thì vấn đề áp dụng chính sách gây nhiều bất cập Sự bất cập này thể hiện trên nhiều phương diện

1.1.3 Cơ sở lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững

*Khái niệm về sinh kế

Theo từ điển Tiếng Việt thì sinh nghĩa là sống, kếnghĩa là tính toán Vì vậy,

sinh kế là cách làm ăn để mưu cầu sự sống

Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn (bao gồm cả nguồn tài nguyên hữu hình và tài nguyên xã hội) và những hoạt động cần thiết của con người để sinh sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể giải quyết hoặc vượt qua những khủng hoảng,

cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng và nguồn vốn cả ở thời điểm hiện tại và

Trang 20

trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nguồn tài nguyên tự nhiên(Chambers

& Conway, 1991)

Bộ Hợp tác phát triển Quốc tế Anh (DFID) cũng đưa ra khái niệm Sinh kế

như sau: “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn gọi là kế sinh nhai

hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh

kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người

có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện

để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” Đây cũng là khái niệm phổ biến, thường được sử dụng trong nhiều nghiên cứu

- Ở các cấp khác

nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc

- Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân

- Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)

Các chiến lược SK

- Các tác nhân

xã hội (nam,

nữ, hộ gia đình, cộng đồng …)

- Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên

- Cơ sở thị trường

- Đa dạng

- Sinh tồn hoặc tính bền vững

Các kết quả SK

- Tăng thu nhập

- Cuộc sống đầy đủ hơn

- Giảm khả năng tổn thương

- An ninh lương thực được cải thiện

- Công bằng xã hội được cải thiện

- Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên

- Giá trị không sử dụng của tự nhiên được bảo vệ

Nguồn vốn sinh kế

Trang 21

Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn, tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó

Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất hay phi vật chất

mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực (con người), vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên

Vốn nhân lực: Là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp

con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực thể hiện trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác

Vốn tài chính: Là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được

các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm: nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

Vốn tự nhiên: Là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước,…mà con

người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và các mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy

mô đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người

có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học

Vốn vật chất: bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ

trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng

Trang 22

nhằm hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường, trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ

hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa

và thiết bị sinh hoạt gia đình

Vốn xã hội: Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối

quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế

Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay

cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào trong tương lai

Tiến trình và cấu trúc: Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật

pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu

tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc

Thành phần quan trọng thứ ba của khung sinh kế là kết quả của sinh kế Đây

là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả của sinh kế nhìn chung

là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên

Đó có thể là sự cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các tổ chức,

cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau

Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn

khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lược

sinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực

Trang 23

hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh

kế Đó có thể là lựa chọn vật nuôi, cây trồng, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi quy mô hoạt động

Ngữ cảnh dễ bị tổn thương: Đó chính là những thay đổi, những xu hướng,

tính mùa vụ Những nhân tố này hầu như con người không thể điều khiển được trong ngắn hạn Vì vậy trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt được mục tiêu mà phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng mà họ có thể chống chọi đối với những thay đổi trên hay phục hồi đối với những tác động trên

*Sinh kế bền vững

Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1980 Về sau, các khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward….Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi hộ gia đình, cá nhân Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ

tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng

Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh

kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)

Theo R.Chamber (1989); T.Reardon, and J.E.Taylor (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực

và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 24

Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004,2005), Barrett và Reardon (2000) Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển…Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không

Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững Các nghiên cứu về sinh

kế hiện nay cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực [2]

Trang 25

- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND Thành phố

Hà Nội v/v Ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND Thành phố

Hà Nội Quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố Hà Nội do Luật đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ và Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Văn bản số 624/BCĐ-NV2 ngày 14/7/2014 của Ban chỉ đạo GPMB Thành phố Hà Nội ban hành các biểu mẫu chung phục vụ công tác Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Quyết định 63/2013/QĐ-UBND ngày 25/12/2013 v/v Quy định về giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Quyết định 29/2014/QĐ-UBND ngày 22/7/2014 v/v ban hành giá xây dựng mới nhà ở, nhà tạm, vật kiến trúc làm cơ sở xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Thông báo 7495/STC-BG ngày 30/12/2013 của Sở Tài chính Hà Nội Thông báo về đơn giá bồi thường, hỗ trợ các loại cây, hoa màu, vật nuôi trên đất có mặt nước phục vụ công tác GPMB trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2014

