1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá sự dịch chuyển các vùng tập trung nguồn lợi thủy sản ở vùng biển đông nam bộ

47 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Đức Linh NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ DỊCH CHUYỂN CÁC VÙNG TẬP TRUNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Linh

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ DỊCH CHUYỂN CÁC

VÙNG TẬP TRUNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở

VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Linh

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ DỊCH CHUYỂN CÁC

VÙNG TẬP TRUNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở

VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ

Chuyên ngành: Hải Dương Học

Mã số: 60 44 02 28

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỌ SÁO

Hà Nội – Năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thọ Sáo – Khoa Khí tượng Thủy văn Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo và các cán bộ trong Khoa Khí tượng Thủy văn Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã có những chỉ dẫn quý báu cũng như cung cấp những tài liệu cần thiết giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này

Trong thời gian học tập, thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tôi đã nhận được

sự tạo điều kiện, sự giúp đỡ nhiệt tình của các lãnh đạo, các đồng nghiệp trong Trung tâm Dự báo Ngư trường Khai thác Hải sản, Phòng nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản - Viện Nghiên cứu Hải sản Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp khác trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hải sản đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6

1 1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VEN BỜ ĐÔNG NAM BỘ 6

1.1.1 Đặc điểm chung 6

1.1.2 Đặc điểm địa hình 6

1.1.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn 7

1.1.3.1 Chế độ khí tượng 7

1.1.3.2 Chế độ thủy văn 8

1.1.3.3 Chế độ hải văn 8

1.1.3.4 Đặc điểm môi trường biển 10

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TCCC-ATTTC 11

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 11

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA TCCC - ATTTC 17

2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP, XỬ LÝ THÔNG KÊ SỐ LIỆU 17

2.2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT HIỆN TRƯỜNG 20

2.3 PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TOÁN 21

2.3.1 Phương pháp 22

2.3.2 Các điều kiện biên 22

2.3.3 Hệ phương trình cơ bản của mô hình 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỊCH CHUYỂN TCCC-ATTTC Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 25

3.1 THIẾT LẬP MÔ HÌNH TÍNH TOÁN 25

3.1.1 Phạm vi miền tính 25

3.1.2 Thời gian tính toán 25

3.1.3 Điều kiện biên 25

3.1.4 Các thông số mô hình 27

3.1.5 Hiệu chỉnh mô hình 27

3.1.6 Kiểm chứng mô hình 28

3.1.7 Các kịch bản 29

3.2 CÁC MÔ PHỎNG SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA TCCC-ATTTC 30

Trang 5

2

3.2.1 Mô phỏng cho tháng 2 30

3.2.2 Mô phỏng cho tháng 5 33

3.2.3 Mô phỏng cho tháng 8 36

3.2.4 Mô phỏng cho tháng 11 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

1 Kết luận 41

2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 6

ĐB: Mùa gió Đông bắc

TN: Mùa gió Tây nam

Trang 7

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Lưu lượng nước cửa sông lấy trung bình theo các tháng 27

Bảng 2 Các thông số của mô hình 27

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Dụng cụ thu mẫu tầng thẳng đứng (A), mặt (B), đáy (C) và đo lượng nước qua lưới (D) 20

Hình 2 Miền tính và lưới tính 25

Hình 3 Hoa gió tại trạm Côn Đảo theo các tháng số liệu từ năm 1979 -2009 26

Hình 4 Biểu đồ so sánh độ cao mực nước thực đo và tính toán tại 28

Hình 5 Biểu đồ so sánh mực nước thực đo và tính toán tại Vũng Tàu từ ngày 3/2-16/2/ 2007 28

Hình 6 Khu vực sinh sản của tôm cá trong các tháng 2,5,8,11 29

Hình 7 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 2 năm 2007 30

Hình 8 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 2 năm 2007 31

Hình 9 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 15 đến ngày 16 tháng 2 năm 2007 32

Hình 10 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 5 năm 2007 33

Hình 11 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 5 năm 2007 34

Hình 12 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 15 đến ngày 16 tháng 5 năm 2007 35

Hình 13 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 2007 36

Hình 14 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 8 năm 2007 37

Hình 15 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 15 đến ngày 16 tháng 8 năm 2007 38

Hình 16 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 11 năm 2007 39

Hình 17 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 11 năm 2007 40

Hình 18 Mô phỏng bãi đẻ từ ngày 15 đến ngày 16 tháng 11 năm 2007 41

Trang 8

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Luật thủy sản 2003, điều 2:‛‛ Nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên sinh vật trong

vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản” Trong luận văn này học viên tập trung vào

trứng cá cá con và ấu trùng tôm tôm con

Trứng cá cá con (TCCC) và ấu trùng tôm - tôm con (ATT-TC), là đối tượng nghiên cứu của khoa học cơ bản và có vai trò thực tiễn rất quan trọng, đã được các nước trên thế giới đánh giá cao và đưa vào chương trình nghiên cứu thường niên Để đánh giá sự dịch chuyển của các vùng tập trung nguồn giống thủy sản người ta thường dùng các phương pháp như: khảo sát hiện trường theo các trạm mặt rộng, liên tục, thí nghiệm trong ao hồ, các mô hình toán Trong từng trường hợp cụ thể các phương pháp được lựa chọn phù hợp với mục tiêu của bài toán Ở Việt Nam hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sự vận chuyển TCCC và ATT-TC bằng mô hình số, việc xây dựng các định hướng bảo vệ nguồn lợi ven bờ chủ yếu dựa vào nguồn số liệu từ các chương trình khảo sát vốn rời rạc và không liên tục Do đó việc quy hoạch, phát triển thuỷ sản ven bờ không khắc phục triệt để được các khó khăn phát sinh từ thực tế, không sát với điều kiện hiện tại, chưa đáp ứng thực tiễn

