1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc phia đén, tỉnh cao bằng

132 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ các đặc điểm đặc trưng, các nhân tố hình thành cảnh quan của khu vực Phia Oắc – Phia Đén thông qua việc nghiên cứu đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội; - Đặc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Vũ Thị Cúc

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN SINH THÁI PHỤC VỤ BẢO TỒN

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC KHU VỰC

PHIA OẮC - PHIA ĐÉN, TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS

Lê Trần Chấn, TS Nguyễn Văn Vinh và sự giúp đỡ quý báu từ Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp, cán bộ của Trung tâm Địa môi trường và Tổ chức Lãnh thổ Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các bạn đồng nghiệp về sự giúp đỡ này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Địa lý trường đại học Khoa học Tự nhiên trong quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình, ban quản

lý khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, cán bộ Kiểm lâm về các thông tin

hỗ trợ trong thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, anh em, những người thân trong gia đình đã động viên và tạo tất cả các điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả

Vũ Thị Cúc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả

Vũ Thị Cúc

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Những điểm mới của luận văn 3

6 Kết quả đạt được 3

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

8 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan một số vấn đề trong nghiên cứu cảnh quan sinh thái liên quan đến đa dạng sinh học 5

1.1.1.Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.1.3 Tổng quan một số công trình nghiên cứu tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén và tỉnh Cao Bằng 10

1.2 Cơ sở lý luận trong nghiên cứu cảnh quan sinh thái và phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 12

1.2.1 Khái niệm về cảnh quan 12

1.2.2 Khái niệm cảnh quan sinh thái 14

1.2.3 Khái niệm về đa dạng sinh học 15

1.2.4 Lý luận chung về mối quan hệ giữa nghiên cứu cảnh quan sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học 16

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 17

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 17

1.3.2 Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu 20

Trang 5

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN KHU VỰC PHIA OẮC – PHIA ĐÉN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG 24

2.1 Các nhân tố hình thành cảnh quan tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.1.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.1.2 Đặc điểm địa chất 26

2.1.1.3 Đặc điểm địa hình 26

2.1.1.4 Đặc điểm khí hậu 31

2.1.1.5 Đặc điểm thủy văn 34

2.1.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng 36

2.1.1.7 Đặc điểm thực vật và vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển cảnh quan Phia Oắc – Phia Đén 41

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 43

2.2 Đặc điểm cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén 51

2.2.1 Hệ thống phân vị bản đồ cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén tỷ lệ 1:25.000 51

2.2.2 Đặc điểm cảnh quan ở Phia Oắc – Phia Đén 54

2.2.2.1 Các kiểu cảnh quan ở Phia Oắc – Phia Đén 54

2.2.2.2 Các hạng cảnh quan 58

2.2.2.3 Các loại cảnh quan sinh thái 63

2.3 Phân tích chức năng cảnh quan phục vụ đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng 64

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC KHU VỰC PHIA OẮC PHIA ĐÉN 68

3.1 Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan 68

3.1.1 Đa dạng sinh học trong các nhóm loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng trên núi thấp 69

Trang 6

3.1.2 Đa dạng sinh học trong các nhóm loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái rừng kín thường xanh á nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng, lá kim trên núi trung

bình (đai cao 600-1.600m) 71

3.1.3 Đa dạng sinh học trong loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái rừng kín thường xanh ôn đới trên núi cao (rừng rêu, rừng lùn) 73

3.1.4 Đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi 74

3.1.5 Đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái núi đá không có rừng 76

3.1.6 Đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái trảng cỏ, cây bụi 76

3.1.7 Đa dạng sinh học trong loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái thủy vực: 78

3.1.8 Đa dạng sinh học trong loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái rừng trồng: 79

3.1.9 Đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái nông nghiệp: 80

3.1.10 Đa dạng sinh học trong các loại cảnh quan thuộc hệ sinh thái khu dân cư 81

3.2 Đánh giá cảnh quan sinh thái cho mục đích bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học 82

3.2.1 Đánh giá đơn tính 83

2.2.2.1 Tính nguyên trạng 83

2.2.2.2 Tính đa dạng sinh học 83

2.2.2.3 Tính biến động 84

2.2.2.4 Kích thước và phân bố không gian 85

3.2.2 Đánh giá tổng hợp 86

3.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng 90

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch bảo tồn 90

Trang 7

3.3 2 Một số giải pháp khác 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

Tài liệu tham khảo 96 Phụ lục

Bảng PL1 Danh sách các loài thực vật quý hiếm ở vùng Phia Oắc – Phia Đén

Bảng PL2 Các loài động vật hoang dã quý hiếm có giá trị bảo tồn vùng Phia Oắc – Phia Đén

Bảng PL3: Điểm đánh giá giá trị bảo tồn của các loại cảnh quan

PL4: Một số hình ảnh khảo sát tại thực địa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các bậc địa hình khu vực Phia Oắc – Phia Đén 26

Bảng 2.2: Các nhóm, dạng địa hình vùng Phia Oắc - Phia Đén 30

Bảng 2.3: Phân loại phát sinh đất vùng Phia Oắc – Phia Đén 36

Bảng 2.4: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015 44

Bảng 2.5: Hệ thống phân vị và cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén 53

Bảng 3.1 Diện tích các hệ sinh thái vùng Phia Oắc - Phia Đén 68

Bảng 3.2: Thang điểm cho tính nguyên trạng 83

Bảng 3.3: Thang điểm tính đa dạng sinh học 84

Bảng 3.4: Thang điểm cho tính biến động 84

Bảng 3.5: Thang điểm cho hình dạng và kích thước 85

Bảng 3.6: Đánh giá mức độ thích nghi của các cảnh quan sinh thái trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH 87

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén 23 Hình 2: Bản đồ mô hình số độ cao khu vực Phia Oắc - Phia Đén 25 Hình 3: Bản đồ địa hình khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 27 Hình 4: Bản đồ địa mạo khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 29 Hình 5: Bản đồ sinh khí hậu khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 32 Hình 6: Bản đồ đất khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 38 Hình 7: Bản đồ thảm thực vật khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 42 Hình 8: Bản đồ cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng tỉ lệ 1: 25.000 67 Hình 9: Nguyên lý sinh học đảo trong thiết kế khu bảo tồn 85 Hình 10: Bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng 89

Trang 10

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN: Bảo tồn thiên nhiên

CQST: Cảnh quan sinh thái

WWF: Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế

CR (Critically Endangered): Loài rất nguy cấp

EN (Endangered): Loài nguy cấp, bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên

PCCR: Phòng chống cháy rừng

VU (Vulnerable): Loài sẽ nguy cấp, nguy cơ sẽ bị tuyệt chủng

IA: Thực vật rừng, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại IIA: Thực vật rừng, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại NĐ-CP: Nghị định Chính phủ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của loài người Từ bao đời nay, con người sống phụ thuộc rất nhiều vào các hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen Tuy nhiên, cũng chính con người đã gây ra những tác động mạnh làm biến đổi một cách sâu sắc đa dạng sinh học, trong đó có việc chia cắt các hệ sinh thái mà trong nhiều trường hợp không thể khôi phục được Đáng chú ý là trong quá trình sử dụng các loài vào các hoạt động duy trì và phát triển cuộc sống của mình, con người đã làm cho nhiều loài bị tuyệt chủng hoặc du nhập nhiều loài ngoại lai xâm hại, ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi và sự thịnh vượng của thế hệ mai sau Trong quá trình phát triển của mình, con người đã tạo ra được nhiều nguồn gen quý nhưng đồng thời cũng làm mất đi nhiều nguồn gen, khó

có thể phục hồi được

Thực tế hiện nay đa dạng sinh học đang bị suy thoái với tốc độ rất nhanh Bằng các hoạt động của mình, con người đã gây mất hàng loạt các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát Nhưng trên thực tế con số này còn lớn hơn bởi có rất nhiều loài động, thực vật đã bị tuyệt chủng từ rất lâu trước khi con người biết đến Nếu một hành tinh không có sự đa dạng sinh học sẽ rất nguy hại bởi con người và sinh vật cùng chia sẻ một không gian sống nên chỉ có bảo tồn sinh vật mới xây dựng được một tương lai bền vững và thịnh vượng

