1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ phân vùng chức năng môi trường tỉnh thái bình

102 363 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ được cơ sở khoa học về tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường phục vụ phân vùng chức năng môi trường và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ PHÂN VÙNG

CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ PHÂN VÙNG

CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường

Mã số: 60 85 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy chương trình cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường - Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Cao Huần - người thầy trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luận văn

Tôi xin cảm ơn gia đình và đồng nghiệp đã hỗ trợ, động viên để tôi hoàn thành khóa học

Trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Nội dung nghiên cứu 1

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Cơ sở dữ liệu 2

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài 3

7 Cấu trúc luận văn 3

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở lý luận về phân vùng chức năng môi trường 8

1.2.1 Vùng và phân vùng 8

1.2.2 Phân vùng môi trường và chức năng môi trường 10

1.2.3 Phân vùng chức năng môi trường và vùng chức năng môi trường 11

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 14

1.3.1 Quan điểm và tiếp cận nghiên cứu 14

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 16

1.3.3 Quy trình các bước nghiên cứu 17

Chương 2 : CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH 19

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 19

2.1.1 Vị trí địa lý và vị thế kinh tế 19

2.1.2 Địa hình 20

2.1.3 Khí hậu 21

2.1.4 Thuỷ văn 23

Trang 5

2.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 24

2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội 29

2.2.1 Dân số và lao động 29

2.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội 30

2.3 Khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên 33

2.3.1 Sử dụng đất 33

2.3.2 Khai thác, sử dụng tài nguyên nước 35

2.3.3 Khai thác khoáng sản 37

2.3.4 Khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển 38

2.4 Thực trạng môi trường 39

2.4.1 Tác động từ các hoạt động phát triển kinh tế tới môi trường 39

2.4.2 Chất lượng môi trường 44

2.5 Tai biến thiên nhiên và biến đổi khí hậu 48

2.5.1 Ngập úng 48

2.5.2 Bão, áp thấp nhiệt đới 49

2.5.3 Xâm nhập mặn 49

2.5.4 Biến đổi khí hậu 50

2.6 Lợi thế và thách thức của tỉnh Thái Bình 53

2.6.1 Lợi thế 53

2.6.2 Thách thức 54

Chương 3 : PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH 55

3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020 55

3.1.1 Mục tiêu phát triển 55

3.1.2 Định hướng phát triển các ngành 56

3.1.3 Quy hoạch sử dụng đất 58

3.1.4 Những vấn đề môi trường cần quan tâm khi triển khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 60

Trang 6

3.2 Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Thái Bình 61

3.2.1 Cơ sở xác định các tiểu vùng môi trường 61

3.2.2 Đặc điểm các tiểu vùng môi trường 64

3.2.3 Định hướng chức năng và giải pháp khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường các tiểu vùng môi trường tỉnh Thái Bình 72

3.3 Định hướng không gian bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình 80

3.3.1 Mục tiêu và nguyên tắc xác định không gian bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình 80

3.3.2 Các không gian bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

1 KẾT LUẬN 105

2 KIẾN NGHỊ 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường BĐKH Biến đổi khí hậu CTR Chất thải rắn CCN Cụm công nghiệp KCN Khu công nghiệp KT-XH Kinh tế - xã hội PVMT Phân vùng môi trường PVCNMT Phân vùng chức năng môi trường QHBVMT Quy hoạch bảo vệ môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Thái Bình 22

Bảng 2.2 Các loại đất tỉnh Thái Bình 24

Bảng 2.3 Dân số tỉnh Thái Bình qua các năm 30

Bảng 2.4 Nhu cầu khai thác nước mặt phục vụ công nghiệp 35

Bảng 2.5 Lượng nước dưới đất khai thác theo mục đích sử dụng 36

Bảng 2.6 Hiện trạng khai thác cát trên địa bàn tỉnh Thái Bình 37

Bảng 2.7 Tổng hợp khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các KCN 42

Bảng 2.8 Khối lượng chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh 43

Bảng 2.9 Nồng độ các chất hữu cơ trên sông Hồng 44

Bảng 2.10 Nồng độ các chất hữu cơ trên sông Hóa – sông Luộc 44

Bảng 2.11 Nồng độ trung bình Fe trong nước biển ven bờ 44

Bảng 2.12 Hàm lượng dầu trong nước biển ven bờ 45

Bảng 2.13 Hàm lượng bụi TSP quan trắc tại các KCN, CCN 48

Bảng 2.14 Khoảng cách xâm nhập mặn trên các sông 50

Bảng 2.15 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp B1 51

Bảng 2.16 Mức tăng xâm nhập mặn giữa hiện trạng với các kịch bản 51

Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Thái Bình 59

Bảng 3.2 Định hướng chức năng và giải pháp khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường các tiểu vùng môi trường tỉnh Thái Bình 72

Bảng 3.3 Ma trận phân bố các không gian bảo vệ môi trường trong các tiểu vùng môi trường 82

Bảng 3.4 Các không gian bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình 84

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình các bước nghiên cứu 18

Hình 2.1 Vị trí địa lý tỉnh Thái Bình trong bản đồ hành chính Việt Nam 19

Hình 2.2 Sơ đồ các đơn vị hành chính tỉnh Thái Bình 21

Hình 2.3 Địa chất đệ tứ và địa hình đồng bằng sông Hồng 22

Hình 2.4 Bản đồ đất tỉnh Thái Bình 26

Hình 2.5 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Bình năm 2014 Error! Bookmark not defined Hình 2.6 Bản đồ ngập lụt tỉnh Thái Bình với mực nước biển dâng 50cm 52

Hình 2.7 Bản đồ ngập lụt tỉnh Thái Bình với mực nước biển dâng 100 cm 53

Hình 3.1 Bản đồ Phân vùng môi trường tỉnh Thái Bình Error! Bookmark not defined Hình 3.2 Bản đồ Định hướng không gian bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình Error! Bookmark not defined DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Thái Bình năm 2014 33

Biểu đồ 2.2 Hàm lượng trung bình của cadimi (Cd) trong đất 47

Biểu đồ 2.3 Hàm lượng trung bình của đồng (Cu) trong đất 47

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong vài thập kỷ gần đây, cùng với xu thế phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, vấn đề suy thoái môi trường và suy kiệt tài nguyên thiên nhiên trở thành vấn đề nổi cộm, đã và đang tác động mãnh mẽ đến đời sống dân sinh cũng như phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều vùng lãnh thổ của nước ta

Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, là vựa lúa lớn nhất miền Bắc gắn với tên gọi “miền quê lúa” Những năm gần đây, tỉnh Thái Bình đang trong quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Vùng ven biển của tỉnh cũng đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương cho xây dựng khu kinh tế biển, trở thành khu kinh tế biển thứ 15 của cả nước Tuy nhiên, song hành với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế

là xu hướng gia tăng các vấn đề liên quan đến suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường trên địa bàn, đặc biệt ở vùng ven biển Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là Thái Bình chưa sử dụng hợp lý lãnh thổ, chưa hoạch định các không gian phát triển gắn kết phát triển kimnh tế với bảo vệ môi trường Để giải quyết bài toán trên, những năm tới đây tỉnh Thái Bình cần thiết phải xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường trong đó có nội dung phân vùng chức năng môi trường nhằm khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường, hướng tới phát triển bền vững