1.2.2 Nguyên tắc chung của bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 74 Luật đất đai 2013:

Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy địnhtại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật

Trang 26

Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 83 Luật đất đai 2013:

- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được nhà nước xem xét hỗ trợ

- Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật [26]

Theo quy định của Luật đất đai 2003, việc bồi thường, hỗ trợ và điều tiết của nhà nước cho người có đất bị thu hồi vẫn chưa rành mạch, vì vậy dẫn đến tình trạng:

- Tiền hỗ trợ lớn hơn tiền bồi thường

- Khoản điều tiết của nhà nước nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư chưa được quy định [25]

Vì vậy, Luật đất đai 2013 làm rõ nguyên tắc chung về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giá đất bồi thường là giá được xác định sát giá thị trường; làm rõ ngoài việc bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp Nhà nước còn thực hiện điều tiết nguồn thu từ đất để thực hiện việc hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Đồng thời quy định việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải lấy ý kiến của người có đất bị thu hồi, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trước khi phê duyệt nhằm đảm bảo quyền lợi, sự đồng thuận của người có đất bị thu hồi

Các chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải tuân thủ pháp luật và thực hiện theo một quy trình chặt chẽ được tiến hành

- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên có liên quan

- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải gắn với việc tái định cư, ổn định đời sống và việc làm cho người có đất bị thu hồi

- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải được thực hiện công khai, dân chủ với sự tham gia của cộng đồng

Trang 27

- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó biện pháp tuyên truyền, giáo dục, tư vấn thuyết phục để người dân tự giác thực hiện là quan trọng

Việc nhà nước nắm giữ quyền chủ thể tối cao đối với đất đai thể hiện trong việc thu hồi đất phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là một vấn đề có tính phổ biến, không phân biệt chế độ sở hữu đất đai, hình thức sở hữu đất đai, chế độ chính trị, bản sắc dân tộc

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người bị thu hồi đất là một hợp phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững

Phạm vi đối tượng được bồi thường, hỗ trợ trong các dự án thu hồi đất không chỉ giới hạn trong số những người bị thu hồi đất mà phải mở rộng cho tới tất cả những người không bị thu hồi đất nhưng bị tác động tiêu cực bởi các dự án thu hồi đất Theo đó, người không bị thu hồi đất nhưng nếu dự án thu hồi đất làm thay đổi môi trường sống, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội làm cho điều kiện sống, điều kiện làm việc của người đó khó khăn hơn thì người đó được coi là người

bị ảnh hưởng và được đưa vào diện xem xét để bồi thường

- Sự minh bạch hoá và sự tham gia của những người bị ảnh hưởng bởi dự án thu hồi đất vào việc hoạch định chính sách, xây dựng phương án, thực hiện phương

án bồi thường, hỗ trợ tái định cư là việc hết sức cần thiết đảm bảo lựa chọn được những chính sách, giải pháp, phương án tốt nhất, nhân văn nhất và có tính khả thi cao

- Người bị ảnh hưởng được bồi thường một cách thoả đáng, đảm bảo cho người bị ảnh hưởng có đời sống phải đạt mức ngang bằng mức khi chưa có dự án Điều này hàm ý phải áp dụng giá thay thế đối với tài sản bị thiệt hại, hỗ trợ di dời, khôi phục và ổn định đời sống, thu nhập; phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội nơi chuyển đến sao cho tương đương nơi ở cũ Như vậy chi phí bồi thường thực chất lớn hơn nhiều so với giá chuyển nhượng trên thị trường của tài sản bị thiệt hại

