1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tiểu luận quản lý nhà nước về nông thôn , nông thôn gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

60 618 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 388,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một bài tiểu luận về môn quản lý nhà nước về nông thôn,với đề tài chính là kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay . Một cái nhìn tổng thể về tình hình kinh tế nông thôn ở nước ta gắn với sự chuyển giao từ nền kinh tế nông thôn lạc hậu sang nền kinh tế nông thôn phát triển có nhiều thành tựu mới

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

MÔN HỌC: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG THÔN

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

.

Tp.HCM, ngày … tháng 05 năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

NỘI DUNG 8

PHẦN 1: 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN GẮN VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA 8

1.1 Khái niệm có liên quan 8

1.1.1 Nông Thôn, Kinh tế nông thôn: 8

1.1.2 Công nghiệp hóa gắn với nông thôn 9

1.1.3 Đô thị hóa gắn với nông thôn 9

1.1.4: Quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa 10

1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa 10

1.3 Nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa 16

1.3.1 Quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn 16

1.3.2 Quản lý nhà nước về đặc điểm dân cư nông thôn 28

1.3.3 Quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng nông thôn 30

PHẦN 2: 36

THỰC TRẠNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN GẮN VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .36

2.1: Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh 36

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh 36

Vị trí địa lý 36

2.1.2 Tác động của đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tác động đến quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.2 Tình hình về quá trình quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh 40

2.2.1 Tổng quan về tình hình chung hiện nay QLNN đối với Kinh tế Nông thôn gắn với quá trình CNH-ĐTH: 40

2.2.2 Nhận xét những mặt đạt được và hạn chế bất cập : 42

Trang 6

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn và đô thị hóa TP Hồ Chí Minh : 47 PHẦN 3: 55 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN GẮN VỚI QUÁ

TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55 III.KẾT LUẬN 59

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung, đô thị hóa là một quátrình tất yếu khách quan Đô thị hóa trong điều kiện tiền công nghiệp hóa ít gắn liền vớicác yếu tố nội tại làm động lực cho kinh tế đô thị đã làm tăng thêm khó khăn cho các đôthị như: Một bộ phận lao động trong nông nghiệp mất đất sản xuất, trở nên thiếu công ănviệc làm; dân cư từ nông thôn chuyển về đô thị để làm việc, làm gia tăng nhu cầu vềlương thực, thực phẩm; ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước Đây là các yếu tố đedọa sự phát triển nhanh và bền vững của đô thị hiện nay Trong rất nhiều các giải pháp thìphát triển nông nghiệp đô thị (NNĐT) được xem là hướng đi tối ưu để giải quyết các bấtcập liên quan trong tiến trình đô thị hóa, hướng tới xây dựng đô thị sinh thái bền vữngcho tương lai

Trang 8

NỘI DUNG

PHẦN 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN GẮN VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Khái niệm có liên quan

1.1.1 Nông Thôn, Kinh t nông thôn:ế nông thôn:

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế,

chính trị, văn hoá, xã hội Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền vớiđịa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế

về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có những đặc điểmriêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn

Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh

tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ trong đónông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt kinh tế - xãhội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế

tập thể, kinh tế cá thể Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các

vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả

Nông thôn mới

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất , văn hóa, tinh thần của người dân khôngngừng được nâng cao giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, nông dân đượcđào tạo tiếp thu câc tiến bộ KT tiên tiến có bản lĩnh vững vàng , đóng vai trò làm chủnông thôn mới

Nông thôn mới có Kinh tế phát triển toàn diện , bền vững cơ sở hạ tầng được xâyđựng đồng bộ hiện đại, PT theo QH, gắn với kết hợp lý giữu Nông nghiệp, với côngnghiệp, dv và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinhthái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao đảm bảo giữ vững anninh chính trị và trật tự xã hội

Nghị quyết 26/TQ – TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X

đã đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới phát triển kinh tế xã hội, nâng

Trang 9

cao đời sống của nhân dân, phát triển nông nghiệp và nông thôn nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân ở nông thôn Nghị quyết đã xác định rõ mực tiêu: “ Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

1.1.2 Công nghi p hóa g n v i nông thônệp hóa gắn với nông thôn ắn với nông thôn ới nông thôn

Khái niệm công nghiệp hóa gắn với nông thôn

Là quá trình chuyển dịch CCKT NT theo hướng tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm và laođộng các ngành công nghiệp dịch vụ, giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nôngnghiệp, QH PTNT, XD kết cấu hạ tầng KT- XH và bảo vệ môi trường sinh thái, TClại SX và XD QHSX phù hợp , xây dựng NT dân chủ, công bằng văn minh, khôngngừng nâng cao đời sống vật chất của nhân dân

CNH = ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ ( TLH, CGH, HHH,SHH) + phươngpháp, hình thức TC SX kiểu công nghiệp

HHD = cập nhật nâng cao trình độ KHKTCN+ TCQHSX( so với mặt bằng thế giới)

1.1.3 Đô th hóa g n v i nông thônị hóa gắn với nông thôn ắn với nông thôn ới nông thôn

Trên góc độ chung nhất, Đô thị hóa có thể được hiểu là quá trình PT về dân số ĐT, sốlượng và quy mô của các đô thị cũng như về điều kiện sống ĐT hoặc theo kiểu ĐT

Đô thị hóa gắn với nông thôn nói chung là quá trình ảnh hưởng tác động của quá trình

đô thị hóa tới sự phát triển và tồn tại của nông thôn ở thành phố Hồ chí minh hiệnnay có thể thấy quá trình đô thị hóa diễn ra rất nhanh kiến cho đất các vùng ven trướckia là đất nông nghiệp thì giờ đang dần nhường chỗ cho các khu công nghiệp, dự ánnhà ở các khu phước hợp đô thị, cụm khu dân cư

Trang 10

1.1.4: Qu n lý nhà nản lý nhà n ưới nông thôn ề kinh tế nông tc v kinh t nông tế nông thôn: hôn g n v i quá trình công nghi p hóa và ắn với nông thôn ới nông thôn ệp hóa gắn với nông thôn

đô th hóaị hóa gắn với nông thôn

Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn

Là hoạt động thực hiện quyền lực NN nhằm thực hiện các chức năng của NN trên cơ sởcác quy luật KT và PT XH nhằm sử dụng các HQ nhất các tiềm năng các cơ hội để đạtđược mục đích ổn định và PT NT

Quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quả trình công nghiệp hóa và đô thị hóahiểu chung là thực hiện quản lý nhà nước về nông thôn theo định hướng phát triển côngnghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn đã diễn ra rất nhanh hiện nay ở các vực nôngthôn( nông thôn mới) thuộc các tỉnh thành trong cả nước Mà cụ thể hơn trong đề tài đềcập là quản lý nhà nước về nông thôn gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay ởthành phố Hồ Chí Minh