Nhận thức được vai trò và ý nghĩa to lớn của ĐDSH trong đời sống vật chất, tinh thần của con người cũng như ý thức được những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy thoái và mất ĐDSH với tốc độ rất nhanh trên toàn cầu, cộng đồng quốc tế có rất nhiều nỗ lực để kêu gọi sự chung tay bảo tồn sự

đa dạng sinh học của cuộc sống trên hành tinh của chúng ta

Nhiều điều ước quốc tế về đa da ̣ng sinh ho ̣c đã đư ợc thông qua như : Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (CBD), Công ước về các vùng đất ngâ ̣p nước có tầm quan tro ̣ng quốc tế , đă ̣c biê ̣t như là nơi cư trú của các loài chim nước

Trang 12

(RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế các loài đô ̣ng , thực vâ ̣t bi ̣ đe do ̣a tuyê ̣t chủng (CITIES), Công ước về bảo vê ̣ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

(PARIS), Nghị định thư về an toàn sinh học (Cartagena)… với nhiều cam kết quốc

tế chưa đươ ̣c nô ̣i luâ ̣t hóa Gần đây nhất, Liên hợp quốc chọn năm 2010 là Năm

Quốc tế về Đa dạng sinh học Bởi đây là cơ hội để nhấn mạnh tầm quan trọng của

đa dạng sinh học đối với đời sống con người, phản ánh sự nỗ lực và thành tựu về bảo tồn đa dạng sinh học của con người Còn Ngày Môi trường Thế giới năm 2010

lấy chủ đề ‟Nhiều loài – Một hành tinh – Tương lai chúng ta” Chủ đề này một lần

nữa kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo tồn sự đa dạng của cuộc sống trên hành tinh

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay việc bảo tồn đa dạng sinh học và đóng cửa rừng là vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết Điều này đã được thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật của Nhà nước (Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đa dạng sinh học năm 2008) và các Nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành Từ sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Chính phủ, những năm qua, công tác bảo tồn ĐDSH, phát triển rừng của nước ta đã thu được những thành quả nhất định, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Tiếp cận cảnh quan là hướng phù hợp của Địa lý học hiện đại để giải quyết những vấn đề tổng hợp của thực tiễn trong quản lý tài nguyên đang đặt ra cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Thực tế cho thấy, cảnh quan học ứng dụng rất hữu dụng để xác lập cơ sở khoa học cho quản lý, bảo tồn tài nguyên ĐDSH

ở cấp độ cảnh quan, hệ sinh thái Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là thiếu số liệu điều tra cơ bản, thiếu cách tiếp cận tổng hợp, toàn diện trên nền tảng thuộc tính tự nhiên, nhân văn của mỗi vùng lãnh thổ nên còn thiếu giải pháp hữu hiệu, phù hợp để thực hiện chủ trương và định hướng của Đảng và Nhà nước Trong bối cảnh đó, vùng núi Phia Oắc - Phia Đén thuộc tỉnh Cao Bằng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

Xuất phát từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “Phân tích, đánh giá

cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu

Trang 13

vực Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện

nay

2 Mục tiêu: Xây dựng các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững đa

dạng sinh học khu vực Phia Oắc - Phia Đén trên cơ sở đánh giá cảnh quan

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ các đặc điểm đặc trưng, các nhân tố hình thành cảnh quan của khu vực Phia Oắc – Phia Đén thông qua việc nghiên cứu đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội;

- Đặc điểm cảnh quan sinh thái khu vực Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng;

- Đánh giá cảnh quan phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc - Phia Đén;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn hiệu quả tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng Phia Oắc – Phia Đén

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Lãnh thổ nghiên cứu:Khu vực Phia Oắc – Phia Đén gồm 9 xã/thị trấn: Ca

Thành, Mai Long, Vũ Nông, Phan Thanh, Thể Dục, Thành Công, Quang Thành, Hưng Đạo huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng và thị trấn Tĩnh Túc

4.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đánh giá cảnh quan phục vụ bảo tồn và phát

triển bền vững đa dạng sinh học

5 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn áp dụng phương pháp tiếp cận cảnh quan sinh thái để đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế xã hội lãnh thổ khu vực Phia Oắc – Phia Đén;

- Đề xuất phương án bảo tồn đa dạng sinh học trên cơ sở đánh giá cảnh quan sinh thái

6 Kết quả đạt đƣợc

- Đánh giá đầy đủ về đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực Phia Oắc - Phia

Đén, thành lập bản đồ cảnh quan khu vực Phia Oắc - Phia Đén tỉ lệ 1:25.000;

Trang 14

- Đánh giá đầy đủ, chính xác các dẫn liệu về tính đa dạng sinh học của khu

vực Phia Oắc - Phia Đén;

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh

học của khu vực Phia Oắc - Phia Đén

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học:Luận văn góp phần hoàn thiện quan điểm, phương pháp luận

và phương pháp nghiên cứu phục vụ sử dụng hợp lý các khu bảo tồn trên cơ sở phân tích quá trình phát sinh phát triển cảnh quan sinh thái Kết quả của luận văn đóng góp vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu của khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là những cơ sở khoa học

phục vụ quy hoạch, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận và ba chương nội dung:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm cảnh quan sinh tháikhu vực Phia Oắc - Phia Đén huyện

Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng

Chương 3: Đánh giá cảnh quansinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc - Phia Đén

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan một số vấn đề trong nghiên cứu cảnh quan sinh thái liên quan đến đa dạng sinh học

1.1.1.Trên thế giới

Vào đầu thế kỷ XIX các nhà khoa học đã xác nhận ra rằng, các yếu tố trong

tự nhiên tồn tại không độc lập với nhau mà sự phân hóa của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác A.V Humboldt (nhà thực vật học người Đức) thời đó đã phát hiện ra hiện tượng phân hóa các thảm thực vật theo độ cao ở dãy núi Andet Người

ta bắt đầu dùng từ "cảnh quan" để chỉ các mối tương quan qua lại giữa các thành phần tự nhiên Sau này vào giữa thế kỷ XIX các nhà bác học Nga và Đức đã đặt nền móng cho bộ môn khoa học về cảnh quan học ra đời Đó là việc quan niệm các thực thể trong tự nhiên là các hệ thống toàn vẹn, trong đó các thành phần cấu thành lên

nó có quan hệ với nhau Nếu tác động vào một thành phần sẽ kéo theo sự thay đổi dây chuyền của toàn hệ thống và có thể thay đổi cấu trúc Quan niệm này nhanh chóng thống trị trong các khoa học về trái đất và giới sinh vật, từ đó ràng buộc các quy hoạch phát triển kinh tế đơn ngành phải được thảo luận rộng rãi trong các ngành khoa học có liên quan Hệ thống quy hoạch các khu bảo tồn tự nhiên cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó

Vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX các nhà khoa học cảm thấy khoảng cách biệt lập giữa các khoa học về trái đất và sinh vật học còn khá rõ và ý tưởng lôi kéo xích lại gần nhau các khoa học này đã phát sinh ra một bộ môn mới trên cơ sở của cảnh quan học và sinh thái học ra đời Về bản chất nó dựa trên cơ sở phân tích đặc điểm sinh thái của các cảnh quan

Nhà động vật học người Đức Haeckel (1866) đã dùng danh từ "sinh thái học"

là khoa học chỉ mối liên quan giữa các cơ thể sống và các yếu tố môi trường Những công bố về mối quan hệ này đã được Mobius cho ra mắt vào năm 1877 Sau đó là những nghiên cứu của các khoa học địa lý và sinh vật học (chủ yếu là thực vật)

Trang 16

được xuất bản vào năm 1905, 1916 do Clemeut và Covoles chủ trì, thí dụ công trình

về diễn thế thực vật ở các đụn cát ven hồ Michigan (Mỹ)

Sau này vào đầu thế kỷ XX các nhà khoa học Tây Âu, Mỹ và Nga đã quan niệm môn khoa học mới là "cảnh quan sinh thái" hay "địa hệ sinh thái" (đều lấy từ tiếng Đức), là một nhánh của khoa học địa lý tự nhiên Tổ hợp liên quan qua lại giữa các cơ thể sống và các điều kiện môi trường xung quanh đã mở ra một khái niệm mới, đó là các "hệ sinh thái"

Ngày nay, môn khoa học này rất phát triển ở các nước Bắc Mỹ, Canada, Mỹ

và các nước Châu Âu: Hà Lan, Séc, Đức, Nga Người ta đã thành lập các bản đồ về

"hệ sinh thái" thực chất là các hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội hoạt động theo các quy luật tự nhiên và nhân sinh