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ bị giảm sút, nhưng nguyên nhân chính là lượng chất thải, chất bảo vệ thực vật thải trực tiếp ra biển làm ô nhiễm vùng nước ven bờ, việc hiện đại hoá các phương tiện đánh bắt với cường

độ đánh bắt cao, đánh bắt bằng các phương thức hủy diệt, đánh bắt tại các bãi đẻ trong mùa sinh sản khi tôm, cá con chưa trưởng thành… dẫn đến làm giảm sút nguồn bổ sung từ TCCC và ATT-TC Vì vậy, việc nghiên cứu phân bố và dịch chuyển của TCCC và ATT-TC sẽ góp phần quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng phát triển các ngành nghề khai thác cho phù hợp, bảo vệ bền vững nguồn lợi bổ sung đầy tiềm năng này

Từ những cơ sở khoa học trên tác giả tiến hành thức hiện đề tài: ‛‛Nghiên cứu, phân tích và đánh giá sự dịch chuyển các vùng tập trung nguồn lợi thủy sản ở vùng biển Đông Nam Bộ’’

Trang 9

6

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1 1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VEN BỜ ĐÔNG NAM BỘ

1.1.1 Đặc điểm chung

Vùng biển Đông Nam Bộ nằm trong khu vực Biển Đông giới hạn từ vĩ độ 7˚N đến 11˚N và kinh độ 105˚E đến 109˚E có diện tích 150 km2 Vùng biển được bao bọc phía tây là bờ biển Việt Nam chạy qua 9 tỉnh và có hai đảo lớn là Phú Quý và Côn Đảo Vùng ven bờ chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai, chúng ảnh hưởng rất nhiều đến nhiệt độ đặc biệt là độ muối của khu vực và tạo ra những đặc trưng riêng của nó Vùng biển Đông Nam Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam cả về quốc phòng an ninh cũng như kinh tế Vùng biển này chứa nhiều dầu khí và hải sản Ngoài ra khu vực này còn là cửa ngõ giao thông lớn nhất nước và gần tuyến giao thông hàng hải đi qua Biển Đông, là cửa ngõ giao lưu lâu đời của Việt Nam

và thế giới

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Vùng biển Đông Nam Bộ phía bờ biển kéo dài từ Bình Thuận đến mũi Cà Mau, có các kiểu địa hình phức tạp và đa dạng do nhiều yếu tố tác động đồng thời như thủy động lực sông và biển Vùng biển Đông Nam Bộ là vùng biển nông, độ sâu trên dưới

100 m, địa hình cả vùng không có sự thay đổi lớn, rất thuận lợi cho hoạt động khai thác dầu khí cũng như các hoạt động khai thác hải sản

Đường đẳng sâu 10 m phân bố khá phức tạp Khu vực từ Bà Rịa- Vũng Tàu đến mũi Cà Mau mang đặc tính bờ của châu thổ sông Đồng Nai và Cửu Long, địa hình thấp phẳng bị chia cắt bởi các cửa sông Ven các cửa sông phát triển các bãi triều rộng lớn, đường đẳng sâu 10 mét thường chạy song song với bờ cách bờ từ 12 đến 15 km Các cồn cát phía cửa sông thường xuyên biến động Các hiện tượng bồi tụ, xói lở đất diễn ra mạnh mẽ và rất phức tạp Khu vực có độ sâu 10 – 15 mét rất hẹp chạy song song với bờ, nền đáy dốc vòng cung Khu vực từ 15 – 50 mét trải rộng thoải và độ dốc tương đối đều Khu vực có độ sâu lớn hơn từ 50 mét trở lên có độ dốc tương đối lớn và

có cấu tạo từ nền đá gốc

Trang 10

7

1.1.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn

1.1.3.1 Chế độ khí tượng

Vùng biển Đông Nam bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm

có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa và 2 thời kỳ chuyển tiếp là mùa gió chướng vào tháng 4 và tháng 10 Nói chung nhiệt độ vùng biển Đông Nam Bộ cao quanh năm, nhiệt độ đạt cực đại hai lần trong năm Quá trình hoàn lưu khí quyển đã tạo nên chế độ phức tạp chi phối sự hình thành và phát triển của hệ sinh thái biển, ảnh hưởng đến phân bố thành phần loài của chúng

Hướng gió Đông Bắc (NE) là hướng gió chủ đạo trong tháng 2và 3 với tần suất đạt 38,58% Cấp độ của gió chủ yếu là cấp III đến IV và tập trung chủ yếu hướng Đông Bắc và Đông Đông Bắc Các hướng gió còn lại thường có chiếm tần suất thấp hơn, cấp

II là 9,14%, cấp V là 12,18%

Vào tháng 5 hướng gió quan trắc được thay đổi từ Đông (E) đến Tây Bắc (NW), hướng gió chủ đạo là hướng Tây Nam (SW) với tần suất chiếm 67,50%, hướng Tây chiếm 19,50%, các hướng còn lại chiếm tần suất nhỏ Cấp gió chủ yếu là cấp III

và IV với tần suất tương ứng là 31,50% và 33,50%, tần suất lặng gió chiếm 1,50%

Tháng 8 hướng gió quan trắc được khá ổn định và hướng gió thịnh hành là hướng Tây Nam (SW) với tần suất 93,30%, các hướng Đông Nam (SE) và hướng Tây (W) chiếm tần suất là 3,91% và 2,23% Cấp gió chủ yếu vẫn là cấp II và cấp III Như vậy trong tháng 8, gió Tây Nam hoạt động mạnh và ổn định

Sang tháng 11 độ phân tán hướng gió quan trắc nhỏ hơn so với tháng 2 và 3, hướng gió chủ đạo cũng chiếm tần suất thấp hơn Hướng gió chủ đạo trong tháng 11 là hướng Đông Bắc (NE) với tần suất là 60,00% Cấp gió quan trắc được trong các tháng này cũng không tập trung như trong tháng 2 và 3, mà phân tán từ cấp I đến cấp VI Như vậy trong thời gian này gió mùa Đông Bắc đã chi phối đến trường gió trong vùng biển này, tuy nhiên mức độ hoạt động và cường độ của hệ thống gió này trên vùng biển chưa được ổn định