1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa

Qua hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nóiriêng đã đạt được những thành tựu to lớn Sự phát triển và biến đổi của nông nghiệp vànông thôn hiện nay thể hiện sự nỗ lực to lớn của Nhà nước ta trong lĩnh vực quản lý vùng

và ngành Nói đến quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chính là nói đến tínhhiệu lực, hiệu quả sự tác động của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế - x ã hội củakhu vực nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Suốt quá trình thực hiện đổi mới, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các nghị định,quy định, văn bản pháp luật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năngquản lý của mình Nhờ đó, nền nông nghiệp nước ta đã luôn đạt được sự tăng trưởng, xãhội nông thôn không ngừng biến đổi cả về diện mạo cũng như chất lượng sống của ngườinông dân Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần đượcgiải quyết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản

Trang 11

lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn Một trong những vấn đề đó là Nhà nước tácđộng đến nông nghiệp, nông thôn như thế nào và theo cách nào để thúc đẩy khu vực nàyphát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Làm thế nào để nâng cao hiệu lựcquản lý nhà nước trong nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay?

Để giải quyết những vấn đề trên, trước hết chúng ta hãy xuất phát từ chính đặc thù củasản xuất nông nghiệp hiện nay ở nước ta Như đã biết, ngành nông nghiệp nước ta so vớicác ngành sản xuất khác có khá nhiều đặc thù Đây là ngành sản xuất gắn liền với điềukiện tự nhiên và sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên Vì thế, kết quả của nó phụ thuộcrất nhiều vào các yếu tố tự nhiên, như chất lượng đất canh tác, nguồn nước tưới, điều kiệnkhí hậu và hàng loạt các điều kiện sinh thái khác Về địa bàn, sản xuất nông nghiệp phântán rộng hầu như khắp cả nước làm cho sự can thiệp của Nhà nước gặp nhiều trở ngạitrong việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn cũng như sự đầu tư kỹ thuật mới Về trình độsản xuất, trình độ tổ chức, trình độ trang bị kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng có sự chênhlệch giữa các vùng sản xuất và chênh lệch so với cả các ngành sản xuất khác, đặc biệt làthấp kém hơn rất nhiều so với ngành công nghiệp

Tính đặc thù của ngành sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở chính phương thức sản xuấtcủa nó Đó là sự đa dạng của hình thức sở hữu và thành phần kinh tế Trong quan hệ sảnxuất của ngành nông nghiệp cùng đồng thời tồn tại cả thành phần kinh tế tư nhân (các tổchức trang trại) lẫn kinh tế hợp tác xã Nét đặc thù này được thể hiện cả ở đối tượng sảnxuất lẫn lực lượng lao động, cả ở quy trình sản xuất lẫn chủ thể sản xuất Chính nhữngnét đặc thù đó đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quản lý nhà nước trong nôngnghiệp, nông thôn; đòi hỏi sự tác động của Nhà nước đến phát triển nông nghiệp, nôngthôn phải vừa cụ thể, đồng bộ, vừa đạt hiệu quả trước mắt, lại mang tính phát triển lâudài Tính hiệu quả của quản lý nhà nước trong quản lý nền kinh tế ở nước ta nói chungtrước hết và quan trọng hơn là phải thể hiện được qua sự phát triển của nông nghiệp vànông thôn

Trang 12

Như đã biết, hiện nay, ở nước ta, lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% tổng số lao động

cả nước và Việt Nam hiện vẫn là một nước nông nghiệp Vì thế, để thể hiện được vai tròcủa mình trong nông nghiệp, nông thôn thì các chính sách và chương trình phát triển kinh

tế của Nhà nước phải hướng đến tạo sự biến chuyển mạnh mẽ trong nông nghiệp, nôngthôn Đến lượt nó, sự thành công trong phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩymạnh mẽ sự đổi mới và phát triển của đô thị và các khu công nghiệp trong cả nước Mộtnước mà nông dân chiếm 73,5% dân số cả nước như Việt Nam thì vấn đề phát triển nôngnghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng yếu của Nhà nước trong cả quãng đường phát triểnsau này

Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của toàn bộ sự nghiệpđổi mới ở nước ta hiện nay Tuy giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng không lớntrong GDP (khoảng 25%), nhưng lương thực thực phẩm do nông nghiệp đem lại giữ vị trítrọng yếu trong sự phát triển xã hội Nó liên quan chặt chẽ đến vấn đề dân sinh và pháttriển ổn định xã hội

Nếu giải quyết tốt vấn đề lương thực, trước hết sẽ đảm bảo được an ninh lương thực quốc

gia Bởi vì:

Thứ nhất, lương thực là thứ đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người Nếu vấn

đề này bị phụ thuộc vào nước ngoài (nhập khẩu lương thực) sẽ không đảm bảo được tínhlâu dài của sự phát triển Giả định rằng, khi chiến tranh xảy ra hoặc bị phong toả kinh tế,thì dù có tiền chúng ta cũng không mua được lương thực, thực phẩm từ nước ngoài

Hai là, vấn đề lương thực được giải quyết tốt sẽ đảm bảo cho sự phát triển ổn định của xã

hội Chỉ khi người dân không phải lo cái ăn, cái mặc hàng ngày thì lòng người mới ổnđịnh, và khi cuộc sống của đại đa số nông dân ổn định thì xã hội mới ổn định Hơn nữa,mục tiêu phát triển của xã hội ta là vì con người và cho con người, nên sự ổn định lòngngười là điều tối cần thiết đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay

Ba là, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền

vững của cả nền kinh tế - xã hội và do vậy, mục tiêu dân giàu nước mạnh mới trở thành

Trang 13

hiện thực Dân giàu trước hết là đời sống của người nông dân phải được sung túc Vấn đềnày, trên thực tế, đang trở thành vấn đề nổi cộm trong quyết sách phát triển kinh tế - xãhội của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Có một tình hình là, dường như càng phát triển thìkhoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn ngày càng nớirộng Phải chăng muốn để xã hội phát triển thì trước mắt chúng ta cần phải hy sinh quyềnlợi của một bộ phận hay một nhóm người nào đó, do chúng ta không thể tập trung đầu tưcho sự phát triển theo cách dàn trải, mỗi nơi một ít, ở đâu cũng có và ai cũng có phần.Nếu nghĩ như vậy thoáng nhìn tưởng là hợp lý, nhưng thực ra đi ngược lại mục tiêu chủnghĩa xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn Mỗi đường lối, chính sách đúng phải thể hiệnđược lợi ích và nguyện vọng của đa số người dân, mà ở đây là người nông dân Vì vậy,mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải chú ý trước hết đến lợi ích củangười nông dân Đó phải là chính sách phát triển có trọng điểm và mang tính toàn diện,dài lâu Toàn bộ điều này muốn nói lên rằng, nông nghiệp, nông thôn luôn giữ vị trí trọngyếu, nền tảng trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta

Sự tác động của Nhà nước ta đối với nông nghiệp, nông thôn từ khi tiến hành đổi mới đếnnay ngày càng có hiệu quả rõ rệt Thông qua nhiều chủ trương, chính sách phát triển nôngnghiệp, nông thôn, Nhà nước ta đã thể hiện được vai trò quản lý nông nghiệp của mìnhtrên cả ba phương diện: định hướng sự phát triển, phân bổ nguồn lực cho sự phát triểnkinh tế - xã hội trong nông nghiệp và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp Nhờ sự tácđộng này mà có bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, nông thôn Đó là sựchuyển biến cả trong mô hình sản xuất kinh doanh lẫn sự đa dạng của các hình thức tiêuthụ sản phẩm, cả trong đời sống vật chất lẫn trong đời sống tinh thần của người nông dân,

cả trong nguồn thu nhập lẫn sự đa dạng hóa các nguồn thu nhập Nhìn một cách kháiquát, nông nghiệp nước ta đang chuyển dần sang nền sản xuất theo cơ chế thị trường Sảnphẩm nông nghiệp ngày càng trở thành hàng hoá nhiều hơn trong tổng sản phẩm nôngnghiệp Đời sống văn hoá tinh thần trong nông thôn ngày càng xích lại dần với thành thị

và với toàn xã hội Văn minh, văn hóa nông thôn đang dần hình thành theo hướng hiệnđại hoá Thực ra thì sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta từ khi đổi mới đến nay đạtđược những thành tựu to lớn là do sự tác động của “hai bàn tay quản lý”: Nhà nước và cơ

Trang 14

chế thị trường Sự chuyển biến của nông nghiệp từ chỗ dựa trên sở hữu tập thể về ruộngđất đến giao đất, giao ruộng cho nông dân, hình thành hàng loạt các trang trại sản xuấtnông nghiệp đã thể hiện sự kết hợp một cách hợp lý giữa vai trò của thị trường và củaNhà nước, giữa cơ chế tự điều chỉnh của “bàn tay vô hình” với cơ chế quản lý của Nhànước Nhưng nếu nhìn vào suốt quá trình đổi mới ta sẽ thấy, trong giai đoạn đầu, quản lýnhà nước giữ vai trò chủ yếu và mang tính quyết định Nhà nước vừa điều hành sự pháttriển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn, vừa sử dụng chính cơ chế thị trường(hình thành từng bước theo sự hiện diện của nền kinh tế thị trường ở nước ta) thúc đẩy sựphát triển của ngành nông nghiệp và xã hội nông thôn Ở giai đoạn đầu, sự can thiệp củaNhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả ở tầm vĩ mô và vi mô

Ở tầm vi mô, Nhà nước gần như là người quản lý trực tiếp sự phát triển ngành nôngnghiệp nhằm chủ động tạo ra những thành phần, yếu tố của nền kinh tế thị trường trongnông nghiệp Lúc này, vai trò quản lý của Nhà nước ở tầm vi mô chiếm vị trí quan trọngtrong tương quan với quản lý ở tầm vĩ mô Sự can thiệp sâu vào cơ cấu cũng như tốc độphát triển của nông nghiệp là cực kỳ cần thiết ở giai đoạn này Nhưng khi nền kinh tế thịtrường đã dần hình thành thì vai trò quản lý của Nhà nước ở tầm vi mô sẽ ngày cànggiảm, vai trò quản lý ở tầm vĩ mô sẽ ngày càng tăng lên trong tương quan chung Đếngiai đoạn hiện nay thì vai trò quản lý của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chủyếu là ở tầm vĩ mô Chính việc chuyển biến này đã tạo ra sự chủ động trong kinh doanh,trong phát triển và trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề cũng như lực lượng laođộng trong nông nghiệp, nông thôn Vì thế, hiệu quả và tính hiệu lực của quản lý nhànước ngày càng cao hơn trong nông nghiệp, nông thôn Từ đó, ta thấy, sự tác động củaNhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chuyển từ tầm vi mô sang tầm vĩ mô vừa mangtính lịch sử, vừa là lôgic phát triển tất yếu của sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ khi đổimới đến nay Đó cũng chính là quá trình xoá bỏ dần và tiến đến xoá bỏ triệt để mô hìnhquản lý kế hoạch hoá, quan liêu bao cấp đã từng tồn tại khá lâu ở nước ta; chuyển sangthực hiện mô hình quản lý theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Với môhình này, người nông dân đã có sự chủ động trong quyết định sản xuất: trồng cây gì, nuôi

Trang 15

con gì sao cho có lợi nhất và phù hợp với khả năng của mình hơn Nhờ sự chủ động này

mà nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đến nay đã có sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấungành nghề và lực lượng lao động theo hướng hợp lý hơn, hiệu quả hơn

Ở tầm vĩ mô, quản lý nhà nước mang nội dung chủ yếu là định hướng phát triển và phêduyệt những quy hoạch tổng thể, những dự án lớn mang tính liên ngành, liên vùng và ởtầm quốc gia Còn công việc kinh doanh, những quy hoạch chi tiết cho từng vùng, từngđịa phương sẽ giao cho các cấp chính quyền địa phương chủ động giải quyết Tuy nhiên,

do nét đặc thù của ngành sản xuất nông nghiệp mà sự kết hợp giữa cơ chế tự điều chỉnhcủa thị trường với cơ chế quản lý nhà nước cũng mang nét riêng biệt Tính riêng biệt ởđây được thể hiện ở chỗ: Nhà nước không chỉ can thiệp vào những chỗ, những nơi mà cơchế thị trường không đụng đến được, mà còn là sự can thiệp vừa mang tính kinh tế, vừamang tính xã hội Sự can thiệp về kinh tế được thể hiện khá rõ ràng khi Nhà nước giúpngười nông dân tiêu thụ sản phẩm của mình theo quy luật cung cầu (xây dựng các khuchế biến nông, lâm sản, vận chuyển và xuất khẩu hàng hoá, ), còn can thiệp mang tính

xã hội thể hiện ở chính sách xoá đói giảm nghèo và trợ giúp khi nông nghiệp mất mùa dothiên tai, bão lũ,