- Áp dụng các hình thức bồi thường, hỗ trợ đa dạng; chú trọng sử dụng hình thức bồi thường bằng hiện vật thay thế như nhà ở, đất, các công trình hạ tầng hoặc

Trang 28

bằng các gói dịch vụ như đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, các hình thức bảo hiểm, các hình thức hỗ trợ thường xuyên thông qua các quỹ

- Tránh các phương án thu hồi đất phải di dân, tái định cư Trong trường hợp không tránh khỏi thì phải hạn chế tới mức thấp nhất số dân phải di dời, đồng thời đảm bảo cho người tái định cư không những ổn định về kinh tế mà còn phải bảo đảm cho họ hoà nhập nhanh chóng vào cộng đồng dân cư mới về mọi mặt

1.2.3 Những nội dung cơ bản của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Về bồi thường:

a Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:

Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai năm 2003, được quy định trong 02 điều (Điều 42 và Điều 43):

Điều 42 Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi:

1 Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật này thì người bị thu hồi đất được bồi thường, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,

11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của Luật này

2 Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới

có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

3 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường

Trang 29

hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người

bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó

4 Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới

5 Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất

mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường, hỗ trợ

6 Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất

bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất

Điều 43 Những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường:

1 Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,

9, 10, 11 và 12 Điều 38 của Luật này;

b) Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

c) Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng;

d) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trang 30

2 Khi Nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp sau đây:

a) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra tại khu vực đất bị thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

b) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra trước khi có quyết định thu hồi đất mà trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thời điểm xây dựng công trình đó;

c) Đất bị thu hồi thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 của Luật này

3 Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1 nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi

4 Chính phủ quy định việc xử lý đối với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất trong trường hợp thu hồi đất quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8,

9, 11 và 12 Điều 38 của Luật này [25]

Trên thực tế những quy định trên đã không thể thể chế, truyền tải hết các quy mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88) Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn

cứ vào đó thống nhất thực hiện:

Điều 74 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường

2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng

Trang 31

tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật

Điều 88 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh

doanh khi Nhà nước thu hồi đất

1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất

bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường

2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại

Luật đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất quy định tại Điều 75, cụ thể:

- Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền một lần cho cả

thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức

thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau)

- Bồi thường đối với trường hợp Cộng đồng dân cư , cơ sở tôn giáo , tín

ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao , cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp Vấn đề này, Luật Đất đai năm 2003 chưa quy định

việc bồi thường, hỗ trợ đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm

cơ sở hoạt động từ thiện không phải là đất do Nhà nước giao mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004 nên gây vướng mắc trong việc thực hiện tại các địa phương

b Thể chế hóa các cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông

Trang 32

nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở và theo từng loại đối tượng

sử dụng đất(từ Điều 77 đến Điều 81 của Luật)

Trong đó, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân

c Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (Điều 76 Luật đất đai 2013) cho một số trường hợp không được bồi thường về đất như sau:

Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Khoản 1, Điều 54;

- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

d Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự

án đặc biệt (Điều 87 Luật đất đai 2013)

Nội dung quy định theo hướng:

- Bổ sung trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có đất thu hồi

Trang 33

được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống, sản xuất theo quy định của Chính phủ

- Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống và văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Thủ tướng chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách đó

- Bổ sung việc hỗ trợ di chuyển thành bồi thường

Về hỗ trợ:

Một số quy định được bổ sung trong Luật đất đai 2013 so với Luật đất đai 2003:

a Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại Khoản 1, Điều 83:

- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

- Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật”

b Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường tại Khoản 1, Điều 84 Cụ thể:

“Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm

Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh”

Trang 34

c Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ

gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ ở tại Khoản 2, Điều 84 Cụ thể:

“Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất

mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm” [26]

1.3 Tình hình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án ở Việt Nam

1.3.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất, GPMB để thực hiện các dự án ở Việt Nam

* Việc áp dụng chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:

Ngày 21.6.2013, các tác giả: Đào Trung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn

Thanh Trà đã thực hiện đề tài: “ Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất,

bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật” (Tạp chí Khoa học và

phát triển 2013) Nghiên cứu này dựa trên số liệu điều tra trên địa bàn 3 thành phố:

Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và 4 tỉnh: Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Long

An, Bình Dương với 3 đối tượng: 1.445 hộ gia đình, 70 doanh nghiệp sử dụng đất

và 224 cán bộ địa phương Các địa bàn khảo sát được lựa chọn là những địa phương

có nhiều đổi mới trong việc chuyển đổi đất đai, thu hồi đất, tạo quỹ đất để thực hiện các dự án phát triển khu đô thị, khu dân cư mới, khu công nghiệp, cụm công nghiệp Kết quả nghiên cứu như sau:

- Về chuyển đổi đất đai: đa số các hộ dân, doanh nghiệp cho rằng nên thực hiện theo hình thức thỏa thuận, các cán bộ địa phương đề nghị cả 2 cơ chế bắt buộc

và tự nguyện

- Về thu hồi đất: cơ bản các hộ dân đánh giá đã thực hiện theo đúng trình tự, hợp lý và đảm bảo tính minh bạch; các doanh nghiệp cho rằng còn khó khăn trong tiếp cận đất đai do nhiều quy định chồng chéo

Trang 35

- Về vấn đề bồi thường: nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi khung giá đất được xây dựng và ban hành định kỳ 1-3 năm một lần; khi thu hồi đất, phải xác định giá đất cụ thể để bồi thường

- Về hỗ trợ: cần giao đất sản xuất mới, tăng mức hỗ trợ ổn định đời sống, việc làm

- Về tái định cư: đa số các hộ dân có ý kiến đề nghị tăng diện tích các căn hộ tái định cư, đất dịch vụ hoặc ưu tiên cho người dân được đăng ký mua đất, nhà thuộc các dự án phát triển nhà, đô thị với giá ưu đãi và được miễn thuế

Các đề xuất trên là cơ sở để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư [11]

Năm 2011, TS Phan Trung Hiển đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên

cứu giải quyết những khó khăn trong giải phóng mặt bằng khi thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Cần Thơ” Nhóm nghiên cứu đã tiến hành

thực hiện khảo sát phỏng vấn 376 hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Cần Thơ Kết quả khảo sát cho thấy:

- Đa số các hộ dân cho rằng “bảng giá đất không sát với giá thị trường”, vấn

đề hỗ trợ và chính sách việc làm chủ yếu chỉ thực hiện “hỗ trợ việc làm bằng tiền”

mà không chăm lo “bố trí việc làm”

- Điều kiện ở khu TĐC chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của các hộ dân

- Mặc dù nhà nước chỉ thu hồi đất, nhưng các thiệt hại không chỉ là thửa đất

đó mà còn thay đổi các nguồn vốn sinh kế của người dân nơi đây Đây là những ảnh hưởng không nhỏ làm thay đổi cả tập quán sống, thói quen định cư và tác động trực tiếp đến các mối quan hệ xã hội cá nhân, gia đình, cộng đồng [21]

*Nghiên cứu về giá đất áp dụng trong bồi thường, GPMB:

Nghiên cứu về giá đất áp dụng trong bồi thường, GPMB có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách GPMB Đề tài của Bộ Tài nguyên và Môi

trường: “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản” năm

2005 đã dành một chương để nghiên cứu về vấn đề này Đề tài đã nêu khái quát về giá đất, định giá đất trên thế giới; thực trạng giá đất, định giá đất ở nước ta và một

số tồn tại trong chính sách giá đất Từ đó, đề tài đã đề xuất số giải pháp như: ban

Trang 36

hành khung giá đất hàng năm phù hợp với giá thị trường, thành lập tổ chức định giá đất từ TW tới địa phương, chú trọng đào tạo các chuyên gia tư vấn, định giá đất Tuy nhiên các đề xuất này chưa mang tính cụ thể cao [5]