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn nêu trên, học viên lựa chọn thực hiện đề

tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ phân vùng chức năng môi trường tỉnh Thái Bình” góp phần phục vụ công tác lập quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình

trong tương lai

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ được cơ sở khoa học về tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường phục

vụ phân vùng chức năng môi trường và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình theo các vùng chức năng

3 Nội dung nghiên cứu

Trang 11

- Tổng quan tài liệu về nghiên cứu có liên quan;

- Xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và quy trình các bước phân vùng chức năng môi trường;

- Phân tích đặc điểm và sự phân hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường và tai biến thiên nhiên;

- Phân tích hiện trạng phát triển kinh tế gắn với khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường, các vấn đề môi trường bức xúc chung cho toàn tỉnh và riêng cho từng tiểu vùng;

- Phân vùng môi trường lãnh thổ nghiên cứu;

- Xác lập các chức năng môi trường của các vùng, tiểu vùng môi trường;

- Xác định các không gian bảo vệ môi trường và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường theo các vùng, tiểu vùng

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Lãnh thổ nghiên cứu của đề tài là địa bàn hành chính tỉnh Thái Bình, phần đất liền gồm 8 huyện, thành phố và vùng biển ven bờ kéo dài đến độ sâu 6m

- Phạm vi khoa học: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các vấn đề sau: Phân tích đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề môi trường và kinh tế - xã hội, quy trình các bước phân vùng chức năng môi trường tỉnh Thái Bình; Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình theo các tiểu vùng phục vụ cho định hướng phát triển bền vững của tỉnh

5 Cơ sở dữ liệu

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thái Bình;

- Các số liệu thống kê hiện trạng phát triển KT-XH và môi trường tỉnh Thái Bình;

- Các báo cáo chuyên ngành, các quy hoạch phát triển có liên quan của tỉnh Thái Bình

- Các số liệu điều tra thực địa trong thời gian thực hiện luận văn

Trang 12

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung phương

pháp luận và phương pháp nghiên cứu phân vùng chức năng môi trường

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích cho

công tác QHBVMT, quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Thái Bình

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn được trình bày trong 92 trang với 20 bảng, 10 hình và 03 biểu đồ,

có bố cục như sau:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến phân vùng chức năng môi trường tỉnh Thái Bình

Chương 3: Phân vùng chức năng môi trường và định hướng khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Bộ Môi trường và Tài nguyên nước Paraguay cũng đã tiến hành phân vùng môi trường nhằm bảo vệ thượng nguồn lưu vực sông Paraguay Dựa trên các yếu tố địa chất, hình thái địa hình, khí hậu và độ che phủ thực vật, lưu vực sông được chia thành 34 đơn vị môi trường tự nhiên, trong đó có 24 đơn vị có địa hình cao và 10 đơn vị có địa hình đồng bằng, đôi khi bị ngập lũ Dựa vào các yếu tố kinh tế xã hội như hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất, cơ sở hạ tầng và tổ chức trong vùng, lưu vực sông được chia thành 33 đơn vị môi trường - kinh tế - xã hội [10]

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12, Trung Quốc đã đưa ra phương pháp tiếp cận quy hoạch không gian mới Nếu trước đây sự phân vùng là theo định hướng kinh tế thì sau này, vùng được chia theo cách tiếp cận định hướng chức năng Cách tiếp cận này cố gắng hợp lý hóa sự phát triển vùng của Trung Quốc và khẳng định rằng mỗi vùng nên có chức năng riêng biệt để tập trung phát huy tính chất, điều kiện và yêu cầu của nó Với cách tiếp cận định hướng chức năng của vùng, chính phủ có thể giám sát sự phát triển của vùng và địa phương, vì vậy phân vùng chức năng được coi là một công cụ để hướng quy hoạch không gian tới sự phát triển bền vững dài hạn Việc phân vùng được chia cho 2 cấp thực hiện: cấp quốc gia và cấp

Trang 14

vùng cho phần diện tích còn lại Kết quả phân vùng gồm có 4 loại vùng: (1) vùng tối ưu phát triển, (2) vùng ưu tiên phát triển, (3) vùng hạn chế phát triển, gồm vùng chức năng sinh thái và vùng sản xuất nông nghiệp, và (4) vùng cấm phát triển [38]

Úc là quốc gia đã thực hiện phân vùng chức năng hệ sinh thái tại khu vực vịnh Moreton của quốc gia này Phương pháp phân vùng chức năng của hệ sinh thái được xây dựng không chỉ nhằm bản đồ hóa các dịch vụ hệ sinh thái theo cách tiếp cận đơn giản về sử dụng đất đai mà còn nhằm nâng cao nhận thức về sự phụ thuộc giữa phúc lợi của con người với khả năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái theo các chức năng của hệ sinh thái Để xây dựng các bản đồ phân vùng các hệ sinh thái, Úc

đã dựa trên các mô tả về từng chức năng hệ sinh thái và xây dựng thành 19 bản đồ tương ứng với 19 chức năng Các bước thực hiện cơ bản bao gồm: xác định và thu thập các bộ dữ liệu thông tin địa lý (GIS) đại điện cho 19 hợp phần về sinh học, địa hóa học và vật lý trong các hệ sinh thái; thành lập bản đồ chức năng sinh thái đơn lẻ; thành lập bản đồ chức năng sinh thái tổng hợp Trong khi các chuyên gia và các nhà quản lý có thể thu được lợi ích từ các lớp chức năng hệ sinh thái độc lập, riêng biệt thì các nhà ra quyết định chính sách ở cấp địa phương và vùng lại muốn có được thông tin tổng hợp về các cấp độ chức năng Do đó, Moreton đã xác định xây dựng hai loại bản đồ là bản đồ chồng lớp các chức năng sinh thái và bản đồ chính sách Các bản đồ được xây dựng đã hỗ trợ và bổ sung các giá trị, thông tin cho quy hoạch và quản lý hiện tại về các khu vực cung cấp chức năng hệ sinh thái tại Vịnh Moreton Đây được coi là bộ sản phẩm hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết định tại khu vực này

Chính phủ Brazil đã ban hành Luật số 6938 về chính sách môi trường quốc gia năm 1981, tại điều 9, khoản II đã đưa ra nội dung: “phân vùng môi trường - the environmental zoning” Sau đó, ngày 10/7/2002, chính phủ đã ban hành Nghị định

số 4.297 quy định cụ thể điều 9, khoản II, Luật số 6938 Nghị định gồm 5 chương, trong đó: chương 1- Mô tả mục tiêu và nguyên tắc; chương 2- Chuẩn bị phân vùng; chương 3- Nội dung của phân vùng; chương 4- Sử dụng, bảo quản, lưu, quảng cáo

dữ liệu và thông tin; chương 5- Các điều khoản khác Tại điều 12 của Nghị định đã

Trang 15

quy định việc xác định từng vùng/khu vực phải dựa trên: (i) Đánh giá các nguồn tài nguyên tự nhiên, khuôn khổ kinh tế - xã hội và pháp lý và thể chế; (ii) Hệ thống thông tin địa lý và; (iii) Kịch bản và lựa chọn thay thế [39]