Có thể thấy, hiện nay vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thônngày càng tăng Trên thực tế, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, sự tác động củaNhà nước đến nông nghiệp, nông thôn luôn được thể hiện trên cả hai phương diện: thúcđẩy nông nghiệp phát triển và đổi mới xã hội nông thôn Để thúc đẩy nông nghiệp pháttriển, Nhà nước ta dựa trên cơ sở pháp luật chung đã đưa ra các quyết định, nghị định, chỉthị nhằm quy hoạch, đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển của nông nghiệp, nôngthôn Để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn, Nhà nước luôn có nhữngchính sách nhằm đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá, hệ thống giáo dục, duytrì và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống gắn liền với đời sống của người nôngdân Trong những chính sách xã hội đối với nông nghiệp, nông thôn thì chính sách xoáđói giảm nghèo có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Chính sách này vừa tạo điều kiện làm giảmkhoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, lại vừa thể hiện tính ưu việt của

Trang 16

chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng Nhà nước tác động đến nông nghiệp, nôngthôn bằng những công cụ quản lý chủ yếu, như hệ thống pháp luật, các nghị định và cácvăn bản dưới luật, các chính sách kinh tế và chính sách xã hội Sự tác động này đã tạonên những thành quả to lớn, làm thay đổi một cách căn bản sản xuất nông nghiệp và bộmặt xã hội nông thôn theo chiều hướng tích cực Chỉ trong ba năm thực hiện Nghị quyết

5 (khoá IX) từ năm 2002 - 2005, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những thành tựuquan trọng: “an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷsản tăng trưởng liên tục và mức cao (5,4%/năm vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX); cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, chuyển mạnh sangsản xuất hàng hoá, từng bước gắn sản xuất với chế biến và thị trường; khoa học côngnghệ được tăng cường và đã phát huy tác dụng; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịchtheo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ gắn với chuyển dịch cơ cấu laođộng và tăng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn; quan hệ sản xuất tiếp tục đổi mớitích cực; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn được cải thiện; xoá đói, giảm nghèođạt được thành tựu lớn (tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân 3%/năm); công tác y tế,giáo dục, văn hoá ở nông thôn được quan tâm hơn, đời sống nông dân ở nhiều vùng đượccải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi” Có thể thấy, đây là đánh giá khá đầy đủ

và toàn diện sự thay đổi của nông nghiệp, nông thôn trong những năm gần đây

1.3 Nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế nông thôn gắn với quá trình công

nghiệp hóa và đô thị hóa

1.3.1 Qu n lý nhà n ản lý nhà n ước về kinh tế nông thôn c v kinh t nông thôn ề kinh tế nông thôn ế nông thôn

1.3.1.1Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Một trong ba nội dung cơ bản của công nghiệp hoá

là xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lý Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh

tế, vì vậy, xây dựng cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn theo yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá là tất yếu khách quan

Trang 17

Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu của nền kinh tế xét về phương diện kinh tế - kỹthuật Cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn có những đặc điểm riêng, do tính chất của kinh

tế nông thôn quy định Những đặc điểm đó là: nông nghiệp chiếm tỷ trọng tuyệt đối; tiểu,thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ; nông nghiệp mang tính độc canh, manh mún,phân tán; quan hệ thị trường ở trình độ rất thấp

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

có nghĩa là cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn phải thay đổi theo hướng:

- Giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng tiểu, thủ công nghiệp,công nghiệp chế biến và dịch vụ Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên,năng suất lao động và hiệu quả rất thấp Trong khi đó, phát triển tiểu, thủ công nghiệp,công nghiệp chế biến và dịch vụ vừa có ý nghĩa to lớn trong việc tạo việc làm cho ngườilao động, vừa làm tăng hiệu quả cho kinh tế nông thôn, nâng cao mức thu nhập, mứcsống cho cư dân nông thôn Phát triển các làng nghề truyền thống góp phần đáng kể khaithác các tiềm năng kinh tế của các địa phương và phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đầu tư xây dựng côngnghiệp nông thôn, phát triển các ngành dịch vụ cũng xuất phát từ yêu cầu của xu thếchuyển dịch này Như vậy, giảm dần tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng củatiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn trực tiếp góp phần phát triển kinh tế nôngthôn, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh" ở nông thôn

- Phá thế độc canh trong nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệghiệp củadân cư, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguyên liệu của công nghiệp nhẹ và nhucầu xuất khẩu Sự hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn cho phép ứng dụngnhững thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sm nông nghiệpcủa dân cưng cạnh tranh của nông phẩm.Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thônphải đặt trong điều kiện cơ chế thị trường Trong cơ chế này, mọi hoạt động kinh tế đềuchịu sự chi phối của các quy luật thị trường

Trang 18

Do đó, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn không được chủ quanduy ý chí, mà phải hết sức chú ý những nhân tố khách quan như: khả năng về vốn, về tổchức quản lý, về công nghệ và đặc biệt là điều kiện thị trường.

Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp, nôngthônCông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải trang bị kỹ thuật cho các ngànhcủa nền kinh tế theo hướng hiện đại Do đó, phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiệncông nghiệp hoá, hiện đại hoá có nội dung rất quan trọng là phải đẩy mạnh ứng dụngtiến

bộ khoa học - công nghệ Việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nôngnghiệp thể hiện tập trung ở những lĩnh vực sau:- Cơ giới hoá Các hoạt động sản xuất ởnông thôn chủ yếu dựa vào lao động thủ công, kỹ thuật lạc hậu, do đó, năng suất lao động

và chất lượng sản phẩm rất thấp Cơ giới hoá, trước hết là cơ giới hoá sản xuất nôngnghiệp vừa giảm nhẹ lao động của con người, vừa nhằm nâng cao năng suất và hiệuquả Tuy nhiên, cơ giới hoá phải đặc biệt chú ý những đặc điểm riêng của sản xuất nôngnghiệp, nông thôn.Cơ giới hoá nông nghiệp phải tập trung vào những khâu lao động nặngnhọc (chẳng hạn như làm đất) và những khâu trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh (chế biến).- Thuỷ lợi hoá Sản xuất nông nghiệpphụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, nắng lắm,mưa nhiều, do đó, hạn hán và úng lụt thường xuyên xảy ra Để hạn chế tác động tiêu cựccủa thiên nhiên, việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi để chủ động tưới tiêu có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng.- Điện khí hoá Điện khí hoá vừa nâng cao khả năng của con người trongviệc chế ngự tự nhiên, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, vừa tạo điều kiệncho cư dân nông thôn tiếp cận với văn minh nhân loại, phát triển văn hoá - xã hội ở nôngthôn Do đó, điện khí hoá là điều kiện không thể thiếu để phát triển nông thôn.- Pháttriển công nghệ sinh học Đây là lĩnh vực khoa học và công nghệ mới bao gồm nhiềungành khoa học và kỹ thuật mà trước hết là vi sinh học, di truyền học, hoá sinh học Công nghệ sinh học là "mọi kỹ thuật sử dụng những cơ chế hay quá trình sống để tạo ra

hay thay đổi sản phẩm, để tăng chất lượng cây hay con, hay phát triển những vi sinh

vật cho những ứng dụng đặc biệt"1 Trong những năm gần đây, công nghệ sinh học đã

Trang 19

đạt được những thành tựu to lớn: những nông phẩm biến đổi gien có năng suất và chấtlượng rất cao; lai tạo được những cây trồng có khả năng kháng virút, sâu bệnh, tự tổnghợp nitơ tự nhiên thành phân đạm,

(Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, 1996, tr 39.)