Năm 2009, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường giải phóng mặt bằng tại Việt Nam”

Trên cơ sở phân tích hệ thống pháp luật đất đai hiện hành ở Việt Nam về định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về định giá đất theo thị trường và nghiên cứu xã hội học về ý kiến của người dân bị thu hồi đất trong nước, báo cáo đã đề xuất một số việc cần làm để hoàn chỉnh

và vận hành cơ chế định giá đất theo thị trường để áp dụng cho việc tính toán bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:

+ Phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ định giá đất đai và tài sản gắn liền

do các định giá viên được cấp phép hành nghề thực hiện, hoạt động trong các tổ chức doanh nghiệp cung cấp dịch vụ định giá Kết quả của định giá là cơ sở để cơ quan có thẩm quyển quyết định về giá đất phục vụ xác định giá trị định giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

+ Đề xuất về cơ chế giao cho Hiệp hội định giá đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về định giá đất đai và tài sản gắn liền, hướng dẫn dịch vụ định giá thực hiện đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật này

+ Đề xuất về cơ chế thành lập và hoạt động của các Hội đồng định giá đất đai

và tài sản gắn liền với đất cấp quốc gia và cấp tỉnh, độc lập với hệ thống hành chính,

có thẩm quyền quyết định về giá đất áp dụng cho tính toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết các tranh chấp về giá đất trên thị trường và cấp phép hành nghề cho các định giá viên bắt đầu được phép hành nghề (Hội đồng cấp tỉnh), có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại về giá đất đã được quyết định và cấp phép hành nghề cho các định giá viên cao cấp (Hội đồng cấp quốc gia) [23]

*Về vấn đề việc làm và đời sống cho các hộ dân có đất bị thu hồi:

- Đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời

sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” do Nguyễn Thị Hồng

Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà (Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013,

Trang 37

tập 11) Nghiên cứu tập trung phân tích tình hình thu hồi đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp và ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, việc làm và thu nhập của các hộ bị thu hồi đất, những thách thức của việc thu hồi đất trong quá trình phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo chiều hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và giảm tỷ trọng nông nghiệp Thu nhập bình quân đầu người tăng, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút khoảng 25.000 lao động vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp…Tuy nhiên việc mất đất nông nghiệp đã làm cho một số

bộ phận nông dân thiếu việc làm, nảy sinh một số tác động xã hội khác, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ Việc chuyển đổi việc làm không thực sự dễ dàng và người nông dân cần phải được đào tạo để có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp

với công việc mới [20]

- Đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng sinh kế người nông dân khi chuyển đổi đất

nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” của

Thạc sỹ Ngô Hữu Hoạnh Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhiều hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu có thu nhập cao hơn trước khi thu hồi đất, nguồn vốn về vật chất được cải thiện đáng kể, tuy nhiên nhiều người lo lắng về việc tạo nguồn sinh kế lâu dài vì các nguồn thu nhập còn bấp bênh do việc làm không ổn định, cuộc sống xáo trộn, phai nhạt tình cảm nông thôn, ô nhiễm môi trường Khi bị thu hồi đất, người dân nhận được bồi thường, hỗ trợ đều bằng tiền mặt, đa số người dân sử dụng nguồn vốn vào mục đích không phải là đầu tư sản xuất và học nghề chuyển đổi nghề nghiệp dẫn đến khó khăn trong việc chuyển đổi việc làm Do đó cần có giải pháp từ cơ quan nhà nước để việc sử dụng nguồn tiền bồi thường, hỗ trợ

hiệu quả hơn nhằm đảm bảo sinh kế bền vững lâu dài cho người dân [22]

- Đề tài của GS.TS Chu Văn Cấp: “Một số vấn đề xã hội nảy sinh từ tác

động của chính sách thu hồi đất đối với nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã đề cập vấn đề người nông dân không có việc làm khi mất đất, sử

dụng đất sai mục đích và ô nhiễm môi trường Hơn nữa quản lý đất đai chưa chặt chẽ, đã có hàng trăm ha đất không sử dụng đúng mục đích, làm cho các khiếu kiện