Trên thế giới, người ta đã ứng dụng các bản đồ cảnh quan sinh thái và bản đồ các hệ sinh thái để quản lý và quy hoạch môi trường Mỹ - Canada - Mexico thành lập bản đồ các hệ sinh thái chung cho cả 3 nước Bộ môi trường Canada, Viện y tế

và môi trường Hà Lan đã đánh giá cao báo cáo trạng môi trường trên cơ sở các hệ sinh thái Ở Canada giai đoạn 1970 - 1985 đã tiến hành kiểm kê tài nguyên cho diện tích 600.000 km2 trên cơ sở các hệ sinh thái Khối SEP (cộng đồng tương trợ kinh tế các nước Xã hội Chủ nghĩa) vào những năm 70 thế kỷ trước đã tổ chức tập huấn cho các nhà nghiên cứu hướng quy hoạch lãnh thổ trên cơ sở phân tích các cảnh quan sinh thái Ở Ukraina việc quy hoạch các vùng phát triển kinh tế đều dựa trên các cảnh quan sinh thái Ở Đức, quy hoạch cảnh quansinh thái phục vụ cho các mục đích phát triển bền vững và bảo tồn đều dựa vào phân tích chức năng các cảnh quan sinh thái Ở Tiệp Khắc (cũ) đã soạn thảo phương pháp quy hoạch cảnh quan sinh thái phục vụ công tác quy hoạch và thiết kế Phương pháp này tập trung vào việc sử dụng tối ưu các đặc điểm cảnh quan sinh thái trên quan điểm sinh thái học nhằm thiết lập các điều kiện hòa hợp giữa hoạt động kinh tế của con người và môi trường

Phương pháp quy hoạch cảnh quan sinh thái được thể hiện qua 2 bước:

- Soạn thảo số liệu:

1 Phân tích số liệu chuyên ngành

Trang 17

2 Tổng hợp thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái

3 Diễn giải các số liệu cảnh quan sinh thái

- Tối ưu hóa việc sử dụng lãnh thổ dưới góc độ cảnh quan sinh thái:

đồ mô tả chuyên ngành khác ở chỗ nó có thứ bậc rõ ràng, chi phối lẫn nhau và phân hóa theo từng cấp phụ thuộc vào tỉ lệ bản đồ nghiên cứu là công cụ đắc lực cho định hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cảnh quan học được du nhập vào từ những năm 60 thế kỷ trước nhưng ít được phát triển Cảnh quan thực sự được ứng dụng trong thực tế từ những năm 80 trên cơ sở phân tích hình thái các cảnh quan Kể từ năm 1993 khi hệ thống phân vị do Viện Địa lý xây dựng thì việc xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ, các địa phương mới được ấn hành phổ biến Hiện nay ở hầu hết các công trình nghiên cứu lãnh thổ các cấp đều có đề mục xây dựng bản đồ cảnh quan phục vụ các mục đích khác nhau Chúng dần dần được phổ biến như các bản đồ chuyên ngành khác

do tính tổng hợp và nội dung đầy đủ của nó Tính ứng dụng của nó càng được phổ cập khi các yêu cầu về thông tin tăng lên, các tư liệu về cảnh quan được phân tích phục vụ xây dựng giải pháp cho phát triển bền vững

Trang 18

Có thể khẳng định rằng, tất cả các công trình nghiên cứu cảnh quan ở nước ta chủ yếu đều dựa trên nền tảng, lý luận khoa học cảnh quan của trường phái nước Nga Tuỳ vào từng giai đoạn phát triển và để đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà nội dung các công trình nghiên cứu cảnh quan được thể hiện dưới các tiêu đề: “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam – Vũ Tự Lập, 1979”, “Cơ sở cảnh quan của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam – Phạm Hoàng Hải, 1997”, “Sinh thái cảnh quan – Nguyễn Thế Thôn, 2006”, “Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế) – Nguyễn Cao Huần” Có thể chia thành hai giai đoạn phát triển cảnh quan ở Việt Nam như sau:

- Giai đoạn từ năm 1954 – 1980: đặc điểm giai đoạn này là phát hiện sự phân hoá lãnh thổ theo hệ thống phân vị của hướng phân vùng địa lý tự nhiên Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, trong đó có một công trình rất đáng chú

ý về mặt lý luận, đó là giáo trình cơ bản cho sinh viên chuyên ngành cảnh quan

“Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập (1976) Trong công trình này, tác giả đã đưa ra một hệ thống phân vị riêng khá đầy đủ từ cấp lớn nhất đến cấp nhỏ nhất Ưu điểm của phân vị này là sự kết hợp nhuần nhuyễn tính địa đới và phi địa đới trong sự phân chia các cấp phân vị Lần đầu tiên ở Việt Nam, mỗi một cấp lại được xây dựng trên một chỉ tiêu xác định Đối với cấp cảnh quan địa lý – cấp quan trọng nhất, có sự đồng nhất về mặt địa đới và phi địa đới Theo ông: “cảnh quan địa lý là một tổng thể được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đới cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo cấu trúc ngang đồng nhất”

Với cách xây dựng phân vị như đã nói ở trên, tác giả nhấn mạnh việc nghiên cứu cảnh quan có thể tiến hành theo cách từ trên xuống bằng con đường phân vùng hoặc theo cách từ dưới lên, nghĩa là nghiên cứu cảnh quan không chỉ là sự kế thừa, phân tích có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các chuyên ngành mà còn là công việc độc lập của các nhà nghiên cứu cảnh quan từ quá trình khảo sát ngoài thực địa

Trang 19

đến phân tích tư liệu, tài liệu đã thu thập được trong các thí nghiệm Với hệ thống phân vị nêu trên đã cho phép chúng ta có một tư duy lôgic về sự phân hoá thiên nhiên vốn hết sức đa dạng và phong phú của nước ta

- Giai đoạn 1980 - đến nay: nội dung chủ yếu nghiên cứu cảnh quan của giai đoạn này được tiến hành theo hướng phân loại không dựa vào các cá thể địa tổng thể Ý tưởng nghiên cứu cảnh quan theo quan điểm phân loại trực tiếp không dựa trên các địa tổng thể được bắt đầu từ công trình thành lập các bản đồ cảnh quan sinh thái các vùng khác nhau trên toàn quốc ở dải ven biển Việt Nam, Tây Nguyên, bản

đồ cảnh quan sinh thái nhân sinh toàn quốc (Nguyễn Văn Vinh và nnk) Hệ thống phân vị cảnh quan được đưa ra chủ yếu dựa trên cơ sở phân vị cảnh quan của Nhikolaev gồm 12 bậc: thống, hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, nhóm, kiểu, phụ kiểu, hạng, phụ hạng, loại, phụ loại và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta Kết quả đưa ra một hệ thống phân vị gồm 5 bậc: hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, kiểu Điểm nổi bật của các công trình này là tính ứng dụng của nó Ngoài các công trình

có tính lý luận và sự phân hoá lãnh thổ đánh giá trên quan điểm định hướng, các công trình còn lại đều có mục đích cụ thể như: phục vụ cho quy hoạch lãnh thổ, cho mục đích lâm – nông nghiệp Trong hệ thống phân vị của hầu hết các công trình đều

sử dụng các cấp hệ, phụ hệ, lớp, phụ lớp, kiểu, phụ kiểu, hạng, loại cảnh quan

Các công trình của các nhóm tác giả khác nhau đều là sự hội tụ và bổ sung cho nhau của hai ngành địa lý và sinh học Sở dĩ có sự hội tụ này là vì các nhà địa lý

đi từ giới vô cơ dẫn đến giới hữu cơ và cuối cùng thấy sinh vật có vai trò chủ đạo trong hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái tự nhiên hoạt động tốt nhất là hệ sinh thái

có năng suất sinh học cao nhất Do vậy, cải tạo hệ tự nhiên phải bắt đầu từ việc cải tạo hệ thực vật Còn các nhà sinh thái học trong khi tìm hiểu giới sinh vật không thể không đề cập đến môi trường vô cơ như là đất, địa hình, nước, không khí Cả hai đều phát sinh, phát triển trong mối quan hệ tương tác và thống nhất với nhau thành một hệ tự nhiên Các nhà địa lý giúp cho các nhà sinh học có được sự nhìn nhận tổng hợp của sự phân hoá lãnh thổ trong việc nghiên cứu tuần hoàn nước, tuần hoàn địa hoá, xác định chuỗi thức ăn và tuần hoàn sinh vật