Trang 11

8

1.1.3.2 Chế độ thủy văn

Mạng lưới cửa sông lớn nhưng không đồng đều dọc ven biển Đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới sông lớn, nhỏ, kênh rạch nhiều trên 5000 km, những đoạn sông về thượng lưu rộng từ 60 – 300 mét phía hạ lưu rộng tới 2 km và đặc biệt ở của sông Hậu rộng tới 18 km Bên cạnh các dòng sông chính còn có các kênh rạch rộng từ 35 – 100 mét sâu từ 2-4 mét, các kênh nhỏ rộng dưới 20 mét và sâu từ 1.5 – 2 mét

Hàng năm sông Cửu Long nhận được khoảng 5 tỉ m3 nước từ thượng nguồn đưa

về Lưu lượng mùa lũ trung bình khoảng 24000m3/s, lớn nhất vào khoảng 30000m3/s

Về mùa cạn lượng nước trung bình là 5920m3/s và thấp nhất qua Campuchia là 1700m3/s Dòng chảy khu vực ven biển Bình Thuận – Ninh Thuận về mùa lũ phân bố không đều và ngắn, thường xảy ra vào tháng VI tháng X và XI Lượng dòng chảy mùa

lũ chiếm khoảng 80 -85% năm Mùa cạn xảy ra trong những tháng còn lại và thường

có lũ tiểu mãn Lượng dòng chảy mùa cạn chiếm 5-10 % dòng chảy năm Hệ thống sông Đồng Nai thường có lũ vào tháng VII và kết thúc vào tháng IX Lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 60-85 % tổng lượng dòng chảy năm Mùa cạn kéo dài trong thời gian còn lại trong năm nhưng tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm từ 15 – 35 % tổng lượng dòng chảy trong năm

1.1.3.3 Chế độ hải văn

Đặc điểm hải văn biển khu vực Đông Nam bộ khá phong phú và đa dạng Thủy triều của khu vực là bán nhật triều, trong ngày có 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống Thủy triều có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của dân cư

Chế độ sóng của khu vực cũng tương tự như các vùng khác của Việt Nam phụ thuộc vào chế độ gió mùa Vào mùa gió Tây Nam hướng sóng chủ yếu thường là Nam

và Tây Nam, độ cao sóng phụ thuộc cấp gió, vào chính mùa gió sóng tương đối lớn từ 1.5 -2 m, độ cao sóng trung bình năm khoảng 1 m Vào mùa gió Đông Bắc tuy gió cũng ảnh hưởng trực tiếp tạo nên sóng nhưng thường là cấp độ sóng nhỏ Nhưng vào thời kỳ cao điểm của mùa gió, sóng lừng do gió Đông Bắc tạo ra truyền xuống gây nên sóng tương đối lớn

Trong tháng 2-3 của hai năm hướng sóng Đông Bắc (NE) là hướng chủ đạo với tần suất đạt 57,07%, các hướng có tần suất thấp hơn là Đông (E) và Đông Nam (SE) với

Trang 12

9

tần suất 14,14% và 10,61% Cấp độ của sóng chủ yếu là cấp II đến III và tập trung chủ yếu hướng Đông Bắc, tỷ lệ lặng sóng là 8,42% Nhìn chung hướng sóng quan trắc được khá trùng với hướng gió nên sóng trong vùng biển chủ yếu là sóng gió

Vào tháng 5 hướng sóng quan trắc được thay đổi từ Đông (E) đến Tây Bắc (NW), hướng sóng chủ đạo là hướng Tây Nam (SW) với tần suất chiếm 67,00%, hướng Tây chiếm 17,00%, các hướng còn lại chiếm tần suất nhỏ Cấp sóng chủ yếu là cấp III và

IV với tần suất tương ứng là 23,00% và 18,00%, tần suất lặng gió chiếm 4,00%

Những quan trắc về sóng trong các chuyến khảo sát cũng chưa thể hiện hết được tính khái quát của toàn vùng biển vì quá trình quan trắc chỉ được tiến hành trong điều kiện thời tiết thuận lợi, tuy nhiên kết quả cho thấy trong vùng biển vào tháng 5 năm

2007 và 2008 sóng hướng Tây Nam thịnh hành và sóng quan trắc được trong vùng biển chủ yếu là sóng gió

Tháng 8 trong năm 2007 và 2008 hướng sóng quan trắc được khá ổn định và hướng thịnh hành là hướng Tây Nam (SW) với tần suất 89,78%, các hướng Đông Nam (SE)

và hướng Tây (W) chiếm tần suất là 3,23% và 2,15% Cấp sóng chủ yếu vẫn là cấp II

và cấp III, thống kê chi tiết kết quả quan trắc gió trên vùng biển nghiên cứu được thể hiển trong bảng 5 Như vậy trong tháng 8 sóng hướng Tây Nam đã hoạt động mạnh và

ổn định

Sang tháng 11 độ phân tán hướng sóng quan trắc được nhỏ hơn so với tháng 2&3

và hướng sóng chủ đạo cũng chiếm tần suất thấp hơn Hướng gió chủ đạo trong tháng

11 là hướng Đông Bắc (NW) với tần suất là 62,11% Cấp sóng quan trắc được trong các tháng này thay đổi từ cấp I đến cấp VI, tập trung chủ yếu ở cấp II và cấp III Như vậy trong thời gian này gió mùa Đông Bắc đã chi phối đến trường gió trong vùng biển này, làm thay đổi trường sóng trong vùng biển nghiên cứu so với tháng 8