Sinh sản vô tính Những thành tựu của công nghệ sinh học đã đem lại những lợiích to lớn, không chỉ tạo ra những sản phẩm mới, làm cho sản xuất có năng suất cao hơn

và chất lượng tốt hơn, mà còn tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường Phát triển côngnghệ sinh học là đòi hỏi tất yếu của một nền nông nghiệp hiện đại.Đẩy mạnh ứng dụngtiến bộ khoa học - công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn chịu sự tác động mạnh mẽ củacác nhân tố thị trường: giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra; vốn, thông tin Do vậy, rất cần

có sự hỗ trợ của Nhà nước.3 Quy hoạch phát triển nông thôn và xây dựng nông thônmới- Để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,cần có quy hoạch đồng bộ, hình thành các khu dân cư đô thị hóa, xây dựng các xã, làng,

thôn, ấp, bản, gắn chặt phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường.- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã

hội ở nông thôn bao gồm: hệ thống đường sá, hệ thống thông tin, hệ thống thủy lợi, trạmbiến thế, đường dây, các trạm giống; trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, câu lạc bộ v.v

Đó là những điều kiện cần thiết để xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn, xâydựng cuộc sống ấm no, văn minh, môi trường lành mạnh ở nông thôn.-Xây dựng quan hệsản xuất phù hợp.Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là cơ

sở hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn.Xây dựng quan hệ sảnxuất mới trong nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất cũng như đặc điểm riêng của nông nghiệp, nông thôn ở từng vùngkhác nhau Vì vậy, xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn khôngthể nóng vội, duy ý chí, cũng không thể rập khuôn máy móc.Do đặc điểm của nôngnghiệp, nông thôn nước ta hiện nay trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của khu vựcnày có mặt chủ yếu của các thành phần sau:- Kinh tế tư nhân mà chủ yếu là kinh tế cá

Trang 20

thể, tiểu chủ và hoạt động phổ biến dưới hình thức kinh tế hộ gia đình.Đó là hình thứckinh tế phổ biến ở nông thôn trong các làng nghề, trong các hoạt động dịch vụ và trongsản xuất nông nghiệp Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dolực lượng sản xuất còn thấp kém, kinh tế hộ nông dân có vai trò to lớn trong việc khaithác các tiềm năng đất đai, vốn, sức lao động, kinh nghiệm sản xuất của dân cư Do đó,kinh tế hộ nông dân có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất và tồn tại lâudài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.Nhà nướckhuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển sản xuấthàng hoá với quy mô ngày càng lớn.- Kinh tế nhà nước.Kinh tế nhà nước trong khu vựcnông nghiệp, nông thôn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ dưới các hình thức:công ty bảo vệ thực vật; công ty giống cây trồng, vật nuôi; công ty thủy lợi, các trạm cấpđiện, công ty thương mại là rất cần thiết đối với nông nghiệp, nông thôn Hơn nữa,đây là những vị trí then chốt trong kinh tế nông nghiệp, nông thôn, do đó, nếu kinh tế nhànước nắm giữ những vị trí này sẽ giữ vai trò chủ đạo, định hướng phát triển nông nghiệp,nông thôn lên chủ nghĩa xã hội.Như vậy, phát triển kinh tế nhà nước ở nông nghiệp, nôngthôn là hết sức cần thiết nhưng cũng cần cân nhắc trong từng khâu, từng lĩnh vực cụ thể.-Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên

sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những lao động, các hộ sảnxuất, kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế.Kinh tế tậpthể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể,đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tiếnlên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng.Hoạt động của kinh tế tập thể theonguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm.Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nôngthôn phải trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực chokinh tế hộ, trang trại phát triển, gắn với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp và xây dựng nông thôn mới; không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệuquả, năng suất và sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.4 Đào tạonguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thônNguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm làtrình độ học vấn rất thấp và phần lớn người lao động không qua đào tạo Trình độ dân trí

Trang 21

thấp là trở ngại không nhỏ đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, trước hết làđối với sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay Bởivậy, đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn trở thành nội dung quan trọngtrong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn.Do khả năng kinh tế và nhận thức của cưdân nông thôn có hạn, việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn phải có

sự trợ giúp của Nhà nước Nhà nước phải có chính sách giáo dục, đào tạo riêng cho nôngnghiệp, nông thôn, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Chính sách giáodục, đào tạo không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vựcnông nghiệp, nông thôn mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấulao động được đào tạo trong hiện tại và tương lai III- Cđảo Chính sách giáo dục, đàotạo không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nôngnghiệp, nông thôn mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu laođộng được đào tạo trong hiện tại và tương lai

1.3.1.2 Quản lý phát triền kinh tế ở nông thôn

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thểthiếu đảm bảo cho tiến trình CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ của nước ta:

+ Nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn xã hội + Là nơi cung cấp nguyên liệu để công nghiệp hóa

+ Phát triển kinh tế nông thôn tạo ra sản phẩm nông sản xuất khẩu, tích lũy một phầnvốn cho đất nước

+ Nông thôn là thì trường rộng lớn tiêu thụ hàng hóa công nghiệp và cung cấp nguyênliệu cho công nghiệp và dịch vụ

+ Phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế - xã hội

- Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần thực hiên có hiệu quả quá trình CNH,

H ĐH tại chỗ

- Chỉ có phát triển của kinh tế nông thôn thì sẽ góp phần to lớn trong việc bảo vệ, tái tạo,

sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 22

- Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hóa ởnông thôn.

- Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa

xã hội ở nông thôn nói riêng, của cả nước nói chung

Để đáp ứng với nền kinh tế thị trường, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tạinông thôn ngoại thành đã từng bước được củng cố và phát triển Kinh tế hộ là đơn vị kinh

tế tự chủ có tính năng động cao nhưng ở qui mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu, thị trườngtiêu thụ sản phẩm không ổn định Nhu cầu hợp tác trong hoạt động sản xuất kinh doanhdần trở thành một đòi hỏi khách quan để hình thành các hình thức hợp tác kinh tế: Tổ hợptác, hợp tác xã

1/Tổ hợp tác sản xuất:

Mục đích hợp tác : tham gia để tiêu thụ sản phẩm (88%), để có điều kiện vay vốn(80%), để thực hiện các hoạt động khuyến nông và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật(73%)

Hiện nay, ở ngoại thành có 471 tổ hợp tác với 16.300 tổ viên, chiếm 11,6% laođộng nông nghiệp của thành phố; nhiều nhất là Củ Chi có 368 tổ với 15.406 tổ viên, CầnGiờ 34 tổ, 400 tổ viên, Thủ Đức 23 tổ, 216 tổ viên

-Ngành nghề: 20 tổ trồng rau, 4 tổ sản xuất giống, 46 tổ nuôi trồng thuỷ sản, 3 tổchăn nuôi, 89 tổ về thuỷ nông và các ngành nghề khác

Các tổ hợp tác này được thành lập bởi những người nông dân có nhiệt tình, trựctiếp sản xuất nhưng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm Các tổ hợp tác gắn kếtvới các chương trình trọng điểm của thành phố về phát triển “2 cây, 2 con”, từng buớcgiải quyết được đầu ra cho sản phẩm, ổn định sản xuất và có hướng phát triển thành hợptác xã Tuy nhiên, chỉ có 71

tổ hợp tác đáp ứng được nhu cầu hợp tác của người dân và có chiều hướng pháttriển Đây là những tổ hợp tác có sự chứng thực của Chính quyền (phường , xã), các tổ

Trang 23

hợp tác này tập trung trong lĩnh vực sản xuất rau an toàn, giống cây trồng, nuôi trồngthuỷ sản, bò sữa va dịch vụ cho bò sữa tại xã Tân Phú Trung, Tân Thông Hội, huyện CủChi; Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh;Tân Sơn Nhì, Xuân Thới Thượng huyện Hóc Môn

và các tổ nuôi tôm sú huyện Cần Giờ

Ngoài ra, một số loại hình khác cũng đã mang lại hiệu quả như Câu lạc bộkhuyến nông, các Hội ngành nghề và các tổ xoá đói giảm nghèo… cũng có sự đóng góptích cực cho việc phát triển kinh tế vùng nông thôn

2/ Hợp tác xã nông nghiệp:

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hiện có 29 hợp tác xã nông nghiệp(HTXNN) và 01 Liên hiệp Hợp tác xã đang hoạt động trong các lĩnh vực rau an toàn, bòsữa, nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ nông nghiệp có hiệu quả, trong đó có 14 HTX chuyểnđổi, 15 HTX mới thành lập, (02 HTX rau an toàn, 01 HTX bò sữa, 03 HTX Thuỷ sản, 01HTX ngành nghề nông thôn)

Đô thị hóa (ĐTH) là kết quả tất yếu của sự phát triển KT-XH, nó diễn ra cùngvới quá trình CNH, HĐH đất nước, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang công nghiệp và dịch vụ Nhịp độ ĐTH phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH,nhưng đồng thời quá trình ĐTH có tác động trở lại quá trình tăng trưởng, phát triển kinh

tế Việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế CNH, HĐHphát triển công nghiệp dịch vụ đòi hỏi phải tập trung dân cư, phát triển kết cấu hạ tầngKT-XH, từ đó hình thành quá trình ĐTH ở khu vực nông nghiệp, nông thôn nằm trongquy hoạch phát triển ĐTH không chỉ tác động đến quá trình phát triển các ngành và nềnkinh tế mà còn tác động đến các vấn đề xã hội, môi trường và cuộc sống của các thế hệtrong tương lai

Phát triển hợp tác xã

Hỗ trợ đầu vào, đầu ra,

Chuyển giao công nghệ

Trang 24

1.3.1.3 Phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ

thương mại

Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) và các làng nghề là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với mục tiêu “ly nông bất ly hương”.

Các ngành thủ công nghiệp chủ yếu của thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là cácnhóm ngành như:

1 Nghề làm gốm: Sản phẩm gốm bao gồm những đồ dùng sinh hoạt trong gia

đình: Bộ ấm chén, chén, dĩa… Những hiện vật phục vụ cho việc thờ cúng: tượng, lưhương, chân đèn… Những hiện vật dùng trang trí: bình hoa, chậu hoa, đôn gốm,tranh gốm…

Hiện nay, khu Long Bình (Quận 9), khu Trung An (Củ Chi) là những nơicòn sản xuất gốm, sản phẩm gốm không chỉ hiện diện trong đời sống của người dânThành phố, mà còn là mặt hàng xuất khẩu đi các nước

2.Nghề kim hoàn: Đến thế kỷ XVIII, cùng với quá trình khai phá vùng đất Sài Gòn

– Gia Định nghề kim hoàn phát triển rất nhanh, tập hợp được một đội ngũ thợ cótay nghề giỏi Sản phẩm của người thợ kim hoàn là những món đồ trang sức: vòngtay, bông tai, dây chuyền, nhẫn… không chỉ nổi tiếng ở địa phương, khu vực mà cảvùng Đông Nam Á

Thành phố Hồ Chí Minh, nghề kim hòan còn tiếp tục được duy trì và hoạt động tạicác chợ quận 5, 6, Phú Nhuận, Bình Thạnh

3 Nghề chạm khắc gỗ:

Nghề chạm khắc gỗ vào thế kỷ XVII, đã nảy sinh trên vùng đất Sài Gòn –Gia Định do những lưu dân người Việt và người Hoa vào định cư mang theo Nhucầu xây dựng các công trình kiến trúc nghệ thuật, nhu cầu dân dụng của một vùng

Trang 25

đất mới đã tạo điều kiện xuất hiện một đội ngũ thợ chạm khắc gỗ có tay nghề cao.Thị trường tiêu thụ sản phẩm của nghề chạm khắc gỗ Sài Gòn – Gia Định trước kiachủ yếu đáp ứng nhu cầu nội địa Gần đây sản phẩm chạm khắc gỗ đã được xuấtkhẩu sang nhiều nước trên thế giới.