Như vậy, trên thế giới phân vùng môi trường được sử dụng như một công cụ phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong một không gian lãnh thổ Cơ sở để phân vùng môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội tại mỗi vùng

1.1.2 Ở Việt Nam

Hiện nay tại Việt Nam chưa có công trình nào viết rõ về phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường Tuy nhiên, thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu,

dự án liên quan đến phân vùng môi trường, phân vùng chức năng môi trường phục

vụ lập quy hoạch môi trường, quy hoạch bảo vệ môi trường được thực hiện

- Các nghiên cứu về phương pháp luận: Nghiên cứu xây dựng QHMT phục

vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng, mã số KC 08.02 thuộc chương trình nghiên cứu cấp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 về “Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”; Nghiên cứu xây dựng QHMT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi) mã số

KC 08.03 thuộc chương trình nghiên cứu cấp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 về

“Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”; Nghiên cứu xây dựng phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch theo định hướng phát triển bền vững (Tổng cục Môi trường, 2009); Quy hoạch bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững lãnh thổ cấp tỉnh và cấp huyện - Nghiên cứu trường hợp Thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam (Nguyễn Cao Huần, 2009); Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

và môi trường phục vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An (Hoàng Lưu Thu Thủy, luận án Tiến sỹ, 2012); Xác lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch bảo

vệ môi trường huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nguyễn Huy Anh, luận án Tiến sỹ, 2015);

Trang 16

- Các dự án quy hoạch môi trường, quy hoạch bảo vệ môi trường: QHMT

tỉnh Hải Dương; QHMT tỉnh Long An; QHMT tỉnh Thái Nguyên; QHMT tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; QHBVMT thị xã Phúc Yên và huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc; QHBVMT thành phố Sơn Tây; QHBVMT thị xã Uông Bí, Thành phố Hạ Long, huyện Đông Triều, huyện Cô Tô, huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh;

Phương án phân vùng của các công trình nêu trên chủ yếu là:

- Phân vùng dựa trên mức độ phát triển: Theo cách này có thể phân khu vực

lãnh thổ ra thành các vùng: vùng phát triển, vùng đệm và vùng bảo vệ (bảo tồn) Đây là phương án cơ bản trong phân vùng, dựa chủ yếu vào mục đích quản lý lãnh thổ (thúc đẩy phát triển hay bảo tồn) Trong một số trường hợp, vùng phát triển có thể được phân nhỏ hơn thành các tiểu vùng như: tiểu vùng phát triển thấp; tiểu vùng phát triển cao; tiểu vùng phát triển đa ngành Vùng bảo tồn cũng có thể được phân chia thành các tiểu vùng nhỏ hơn như: tiểu vùng bảo tồn nghiêm ngặt; tiểu vùng bảo tồn thông thường; khu bảo tồn biển; vườn quốc gia;

- Phân vùng dựa trên chức năng sử dụng nguồn lợi cho các hoạt động phát

triển: Không gian lãnh thổ có thể được phân chia theo chức năng sử dụng tài

nguyên, môi trường phục vụ các hoạt động kinh tế - xã hội Ví dụ, vùng lãnh thổ có thể được phân chia thành các khu nông nghiệp, khu lâm nghiệp, khu nuôi trồng thủy sản, khu công nghiệp, khu bảo tồn thiên nhiên,

- Phân vùng dựa trên mức độ khai thác tài nguyên của các hoạt động phát triển: Dựa trên mức độ khai thác tài nguyên của các hoạt động phát triển có thể

phân ra các vùng như: vùng khai thác hạn chế; vùng khai thác độc quyền; vùng khai thác đa ngành

Qua các nghiên cứu trên có thể nhận thấy những năm vừa qua việc phân vùng môi trường đã được áp dụng trong nhiều hoạt động về lập quy hoạch và quản lý tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, vẫn còn những ý kiến khác nhau về nội hàm, tiêu chí, phương pháp phân vùng môi trường từ các chuyên gia Vì vậy, vẫn cần có các nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường

Trang 17

1.2 Cơ sở lý luận về phân vùng chức năng môi trường

1.2.1 Vùng và phân vùng

Vùng

“Vùng” là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Có các quan niệm và nhận biết về vùng khác nhau, như “vùng là không gian, là một trong các hình thức tồn tại của vật chất” (Thôi Công Hào và nnk, 2002) Theo Lê Bá Thảo (1998) vùng là một bộ phận (một đơn vị Taxon cấp cao) của lãnh thổ, có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một

hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ có chọn lọc và với các không gian các cấp bên

lý được phân theo tính tương đối đồng nhất về mặt phát sinh, bị chi phối bởi mối

tương tác của yếu tố địa đới (bức xạ nhiệt) và phi địa đới (năng lượng kiến tạo);

Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ có thể chung nguồn gốc phát sinh

và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất) và trên đó phát triển một phức hợp sinh quần

lạc điển hình; Vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao gồm một đại đô thị và

các vùng phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này v.v

Trong các ngành riêng biệt, vùng được xác định bằng các hệ thống chỉ tiêu

và tiêu chí được xây dựng trên cơ sở mục tiêu phân loại vùng và mục tiêu sử dụng kết quả phân vùng ấy

Các quan niệm và nhận biết vùng tuy khác nhau về mục đích, song về bản chất đều có nét chung: là một khái niệm không gian, là hình thức kết cấu của vùng

Trang 18

đất chiếm một không gian nhất định trên bề mặt Trái đất, dựa vào điều kiện vật chất khác nhau làm đối tượng; và có các thuộc tính cơ bản sau:

- Là một phần của bề mặt Trái đất, chiếm không gian nhất định (không gian

3 chiều) Một số không gian này có thể là không gian tự nhiên, không gian kinh tế, không gian xã hội;

- Có phạm vi và ranh giới nhất định Phạm vi của nó có thể lớn, có thể nhỏ do căn cứ vào các yêu cầu khác nhau, hệ thống chỉ tiêu khác nhau để phân chia;

- Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định Tính phân cấp hoặc tính nhiều cấp, tính phân tầng Do vậy, vùng có mối quan hệ giữa trên với dưới, dọc và ngang Mỗi vùng nhỏ (hoặc tiểu vùng) là một phần hợp thành để tạo nên một vùng lớn hơn

Khi xem xét vùng trên quan điểm là đối tượng của quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội thì mỗi vùng đặc trưng bởi các ngành kinh tế, các cơ sở sản xuất, các hoạt động dịch vụ, đặc điểm phân bố và cấu trúc dân cư, các cơ sở hạ tầng sản xuất

và xã hội Các yếu tố đặc trưng này có mối quan hệ liên kết riêng đối với từng vùng, thể hiện tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội phù hợp của vùng đó Do đó

có nhiều cách để phân vùng và nhiều vùng nằm chồng lấn lên nhau tại một khu vực địa lý

Phân vùng

Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ thành những thể tổng hợp có ranh giới khép kín, có những đặc điểm riêng không giống các vùng khác và không lặp lại trong không gian, tương đối đồng nhất theo các tiêu chí và các mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng Theo quan điểm Địa lý, phân vùng trước hết là một sự phân chia bề mặt Trái đất như thế nào để các khu vực được phân chia ra - các vùng