Tương tự, dòng chảy của khu vực phụ thuộc vào chế độ gió và lưu lượng nước từ sông đổ ra Dòng chảy ngoài khơi chịu tác động của gió mùa nên hướng thịnh hành phụ thuộc vào hướng gió Khi vào gần bờ dòng chảy chịu ảnh hưởng của địa hình đáy, thường có hướng chảy dọc bờ, ở vùng các cửa sông hay trong sông dòng chảy thường

có hướng chảy theo trục lòng dẫn

Trang 13

10

1.1.3.4 Đặc điểm môi trường biển

Môi trường là bức tranh phản ánh đặc điểm tự nhiên và sự ảnh hưởng qua lại bởi các yếu tố thiên nhiên và tác động của con người Song song với sự phát triển kinh tế

xã hội, môi trường sinh thái vùng biển sẽ chịu tác động mạnh mẽ bởi hoạt động của cảng biển và giao thông trên biển, các khu công nghiệp ven biển, các khu vực nuôi trồng thủy hải sản, các khu du lịch giải trí và đặc biệt là khai thác dầu khí Vùng nghiên cứu này trong thời gian vừa qua đã bị ảnh hưởng trực tiếp của sự cố tràn dầu và dầu loang trên biển Bên cạnh đó thường xuyên xảy ra các vụ va đụng tàu và nước thải trong sông chảy ra Đây là nguyên nhân ô nhiễm chất thải từ các tàu thuyền, các bến cảng, từ hoạt động khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy hải sản, từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trên bờ

+ Nhiệt độ: Phân bố nhiệt độ theo mặt rộng ở vùng ven biển Đông Nam Bộ phụ

thuộc vào chế độ gió mùa, sự xáo trộn giữa khối nước ven bờ với khối nước vùng biển khơi Dưới tác dụng của dòng chảy mùa, nhiệt độ nước biển trong vùng có xu thế tăng dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với giá trị xấp xỉ 10C trên mỗi vĩ độ, theo phương từ bờ ra nhiệt độ có xu hướng giảm Nhiệt độ nước trung bình khoảng 28,60C

ở tầng mặt và 21,20C ở tầng đáy; vùng ven biển Bạc Liêu nhiệt độ trung bình tầng mặt

và tầng đáy chênh lệch không đáng kể (khoảng 26,30C tầng măt và 26,10C tầng đáy) Nhiệt độ toàn vùng biển thấp nhất vào tháng 1 khoảng 24,90C- 27,50C [1]

+ Độ muối: Tương tự như nhiệt độ, phân bố độ muối nước biển cũng có biến trình

mùa Biên độ dao động độ muối trung bình tầng mặt nhiều năm lên tới 1,48‰ Vùng sát ven bờ độ muối tầng mặt và tầng đáy dao động trong khoảng 20,0 - 28,0‰ Nhìn chung độ muối trong toàn vùng có xu hướng tăng dần từ Bắc đến Nam và từ bờ ra khơi, xu thế tăng từ bờ ra khơi thể hiện rất rõ trong vùng nước nông ven bờ với tốc độ tăng có thể tới 1‰ trên mỗi vĩ độ, vùng ngoài khơi Đông Nam Bộ, độ muối ổn định và đạt trị số cao

Trang 14

11

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TCCC-ATTTC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về TCCC và ATT-TC ở Việt Nam còn ít do việc điều tra trên diện rộng còn thiếu và rời rạc Các công trình mới tiến hành nghiên cứu ở vùng cửa sông, cửa vịnh và một số điểm, nên kết quả chưa toàn diện Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hình thái phân loại học, điều tra thành phần loài, phân bố, mô tả các giai đoạn phát triển của TCCC và ATT-TC của một số loài (hoặc nhóm loài)

Công trình đầu tiên nghiên cứu về TCCC và ATT-TC ở vịnh Nha Trang nhằm xác định nhịp điệu di cư thẳng đứng ngày đêm của cá bột được C.Dawydoff khảo sát năm

1937 Năm 1959-1960 chuyến điều tra tổng hợp tại vịnh Bắc Bộ của đoàn hợp tác điều tra Việt - Trung, khảo sát liên tục trong 13 tháng và đã xác định được 125.492 trứng cá

và 17.131 cá con, thuộc 38 họ 27 giống và 44 loài Bước đầu đã đưa ra sự phân bố của TCCC, dự báo bãi đẻ, mùa đẻ của một số loài cá ở vịnh Bắc Bộ Tiếp theo năm 1960 -

1961 đoàn hợp tác Việt - Xô đã bố trí thí nghiệm thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu phát triển giai đoạn đầu của 20 loài cá

Viện Nghiên cứu Hải sản (Hải Phòng) đã tổ chức khảo sát vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ từ Cát Bà đến Hà Tĩnh trong các năm 1962, 1963 và 1965, xác định được 3.806 trứng cá và 1.008 cá con Năm 1970-1971, tại các cửa sông Ba Lạt, Ninh Cơ, Cửa Đáy, đã tiến hành nghiên cứu TCCC hàng tháng thu mẫu liên tục (một ngày đêm thu 6 lần, mỗi tháng làm 2 lần) đã thu được 99.390 trứng cá 10.979 cá bột Sơ bộ đã xác định được mùa vụ và biến động của một số loài cá phổ biến ở vùng cửa sông ven

bờ như: cá Trích, cá Trỏng, cá Đù, cá Vược… Năm 1971-1972 đã tiến hành khảo sát vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng và thu được 35.150 trứng cá và 4.747 cá con Trong đó, đã xác định được một số loài tôm cá là nguồn giống của các đối tượng khai thác ở vùng ven bờ, và các đối tượng này có thể trở thành giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Các tác giả cũng đã nêu sự liên quan của các điều kiện môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, dòng hải lưu… tới đối tượng TCCC và ATT-TC

Nguyễn Bá Hùng (1962), qua số liệu thống kê số lượng TCCC vùng ven bờ vịnh Bắc Bộ, đã xác định mùa đẻ chính của cá từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm; và từ tháng