Trang 38

về đất đai, vi phạm về bảo vệ môi trường gia tăng Qua đó cần có giải pháp như: tăng cường đầu tư nông nghiệp, dạy nghề cho nông dân và hoàn thiện chính sách thu hồi đất [10]

1.3.2 Khái quát kết quả thực hiện công tác THĐ, GPMB để thực hiện các dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội

Cùng với quá trình đô thị hóa, việc mở rộng không gian Hà Nội diễn ra nhiều lần, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII (Ngày 29/5/2008) đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội Theo đó thành phố Hà Nội

mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02ha (3.344,7002 km2) và dân số là 6.232.940 người.Sau khi mở rộng, thành phố Hà Nội có 29 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã – và 580 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 404 xã, 154 phường và 22 thị trấn.Việc mở rộng Hà Nội là thực sự cần thiết cho hướng phát triển bền vững thủ đô, nhất là nhu cầu phát triển công nghiệp và vấn

đề bảo vệ môi trường: Thủ đô mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây có các trục xuyên tâm và dải xanh đan xen cho phép Hà Nội phát triển các khu mới ra xa khu trung tâm, có những vùng đệm mầu xanh ở giữa khu mới và thành phố cũ Các dải xanh

đó là các hành lang dẫn gió, đóng góp việc bảo vệ môi trường sinh thái Nếu các dải xanh đó chật hẹp, thì đơn thuần chỉ là giải cách ly, chống ồn, chống bụi Nếu dải xanh lớn hơn, có thể là một trang trại trồng cây ăn quả, hoặc là khu sản xuất rau sạch, hoa tươi cho thành phố, lớn hơn nữa, có thể tạo thành khu du lịch sinh

thái hoặc thành phố vệ tinh như đang hình thành ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc

Trong giai đoạn từ trước 01/8/2008 trở về trước (Hà Nội chưa mở rộng), mỗi năm trên địa bàn Thành phố có khoảng hơn 400 dự án đầu tư có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - GPMB được triển khai với diện tích đất cần phải thu hồi tại các dự án khoảng 2.000 ha

Thực hiện Nghị quyết 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội về việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội, từ sau ngày 01/8/2008 đến nay, trên địa bàn thành phố mỗi năm có hơn 1500 dự án đầu tư được triển khai có liên quan đến thu hồi đất bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - GPMB, với diện tích đất thu hồi tại các dự

án khoảng hơn 13.000ha

Trang 39

Từ năm 2008 toàn Thành phố đã hoàn thành xong việc GPMB, thu hồi đất tại 1303 dự án, với diện tích đất đã bàn giao cho các chủ đầu tư để thực hiện dự án

là 6579 ha; bố trí tái định cư cho 6570 hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở

Trong năm 2013, trên toàn địa bàn Thành phố có 1.189 dự án liên quan đến thu hồi đất GPMB, với tổng diện tích đất phải thu hồi tại các dự án là 10.848 ha; tính đến tháng 6/2014 đã có 246 dự án hoàn thành công tác GPMB, với diện tích đất

đã GPMB đạt 1.290 ha, chi trả hơn 7.637 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ cho 28.465

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và bố trí tái định cư cho 855 hộ gia đình, cá nhân phải

di chuyển chỗ ở [01]

Thành phố đã tập trung chỉ đạo, đề ra nhiều giải pháp, rà soát, thống nhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt sau khi mở rộng địa giới hành chính thành phố; trực tiếp xem xét, khảo sát, kiểm tra xử lý những khó khăn, vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người dân phải di dời ở một số dự án trọng điểm Các cấp, các ngành, đặc biệt là các ngành chức năng của thành phố đã có nhiều cố gắng, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả của thành phố Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ

xã, phường, thị trấn về công tác GPMB Công tác tuyên truyền đối với nhân dân được thực hiện thường xuyên, đặc biệt qua các chuyên mục về cơ chế chính sách đền bù GPMB, thực hiện tái định cư trên các báo, đài của thành phố Hà Nội