- giữ được tính toàn vẹn về mặt lãnh thổ và giữ được tính thống nhất nội tại xuất phát từ tính thống nhất trong lịch sử phát triển, trong vị trí địa lý, trong quá trình địa

lý và trong sự gắn bó về lãnh thổ của các bộ phân cấu tạo riêng biệt (Vũ Tự Lập, 1969)

Trang 19

Phân vùng là phân chia một cách tương đối theo mức độ tổng hợp của các đối tượng thành hai loại hình: phân vùng chuyên ngành và phân vùng tổng hợp (Trương Quang Hải, 2006): Phân vùng chuyên ngành được tiến hành theo một dấu hiệu hoặc nhóm dấu hiệu riêng biệt Loại này thường là phân vùng định lượng trùng với bản

đồ các đường đẳng trị của các dấu hiệu phân loại Trong phân vùng bộ phận chỉ xét tổng thể các nhân tố của một thành phần cấu thành (như trong phân vùng thuỷ văn, phân vùng khí hậu, phân vùng địa lý thực vật, phân vùng thổ nhưỡng, trong khoa học tự nhiên hay phân vùng kinh tế nông nghiệp, phân vùng kinh tế công nghiệp,… trong khoa học xã hội) Trong phân vùng tổng hợp, ngay ở bậc thấp nhất, các thể tổng hợp hoàn chỉnh được chú ý xem xét ở tất cả các thành phần cấu thành (như phân vùng cảnh quan, phân vùng sinh thái, phân vùng văn hóa,…)

Các đặc tính của phân vùng đó là: Tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại);

Tính ước định ranh giới (có thể xác định hoặc không); và Tính chủ quan trong phân vùng (thể hiện mục đích của phân vùng)

1.2.2 Phân vùng môi trường và chức năng môi trường

Phân vùng môi trường

Phân vùng môi trường là sự phân chia lãnh thổ thành các vùng, tiểu vùng riêng biệt, dựa vào tính khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và các vấn đề môi trường đặc trưng

Vùng hay tiểu vùng môi trường là đơn vị phân chia lãnh thổ đặc trưng về tính đồng nhất về điều kiện tự nhiên, tính đặc thù trong phát triển kinh tế, khai thác

sử dụng tài nguyên và tập hợp các vấn đề môi trường, tai biến thiên nhiên nảy sinh Trong điều kiện đó đòi hỏi có giải pháp riêng để sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu, hạn chế tác động xấu của các vấn đề môi trường trong vùng

Tiêu chí xác định vùng/tiểu vùng môi trường gồm [9]:

- Tính đồng nhất tương đối về điều kiện tự nhiên

- Tính đặc trưng trong phát triển kinh tế, khai thác, sử dụng tài nguyên

- Tập hợp các vấn đề nổi cộm về môi trường và tai biến thiên nhiên

Trang 20

Chức năng môi trường

Mỗi vùng/tiểu vùng môi trường có chức năng riêng đặc thù cho nó Chức năng môi trường của vùng được hiểu là chức năng kinh tế - sinh thái - môi trường, được xác định dựa vào 4 yếu tố cơ bản: (i) Điều kiện tự nhiên; (ii) Điều kiện kinh tế

- xã hội; (iii) Các vấn đề môi trường và tai biến thiên nhiên; (iv) Vị trí địa lý của vùng/tiểu vùng trong mối tương tác tự nhiên, phát triển kinh tế và quản lý môi trường

Chức năng môi trường của vùng không phải là bất biến mà có thể thay đổi phụ thuộc sự thay đổi hoạt động kinh tế - xã hội Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế -

xã hội muốn đảm bảo được tính hiệu quả và lâu bền phải được hoạch định phù hợp với chức năng tự nhiên, giữ được tính cân bằng tự nhiên của mỗi vùng

1.2.3 Phân vùng chức năng môi trường và vùng chức năng môi trường

Để phát triển bền vững, khi thực hiện các hoạt động phát triển, cần phải xem xét, cân nhắc mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên với các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường Vì vậy, phân vùng chức năng môi trường chính là xây dựng cơ sở khoa học quan trọng để ngay từ đầu chúng

ta có thể đề xuất việc tổ chức sản xuất lãnh thổ một cách hợp lý theo một chiến lược chủ đạo là “tạo sự cân bằng”, có nghĩa là sự cân bằng giữa nguồn tài nguyên chúng

ta khai thác và nguồn chất thải sau khi sử dụng số tài nguyên này, đáp ứng một trong những nguyên tắc của phát triển bền vững là nhu cầu phát triển phải cân bằng với khả năng cung ứng của môi trường tự nhiên

Mục đích phân vùng chức năng môi trường là tạo dựng cơ sở khoa học để điều hòa sự phát triển của ba hệ thống môi trường - kinh tế - xã hội đang tồn tại và hoạt động trong vùng, đảm bảo sao cho sự phát triển của hệ thống kinh tế - xã hội phù hợp trong khả năng chịu tải của hệ thống tự nhiên, bảo vệ được môi trường,

đảm bảo phát triển bền vững

Phân vùng chức năng môi trường thực chất là giải bài toán về mối quan hệ

đa chiều giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và con người trên một không gian xác định, trong đó giữa các yếu tố luôn luôn có tác

Trang 21

động tương hỗ và sự phụ thuộc lẫn nhau Kết quả phân vùng là đưa ra một hệ thống

cơ cấu các vùng, tiểu vùng để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, trong hệ thống đó mỗi vùng và tiểu vùng dựa vào chức năng

và lợi thế so sánh của mình để định hướng phát triển, lập quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội và quy hoạch ngành, quy hoạch bảo vệ môi trường

Từ những giải thích trên, phân vùng chức năng môi trường có thể được hiểu

ngắn gọn như sau: Phân vùng chức năng môi trường là sự phân chia lãnh thổ thành các vùng/tiểu vùng môi trường được chức năng hóa dựa vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và vị trí địa lý

Vùng chức năng môi trường là vùng môi trường được chức năng hóa theo khía cạnh kinh tế - sinh thái - môi trường, tạo cơ sở cho quy hoạch bảo vệ môi trường và quản lý các hoạt động phát triển phù hợp với khả năng chịu tải của từng vùng

1.2.4 Mối quan hệ phân vùng môi trường và phân vùng chức năng môi trường

Những điều trình bày ở trên cho thấy: phân vùng môi trường phải được thực hiện trước, sản phẩm của phân vùng môi trường là cơ sở xác định các vùng chức năng, tức là thực hiện phân vùng chức năng môi trường Ngược lại, phân vùng chức năng môi trường đảm bảo tính ứng dụng của phân vùng môi trường trong quản lý sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

1.2.5 Nguyên tắc và nội dung phân vùng chức năng môi trường

(ii) Chấp nhận tính đồng nhất tương đối của vùng: Mỗi vùng được phân chia theo sự đồng nhất của nhiều tiêu chí, tuy nhiên đó chỉ là sự đồng nhất tương đối Vì