Trang 15

12

10 đến tháng 2 năm sau là mùa đẻ phụ của cá

Một vài giai đoạn phát triển, sự sinh sản và phân bố của cá Ngừ con ở Vịnh Bắc

Bộ, đã được Nguyễn Anh (1963) thể hiện tương đối rõ Tác giả đã đưa ra hình vẽ các loài cá Ngừ con, sơ đồ phân bố, sinh sản, sơ đồ các điều kiện môi trường như nhiệt độ,

độ mặn, dòng chảy, mật độ sinh vật phù du… Song kết quả còn rất sơ sài

Năm 1975-1976, Đỗ Văn Nguyên và Hồ Thanh Hải đã tiến hành nghiên cứu TCCC

ở vùng biển ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Cửa Sót (Hà Tĩnh) bước đầu đã đưa ra thành phần và biến động số lượng của TCCC trong vùng nghiên cứu Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự xuất hiện của TCCC, giúp cho việc dự đoán mùa đẻ của đàn cá bố

mẹ

Nguồn giống tôm cá vào đầm nước lợ Tràng Cát (Hải Phòng) đã được nghiên cứu bởi Nguyễn Mạnh Long, Đào Tất Kim và Nguyễn Văn Bé (1976) Kết quả cho thấy, trong những ngày đầu con nước, số lượng con giống vào đầm phong phú hơn những ngày sau nhiều lần

Ương nuôi và theo dõi sự phát triển phôi của họ cá Mối (Synodontidae) đã được Hoàng Phi (1978-1979) tiến hành tại Viện Hải dương học Nha Trang Tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và thời gian phát triển của phôi Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về sinh vật vùng triều, trong đó có một phần nhỏ đề cập đến TCCC và ATT-TC, nhưng những số liệu này chưa đánh giá được sự biến động của nguồn giống ở vùng ven bờ nhất là trong những năm gần đây, sự biến động rất lớn của điều kiện môi trường ở vùng ven bờ dẫn đến việc dự báo về nguồn lợi ven bờ gặp rất nhiều khó khăn

Nguồn giống tôm, cá trong các hệ sinh thái RNM, các đầm nuôi nước lợ ven bờ Hải Phòng - Quảng Ninh đã được nghiên cứu từ những năm 1980 -1985 trong các công trình của Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Thu và Trần Quốc Hoà Kết quả cho thấy, ở vùng xung quanh RNM và các bãi có RNM số lượng nguồn giống tôm, cá cao gấp 3-5 lần nơi không có hay xa RNM Năm 1993 nguồn giống tôm, cua, cá ở vùng biển Đông Nam Cát Bà cũng bước đầu được nghiên cứu để làm cơ sở khoa học cho khu bảo tồn biển Cát Bà Năm 1992 sự biến động số lượng cá bột theo thuỷ triều tại

Trang 16

13

các vùng cửa sông Tiên Yên, Nam Triệu, Ba Lạt cũng sơ bộ được nghiên cứu trong hệ sinh thái vùng triều các cửa sông Kết quả cho thấy số lượng cá bột và tôm con thu được trong pha thuỷ triều lên cao hơn gấp nhiều lần pha thuỷ triều rút

Năm 1978-1980, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện Đề tài “Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải” trong đó có thu mẫu TCCC Bước đầu các tác giả đã xác định thành phần loài, bãi đẻ và mùa vụ sinh sản của một số loài hải sản Với số lượng mẫu thu được rất lớn, nhưng các tác giả không phân chia theo các giai đoạn phát triển của cá thể, miêu tả rất ít số lượng cá thể bắt gặp, đặc biệt hiện nay mẫu không còn lưu giữ, nên giá trị tham khảo không cao

Tàu “Viện sĩ Alecsander Nesmeyanov” năm 1982, đã điều tra tại 47 trạm từ cửa sông Cửu Long đến Thuận Hải, cách bờ từ 5 đến 190 hải lý (độ sâu từ 19 đến 1.935m) với hai loại lưới kéo tầng mặt và tầng thẳng đứng ở các độ sâu từ 50 đến 500m, cũng

đã thu được một số lượng mẫu TCCC và ATT-TC, hiện đang được lưu giữ tại Viện Hải dượng học (Nha Trang)

Năm 1991, các nghiên cứu về TCCC ở vùng biển Việt Nam được tổng kết bởi Nguyễn Hữu Phụng Kết quả cho thấy, ở vùng biển Việt Nam thành phần TCCC rất phong phú Đã xác định được 102 họ cá thuộc 19 bộ TCCC xuất hiện quanh năm, nhiều loài có thời gian xuất hiện rất dài, nhưng phổ biển và tập trung chủ yếu từ tháng

4 - 6 và tháng 10 - 12, có khi cả năm Số lượng TCCC nhiều hơn cả là ở vùng biển Đông-Tây Nam Bộ (nhất là ở phía Nam cửa sông Hậu và Côn Đảo, Nam Vũng Tàu và ven bờ Phan Thiết), vịnh Bắc Bộ (nhất là ở ven bờ Tây Bắc vịnh, xung quanh đảo Bạch Long Vĩ, Tây Nam đảo Hải Nam), vùng biển dọc miền Trung không có vùng phân bố tập trung rõ rệt Tại vịnh Bắc Bộ số lượng trung bình là 83 trứng và 95 cá /100m3 nước biển, cao nhất vào tháng 5 với 282 trứng và 218 cá/ 100m3 nước biển Vùng biển Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ số lượng ít hơn và mùa vụ không rõ ràng như ở vịnh Bắc Bộ khoảng 68 trứng và 67 cá con/ 100m3 nước biển Vùng biển Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan có số lượng lớn nhất, trung bình vào tháng 4-5 là 199 trứng

và 158 cá/ 100m3 nước biển

Bản đồ phân bố bãi của tôm Vỗ - Ibacus ciliatus và Thenus orientalis ở ba vùng biển vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ và Đông Nam Bộ đã được Nguyễn Công Con (1994) xác

Trang 17

14

định: Ở vùng biển vịnh Bắc Bộ vào mùa mưa tôm Vỗ có xu hướng tập trung ở phía Nam; vào mùa nắng chúng xu thế dịch chuyển lên phía Bắc và các vùng ven bờ Ở miền Trung có hai bãi tôm: một từ Quảng Ngãi đến Bình Định vào tháng 10 đến tháng

6 năm sau và một từ Khánh Hoà tới Bình Thuận Ở vùng biển Đông Nam Bộ có hai bãi đẻ quan trọng là bãi Cù Lao Thu và bãi Nam Côn Sơn Ngoài ra phía Đông Nam Mũi Cà Mau còn có một bãi tôm khác phân bố hẹp, song mật độ tập trung khá cao trong tháng 12

Năm 1996-1997 cùng với việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng hệ sinh thái cỏ biển, kết quả nghiên cứu về TCCC và ATT-TC trong thảm cỏ biển lần đầu tiên được đề cập đến ở các thảm cỏ biển vùng biển Gia Luận (Cát Bà, Hải Phòng) và đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) Kết quả cho thấy, số lượng TCCC và ATT-TC ở những mặt cắt có

cỏ biển cao hơn các vị trí không có cỏ khoảng 2-3 lần

Năm 1999, tàu SEAFDEC (Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á) nghiên cứu ở vùng Biển Đông đã xác định TCCC tập trung cao ở vùng biển ven bờ và khu vực quanh các đảo, vùng biển xa bờ xuất hiện với số lượng thấp hơn Vùng biển phía Bắc có số lượng TCCC cao hơn vùng biển phía Nam Vùng biển miền Trung số lượng TCCC thấp nhất Sự phân bố của trứng cá thường tập trung thành bãi và có mật độ cao hơn cá con ở các bãi đẻ

Là một phần thuộc Đề tài KC.CB.01.14 “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu là cá Trích, cá Nục, cá Cơm, cá Bạc má ) ở vùng biển Việt Nam” năm 2005 và Đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá Cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý” năm 2005-2006, đối tượng TCCC ở vùng biển Đông-Tây Nam Bộ cũng được thu mẫu trên diện rộng, các trạm nghiên cứu chủ yếu ở vùng nước lớn hơn 30m nước, với mật độ thu mẫu là 20-30 hải lý/ lần thu mẫu Bước đầu đã xác định nơi tập trung, thành phần loài và số lượng của TCCC Đây là điều kiện thuận lợi rất quan trọng, giúp cho Đề tài bổ sung thêm nguồn số liệu, mở rộng phạm vi nghiên cứu và có cái nhìn tổng quát hơn về đối tượng TCCC và ATT-TC ở vùng biển nghiên cứu

Nguyễn Khắc Bát và các chuyên gia Nga (2006) đã xác định một số nguyên nhân chính gây tử vong đối với trứng cá và cá con ở vịnh Nha Trang (Khánh Hoà), Quảng

Trang 18

Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến TCCC và ATT-TC đang được quan tâm nghiên cứu như đa dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học, đa dạng nguồn gen, đặc điểm sinh học như cấu trúc tuổi, chuỗi thức ăn, vòng đời, các đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, sự phát triển của cá thể, cấu trúc quần thể, mối quan hệ giữa chúng với các quần xã khác, môi trường sống và sự ảnh hưởng của các yếu tối môi trường tới sự phát triển của chúng, nghiên cứu chuyên sâu về những loài đặc sản và sinh sản nhân tạo nhằm hỗ trợ cho việc khôi phục số lượng các loài tôm, cá có giá trị

về khoa học và kinh tế

Lĩnh vực TCCC có nội dung nghiên cứu đa dạng Tuy đa số hướng nghiên cứu

là tập trung vào việc mô tả đặc điểm hình thái và đặc trưng phân bố, song vẫn có nhiều công trình đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của TCCC Nhiều nhất phải kể đến các nghiên cứu về tác động của nhiệt độ và độ mặn, hai yếu tố được coi là quyết định với tỷ lệ tử vong của TCCC Bên cạnh đó còn có các nhân tố môi trường khác như dòng chảy, mật độ chlorophyl, tia phóng xạ, mối quan hệ dinh dưỡng, thuỷ triều, thời gian ngày- đêm, …Nhưng chưa có hướng nghiên cứu nào sử dụng mô hình thủy động lực học để đánh giá sự dịch chuyển của TCCC-ATTTC

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào sử dụng mô hình thủy động lực học để dự đoán hướng di chuyển của TCCC và ATT-TC trong biển và đại dương,

trong khi đó nhiều nước trên thế giới đã thực hiện, như đối với loài Palunirus

marginatus ở Hawaii (Polovina và Moffit, 1995); với loài Jasus edwardsii và

Trang 19

16

Palunirus cygnus ở Australia (Griffin, Bruce và Bradford, 1998); với loài Jasus edwardsii ở Newzealand (Chriswell và Booth, 1999); với loài Palunirus argus ở

Bahamas (Lipcius và Stockhausen, 2001) [11,8]

Jeffrey J Polovina, Pierre Kleiber, Donald R Kobayashi đã nghiên cứu sự phát

tán ấu trùng của loài tôm hùm gai Palinuridae ở vùng biển phia tây bắc quần đảo

Hawaiian năm 1993 -1996 Camila Aguirre Góes cũng đã nghiên cứu sự phát tán ấu

trùng của loài tôm hùm gai Palinuridae ở vùng biển nhiệt đới Ân độ dương bằng mô

hình số kêt hợp với dữ liệu từ vệ tinh thực hiện năm 1993 -1996 [11,5]

Barry Bruce, David Griffin, Russell Bradford đã nghiên cứu sự vận chuyển bằng mô hình số cho loài tôm hùm đá ở nam Australia năm 2007 Christopher M Aiken1 nghiên cứu phát tán ấu trùng dọc bờ biển Chi Lê năm 2007 bằng mô hình số [4,7]

Grinson George đã dùng mô hình MIKE 21 PA để nghiên cứu sự phát tán của

ấu trùng ở bở biển phía tây của Ân Độ năm 2006 -2007 [9]

Các nghiên cứu đều cho thấy trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển khi các ATT-TC và TCCC chưa có khả năng tự vận động, sự phát triển, phát tán và phân

bố của chúng hoàn toàn bị phụ thuộc vào các yếu tố động lực và môi trưởng biển Vì vậy nghiên cứu giai đoạn này là rất quan trọng và nhiều ý nghĩa thực tiễn trong công việc quy hoạch và quản lý các bãi đẻ và các bãi ương nuôi tự nhiên

Trang 20

17

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ DỊCH

CHUYỂN CỦA TCCC - ATTTC

2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP, XỬ LÝ THÔNG KÊ SỐ LIỆU

+ Phân tích mẫu TCCC và ATT-TC

Trang thiết bị phân tích mẫu bao gồm: Kính giải phẫu Nikon SWZ1000, KRUSS (Đức), kính hiển vi Nikon E200 dùng để xác định mẫu…

Tài liệu phân loại TCCC và ATT-TC dựa vào tài liệu của các tác giả Nguyễn Hữu Phụng (1973,1976-1982,1991,1994), Deslman H.C(1920,1938), Mito.S(1960,1966), Zvjagina O.A (1965), Muneo Okiyama (1988), J M Lei và D S Rennis (1983), J.M.Lei và T.Trunski (1989), Jeffrey M.Leis và Brooke M Carson-Ewart (2000), A M Shadrin et al (2003)…

TCCC và ATT-TC được nhặt ra khỏi các sinh vật phù du và rác bẩn khác, cho vào ống nghiệm nút bằng bông thấm nước và lưu giữ trong một bình có chứa formaldehyd 5-7% (bảo đảm mẫu không bị khô và hư hỏng)

Mẫu TCCC được xác định dựa vào các giai đoạn phát triển theo Rass T S (1965):

Trứng cá chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn phân cắt trứng (Giai đoạn I): Từ khi trứng được thụ tinh đến khi trên cực động vật của noãn hoàng xuất hiện vòng phôi

Giai đoạn mầm phôi (Giai đoạn II): Vòng phôi bao 1/2 noãn hoàng, đầu phôi xuất hiện đến khi vòng phôi biến mất, trứng đã sang thời kỳ phôi vị

Giai đoạn hình thành thể phôi (Giai đoạn III): Các cơ quan phôi lần lượt xuất hiện, đã hình thành đuôi phôi, đến khi đuôi phôi tách khỏi noãn hoàng, thân phôi đã bao trên 1/2 đến 3/4 noãn hoàng

Giai đoạn phôi hoàn thành (Giai đoạn IV): Thể phôi đã bao gần hết noãn hoàng, xuất hiện màng vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi, mầm vây ngực Trứng đang chuẩn

bị nở

Trang 21

18

Cá con chia làm 3 giai đoạn:

Cá bột (Larvae): Từ cá bột mới nở đến khi hình thành xong vây đuôi

Cá hương (Postlarvae): Từ lúc hình thành xong vây đuôi đến hết giai đoạn biến thái, có đầy đủ các vây bao gồm các tia và gai, ở nhiều loài đã xuất hiện vẩy

Cá con (Juvenile): Hình dạng cơ thể giống cá trưởng thành, có đủ các vây và tia vây, có vẩy… cho đến khi bắt đầu phát triển tuyến sinh dục lần đầu trong đời sống

Mẫu ATT-TC được xác định theo phương pháp của CMFRI - Central Marine Fisheries Research Institute, India (1978) và Liu Heng & Liu J.U (1999):

Giai đoạn Nauplius (N): Khi ấu trùng vừa nở khỏi phôi, cơ thể chưa phân đốt (chưa có chân bụng), chia làm 3 phần: đầu ngực, bụng và đuôi

Giai đoạn Zoea (Z): Phần đầu ngực rộng và ngắn; phần thân nhỏ và dài; phần đuôi ngắn và xoè rộng Đã xuất hiện chuỳ, các bộ phận khác của cơ thể Các đốt trên

- Chỉ số tương đồng Sorensen được tính theo công thức: 2C / (A+B)

Trong đó: C là số loài có chung giữa hai điểm/ khu vực thu mẫu,

A là số loài có riêng ở điểm/ khu vực thu mẫu 1

B là số loài có riêng ở điểm/ khu vực thu mẫu 2

- Chỉ số đa dạng H’ được tính theo công thức của Shamon - Weiner (1963):

Trong đó: Pi = ni / N; ni là số lượng cá thể của loài thứ i; N là tổng số cá thể

logH’ = -

Trang 22

+ Xác định bãi đẻ và bãi ương nuôi tự nhiên

Sau khi đã xác định được mật độ của các đối tượng trong vùng nghiên cứu, đo chiều dài các đối tượng, dựa vào tốc độ và hướng dòng chảy, sử dụng phươg pháp tính ngược để xác định bãi đẻ và bãi ương nuôi tự nhiên của các đối tượng Bãi đẻ và bãi ương nuôi tự nhiên được xác định là những khu vực tập trung TCCC và ATT-TC có mật độ từ 500 cá thể/1000m3 nước trở lên

+ Phỏng vấn và thu mẫu tại các bến cá trọng điểm

Địa điểm lựa chọn là các bến cá chính thuộc 6 tỉnh trọng điểm ở Đông Tây Nam Bộ: Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang, với các loại nghề lưới kéo đáy, kéo tôm, vây cá cơm, nghề đáy và cào bay Tại các bến

cá khi tàu đi biển về, tiến hành phỏng vấn các thông tin về ngư trường, ngư cụ, sản phẩm, loại nghề khai thác, thành phần loài, sản lượng… Lấy mẫu ngẫu nhiên thuộc thành phần nhóm cá tạp (hoặc cá phân) để phân tích thành phần loài, cân khối lượng, xác định độ no dạ dày, tuyến sinh dục và đo chiều dài cá thể Quá trình phỏng vấn và phân tích mẫu được tiến hành ngay tại các bến cá