Những giải pháp đồng bộ, kịp thời của thành phố về những vấn đề: Quy hoạch, thu hồi đất, quy trình và chính sách GPMB nêu trên, với phương thức giải quyết, giải đáp tại chỗ, rà soát rút ngắn quy trình GPMB đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố đã tạo chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ GPMB trên địa bàn

Trang 40

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, GPMB CỦA DỰ

ÁN KHU ĐÔ THỊ SINH THÁI VINCOM VILLAGE, QUẬN LONG BIÊN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Long Biên, thành phố Hà Nội

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên

Hình 2.1 Sơ đồ Hành chính quận Long Biên

- Vị trí địa lý:

Long Biên nằm ở cửa ngõ phía đông bắc của Thủ đô Hà Nội, là một trong 9 quận nội thành của Thành phố Hà Nội Ranh giới hành chính tiếp giáp như sau:

- Phía bắc giáp với huyện Đông Anh;

- Phía đông giáp với huyện Gia Lâm;

- Phía nam giáp quận Hoàng Mai;

- Phía tây giáp quận Hoàn Kiếm

Quận Long Biên có 14 phường bao gồm: Bồ Đề, Gia Thụy, Cự Khối, Đức Giang, Long Biên, Phúc Đồng, Phúc Lợi, Giang Biên, Việt Hưng, Ngọc Lâm, Ngọc

Ngày đăng: 27/08/2017, 18:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 “Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 “Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
10. GS.TS Chu Văn Cấp (2010), “Một số vấn đề xã hội nảy sinh từ tác động của chính sách thu hồi đất đối với nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội nảy sinh từ tác động của chính sách thu hồi đất đối với nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: GS.TS Chu Văn Cấp
Năm: 2010
11. Đào Trung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà (2013), “Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật
Tác giả: Đào Trung Chính, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Thanh Trà
Năm: 2013
13. Chính phủ (1994), Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 ban hành quy định về Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994" b
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
15. Chính phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004" v
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
16. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004" v
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
20. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà (2013), “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hƣng Yên”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hƣng Yên
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà
Năm: 2013
21. TS. Phan Trung Hiển (2011), “Nghiên cứu giải quyết những khó khăn trong giải phóng mặt bằng khi thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải quyết những khó khăn trong giải phóng mặt bằng khi thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Tác giả: TS. Phan Trung Hiển
Năm: 2011
22. Ngô Hữu Hoạnh (2010),“Nghiên cứu ảnh hưởng sinh kế người nông dân khi chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí khoa học đất số 35, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng sinh kế người nông dân khi chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”
Tác giả: Ngô Hữu Hoạnh
Năm: 2010
23. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2009), “Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường GPMB tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường GPMB tại Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
Năm: 2009
25. Quốc hội nước CHXHCNVN (2003), Luật đất đai, NXB Chính trị Quốc gia, Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước CHXHCNVN (2003), Luật đất đai
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
26. Quốc hội nước CHXHCNVN (2013), Luật đất đai, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước CHXHCNVN (2013), Luật đất đai
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
1. Ban chỉ đạo GPMB Thành phố Hà Nội, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2013, phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2014 Khác
2. Bộ hợp tác Phát triển Quốc tế Anh DFID, Sustainable Livelihoods Guidance Sheets 1999 Khác
3. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường (2008), Báo cáo kết quả tổng hợp về tăng cường quản lý sử dụng đất của Quy hoạch và dự án đầu tư trên phạm vi cả nước Khác
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo kiểm tra thi hành Luật Đất đai Khác
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết thi hành Luật đất đai 2003 Khác
9. TS. Nguyễn Đình Bồng (2005), Đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, ĐTCNN 6-2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w