Trang 22

vậy, vấn đề quan trọng là xác định được các tiêu chí chính, mang tính trội đặc trưng

và tiêu chí phụ, mang tính bổ sung đối với từng cấp độ phân vùng

(iii) Phù hợp với chức năng tự nhiên - kinh tế - sinh thái của vùng: Mỗi tiểu vùng được xem là một hệ thống tự nhiên (hệ địa sinh thái) Chức năng của vùng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ theo chiều ngang giữa các hợp phần trong mỗi vùng Mỗi

hệ địa sinh thái (tiểu vùng) có một vài chức năng, ví dụ hệ sinh thái rừng đầu nguồn

có chức năng phòng hộ, vừa có chức năng tạo cảnh quan; hệ sinh thái rừng trên núi

đá vôi có chức năng phòng hộ, vừa có chức năng du lịch sinh thái, văn hóa

(iv) Phù hợp với phương thức quản lý: Phân vùng phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường là một công cụ để quy hoạch, quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái Ranh giới phân chia các tiểu vùng thường là ranh giới tự nhiên, trong trường hợp đặc biệt thì có thể khoanh vẽ theo ranh giới hành chính

1.2.5.2 Nội dung phân vùng chức năng môi trường

Đối với một địa phương cụ thể, để thực hiện phân vùng chức năng môi

trường cần thực hiện các nội dung chính sau:

1- Phân tích đặc điểm về tự nhiên của địa phương đó, xác định tính quy luật trong sự phân hóa các yếu tốt tự nhiên theo không gian lãnh thổ, dẫn đến sự hình

thành các vùng có những chức năng mang tính tự nhiên

2- Phân tích, đánh giá các hoạt động nhân sinh trong quá trình hoạt động sống, cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội, làm biến đổi những vùng có chức năng mang tính tự nhiên, dẫn đến sự hình thành các vùng có những chức năng kinh

Trang 23

6- Phân tích vị thế tự nhiên, vị thế kinh tế - xã hội của vị trí địa lý vùng, tiểu vùng môi trường

7- Chức năng hóa theo khía cạnh kinh tế - sinh thái - môi trường của vùng, tiểu vùng môi trường

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm và tiếp cận nghiên cứu

1.3.1.1 Các quan điểm

Quan điểm tổng hợp và tác động tương hỗ

Cơ sở của quan điểm này là các yếu tố tự nhiên trên một lãnh thổ luôn rất đa dạng và có tác động qua lại, liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống động lực

hở, tự điều chỉnh và có trạng thái cân bằng động Tác động của con người vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên có thể làm thay đổi hàng loạt yếu tố, mức độ ảnh hưởng nhiều khi vượt ra khỏi lãnh thổ nghiên cứu

Quan điểm tổng hợp được vận dụng để nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các yếu tố thành tạo lãnh thổ Đó không chỉ là các nhân tố tự nhiên (địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật) mà còn quan tâm đến các hoạt động của con người trong lãnh thổ đó Quan điểm hệ thống không chỉ nghiên cứu tổng hợp các yếu tố thành tạo mà còn xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố đó, đồng thời xác định vai trò nổi trội hay vai trò thứ yếu của các nhân tố thành tạo lãnh thổ Quan điểm này cho thấy các mối tương tác đó có sự thay đổi gì về lượng khi hình thành tính chất mới dưới tác động của hoạt động kinh tế - xã hội

Như vậy, việc sử dụng phối hợp quan điểm tổng hợp và tác động tương hỗ khi nghiên cứu lãnh thổ giúp đánh giá đầy đủ các nhân tố thành tạo lãnh thổ và mối quan hệ giữa các nhân tố đó cũng như mối quan hệ với các lãnh thổ lớn hơn

Quan điểm phát triển bền vững

Trong phân vùng chức năng môi trường, quan điểm này được xem là mục tiêu cần hướng đến khi thực hiện các bước nghiên cứu Trên quan điểm phát triển bền vững, đề tài xác định rõ mỗi khu vực trong lãnh thổ trong quá trình khai thác

Trang 24

KT-XH và môi trường lên hàng đầu Đây cũng là cơ sở quan trọng khi lựa chọn các phương án tổ chức lãnh thổ phù hợp để sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT

1.3.1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu

Tiếp cận hệ thống

Ngày nay, lý thuyết hệ thống được vận dụng phổ biến trong nghiên cứu tự nhiên cũng như kinh tế xã hội, nhất là đối với những hệ thống lớn gồm nhiều hợp phần không đồng nhất, giữa chúng có mối quan hệ chức năng tương hỗ phức tạp Cách tiếp cận hệ thống rất phù hợp cho việc nghiên cứu phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ, để phân tích sức chứa của hệ thống lãnh thổ, cơ cấu liên vùng, liên ngành;

để phân chia các khu chức năng cho mục đích phân vùng, quy hoạch nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường Dưới góc độ phân vùng phục vụ quy hoạch theo cách tiếp cận hệ thống thì trong nghiên cứu, thiết kế, phân vùng và quản lý theo vùng phải đảm bảo nguyên tắc là trong mỗi tiểu vùng có những nét đặc

trưng của toàn vùng, lợi ích cục bộ phải phục vụ lợi ích chung của toàn hệ thống

Tiếp cận sinh thái

Mỗi hệ sinh thái được đặc trưng bằng: tính đa dạng sinh học, tính toàn vẹn, tính cân bằng, tính thay đổi và tính phục hồi Con người là một phần của hệ sinh thái, là yếu tố quan trọng đảm bảo cân bằng của hệ sinh thái bằng cách điều chỉnh các điều kiện vật lý, hoá học của môi trường, thay đổi mối tương tác sinh học Mỗi khu vực đồng bằng, vùng miền, mỗi một lưu vực sông, v.v… được xem là một hệ sinh thái lớn, gồm nhiều tiểu vùng, mỗi tiểu vùng là một hệ sinh thái nhỏ hơn với các đặc trưng về yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội tác động qua lại bởi chu trình vật chất và năng lượng Về phần mình các tiểu vùng tuỳ theo mức độ yêu cầu nghiên cứu có thể chia chi tiết thành những hệ sinh thái nhỏ hơn nữa Như vậy, có thể xem một khu vực lãnh thổ bất kỳ nào đó là một hệ thống các hệ sinh thái Việc phân tích, đánh giá hệ thống này cho mục đích quy hoạch, quản lý khai thác sử dụng tài nguyên là nội dung nhiệm vụ của phân vùng Mục đích của việc quy hoạch, quản lý

và sử dụng lãnh thổ dựa trên hệ sinh thái là tìm cách tốt nhất, hợp lý nhất để con

Trang 25

người khi sử dụng hệ sinh thái có thể đạt được sự hài hoà giữa lợi ích thu được từ tài nguyên của hệ sinh thái với việc duy trì khả năng của hệ sinh thái tiếp tục cung

cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững lâu dài

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kế thừa tài liệu:học viên tiến hành thu thập, tổng quan, kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các kết quả về điều kiện

tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và hiện trạng tài nguyên, môi trường tỉnh Thái Bình và các nghiên cứu về phương pháp luận phân vùng chức năng môi trường trên thế giới và ở Việt Nam

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã tiến hành khảo sát thực tế để có cái nhìn tổng quan về đặc điểm, hiện trạng kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường của tỉnh Thái Bình nhằm phục

Trang 26

vụ cho việc phân tích, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, giải pháp để sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình

Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý: đây là phương pháp đặc biệt

quan trọng được học viên sử dụng để xử lý, phân tích dữ liệu không gian nhằm nghiên cứu đặc điểm tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Bình để từ đó đưa ra phương án phân vùng môi trường và định hướng rổ chức không gian bảo vệ môi trường Việc thành lập bản đồ phân vùng môi trường bắt đầu từ việc thu thập, phân loại đánh giá bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất sau đó cùng sự trợ giúp của phần mềm mapinfor, bản đồ phân vùng được hình thành

Phương pháp phân tích yếu tố và xác định chức năng ưu thế: cho phép xác

định các yếu tố thành phần nào đóng vai trò chủ yếu trong chức năng vùng và các yếu tố nào đóng vai trò quyết định đến biến động hay tính ổn định của các chức năng theo quan hệ nhân quả Phương pháp này cũng cho phép các quy hoạch quyết định các hành động phát triển khu vực

1.3.3 Quy trình các bước nghiên cứu

- Bước 1: Phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và vấn đề môi trường, tai biến thiên nhiên tỉnh Thái Bình; xác định các tiêu chí phân vùng và phân tỉnh Thái Bình thành các vùng, tiểu vùng môi trường

- Bước 2: Phân tích vị thế tự nhiên, vị thế kinh tế của vùng, tiểu vùng môi trường; xác định các chức năng kinh tế - sinh thái - môi trường của vùng, tiểu vùng môi trường;

- Bước 3: Hoạch định không gian bảo vệ môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trang 27

Phân vùng môi trường

Hình 1.1 Quy trình các bước nghiên cứu

Phân tích các yếu tố

tự nhiên

(1.1)

Phân tích các vấn đề môi trường – tai biến thiên nhiên (1.3)

Phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội (1.2)

Phân tích vị thế tự nhiên,

vị thế kinh tế của vùng/tiểu vùng (2.1)

Xác định các chức năng (kinh tế - sinh thái – môi trường) của vùng/tiểu

vùng (2.2)

Bước 1

Bước 2

Bước 3

Hoạch định các không gian bảo vệ môi trường

và đề xuất các giải pháp

quản lý (3.2) Xác định tiêu chí phân vùng môi trường

Trang 28

Chương 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG

MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý và vị thế kinh tế

Vị trí địa lý

Thái Bình là tỉnh đồng bằng

ven biển, nằm ở phía nam châu thổ

sông Hồng, có ba mặt giáp sông và

một mặt giáp biển, vị trí toạ độ 200

17’đến 20044’ vĩ độ Bắc và 106006’ đến

106039’ kinh độ Đông Từ tây sang

đông dài 54 km, từ bắc xuống nam dài

49 km Phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ;

phía tây giáp tỉnh Hà Nam; phía nam

giáp tỉnh Nam Định; phía bắc giáp

tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành

phố Hải Phòng

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí tỉnh Thái Bình trong lãnh thổ Việt Nam

Vị thế kinh tế

Tỉnh Thái Bình có vị trí quan trọng tại khu vực nam đồng bằng sông Hồng Đây là vùng chuyển tiếp giữa kinh tế biển và kinh tế lục địa với chiều dài tiếp giáp với biển 54 km; là vùng hạ lưu xung yếu của sông Hồng, huyết mạch giao thông đường thủy và hàng hải quan trọng; là vùng tiệm cận với các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng và khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ; là vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng; có điều kiện tự nhiên sinh thái rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa

Trang 29

dạng và toàn diện; đồng thời đây cũng là vùng đông dân (đứng thứ 9 trong cả nước), với mật độ phân bố dân cư lớn, ngoài ra cũng là nơi có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, xã hội, nhân văn và khoa học, công nghệ khác , đây là những nhân tố nội sinh thuận lợi cho phát triển KT-XH của tỉnh

(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)

Hình 2.2 Sơ đồ các đơn vị hành chính của tỉnh Thái Bình

2.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình của tỉnh Thái Bình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, thấp dần từ bắc xuống nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 1 - 2 m

Địa hình tỉnh Thái Bình được phân thành 2 khu vực:

- Khu vực phía bắc sông Trà Lý: đất được hình thành sớm bởi phù sa sông Thái Bình, độ chia cắt phức tạp, đây là vùng tương đối cao (trừ vùng nam huyện Đông Hưng)

- Khu vực phía nam sông Trà Lý: tương đối bằng phẳng, thấp hơn so với khu vực phía bắc Đây là vùng điển hình của phù sa sông Hồng

Trang 30

Nhìn chung, địa hình tỉnh Thái Bình tương đối bằng phẳng với đất phù sa được hình thành do phù sa của sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước

Khu vực ven biển được đặc trưng bởi các cồn cát cổ và khu vực ngập triều (hình 2.3)

(Nguồn: Doãn Đình Lâm, 2008)

Hình 2.3 Địa chất đệ tứ và địa hình đồng bằng sông Hồng

2.1.3 Khí hậu

Khí hậu tỉnh Thái Bình thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của biển Mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều từ tháng 5 đến cuối tháng 10; mùa đông lạnh, khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Các đặc trưng khí hậu cụ thể như sau:

Trang 31

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,4oC Tháng 1 là tháng lạnh nhất

có nhiệt độ trung bình 16,8oC, tháng 7 là tháng nóng nhất có nhiệt độ trung bình 29,20C

- Nắng: Số giờ nắng trung bình năm 1492 giờ Tháng 5, 6 là các tháng có số

giờ nắng cao nhất 181,6 184,3 giờ Tháng 2, 3 là các tháng có số giờ nắng thấp nhất 37,5 42,7

- Mưa: Thái Bình nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lại ở vùng ven biển

nên mưa nhiều và phân bố không đều theo không gian và thời gian Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 7, 8, 9 Số ngày mưa cả năm trung bình nhiều năm đạt 144 ngày

- Bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm 846,2 mm Tháng 11 là

tháng lượng bốc hơi lớn nhất 88,0 mm Tháng 2 là tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất 41,4 mm

- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm 87% Tháng 3, 4 là thời kỳ ẩm

ướt nhất, độ ẩm tương đối trung bình tháng đạt 91 92% Tháng 11, 12 là thời kỳ khô hanh nhất, độ ẩm tương đối trung bình tháng đạt 82 83%

Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Thái Bình Tháng

Trang 32

- Hệ thống sông Hồng đến Thái Bình chia làm 3 nhánh: sông Hồng, sông Luộc và sông Trà Lý:

• Sông Hồng chảy vào địa phận tỉnh Thái Bình bắt đầu từ cửa Luộc (Tân Lễ - Hưng Hà) nằm ở phía Tây nam của tỉnh đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa Thái Bình và các tỉnh Nam Định và Hà Nam Chiều dài sông Hồng chảy qua địa phận biên giới tỉnh là 90 km, bắt đầu từ cửa Luộc đến cửa Ba Lạt trước khi đổ ra biển Đông Bề rộng dòng sông là 500 - 1.000 m

• Sông Luộc đoạn tiếp giáp với phía bắc tỉnh Thái Bình nối sông Hồng và

sông Thái Bình từ cửa Luộc (xã Phú Sơn) đến ngã ba Chanh (Ninh Giang - Hải Dương) có chiều dài 53 km Bề rộng dòng sông trung bình là 100 - 300m

• Sông Trà Lý là phân lưu cấp I của sông Hồng, bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: khu bắc và khu nam Sông Trà Lý nằm hoàn toàn trong tỉnh Thái Bình có chiều dài 65 km Bề rộng dòng sông trung bình là 100-200m

- Hệ thống sông Thái Bình: sông Hoá nằm ở đoạn tiếp giáp giữa phía nam Hải Phòng với phía bắc tỉnh Thái Bình nối từ xã An Khê sau đó đổ ra cửa sông Thái Bình, có độ dài 35 km, bề rộng dòng sông trung bình là 100 - 250m

Ngoài ra tỉnh còn có hệ thống sông ngòi chằng chịt (sông Bình Cách, sông Diêm Hộ, sông Tiên Hưng, sông Hoài, sông Cô, sông Cầu Sa, sông Ơ, sông Kiến Giang, sông Lân, sông Xuân Trạch, sông Tân Hoá, sông Long Hầu, sông Bến Hán, sông Châu Giang, sông Chuồn, sông Cầu Kim, sông Ngái…) có tổng chiều dài trên

236 km Mật độ dòng chảy 0,153 km/km2

Nhìn chung hệ thống thuỷ văn của tỉnh Thái Bình thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, kể cả vào mùa khô và bồi đắp phù sa cho vùng đất

Trang 33

ngoài đê thuộc các hệ thống sông Với 5 cửa sông lớn đổ ra biển (cửa Trà Lý - sông Trà Lý, cửa Diêm Hộ - sông Diêm Hộ, cửa Thái Bình - sông Hoá, cửa Lân - sông Kiến Giang, cửa Ba Lạt - sông Hồng) tạo sự lắng đọng phù sa và bù đắp phù sa ven

biển là thế mạnh lấn biển của tỉnh Thái Bình Mặt hạn chế là hàng năm phải đầu tư sức người, sức của vào việc đắp đê, tu bổ đê sông, đê biển đồng thời phải đầu tư cho việc thau chua, rửa mặn đất nông nghiệp ở ven biển do bị ảnh hưởng của thuỷ triều

2.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

2.1.5.1 Tài nguyên đất

Trên địa bàn của tỉnh có 4 nhóm đất chính, bao gồm: nhóm đất cát; nhóm đất phù sa; nhóm đất phù sa nhiễm mặn; nhóm đất phèn Trong 4 nhóm đất chính được chia ra 20 loại đất, cụ thể:

phù sa không bồi tụ không Glây hoặc Glây

Đất phù sa không bồi tụ không Glây hoặc Glây yếu có tầng cát xen (Phc) 0,74 Đất phù sa không bồi tụ không Glây hoặc

Glây yếu phủ trên nền cát biển (Phc)

3,43

Trang 34

TT Nhóm đất

Đất phù sa không bồi tụ Glây hoặc Glây yếu

Đất phù sa không bồi tụ không Glây hoặc Glây yếu phủ trên nền phù sa của sông Thái Bình (Pht)

bình hoặc mạnh phủ trên nền phèn (Phgs) 11,46 Đất phù sa không được bồi tụ, Glây trung

bình hoặc mạnh của sông Thái Bình (Ptg)

1,02

Đất phù sa không được bồi tụ Glây trung bình hoặc mạnh phủ trên nền phèn (Ptgs) 0,06 Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf) 1,53

Trang 36

2.1.5.2 Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: mật độ sông là 5,72 km/km2 các dòng sông đều uốn khúc,

độ dốc nhỏ từ 0,02-0,05 m/km Toàn tỉnh có 4 sông lớn là sông Hoá, sông Luộc, sông Trà Lý và sông Hồng, cùng hệ thống các sông trục nội đồng và các ao, hồ có sức chứa hàng triệu m3

nước ngọt Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý, cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và phần lớn các nhà máy nước sinh hoạt của thành phố Thái Bình, thị trấn Vũ Thư, Tiền Hải, Diêm Điền lấy nước từ nguồn này Song điều đáng lo ngại là các nguồn nước này hiện nay đang bị ô nhiễm với nguy

cơ ngày càng tăng, do nước thải từ thượng nguồn bị ô nhiễm vì các hoạt động nông nghiệp, nước thải công nghiệp gây ra

Nguồn nước ngầm: Theo tài liệu địa chất, toàn bộ tỉnh nằm trong trầm tích bở

rời hệ thứ tư có nguồn nước biển hỗn hợp, nên khả năng tàng trữ nước ngầm rất tốt, đặc biệt là tầng chứa nước cát, cuội, sỏi ở độ sâu 90 - 120 m, nước áp lực nên mực nước ngầm cách mặt đất 0,5 - 10 m rất thuận lợi cho quá trình khai thác Theo bản đồ phân đới thuỷ địa hoá thẳng đứng và theo phương nằm ngang thì toàn bộ phía Nam sông Trà Lý bao gồm thành phố Thái Bình, huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và Thái Thuỵ nước ngầm ở đây có nguồn gốc chôn vùi thường bị nhiễm mặn không sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt, thường tại các vùng này nhân dân khoan giếng đến

độ sâu 10 - 12 m để tắm, giặt nhưng không dùng cho ăn uống Tại phía Bắc sông Trà

Lý bao gồm các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ và một phần huyện Thái Thuỵ nước ngầm ở đây không bị nhiễm mặn nên có thể sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất

Nguồn nước mưa: Lượng mưa hàng năm trên địa bàn vào khoảng 1.800 mm,

đây cũng là nguồn cung nước đáng kể cho sinh hoạt và sản xuất

2.1.5.3 Tài nguyên rừng ngập mặn

Tổng diện tích rừng ngập của hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy khoảng 7.210 ha, trong đó chủ yếu là rừng trồng và một phần là rừng tự nhiên Diện tích rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 500 ha rừng bần nguyên sinh tại cửa sông Thái Bình thuộc xã Thụy Trường huyện Thái Thụy

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và cải tạo môi trường sinh thái Các loài trang, bần chua ở rừng ngập mặn tỉnh Thái Bình có

Trang 37

tác dụng chắn sóng bảo vệ đê biển và vùng cửa sông Nhờ có rừng ngập mặn mà nhiều đoạn đê được bảo vệ trước các trận bão từ cấp 6 đến cấp 8 Ngoài tác dụng bảo vệ đê biển, rừng ngập mặn còn bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn Rễ cây ngập mặn chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng cửa sông ven biển Hằng năm vùng cửa sông Hồng tại

Ba Lạt tiến ra biển 60÷70 m Các loài cây tiên phong đến cư trú tại khu vực cồn Vành đã tạo môi trường cho những loài cây đến sau và đất bồi được nâng dần lên

Rừng ngập mặn còn có tác dụng hạn chế xâm nhập mặn Nhờ có rừng ngập mặn mà quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và trên phạm vi hẹp, vì khi triều cao, nước đã đã lan toả vào trong những khu rừng ngập mặn rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió

Ngoài ra, rừng ngập mặn còn có tác dụng đối với môi trường sinh thái Khu rừng ngập mặn ven biển Thái Bình hiện có 137 loài động vật đang sinh sống, trong

đó có 123 loài chim với nhiều loại chim quý hiếm Rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng và sinh sản của các loại hải sản, rừng ngập mặn ven biển cung cấp nguồn lợi thủy, hải sản phong phú cùng với 500 loại động thực vật thủy sinh và cỏ biển có giá trị kinh tế cao [14]

2.1.5.4 Tài nguyên biển

Bờ biển dài 54 km với hàng chục nghìn km2

lãnh hải, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng cá ước tính khoảng 26.000 tấn trong đó trữ lượng cá 24.000 - 25.000 tấn, tôm 600 - 1.000 tấn, mực 700 - 800 tấn Sản lượng đánh bắt nuôi trồng hải sản khoảng 18.415 tấn/năm Ngoài ra các khu vực cửa sông và ven bờ có khả năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cua, sò, vạng, ngao, vọp Bên cạnh đó, vùng ven biển có tiềm năng để khai thác phát triển nghề làm muối

Thái Bình có 5 cửa sông lớn và một số bãi cát mịn ở các cồn, các bãi cùng với

hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo như Cồn Vành, Cồn Đen có thể tổ chức loại hình tham quan nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tắm biển

2.1.5.5 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu địa chất, trên địa bàn tỉnh có các loại hình khoáng sản sau:

Trang 38

Khí đốt: phân bố tại huyện Tiền Hải, Thái Thụy với trữ lượng khoảng 60 tỷ

m3, hiện nay đã được khai thác phục vụ cho công nghiệp gốm, sứ, thuỷ tinh

Than nâu: nằm trong cấu trúc chung của dải than Khoái Châu - Tiền Hải, tại

Thái Bình phân bố trên địa bàn huyện Kiến Xương, Tiền Hải, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (trên 30 tỷ tấn) nhưng do phân bố ở độ sâu 600 - 1.000 m nên hiện nay đang nghiên cứu để khai thác

Sét gốm Hưng Hà: đây là điểm sét gốm duy nhất tại Thái bình có trữ lượng

cấp P2, có chất lượng trung bình, bảo đảm các chỉ tiêu để sản xuất gốm

Cát đen: trên sông Hồng, sông Trà Lý và các cồn cát ven biển, có khối lượng

lớn cát đen để xây dựng và lấp trũng

Nước khoáng: phân bố tại huyện Tiền Hải đang được khai thác ở độ sâu 450 m

có trữ lượng khoảng 12 triệu m3, đã khai thác từ năm 1992 Sản lượng khai thác hàng năm khoảng hơn 10 triệu lít Với sản lượng lớn và công nghệ sản xuất tiên tiến, chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu Gần đây vùng đất xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà đã thăm

dò và phát hiện mỏ nước nóng 570C ở độ sâu 50 m và nước nóng 720C ở độ sâu 178

m đang đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho người dân

2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số và lao động

Dân số tỉnh Thái Bình tính đến năm 2013 là 1.788.100 người trong đó dân số trung bình phân theo thành thị là 178.600 người; nông thôn là 1.607.400 người Mật

độ dân số trung bình là 1.155 người/km2

(trong đó mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình là 4.225 người/km2) Tỷ lệ sinh trung bình: 14,30‰; tỷ lệ chết: 5,90‰; mức sinh thay thế: 2,01 Trong những năm gần đây, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của tỉnh Thái Bình có xu hướng giảm nhẹ, duy trì ổn định ở mức 0,8%

Số người trong độ tuổi lao động: 1.052.200 người trong đó lao động nữ chiếm 60,23% Cơ cấu sử dụng lao động có chiều hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp xây dựng và giảm tương đối trong khu vực nông nghiệp Năm

2015, cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế (nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ) tương ứng là 48% - 32% - 20%

Trang 39

Bảng 2.3 Dân số tỉnh Thái Bình qua các năm

(Nguồn: Cục thống kê Thái Bình)

2.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội

2.2.2.1 Nông nghiệp

Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2015 (giá so sánh) ước đạt 23.930,7

tỷ đồng, gấp 1,2 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 3,9%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 3,06%/năm; thủy sản tăng 9,07%/năm Cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản Đến năm 2015, tỷ trọng trồng trọt chiếm 53,2% giá trị ngành nông nghiệp, giảm 5,7% so với năm 2010; chăn nuôi chiếm 42,3%, tăng 5,5%; tỷ trọng thủy sản chiếm 16,1% tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản, tăng 3,5% so với năm 2010

Sản xuất cây màu đạt kết quả khá tốt Năng suất nhiều loại cây màu đạt cao hơn hoặc tăng tương đương năm trước Phong trào xây dựng cánh đồng mẫu tiếp

Trang 40

tục khẳng định hiệu quả và phát triển nhanh, góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa của tỉnh và tăng thu nhập cho nông dân

Chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng khá, bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 5,98%/năm và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong ngành nông nghiệp Phương thức chăn nuôi phát triển mạnh theo hướng trang trại quy mô lớn, gia trại áp dụng quy trình, công nghệ nuôi hiện đại, chăn nuôi an toàn sinh học theo quy trình GAHP, dần thay thế chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng; hình thành các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ và chế biến Toàn tỉnh hiện có trên 700 trang trại, 1.600 gia trại, trong đó có 69 trang trại quy mô lớn

Sản xuất thủy sản phát triển khá cả về nuôi trồng, khai thác và dịch vụ Diện tích nuôi thủy, hải sản được mở rộng, năm 2015 đạt 15.352 ha, tăng 1.926 ha so với năm 2010; đặc biệt là nuôi ngao vùng bãi triều ven biển phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao; nuôi thủy sản nước ngọt tăng diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh; hình thành và phát triển mô hình nuôi cá lồng trên sông đạt kết quả khá tốt; hoàn thành xây dựng 16 vùng nuôi thủy sản nước ngọt tập trung, diện tích trên

618 ha và 9 vùng nuôi thủy sản nước lợ, diện tích trên 711 ha Năng lực khai thác thủy sản tăng nhanh cả về số lượng và công suất theo hướng tăng số tàu khai thác

xa bờ, giảm tàu khai thác ven bờ nhằm bảo vệ tốt hơn nguồn lợi thủy sản và cân bằng sinh thái biển

Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, hiệu quả trong toàn tỉnh Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn có bước chuyển biển rõ rệt, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; kết cấu hạ tầng được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới Các địa phương trong tỉnh đã xây dựng

và nâng cấp 4.714 km đường giao thông trục chính nội đồng, đường giao thông nông thôn; 28 trạm bơm, 248 cống đập, 20 trạm cấp nước sạch; 94 trường trung học

cơ sở, tiểu học và mầm non; 27 nhà văn hóa xã, 867 nhà văn hóa thôn, 171 trạm y

tế, 44 chợ; 99 xã hoàn thành nâng cấp lưới điện nông thôn Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 165 xã (62,7%) đạt chuẩn nông thôn mới Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 1,9 triệu đồng/khẩu/tháng, gấp 1,66 lần năm 2010

Ngày đăng: 27/08/2017, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w