+ Chương trình giám sát hoạt động khai thác

Khu vực lựa chọn để giám sát hoạt động khai thác trên tàu ngư dân là vùng biển ven bờ Đông và Tây Nam Bộ, đại diện là Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang, bao gồm các loại nghề lưới kéo tôm, lưới kéo cá, lưới vây cá Cơm, nghề đáy và cào bay Quy trình thu mẫu cũng tương tự như chương trình phỏng vấn và thu mẫu trên bờ, các thông tin được ghi chép theo từng mẻ lưới

Trang 23

20

2.2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT HIỆN TRƯỜNG

+ Thiết bị thu mẫu TCCC và ATT-TC

- Lưới kéo tầng mặt: Lưới được cấu tạo bằng sợi ni-lon, có miệng hình chữ nhật, chiều dài 1m, chiều rộng 0,5m, kích thước mắt lưới 450m Lưới được thiết kế hình chóp nón, chiều dài tính từ miệng lưới tới ống đáy là 3m, thu mẫu ớ tầng nước 0,5-0m

- Lưới kéo thẳng đứng (xiên): Lưới có miệng hình tròn, đường kính 0,8m Lưới

có cấu tạo giống như lưới kéo tầng mặt

- Lưới kéo tầng đáy: Miệng lưới có hình chữ nhật, chiều dài 1,00m, chiều rộng 0,75m, kích thước mắt lưới 2a = 1mm Khung lưới được thiết kế bằng sắt chống gỉ, ván trượt có chiều ngang 0,2m, chiều dài 1m, cách đáy 0,2m (Hình 1)

- Máy đo lượng nước qua lưới của Mỹ, độ chính xác +/- 3%, độ nhạy 2,0m/giây

0,2-Hình 1 Dụng cụ thu mẫu tầng thẳng đứng (A), mặt (B), đáy (C) và đo lượng nước qua

lưới (D)

Ngày đăng: 27/08/2017, 16:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Barry Bruce, David Griffin, Russell Bradford, Larval transport and recruitment processes of southern rock lobster, CSIRO Marine and Atmospheric Research FINAL REPORT (OCTOBER 2007) Project No. 2002/007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larval transport and recruitment processes of southern rock lobster
5. Camila Aguirre Góes1, João Antônio Lorenzzetti1, Douglas F. Marcolino Gherardi1, Jorge Eduardo Lins Oliveira, Modeling spiny lobster larval dispersion in the tropical Atlantic using satellite data, Anais XIII Simpósio Brasileiro de Sensoriamento Remoto, Florianópolis, Brasil, 21-26 abril 2007, INPE, p. 4595- 4602 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modeling spiny lobster larval dispersion in the tropical Atlantic using satellite data
8. Frode Vikebứ, Svein Sundby, Bjứrn A ˚ dlandsvik and ỉyvind Fiksen, The combined effect of transport and temperature on distribution and growth of larvae and pelagic juveniles of Arcto-Norwegian cod, ICES Journal of Marine Science, 62: 1375-1386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The combined effect of transport and temperature on distribution and growth of larvae and pelagic juveniles of Arcto-Norwegian cod
9. Grinson George, Dattesh .V. Desai, Chetan A. Gaonkar V. M. Aboobacker, P. Vethamony, and Arga Chandrashekar Anil, Barnacle larval transport in the Mandovi-Zuari estuarine system, central west coast of India, J. Oceanogr., vol.69(4); 2013; 451-466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Barnacle larval transport in the Mandovi-Zuari estuarine system, central west coast of India
10. Jesus Pineda, Jonathan A. Hard and Susponaugle, Larval Transport and Dispersalin the Coastal Ocean andConsequences for Population Connectivity, Oceanography September 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larval Transport and Dispersalin the Coastal Ocean andConsequences for Population Connectivity
11. Jeffrey J. Polovina, Pierre Kleiber, Donald R. Kobayashi, Application of TOPEX- POSEIDON satellitealtimetry to simulate transport dynamics of larvae of spiny lobster, Panulirus marginatus, in the Northwestern Hawaiian Islands,1993–1996, Fishery Bulletin 97(1), 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of TOPEX-POSEIDON satellitealtimetry to simulate transport dynamics of larvae of spiny lobster, Panulirus marginatus, in the Northwestern Hawaiian Islands
12. Mark J. Butler IV, Claire B. Paris, Jason S. Goldstein, Hirokazu Matsuda , Robert K. Cowen, Behavior constrains the dispersal of long-lived spiny lobster larvae, MARINE ECOLOGY PROGRESS SERIES Vol. 422: 223–237, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Behavior constrains the dispersal of long-lived spiny lobster larvae
13. Michael D. McGurk, Natural mortality of marine pelagic fish eggs and larvae: role of spatial patchiness, MARINE ECOLOGY - PROGRESS SERIES Vol 34.277-242, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural mortality of marine pelagic fish eggs and larvae: "role of spatial patchiness
14. Robert K. Cowen and Su Sponaugle, Larval Dispersal and Marine Population Connectivity, Annu. Rev. Mar. Sci. 2009. 1:443–66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larval Dispersal and Marine Population Connectivity
2. Phạm Quốc Huy (2007), Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ trứng cá – cá con và ấu trùng tôm – tôm con ở vung biển ven bờ Đông Tây nam bộ, Báo cáo khoa học, Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
3. ROY LEWIS (Nguyễn Thọ Sáo biên dịch 2004), Quá trình phát tán vật chất trong các cửa sông, Giáo trình,Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.2. TIẾNG ANH Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w