4 Nghề dệt:

Nghề dệt xuất hiện ở Sài Gòn – Gia định vào thế kỷ thứ XVII, do những lưu dânngười Việt mang theo trong tiến trình khai phá vùng đất phương Nam Đến nửacuối thế kỷ XIX, nghề dệt phát triển rộng khắp, hình thành nên các làng nghề củacác dòng thợ dệt khác nhau như: Bảy Hiền (Tân Bình), Hãng Đồng (Phú Nhuận),Bùi Mộn (Hóc Môn), Am Hà (Thủ Đức)

5 Nghề đúc đồng:

Từ thời đại đồ đồng cách nay khoảng 3.500 năm, nghề đúc đồng ở ViệtNam đã khá phát triển Quá trình khai phá vùng đất Sài Gòn – Gia Định cũng là quátrình hình thành những làng nghề đúc đồng nổi tiếng như: Khu Chợ Quán (Quận 5),

ba làng Tân Kiểng, Nhơn Giang, Bình Yên (Chợ Lớn), Tân Hòa Đông (Quận 6),khu Hòa Hưng (Quận 10)…

Tại thành phố Hồ Chí Minh, những vùng còn sản xuất đồ đồng là Tân Hòa Đông(Quận 6), khu Thông Tây Hội (Gò Vấp), và khu Thuận Kiều (Hóc Môn)

Tuy nhiên, CN - TTCN và làng nghề vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa phát triểntương xứng với tiềm năng lợi thế của quận, huyện ; chưa tạo ra nhiều việc làm vànâng cao thu nhập cho người lao động, chất lượng lao động còn thấp, trình độ taynghề chưa cao, khả năng cạnh tranh còn yếu Số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tiểuthủ công nghiệp đóng trên địa bàn còn ít, quy mô nhỏ, trình độ lao động hạnchế Việc phát triển CN-TTCN và các làng nghề còn gặp nhiều khó khăn về tổ chứcsản xuất, vốn, nhân lực, công nghệ, thị trường tiêu thụ; các nhóm nghề chếbiến nông, lâm, thủy sản mới chỉ dừng lại ở quy mô hộ gia đình, chất lượng sảnphẩm chưa cao, chủ yếu phục vụ cho một bộ phận dân cư, thị trường tiêu thụ chủyếu là trong nước, chưa ổn định, chưa có thị trường xuất khẩu, khả năng tiếp thị sảnphẩm tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống còn yếu Trước những bất

Trang 26

cập, hạn chế trên, huyện xác định nhiệm vụ cần thiết là phải nâng cao hiệu quả sảnxuất, tính cạnh tranh của ngành CN-TTCN và các làng nghề

Để giải bài toán về phát triển CN - TTCN và các làng nghề giai đoạn 2015-2020theo hướng bền vững cần tạo điều kiện tối đa để thu hút các nguồn lực, đa dạng hóanguồn vốn đầu tư và thành phần kinh tế, tập trung ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợithế gắn với vùng nguyên liệu như công nghiệp khai khoáng vật liệu xây dựng, côngnghiệp chế biến nông sản, đặc biệt là các dự án chế biến rau, các sản phẩm từ gạo,tạo động lực thúc đẩy sản xuất, tập trung vào sáu nhóm giải pháp chủ yếu sau:

Một là: Triển khai thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển CN-TTCN,

làng nghề của Trung ương, của tỉnh, của huyện như: chính sách đất đai, đầu tư, tíndụng, thuế, lao động và đào tạo; quan tâm đến vấn đề cải cách các thủ tục hànhchính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, thúc đẩy CN-TTCN và cáclàng nghề phát triển

Hai là: Phát triển hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, các cụm công nghiệp để thu hút đầu tư

và phát triển CN-TTCN, ngành nghề nông thôn và dịch vụ Đầu tư, kêu gọi đầu tưphát triển đô thị để tạo điều kiện cho các loại hình dịch vụ phát triển, ưu tiên đầu tưphát triển các loại hình dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính tín dụng, cơkhí sửa chữa, nhà hàng, khách sạn ; chỉ đạo chuyển đổi mô hình quản lý chợ nhằm

xã hội hoá đầu tư phát triển các chợ đô thị, chợ nông thôn để các chợ là trung tâmhoạt động thương mại của từng vùng trong huyện, tạo điều kiện giao thương hànghoá, thúc đẩy phát triển sản xuất

Ba là: Khuyến khích các cơ sở sản xuất CN-TTCN, làng nghề đổi mới thiết bị, ápdụng các tiến bộ KHKT công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượngsản phẩm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên thịtrường Khai thác, phát triển thị trường; hỗ trợ tích cực cho phát triển các sản phẩmnghề và làng nghề; tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm các sản phẩm làng nghề,các sản phẩm thủ công mỹ nghệ; xúc tiến thương mại thông qua việc giới thiệu sản

Trang 27

phẩm ở các kênh thông tin đại chúng.

Bốn là: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; kiện toàn và phát triển cáclàng nghề Đây là giải pháp có hiệu quả, vốn đầu tư ít mà lại giải quyết được nhiềulao động, đồng thời có thể tranh thủ nhanh được công nghệ hiện đại và thích hợp.Các doanh nghiệp này làm đầu mối hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho các hộ làng nghềphát triển Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích, duy trì phát triểnlàng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống đã được công nhận Xây dựngphát triển làng nghề mới gắn với quy hoạch nông thôn Chỉ đạo các xã, thôn làngcần chủ động lập các dự án đầu tư xây dựng các làng nghề mới Lựa chọn, bồidưỡng, hỗ trợ một số hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả, năng động làmnòng cốt nhằm thu hút lao động nhàn rỗi trong địa phương, dần hình thành các cụm,điểm sản xuất TTCN hoạt động sản xuất kinh doanh năng động

Năm là: Đào tạo nguồn nhân lực Đối với lao động chưa có nghề thì đào tạo theohình thức truyền nghề, kèm cặp tại nơi sản xuất Đối với lao động đã có nghề, bồidưỡng, bổ sung kiến thức theo hình thức tập huấn ngắn ngày tại các trung tâm dạynghề địa phương Kiện toàn hệ thống đào tạo Khuyến khích hình thành các

cơ sở đào tạo nghề tại nơi sản xuất, đào tạo dạy nghề cho người lao động ở nôngthôn, bồi dưỡng để trở thành thợ giỏi, nghệ nhân

Sáu là: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước và phối hợp của hệ thống chínhtrị Tuyên truyền đổi mới nhận thức về phát triển CN- TTCN, làng nghề của cácngành các cấp, nhất là đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực CN-TTCN, làng nghề Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền.Thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển Mỗi xã có mộtcán bộ trực tiếp phụ trách công tác phát triển CN- TTCN và các làng nghề Cácngành, đoàn thể, chính quyền các cấp xây dựng các kế hoạch và biện pháp cụ thể đểđẩy mạnh việc vận động, xúc tiến đầu tư và huy động vốn nhằm khôi phục, pháttriển CN - TTCN và làng nghề