Trang 20

Các công trình nghiên cứu của các nhà cảnh quan cũng có những nội dung về

hệ sinh thái Điều này, thể hiện nhu cầu tất yếu của chiều hướng tiếp cận nghiên cứu cảnh quan sinh thái trong bảo tồn đa dạng sinh học Không những thế về mặt lý thuyết, ở một số công trình đã đặt cơ sở cho chiều hướng tiếp cận đó chúng ta vẫn tìm thấy cốt lõi, nền móng của các kết quả nghiên cứu cảnh quan để từ đó có cách phân tích sâu sắc hơn về hệ sinh thái

Những nghiên cứu tập trung giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới nhiều hình thức dựa trên nguyên lý sinh thái, cảnh quan được áp dụng và triển khai nghiên cứu như công trình: “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững”, “Sinh thái môi trường ứng dụng”, “Thiên nhiên Việt Nam” và “Việt Nam lãnh thổ và các công trình địa lý”, gần đây nhất là công trình: "Nghiên cứu xác lập

cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch và quản lý các vườn quốc gia vùng Đông Bắc Việt Nam (phần đất liền)” của tác giả Hà Quý Quỳnh trên cơ sở nghiên cứu cảnh quan đã đưa ra cơ sở khoa học cho việc quy hoạch các khu bảo tồn vùng Đông Bắc Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa khoa học địa lý và sinh học [29]

1.1.3 Tổng quan một số công trình nghiên cứu tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén và tỉnh Cao Bằng

Thấy được tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với cuộc sống con người

và nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học đang diễn ra rất nhanh, từ lâu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã có nhiều những nghiên cứu, điều tra về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh được thực hiện như: Năm 1898, A Lillet trong cuốn sách “Hai năm ở miền núi Bắc Bộ” tác giả đã đề cập một số ít loài thú ở Cao Bằng như Hươu Sao, Thỏ rừng, Tê tê;Năm 1943, R Bourret đã phát hiện loài Chuột chũ (Talpa Leucura) tại (Cao Bằng);Năm 1973, trong cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam” Lê Hiền Hào đã đề cập đến một số loài thú ở Cao Bằng như Vượn đen tuyền, Voọc đen má trắng, Đon, Nhím, Vòi mốc, Cầy vằn, Cầy mực, Hươu xạ, Hươu Sao;Năm 1992 – 1993, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật cũng khảo sát ĐDSH

ở Cao Bằng, nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất bảo tồn; Năm 1994, Đoàn cán bộ nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp đã khảo sát chung về động, thực vật nhưng chưa có tài liệu công bố; Năm 1999, Nghiên cứu cơ sở phục hồi hệ sinh thái rừng

Trang 21

trên núi đá các loài cây gỗ bản địa ở Cao Bằng (Nguyễn Văn Nhân); Năm 1999, Núi đá vôi Cao Bằng có gì mới về mặt thực vật? (GS.PTS Phan Kế Lộc, PTS Nguyễn Tiến Hiệp, GS.TS.L.V.Averyanov);Năm 2000, Tổ chức bảo tồn chim quốc

tế (Birdlife) đã khảo sát tại Cao Bằng;Năm 2004, Lê Văn Thiên – Đại học Quy Nhơn đã tiến hành khảo sát khu hệ thú tại núi Phia Oắc – đây là đề tài phục vụ luận

án tiến sỹ sinh học; Năm 2006, Điều tra phân bộ, đánh giá sơ bộ trữ lượng và chất lượng dược liệu của một số cây thuốc quý trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;Năm 2008, Báo cáo nghiên cứu thành phần chất, công nghệ nhân giống, chăm sóc, thu hái một

số cây dược liệu quý hiếm của tỉnh Cao Bằng: Ích mẫu, Hà thủ ô, Ngũ gia bì, Hoàng tinh, Thổ phục linh ;Rừng và đa dạng sinh học tỉnh Cao Bằng (Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Hữu Thư, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật);Năm 2010, Khái quát thực trạng khai thác, giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;Năm 2012-2013, đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá thực trạng đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng” Từ tháng 5 năm 2012 và tháng 5 năm 2013, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra côn trùng tại khu rừng đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén và đã công bố “Kết quả bước đầu điều tra côn trùng ở khu rừng đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén (Nguyên Bình, Cao Bằng)” (Phạm Hồng Thái, Tạ Huy Thịnh

và nnk) tại Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5.Năm 2013, Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ đã hoàn thành “Quy hoạch rừng đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2011-2020”.Năm 2013 - 2014, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng đã chủ trì thực hiện dự án: “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Cao Bằng đến năm

2020, định hướng đến năm 2030”

Như vậy, các dự án điều tra tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén và tỉnh Cao Bằng hầu hết nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học của khu vực mà chưa đề cập đến môi trường vô cơ – môi trường sống của các loài sinh vật

Trên cơ sở tổng quan một số vấn đề trong nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan, đa dạng sinh học Những công trình này đóng góp vào việc hình thành hệ phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu song chưa có một công trình nào dùng tiếp cận cảnh quan để giải quyết vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc – Phia

Trang 22

Đén Do vậy, những kiến nghị sử dụng hợp lý lãnh thổ mà luận văn đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu cảnh quansinh thái sẽ tiếp tục bổ sung và hoàn thiện về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm những luận cứ khoa học giúp công tác quy hoạch, tổ chức lãnh thổ hướng tới phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực

1.2 Cơ sở lý luận trong nghiên cứu cảnh quan sinh thái và đa dạng sinh học

1.2.1 Khái niệm về cảnh quan

Hiện nay, khái niệm “cảnh quan” đang được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như nghệ thuật, hội họa, địa lý, nghiên cứu môi trường,…Đối với các lĩnh vực khác nhau, khái niệm này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

- Khái niệm cảnh quan hiểu theo nghĩa rộng

Theo từ điển Webster’s (1963) và the Oxford English (1933) khái niệm cảnh quan được hiểu:

+ Là một bức tranh miêu tả lãnh thổ thiên nhiên (rừng, núi, sông )

+ Chỉ tổng thể địa hình của một vùng nào đó

+ Chỉ phong cảnh thiên nhiên của một vùng, một dải đất nào đó có thể quan sát được “Cấu trúc cảnh quan là sự sắp xếp và thay đổi lại phong cảnh thiên nhiên qua các nền đất khác nhau tạo ra các tác động thẩm mĩ” Khái niệm này mang nặng tình cảm về con người với môi trường xung quanh, hiện đang được mở rộng và sử dụng rộng rãi trong kiến trúc cảnh quan

- Khái niệm cảnh quan bao gồm nội dung khoa học

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thông qua các công trình nghiên cứu tự nhiên của các nhà địa lý Nga, Đức, nội dung khoa học đã bắt đầu được đưa vào khái niệm cảnh quan Cơ sở khoa học quan trọng nhất của học thuyết này là sự nhận thức sâu sắc về sự toàn vẹn lãnh thổ, tính thống nhất nội tại của mối quan hệ nhân quả giữa các hợp phần tự nhiên cấu thành các “tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên” tồn tại xác định một cách khách quan theo các trật tự phân cấp trong vỏ lớp địa lý Thứ hai

là có thể xác định được ranh giới các tổng hợp lãnh thổ tự nhiên trên thực địa Việc nghiên cứu cấu trúc cũng như sự phát triển của các tổng thể tự nhiên được tiến hành

Trang 23

dưới các góc độ khác nhau Dưới góc độ địa lý có hướng nghiên cứu địa lý cảnh quan, dưới góc độ địa hoá học có hướng nghiên cứu địa hoá cảnh quan và dưới góc

độ sinh thái có hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan,

Có rất nhiều định nghĩa về cảnh quan nhưng ở đây chỉ xét một số định nghĩa tiêu biểu:

- L X Berg (1947), một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu cảnh quan ở Liên Xô, ông viết: “cảnh quan là một tập hợp đối tượng và hiện tượng mà trong đó các đặc tính của địa hình, của khí hậu, của thủy văn, của lớp phủ thổ nhưỡng, thực vật, của giới động vật và ở một chừng mực nhất định của cả kết quả tác động của con người, đã hình thành một thể thống nhất hoàn chỉnh, được lặp lại một cách điển hình trên suốt một đới nào đó của Trái đất”