Trang 28

1.3.2 Qu n lý nhà nản lý nhà n ưới nông thôn ề kinh tế nông t ặc điểm dân cư c v đ c đi m dân c ểm dân cư ư nông thôn

Quy hoạch điểm dân cư nông thôn cũng giống như các loại quy hoạch khác, đều phải cóquy hoạch chung và quy hoạch chi tiết và các bước tiến hành từ khảo sát, đo đạc đến lậpquy hoạch, thẩm định, công khai lấy ý kiến Sau khi được phê duyệt thì tăng cường quản

lý và thực hiện quy hoạch theo trình tự đề ra

Tuỳ theo đặc điểm của từng vùng miền (miền núi, đồng bằng, miền biển) và quy mô củatừng địa phương để lập đồ án quy hoạch Nhìn chung quy hoạch điểm dân cư nông thônphải đảm bảo những yếu tố sau:

a Điều tra, khảo sát để lập nhiệm vụ quy hoạch

Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng phải được dựa trên những tư liệu, số liệu điều tra khảo sát,

tổ chức sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác sử dụng hợp lý đất đai phù hợpvới điều kiện của từng địa phương Xác định rõ khi quy hoạch phải giữ lại những gì,những gì phải điều chỉnh thay đổi, những gì phải làm mới, tránh tình trạng khi xây dựngphải điều chỉnh nhiều lần Điều tra khảo sát lập nhiệm vụ quy hoạch gắn với quy hoạchcủa cả vùng, khu, có mối liên hệ mật thiết, bảo đảm theo hướng nông thôn mới, vănminh, hiện đại, phát triển bền vững

b Đồ ấn quy hoạch điểm dân cư nông thôn

Đồ án quy hoạch điểm dân cư nông thôn được xây dựng phải phù hợp với điều kiện tựnhiên, hiện trạng kinh - tế xã hội, chỉ tiêu sử dụng đất, chất lượng hạ tầng kỹ thuật, hạtầng xã hội, vệ sinh môi trường, tổ chức không gian quy hoạch, quy mô các khu chứcnăng với quy chuẩn tiêu chuẩn chung và đặc điểm, điều kiện của từng địa phương.Hướng chung nên chú ý những vấn đề cụ thể sau:

- Đường giao thông: hiện nay đường giao thông còn chắp vá do vậy khi thiết kế lại cần

chú ý bảo đảm giao thông nội bộ và giao thông liên xã, liên vùng thuận lợi Đường nội bộ

có mặt cắt trung bình khoảng 6 – 8 m, đường liên thôn, liên xã tuỳ theo điều kiện quy mô

Trang 29

có thể từ 10 – 15m; có thể láng bê tông hoặc nhựa, giao thông phải được gắn với hệ thốngthoát nước.

- Hệ thống cấp điện, cấp thoát nước: Đây là hai yếu tố quan trọng phục vụ cho người dân

sinh hoạt Tuỳ theo số hộ dân để thiết kế trạm cấp điện, về cấp nước sinh hoạt (xã, thị tứ,thị trấn), nên có một trạm cấp thoát nước, hệ thống thoát nước nước phải được nối liềnvới hệ thống thoát nước của liên xã, liên vùng

- Về phân khu chức năng: Đối với điểm dân cư nông thôn hiện nay khi quy hoạch mới

phải đặc biệt quan tâm đến việc phân khu chức năng gồm khu trung tâm hành chính, khuvăn hoá xã hội, khu kinh tế bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi tập trung và dịch

vụ thương mại, khu vui chơi giải trí và khu dân cư Mỗi khu phải dựa trên các công trình

đã có, nên mở rộng và giữ lại những cơ sở văn hoá truyền thống của địa phương

- Khu trung tâm hành chính: Bao gồm trụ sở UBND, Đảng uỷ địa phương, nhà văn hoá,

trụ sở các hợp tác xã

- Khu văn hoá xã hội: Bao gồm các trường phổ thông trung học, phổ thông cơ sở, trường

tiểu học, trường lớp mẫu giáo, trạm y tế, nơi vui chơi giải trí như sân vận động hoặc cóđiều kiện là công viên nhỏ

- Khu kinh tế bao gồm: Các cơ sở dịch vụ thương mại, chợ, khu chăn nuôi tập trung, các

cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Những địa phương có nghề truyềnthống thì nên quy hoạch thành khu sản xuất có thiết kế hệ thống xử lý nước thải, rác thải

- Khu dân cư mới: Giải quyết cho những hộ phải di chuyển để giải phóng mặt bằng và

những hộ mới phát triển, quy hoạch và thiết kế phải phù hợp với điều kiện nông nghiệp,nông thôn và sinh hoạt, sản xuất của nông dân

- Quy hoạch điểm dân cư nông thôn phải đặc biệt quan tâm đến hệ thống xử lý nước thải,khu vực chôn lấp xử lý rác thải, nghĩa trang, hệ thống cây xanh, hệ thống thuỷ lợi, một sốnơi đặc thù thì phải quan tâm đến việc bố trí nhà chùa, nhà thờ bảo đảm cho sinh hoạt vàphục vụ đời sống nhân dân

Cần quán triệt sâu rộng trong cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên từ tỉnh đến cơ sở,đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Để thực hiện quy hoạch phải có sựthống nhất và đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và sự hỗ trợ của cấp trên, trên cơ sở đó

Trang 30

từng địa phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Về kinh phí, theo kinh nghiệm ởmột số địa phương như Nam Định, kinh phí để lập quy hoạch điểm dân cư nông thôn có

sự hỗ trợ của tỉnh, của huyện, địa phương bỏ ra một phần, kinh phí của nhà đầu tư và huyđộng các nguồn tài trợ khác Để triển khai thực hiện nên tổ chức làm điểm sau đó nhân radiện rộng như ở Thái Bình năm 2009, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh tổ chức làm điểm của tỉnhmột cơ sơ, mỗi huyện làm một cơ sở rút kinh nghiệm chung, sau đó triển khai ra các điểmdân cư trên toàn tỉnh Phấn đấu từ nay đến năm 2015 tất cả các điểm dân cư nông thônphải quy hoạch xong trong đó có khoảng từ 30 - 40% được triển khai thực hiện

Quy hoạch điểm dân cư nông thôn cần đặc biệt chú ý đến việc dân chủ công khai lấy ýkiến của nhân dân, tạo sự đồng tình nhất trí của nhân dân, tránh sự thắc mắc khiếu kiệnhoặc những khó khăn trong giải phóng mặt bằng khi thực hiện quy hoạch Đối với từngđịa phương phải lập ban chỉ đạo, có phân công, phân cấp cụ thể để thực hiện Đồng thờiphải tập trung nâng cao chất lượng đồ án quy hoạch, bảo đảm tính khả thi của quy hoạch

Hy vọng làm tốt một số điểm trên đây sẽ góp phần tích cực vào việc phát triển nông thônbền vững và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương VII khoá X về nông nghiệp, nông dânnông thôn

1.3.3 Quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng nông thôn

Thực tế cho thấy, việc triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn có bước phát triển mới.

Ngày đăng: 27/08/2017, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w