- S.V.Kalexnik (1959) nêu ra định nghĩa cảnh quan như sau: “cảnh quan là một bộ phận nhỏ của bề mặt Trái Đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác, được bao bọc bởi các ranh giới tự nhiên và bản thân là một sự kết hợp các hiện tượng và đối tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng và có mối quan hệ mọi mặt với lớp vỏ địa lý”

- A.A Xontxev (1962) đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn: “cảnh quan là một tổng thể tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, một kiểu địa hình, một khí hậu giống nhau và bao gồm một tập hợp những cảnh dạng chính và phụ thuộc quan hệ với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian”

- A G Ixatsenko (1965) có sự bổ sung định nghĩa cho cảnh quan đồng bằng:

“cảnh quan là một bộ phận được tách ra trong quá trình phát sinh của một miền, của một đới địa lý và nói chung là của bất kỳ một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm là đồng nhất cả về mặt địa đới cũng như phi địa đới và có một cấu trúc riêng

và cấu tạo hình thái riêng”

- G Bertrand (1968) định nghĩa cảnh quan là một sự phối hợp cơ động, bất

ổn định của các yếu tố địa lý khác nhau như: vật lý, sinh học, nhân tác Chúng có tác

Trang 24

động lên nhau một cách biện chứng và làm cho cảnh quan trở thành một “thể tổng hợp địa lý”

- Th Brossard, I.C Wieber (1980) định nghĩa: “cảnh quan là sự biểu hiện hệ thống các lực bên ngoài (tự nhiên và nhân sinh) tác động vào nó, cảnh quan là phần trông thấy được trên bề mặt trái đất, biểu hiện sự tổ hợp có quy luật của các yếu tố

tự nhiên và nhân sinh, cảnh quan là bề mặt được nhận thức”

- Vũ Tự Lập (1976) trong cuốn “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa cảnh quan như sau: “cảnh quan là một tổng thể, được phân hoá ra trong phạm vi là một đới ngang ở đồng bằng và một đới cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, thủy văn,

về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác nhau theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [10], [20]

Các định nghĩa của các tác giả nêu trên về cảnh quan đã có những cống hiến

to lớn trong nghiên cứu cảnh quan Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học địa lý, môi trường và sinh thái học, khoa học cảnh quan đã hướng vào nghiên cứu chức năng sinh thái của các cảnh quan

Tóm lại, cảnh quan là tổng thể lãnh thổ tự nhiên hiện tại, đồng nhất các mặt

về nền đá, thể hình thái trung hoặc đại địa hình, chế độ khí hậu địa phương và chế

độ thuỷ văn địa phương tương ứng, nhóm hoặc đơn vị đất và quần xã thực vật chủ yếu từ hệ sinh thái trở xuống, các hợp phần này có quan hệ tương tác với nhau và có các phân hóa theo thứ bậc

1.2.2 Khái niệm cảnh quan sinh thái

Theo định nghĩa của Hiệp hội Cảnh quan – Sinh thái quốc tế (IALE) các cảnh quan sinh thái là cảnh quan được nghiên cứu trên quan điểm sinh thái là tập hợp các hệ sinh thái Nó xem xét khía cạnh phát triển và động thái của các tính không đồng nhất trong không gian của các đơn vị cảnh quan, quan hệ và sự trao đổi vật chất và năng lượng lẫn nhau của chúng trong không gian và thời gian, ảnh

Trang 25

hưởng của tính không đồng nhất ấy đến các quá trình hữu cơ và vô cơ cũng như đến việc sử dụng tính không đồng nhất đó

Theo Olat Bastian and Utasteihardt (2002), cảnh quan sinh thái (xem xét hệ sinh thái của các vùng địa lý) có nguồn gốc từ sinh học, địa lý và thậm chí từ rừng, hệsinh thái theo nghĩa khoa học là mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường xung quanh nó, được đưa ra bởi nhà động vật học người Đức Haeckel (1866)

1.2.3 Khái niệm về đa dạng sinh học

ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần

cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị

sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng Đó không chỉ là tổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau

Theo Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi

mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau

Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) cho rằng: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái"

Trang 26

Theo R.Patrick,1983 cho rằng: đa dạng sinh học gồm tính đa dạng, trạng thái khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng của sinh vật

Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có

từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)

Theo Luật đa dạng sinh học được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 thì: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên”

ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần

cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị

sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng Đó không chỉ là tổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau

Tóm lại, Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, thành phần loài và hệ

sinh thái Đa dạng sinh học chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong cuộc sống

1.2.4 Lý luận chung vềmối quan hệ giữa nghiên cứu cảnh quan sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Theo quy luật phát triển của thế giới sinh học thì môi trường vô cơ càng khắc nghiệt thì đa dạng sinh học càng đơn giản hơn Đặc điểm của đa dạng sinh học khu vực phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố tự nhiên Sự đa dạng của các cảnh quan sinh thái là sự đa dạng của các yếu tố thành phần cấu thành lên các cảnh quan ở các cấp Các cảnh quan sinh thái là các hệ thống tự nhiên có sự tác động của con người ĐDSH là kết quả quan hệ tương hỗ của các yếu tố môi trường Các tác động này không hoạt động riêng rẽ mà phụ thuộc chi phối lẫn nhau qua các dòng trao đổi vật chất và năng lượng Sự đa dạng về các yếu tố môi trường đã tạo ra sự đa dạng sinh

Trang 27

học phong phú Mặt khác do đặc thù của thiên nhiên nhiệt đới ẩm mà trên cùng một diện tích thì thành phần loài rất phong phú, nhưng số lượng loài thì ít hơn so với các vùng ôn đới Và rất khó tìm thấy các quần xã thuần loại Sự đan xen và tính cộng sinh đã làm cho các kiểu thảm thực vật ở nhiệt đới rất phong phú Nghiên cứu tính

đa dạng sinh học cần xem xét các nhân tố cấu thành cảnh quan, thông qua các tác động tổng hợp của nhiều nhân tố tự nhiên và nhân văn, sự biến đổi của mỗi nhân tố theo thời gian đã tạo nên sự khác nhau của các đơn vị cảnh quan sinh thái Trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, tiếp cận cảnh quan học tập trung giải quyết các vấn đề: Làm sáng tỏ thực trạng phân hóa có qui luật theo không gian lãnh thổ các yếu tố tự nhiên trong đó đặc biệt là giới sinh vật - hợp phần sống của cảnh quan; Các thuộc tính của một đơn vị cảnh quan cung cấp các thông tin khá cụ thể về một vùng lãnh thổ với những đặc điểm đặc trưng như: miêu tả mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các yếu tố, hợp phần tự nhiên theo qui luật, khi có sự tác động lên một hợp phần nào đó sẽ gây tác động tới các hợp phần khác trong cùng hệ thống và những tác động tới hệ thống khác

Đối tượng của đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) là các hệ địa lý, ĐGCQ là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích sử dụng

Hướng đánh giá cảnh quan phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học: Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch và quản lý Cách tiếp cận có hiệu quả và tổng hợp nhất là nghiên cứu, phân tích, đánh giá thể tổng hợp lãnh thổ

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống: Áp dụng lý thuyết hệ thống điều khiển vào nghiên

cứu đặc tính của cảnh quan có vai trò rất to lớn và quan trọng (được bắt đầu từ những năm 1960), đánh dấu bước tổng hợp bậc cao hơn những vấn đề lý thuyết của cảnh quan Theo định nghĩa : "Hệ thống là một tập hợp các yếu tố liên quan với nhau tạo nên một thành tạo hoàn chỉnh" Đối tượng của hệ thống không cấu thành

từ các yếu tố riêng biệt và các mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố đó, cũng không

Trang 28

thể nhận biết được nếu tách riêng một quan hệ nào đó trong đó, đặc tính của đối tượng này là sự có mặt của các mối liên kết,…Hệ thống này đồng thời là các yếu tố bậc cao hơn, còn các yếu tố của nó lại là các hệ thống bậc thấp hơn (tính phân bậc), (từ điển Triết học)

Như vậy các cảnh quan có đủ các tính chất cho phép xếp chúng vào các bậc

"hệ thống" (V.C Preobragienxkii 1972), không những thế chúng còn có tính chất của các hệ thống phức tạp

- Quan điểm tổng hợp: Để có thể định hướng và đưa vào áp dụng trong thực

tế một số biện pháp sử dụng hợp lý lãnh thổ, trước hết cần nghiên cứu các thành phần tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực Trước đây, một số công trình được nghiên cứu riêng rẽ, đôi khi chúng được tập trung nghiên cứu với tư cách là yếu tố trội Kết quả là công trình gần đến ngày cho phép chứng minh thì bị phá sản Vì vậy, mỗi phương án quy hoạch, mỗi công trình nghiên cứu đều phải có luận cứ khoa học toàn diện Yêu cầu này được đáp ứng nhờ một số phương pháp nghiên cứu tổng hợp

- Quan điểm phát triển bền vững: Ba yêu cầu cơ bản cho phát triển bền vững

là kinh tế - môi trường và xã hội nhân văn Phát triển kinh tế ở các khu bảo tồn có hiệu quả cao, sản phẩm được thị trường chấp nhận song vẫn đảm bảo các loại tài nguyên không bị suy thoái, môi trường không bị ô nhiễm

- Quan điểm lịch sử: Đối với nhà Địa lý khi nghiên cứu lãnh thổ nào đó, việc

xem xét lịch sử diễn biến của các hiện tượng nghiên cứu luôn có tầm quan trọng đặc biệt Thiên nhiên là một chỉnh thể thống nhất có khả năng tự điều chỉnh, là tổng hòa các mối quan hệ và tương tác Sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào các yếu tố hợp phần tự nhiên và các quan hệ Không nắm được lịch sử phát sinh, phát triển và tồn tại của chúng trong các mối tương quan của yếu tố tự nhiên thì không thể lý giải được các hiện tượng và do đó cũng không thể đưa ra những giải pháp cho vấn đề cần giải quyết như khôi phục, tái tạo cảnh quan, tài nguyên

- Quan điểm sinh thái: Việc sinh thái hóa cảnh quan là sử dụng phương pháp

nghiên cứu hệ sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan, coi mỗi đơn vị cảnh quan là

Trang 29

một hệ sinh thái Hệ sinh thái là đơn vị chức năng chính trong nghiên cứu sinh thái học, trong đó các cơ thể và môi trường sống,các thành phần ảnh hưởng có các tính chất liên kết chặt chẽ với nhau, cần thiết cho sự sống tồn tại trên Trái đất Sự tiếp xúc, liên kết giữa cảnh quan học và sinh thái học đã hình thành nên một nhánh khoa học cảnh quan sinh tháinghiên cứu sự phân hóa của các đơn vị cảnh quan sinh thái theo một hệ thống phân bậc, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu cảnh quan

và hệ sinh thái

- Quan điểm sinh thái học trong quản lý bảo tồn khu bảo tồn: Ở khu vực

không gian rộng, nhiệt độ và gradient độ ẩm thay đổi theo vĩ độ, độ cao,…Sự thay đổi theo thời gian và không gian rộng lớn thể hiện sự phong phú của môi trường, ảnh hưởng đến cảnh quan của một vùng cũng như cấu trúc chức năng của hệ sinh thái Một hệ sinh thái bất kỳ có thể có một thảm thực vật nguyên sinh, đã bị tác động nhiều hay ít hoặc đang phục hồi Ở mỗi điều kiện cụ thể, hệ sinh thái đều có những loài động thực vật rừng tương ứng

- Quan điểm bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén:Mọi sinh vật được sinh ra không phải tất cả chỉ có lợi vàngược lại chỉ có hại

Vì vậy, bảo tồn ĐDSH nói chung tại khu bảo tồn Phia Oắc – Phia Đén nói riêng phải đảm bảo sự phát triển bền vững của cả ba hợp phần: Hệ sinh thái, thành phần loài và nguồn gen Đây là quan điểm cơ bản bất di bất dịch nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học

Tiếp cận cảnh quan sinh thái trong nghiên cứu khu bảo tồn là quá trình phân tích các yếu tố (địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thảm thực vật và con người) thành tạo cảnh quan và mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trên lãnh thổ khu bảo tồn Tiếp cận này đòi hỏi người phân tích nắm rõ kiến thức cảnh quan học, sinh thái học, sinh thái cảnh quan, đa dạng sinh học, thảm thực vật, quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn cần phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững, đánh giá sinh thái cảnh quan và phải đảm bảo tính thực tiễn cũng như hiệu quả kinh tế vào môi trường Trong quản lý và quy hoạch các khu bảo tồn, tiếp cận cảnh quan sinh thái tập trung giải quyết các vấn đề:

Trang 30

- Làm sáng tỏ thực trạng phân hóa có quy luật theo không gian của các yếu

tố tự nhiên trong đó đặc biệt là giới sinh vật – hợp phần sống của cảnh quan

- Các thuộc tính của một đơn vị cảnh quan cung cấp các thông tin cụ thể về một vùng lãnh thổ Khi có sự tác động lên một phần nào đó sẽ gây ra các tác động tới các hợp phần khác trong cùng hệ thống và những tác động tới hệ thống khác Đối với khu bảo tồn – một vùng lãnh thổ được quy hoạch cho mục tiêu bảo tồn thì việc quy hoạch và quản lý cần được xem xét trên phương diện cảnh quan sinh thái

1.3.2 Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu

- Nguyên tắc và phương pháp xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái khu vực Phia Oắc – Phia Đén tỉ lệ 1:25.000

Bản đồ cảnh quan sinh thái là một bản đồ tổng hợp phản ánh một cách đầy

đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên Các kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi đơn vị phân loại cảnh quan hay mỗi tổng hợp tự nhiên là một phần của vỏ trái đất mà trên

đó xảy ra các quá trình tác động tương hỗ đồng nhất giữa một bên là tổng thể các yếu tố của môi trường và một bên là giới sinh vật mà kết quả của mối quan hệ, tác động tương hỗ đó là việc duy trì và phát triển của các quá trình thành tạo sinh khối, cũng như sự phát triển hữu hiệu của chúng Đồng thời sự hình thành sinh khối, sự phát triển chung của giới sinh vật lại phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất, vào thành phần của các yếu tố môi trường

* Nguyên tắc thực hiện: Xây dựng được một hệ thống phân loại cảnh quan

và đưa ra các chỉ tiêu đảm bảo các nguyên tắc khách quan, phù hợp với quá trình phát sinh, phát triển là cơ sở vững chắc cho việc tiến hành phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng Trong xây dựng hệ thống cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén các nguyên tắc cơ bản được sử dụng gồm:

- Nguyên tắc đồng nhất trong phát sinh, đồng nhất về lịch sử phát triển, đồng

nhất trong cấu trúc và chức năng các đơn vị cảnh quan Áp dụng nguyên tắc này có thể giải thích nguồn gốc của các thành phần, yếu tố thành tạo cảnh quan lãnh thổ,

Trang 31

luận giải về mối quan hệ chặt chẽ, có quy luật giữa các tổng thể tự nhiên để qua đó xác định những đặc trưng cơ bản về cấu trúc, chức năng của cảnh quan Đặc biệt trong phân tích cảnh quan thì nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng và được sử dụng để làm rõ đặc tính cấu trúc cảnh quan, phân tích mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc và cả chức năng cảnh quan [10]

Một đặc điểm nổi bật trong nghiên cứu phát sinh, phát triển cảnh quan của lãnh thổ đó là các yếu tố tự nhiên – yếu tố thành tạo nên cảnh quan luôn có sự biến đổi không ngừng dưới tác động của các quy luật tự nhiên và nhân tác, nó vừa có sự phân hóa theo những quy luật mang tính chất chung nhưng đồng thời lại có sự phân

dị theo đặc thù địa phương và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình nhân tác Chính vì vậy trong nghiên cứu cảnh quan cần quan tâm đến tính thời gian, đó chính

là nguyên tắc lịch sử phát triển

- Nguyên tắc lịch sử phát triển: Do sự biến đổi không ngừng của thiên nhiên

và cùng với nó là sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên mà trong thời điểm nào đó chúng không còn giữ được trọn vẹn như ở giai đoạn mới phát sinh ban đầu – giá trị thời điểm của cảnh quan là khi nghiên cứu chúng ta có thể xác định được hiện trạng trong bối cảnh lịch sử phát sinh, phát triển của chúng Nguyên tắc lịch sử phát triển

có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu đặc điểm phát sinh của cảnh quan, cần thiết trong đánh giá cảnh quan nhằm đề xuất các phương án sử dụng cho thực tiễn [10]

Các nguyên tắc này thường liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng một bản đồ tổng hợp mà trên đó không chỉ thể hiện một cấu trúc đồng nhất của cảnh quan mà còn phân biệt rõ được các chức năng

tự nhiên của chúng, đồng thời phản ánh được hiện trạng của tự nhiên gần với hiện trạng sử dụng lãnh thổ hiện nay

* Phương pháp thực hiện

- Phương pháp yếu tố trội: Phương pháp này dùng để phân tích, đánh giá các

yếu tố thành tạo cảnh quan, xác định ranh giới các loại cảnh quan trên cơ sở các yếu

tố trội

Trang 32

- Phương pháp so sánh: theo các đặc điểm riêng biệt của các chỉ tiêu phân

loại từng cấp cảnh quan, so sánh đánh giá mức độ đa dạng sinh học trong từng nhóm loại cảnh quan, từng hệ sinh thái Trên cơ sở đó đánh giá các khu vực thích nghi với bảo tồn đa dạng sinh học

- Phương pháp phân tích tổng hợp:Nhằm phân tích, tổng hợp các yếu tố

thành tạo cảnh quan, để xác định đơn vị cảnh quan các cấp cũng như thể hiện các khoanh vi cụ thể trên bản đồ Trên cơ sở đó đánh giá một cách đầy đủ, thống nhất các loại cảnh quan có tính đa dạng sinh học cao, thích nghi cho việc bảo tồn đa dạng sinh học

- Phương pháp bản đồ: Nhằm chính xác hóa ranh giới của các đơn vị cảnh

quan trong phạm vi lãnh thổ Phương pháp bản đồ không thể thiếu trong mọi công trình nghiên cứu địa lý Bản đồ vừa là nội dung vừa để thể hiện kết quả nghiên cứu của luận văn do vậy, phương pháp bản đồ được coi trọng Trong luận văn này, phương pháp bản đồ được sử dụng để xây dựng bản đồ mô hình số độ cao, bản đồ địa mạo, sinh khí hậu, cảnh quan khu vực Phia Oắc – Phia Đén

- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát theo tuyến hoặc các điểm chìa

khóa nhằm thu thập, bổ sung tư liệu, kiểm tra trên thực tế những kết quả đã thực hiện trong phòng Đánh giá tính hợp lý của bản đồ đã xây dựng, tiếp tục quan sát, ghi chép, chụp ảnh những cảnh quan địa lý đặc trưng, những đối tượng, hiện tượng

tự nhiên xã hội tiêu biểu

- Phương pháp đánh giá cảnh quan: Đánh giá đặc điểm cấu trúc, chức năng,

động lực của các tổng hợp tự nhiên, các quá trình và hiện tượng tự nhiên, giá trị bảo tồn,…Mục đích của đánh giá là chỉ ra cách sử dụng môi trường tự nhiên hợp lý, hiệu quả và đảm bảo hướng phát triển bền vững Để bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả nhất cần đánh giá cảnh quan, xác định mức độ quan trọng đối với ĐDSH trong từng đơn vị cảnh quan để bảo tồn ĐDSH Đánh giá mức độ thuận lợi để xác định không gian có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, phát triển nông lâm nghiệp bền vững Cần xác định các tác động tiêu cực tới cảnh quan sinh thái từ đó xác định nguyên nhân và đưa ra các giải pháp

Trang 33

Hình 1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan khu vực Phia Oắc - Phia Đén

Kết luận chương 1: Những quan điểm cơ bản về cảnh quan, cảnh quan sinh

thái, thảm thực vật, đa dạng sinh học, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững thể hiện mối quan hệ nhân quả của những hợp phần cấu thành lãnh thổ Những hợp phần này tác động trực tiếp tới đời sống con người và không ngừng biến đổi Hầu hết những nghiên cứu về cảnh quan chưa chú trọng đến việc xem xét nghiên cứu thành phần sống và vai trò của nó trong khi các nhà sinh thái học, sinh học lại quan tâm nhiều tới thành phần sống mà chưa quan tâm tới nhân tố sinh thái phát sinh Những nghiên cứu ở các khu bảo tồn hầu như chưa đề cập tới mối quan

hệ phát sinh sinh thái theo vùng địa lý Những mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng cư dân sống trong và xung quanh khu bảo tồn rất mạnh mẽ, vì thế cần nghiên cứu lãnh thổ các khu bảo tồn từ các hợp phần cấu thành lãnh thổ

Bước 1

Xác định mục tiêu, phạm vi,

nhiệm vụ nghiên cứu

Bước 2

Nghiên cứu lý luận

và phương pháp luận nghiên cứu

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN KHU VỰC PHIA OẮC – PHIA ĐÉN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG 2.1 Các nhân tố hình thành cảnh quan tại khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Một trong những vấn đề lớn của việc bảo tồn tự nhiên và phát triển bền vững

là bảo tồn đa dạng sinh học Đó là việc bảo tồn các loài nói chung, loài quý hiếm nói riêng, các nguồn gen và các hệ sinh thái Theo quy luật phát triển của giới sinh học thì môi trường vô cơ càng khắc nghiệt thì đa dạng sinh học càng đơn giản hơn Đặc điểm của đa dạng sinh học khu vực phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Vùng nghiên cứu được lựa chọn nằm ở dãy núi Phia Oắc của huyện Nguyên Bình, có độ cao địa hình thuộc loại lớn của tỉnh Cao Bằng cũng như vùng Đông Bắc của Việt Nam Diện tích vùng nghiên cứu là 48.128,00ha, trong giới hành chính của

09 xã: Ca Thành, Vũ Nông, Thể Dục, Mai Long, Quang Thành, Phan Thanh, Thành Công, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc của huyên Nguyên Bình

Vùng Phia Oắc – Phia Đén nằm trong đầu mút phía Bắc của vòng cung Ngân Sơn - ranh giới phía Tây của vùng núi Đông Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý 22° 29' 42″ - 22° 44' 45″ vĩ độ Bắc và 105° 43' 37"- 106° 0' 18" kinh độ Đông Phía Đông

là thị trấn Nguyên Bình và xã Tam Kim huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp huyện Pắc Nậm (Bắc Kạn), phía Bắc giáp huyện Thông Nông, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp huyện Ba Bể và Ngân Sơn (Bắc Kạn), vùng nghiên cứu cách thành phố Cao Bằng 30km về phía Tây Với vị trí địa lý như vậy, khu vực Phia Oắc – Phia Đén có lợi thế về các điều kiện tự nhiên để phát triển các ngành lâm nghiệp, chăn nuôi và phát triển các cây con đặc sản mang tính hàng hóa Mặt khác, tiềm năng du lịch nhờ có vị thế giao thông tương đối thuận lợi, phong cảnh đẹp, nhiều nơi thiên nhiên còn ở dạng ít bị tác động là những yếu tố thuận lợi cho phát triển du lịch Vùng nằm ở trục du lịch liên hoàn từ Bắc Kạn tới Lạng Sơn và các vùng phía bắc của Cao Bằng

Trang 36

2.1.1.2 Đặc điểm địa chất

Về vị trí kiến tạo, khu vực Phia Oắc – Phia Đén nằm ở phía Tây đới cấu trúc sông Hiến với sự phân bố chủ yếu của các đứt gãy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Bắc – Nam Cấu trúc khu vực điển hình nhất là nếp lồi Phia Đén, cấu trúc uốn nếp gồm có khối Bản Đổng, Lũng Quang, Phia Oắc Trong vùng nghiên cứu có các loại đá chính:

- Đá vôi: Phân bố ở xã Ca Thành, Mai Long, Phan Thanh thường ở độ cao

dưới 1000m dốc về phía Tây Nam.Tuổi của đá vôi thuộc C-Pbs

- Đá phiến sét: Phân bố xen kẽ với khu vực đá vôi và đá granít;

- Đá granít: Thuộc phức hệ Cao Bằng T2-cb, phức hệ Phia Oắc tuổi K2;

- Vật liệu dốc tụ Kainozoi: Phân bố tập trung theo các khe suối, thung lũng nhưng không thành tạo các thung lũng lớn mà thường có dạng bậc thang, lượn sóng, các bãi bồi

2.1.1.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình là nhân tố quan trọng trong hình thành và phát triển cảnh quan Phia Oắc – Phia Đén.Có thể nói đa dạng sinh học phụ thuộc rất lớn vào địa hình, hầu hết các khu vực trên cạn mức độ giàu đa dạng sinh học thường nằm ở khu vực có địa hình phân hóa phức tạp Độ cao địa hình phân hóa các loài sinh vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới

Trong bình đồ cấu trúc chung, khu vực Phia Oắc – Phia Đén nằm trong đầu mút phía Bắc của vòng cung Ngân Sơn, với các kiểu địa hình núi trung bình thấp Địa hình có hướng chủ yếu là Tây Bắc – Đông Nam và Bắc – Nam Địa hình gồm các dạng núi thấp, trung bình, cao và thung lũng nhỏ hẹp

Bảng 2.1: Các bậc địa hình khu vực Phia Oắc – Phia Đén

Trang 38

Một số đỉnh ở khu vực Phia Oắc – Phia Đén như đỉnh Phia Oắc cao tới 1.931m, là đỉnh cao nhất của tỉnh Cao Bằng Ngoài ra, còn một số đỉnh cao trên 1.200m, bao gồm: Đỉnh Niot Ti, cao 1.574m, đỉnh Tam Long 1.446m, đỉnh núi Phia Đén cao

Địa hình vùng nghiên cứu có thể chia ra 3 vùng khác nhau

- Vùng núi đá vôi: khu vực này có mức độ chia cắt ngang nhỏ, chia cắt sâu

lớn Hiện tượng một số sông bị mất dòng do chảy vào các hang ngầm tương đối phổ biến, tuy nhiên lại có nước quanh năm Đá vôi ở đây thường tạo thành các dạng Karst hở xen các thung lũng nhỏ, hẹp

- Khu vực phía tây bắc, tây và rìa phía nam, khu vực trung tâm vùng nghiên cứu: có cấu tạo từ đá granít bao gồm các đỉnh đơn lẻ, độ cao trung bình lớn hơn

1.000m

- Khu vực núi thấp giữa các khối núi đá vôi ở phía bắc, dãy núi thấp phía

Đông, trung tâm và nam Địa hình dốc dần từ Tây sang Đông

Hướng núi cũng ảnh hưởng lớn đến hoàn lưu và khí hậu, ảnh hưởng đến sự phân hóa đa dạng sinh học tạo nên sự tương phản về tự nhiên giữa hai mặt sườn đông bắc và tây nam, biểu hiện ở chế độ nhiệt ẩm khác nhau, là nguyên nhân gây ra

sự phân hóa tây – đông tại Phia Oắc – Phia Đén

Trong sự phân hóa các loại và nhóm loại cảnh quan các yếu tố địa mạo – thổ nhưỡng là nhân tố chủ đạo, các nhóm loại cảnh quan thể hiện các đặc điểm địa mạo hình thái và đặc điểm các loại đất được thành tạo trên đó Kết quả phân tích địa mạo cho thấy vùng Phia Oắc – Phia Đén có 4 nhóm với 22 dạng địa hình

Trang 40

- Nhóm dạng địa hình nguồn gốc bóc mòn tổng hợp gồm 8 dạng;

- Nhóm dạng địa hình nguồn gốc karst gồm 5 dạng;

- Nhóm dạng địa hình nguồn gốc dòng chảy tạm thời gồm 2 dạng;

- Nhóm dạng địa hình nguồn gốc sông gồm 5 dạng

Bảng 2.2: Các nhóm, dạng địa hình vùng Phia Oắc - Phia Đén

9

Nguồn

gốc Karst

Mực địa hình cao khối Karst>1000m N1 722,19

10 Mực địa hình trung bình khối Karst

Ngày đăng: 27/08/2017, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Armand Đ.L(1983), Khoa học về cảnh quan (người dịch: Nguyễn Ngọc sinh, Nguyễn Xuân Mậu), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về cảnh quan
Tác giả: Armand Đ.L
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1983
3.Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, phần I, Động Vật, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, phần I, Động Vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, phần II, Thực vật, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, phần II, Thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Quy hoạch tổng thể bảo tồn Đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể bảo tồn Đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2013
6.Đào Đình Bắc (2000), Địa mạo đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa mạo đại cương
Tác giả: Đào Đình Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
7.Vũ Văn Chuyên, Lê Trần Chấn, Trần Hợp (1987), Địa lý các họ cây Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các họ cây Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Chuyên, Lê Trần Chấn, Trần Hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1987
8. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học & Bảo tồn thiên nhiên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học & Bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
9.V.M.Fridland (1964), Đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ẩm (người dịch Lê Huy Bá), Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ẩm
Tác giả: V.M.Fridland
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1964
10. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
12. Trương Quang Hải (2008), Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình, đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số QG TĐ.04.11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình
Tác giả: Trương Quang Hải
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Hiền (2012), Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên khí hậu khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình – báo cáo đề mục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên khí hậu khu vực Phia Oắc – Phia Đén huyện Nguyên Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2012
14. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái,Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
15. Đặng Huy Huỳnh (2003), “Sinh học với sự nghiệp bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học ở Việt Nam”, Tạp chí sinh học, 25(3), tr.3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học với sự nghiệp bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học ở Việt Nam”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Năm: 2003
16.Đặng Huy Huỳnh(2008),“Bảo tồn và phát triển bền vững Đa dạng sinh học vùng Đông Bắc Việt Nam”,Tạp chí nghiên cứu phát triển bền vững. Số 1 (19).Viện KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển bền vững Đa dạng sinh học vùng Đông Bắc Việt Nam”,"Tạp chí nghiên cứu phát triển bền vững
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Năm: 2008
18. IUCN, UNEP, WWF (1996), Cứu lấy Trái đất chiến lược cho cuộc sống bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cứu lấy Trái đất chiến lược cho cuộc sống bền vững
Tác giả: IUCN, UNEP, WWF
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
19. Ixatsenco A.G (1996), Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên,Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên
Tác giả: Ixatsenco A.G
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1996
20. KalexnikX.V. (1978), Những quy luật địa lý chung của Trái đất, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy luật địa lý chung của Trái đất
Tác giả: KalexnikX.V
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
22. Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn (2001), Địa lý sinh vật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý sinh vật
Tác giả: Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
24. Vũ Tự Lập (1999), Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan khu vực Phia  Oắc - Phia Đén - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan khu vực Phia Oắc - Phia Đén (Trang 33)
Bảng 2.2: Các nhóm, dạng địa hình vùng Phia Oắc - Phia Đén - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Bảng 2.2 Các nhóm, dạng địa hình vùng Phia Oắc - Phia Đén (Trang 40)
Bảng 2.3: Phân loại phát sinh đất vùng Phia Oắc – Phia Đén - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Bảng 2.3 Phân loại phát sinh đất vùng Phia Oắc – Phia Đén (Trang 46)
Bảng 2.4: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015 - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Bảng 2.4 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015 (Trang 54)
Bảng 3.2: Thang điểm cho tính nguyên trạng [30] - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Bảng 3.2 Thang điểm cho tính nguyên trạng [30] (Trang 93)
Hình 8: Nguyên lý sinh học trong thiết kế khu bảo tồn - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 8 Nguyên lý sinh học trong thiết kế khu bảo tồn (Trang 95)
Bảng 3.6: Đánh giá mức độ thích nghi của các cảnh quan sinh thái trong - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Bảng 3.6 Đánh giá mức độ thích nghi của các cảnh quan sinh thái trong (Trang 97)
Bảng PL1. Danh sách các loài thực vật quý hiếm ở vùng Phia Oắc – Phia Đén - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
ng PL1. Danh sách các loài thực vật quý hiếm ở vùng Phia Oắc – Phia Đén (Trang 111)
Bảng PL3: Điểm đánh giá giá trị bảo tồn của các loại cảnh quan - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
ng PL3: Điểm đánh giá giá trị bảo tồn của các loại cảnh quan (Trang 121)
Hình 5: Cây Mộc Lan trên đỉnh Phia Oắc - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 5 Cây Mộc Lan trên đỉnh Phia Oắc (Trang 126)
Hình 9: Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 9 Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (Trang 128)
Hình 11: Hệ sinh thái dân cư nông thôn - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 11 Hệ sinh thái dân cư nông thôn (Trang 129)
Hình 13: Trạm phát sóng Phia Oắc - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 13 Trạm phát sóng Phia Oắc (Trang 130)
Hình 14: Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Đén - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 14 Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Đén (Trang 131)
Hình 15: Đá granit 2 mica đặc trưng - Phân tích, đánh giá cảnh quan sinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực phia oắc   phia đén, tỉnh cao bằng
Hình 15 Đá granit 2 mica đặc trưng (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm