Như vậy, chất thải phát sinh từ các viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng bao gồm: 1 Các loại hóa chất thải như hóa chất thải sau quá trình thí nghiệm, hóa chất hết hạn sử dụng, các vỏ lọ hóa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
Nguyễn Phương Hằng
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI
TẠI MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU THUỘC HỆ Y TẾ DỰ PHÕNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
Nguyễn Phương Hằng
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI
TẠI MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU THUỘC HỆ Y TẾ DỰ PHÕNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TS Nguyễn Bá Ngọc
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải PGS.TS Nguyễn Thị Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu cả về vật chất và tinh thần cũng như kiến thức chuyên môn từ thầy cô và bạn bè Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bá Ngọc
- Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc Gia Hà Nội) và PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc Gia Hà Nội) đã định hướng
đề tài và hướng dẫn em trong cách tiếp cận đề tài mới mẻ này Các thầy đã dành thời gian quý báu của mình để hướng dẫn, góp ý cũng như cung cấp nhiều tài liệu quý giá tại điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện luận văn
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các quý thầy cô đã từng giảng dạy lớp cao học K22 – Khoa học môi trường, nhờ đó mà em đã tích lũy được những kinh nghiệm nghiên cứu vô cùng quý báu
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, nguồn động lực chính để em có sức mạnh vượt qua khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn
Dù đã cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả lòng nhiệt tình và tâm huyết, song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô
Học viên xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
HỌC VIÊN
Nguyễn Phương Hằng
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTLN Chất thải lây nhiễm
SKNN&MT Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
SMEWW Các phương pháp chuẩn xét nghiệm nước và nước thải
(Standard Methods for the Examination of Water and Waste Water)
TN&MT Tài nguyên và môi trường
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
VSDTTW Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 5
1.1 Tình hình quản lý chất thải nguy hại trên thế giới 5
1.2 Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Tổng quan 24
2.2.2 Điều tra khảo sát lấy mẫu 25
2.2.3 Phân tích phòng thí nghiệm 27
2.2.4 Đánh giá và so sánh 28
2.2.5 Xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thực trạng quản lý, xử lý nước thải tại ba Viện nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm nước thải của các Viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng 30
3.1.2 Hệ thống thu gom và xử lý nước thải 31
3.1.3 Hồ sơ giấy tờ liên quan đến hệ thống thu gom, xử lý nước thải 34
3.1.4 Chất lượng nước thải 35
3.2 Thực trạng thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, lỏng tại 3 Viện nghiên cứu 45
3.2.1 Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải 45
3.2.2 Phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải 46
3.2.3 Phương tiện, nhà lưu giữ chất thải rắn 49
3.2.4 Hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công tác quản lý, xử lý chất thải rắn 52
3.2.5 Kiến thức, thực hành trong quản lý chất thải nguy hại 53
3.3 Nhân lực quản lý chất thải phát sinh 59
Trang 63.4 Giải pháp quản lý chất thải tại các Viện nghiên cứu thuộc hệ y tế dự phòng 60
3.4.1 Giải pháp chung đối với ba Viện 60
3.4.2 Giải pháp riêng cho Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 77
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1 Một số hóa chất vô cơ có thể thải vào hệ thống thoát nước PTN 6
Bảng 1-2 Nồng độ tối thiểu của một số hóa chất cho phép thải vào đường thoát nước (Mỹ) 7
Bảng 1-3 Hướng dẫn của Anh về xả nước thải từ hoạt động khám chữa bệnh 8
Bảng 1-4 Quy định về thu gom, lưu giữ chất thải PTN (Úc) 9
Bảng 1-5 Mã màu và phương pháp xử lý các nhóm chất thải (Anh) 13
Bảng 1-6 Hướng dẫn phân loại, lưu giữ, xử lý chất thải (Philippine) 14
Bảng 1-7 Quy định về dấu hiệu cảnh báo trong quản lý CTNH (Bộ KH&CN) 15
Bảng 2-1 Lý lịch mẫu nước thải tại 3 Viện nghiên cứu 25
Bảng 2-2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu nước thải 27
Bảng 3-1 Hàm lượng coliform và vi khuẩn gây bệnh trong nước thải viện VSDTTW 38 Bảng 3-2 Hàm lượng coliform và vi khuẩn gây bệnh trong nước thải viện SKNN&MT 44
Bảng 3-3 Kiến thức về chất thải nguy hại phòng thí nghiệm tại 3 Viện nghiên cứu 54
Bảng 3-4 Kiến thức về dấu hiệu cảnh báo chất thải nguy hại tại 3 Viện 56
Bảng 3-5 Thông số kích thước hệ thống xử lý nước thải đề xuất 70
Bảng 3-6 Các thông số nước thải đầu ra dự tính 70
Bảng 3-7 Ước tính chi phí chung cho bể lọc kỵ khí 70
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hướng dẫn phương tiện thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải y tế 16
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải Viện VSDTTW 33
Hình 3.2 Hệ thống xử lý nước thải Viện VSDTTW 33
Hình 3.3 Thông số BOD5 trong nước thải viện VSDTTW 36
Hình 3.4 Thông số COD trong nước thải viện VSDTTW 36
Hình 3.5 Thông số COD, BOD5, amoni trong nước thải viện Dinh dưỡng 39
Hình 3.6 Thông số BOD5 trong nước thải viện SKNN&MT 40
Hình 3.7 Thông số COD trong nước thải viện SKNN&MT 41
Hình 3.8 Thông số amoni trong nước thải viện SKNN&MT 42
Hình 3.9 Thông số tổng nitơ trong nước thải viện SKNN&MT 42
Hình 3.10 Túi, thùng sử dụng tại 3 Viện nghiên cứu 48
Hình 3.11 Khu lưu giữ chất thải tại Viện Dinh dưỡng 49
Hình 3.12 Bóng đèn tuýp lưu giữ tại Viện Dinh dưỡng 49
Hình 3.13 Nơi đặt thùng đựng chất thải tại Viện SKNN&MT 51
Hình 3.14 Xe đẩy sử dụng tại Viện SKNN&MT 51
Hình 3.15 Khu lưu giữ chất thải Viện VSDTTW 51
Hình 3.16 Bảng hướng dẫn phân loại tại Viện Dinh dưỡng 59
Hình 3.17 Bảng hướng dẫn phân loại 59
Hình 3.18 Mô hình thu gom nước thải cho Viện SKNN & MT 65
Hình 3.19 Mô hình bể lọc kỵ khí 66
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển và sinh sống của con người Tuy nhiên, cho đến nay, chất lượng môi trường đang ngày càng suy giảm do những hoạt động khai thác, hoạt động phát triển không bền vững Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường là do các loại hóa chất, chất thải độc hại từ hoạt động khai thác/sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, và các hoạt động sinh hoạt khác được sản sinh và thải loại vào môi trường và có thể gây nên những tác động có hại đến sức khỏe cộng đồng Theo Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), ô nhiễm môi trường đã dẫn đến nhiều vấn đế về sức khỏe của con người như các dạng ung thư, các bệnh do virus, bệnh truyền từ động vật sang người, suy dinh dưỡng và bệnh về đường hô hấp (UNEP, 2007) [20]
Cũng theo (UNEP, 2014) [21] các hóa chất và chất thải góp phần vào ô nhiễm môi trường thế giới bao gồm:
1 Các hợp chất bền, có khả năng tích lũy sinh học và các hợp chất độc (PBTs)
2 Các hóa chất gây ung thư hoặc gây đột biến gene hoặc có ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản, tuyến nội tiết, hệ miễn dịch hoặc hệ thần kinh
3 Các hóa chất có khả năng gây hại trực tiếp (gây độc cấp tính, gây nổ hoặc gây
Trang 10(QH 2014; QH 2007) Những loại chất thải này cần được thu gom và xử lý trước khi thải ra môi trường
Viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng tại Việt Nam có đặc điểm bao gồm các khoa/phòng thí nghiệm chuyên môn như xét nghiệm các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh vật trong các mẫu môi trường, các mẫu sinh hóa Đồng thời những viện nghiên cứu này còn có thể có các khoa/phòng thực hiện nhiệm vụ khám bệnh định kỳ, tiêm phòng vacxin hay lấy máu xét nghiệm, v.v Như vậy, chất thải phát sinh từ các viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng bao gồm:
(1) Các loại hóa chất thải như hóa chất thải sau quá trình thí nghiệm, hóa chất hết hạn sử dụng, các vỏ lọ hóa chất, giấy loại hoặc các vật dụng thải chứa hoặc dính hóa chất Những hóa chất và chất thải này có thể chứa chứa các thành phần nguy hại như axit, hợp chất đa vòng thơm, hợp chất hữu cơ nhóm –OH, kim loại nặng, nguồn vi sinh vật, mầm bệnh (đối các phòng xét nghiệm vi sinh, bệnh phẩm, sinh hóa) v.v hoặc chứa các thành phần không nguy hại
(2) Các loại chất thải lây nhiễm như bông băng gạc dính máu, dịch cơ thể, kim tiêm, dung dịch rửa phim (phòng khám có chụp và rửa phim X-quang), v.v Theo QH (2014); QH (2007) và theo danh mục chất thải nguy hại thì chất thải phát sinh từ các phòng thí nghiệm và phòng khám là chất thải nguy hại (Bộ KHCN, 2009;
Bộ TN&MT, 2006) [2], [3] và là một nguồn gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng cần phải được quản lý, xử lý phù hợp trước khi thải loại ra môi trường Nhưng, lượng chất thải này được quản lý và xử lý như thế nào, có an toàn không còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp Thực tế cho đến nay, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu nào tập trung vào đánh giá thực trạng quản lý, xử lý nhóm chất thải phát sinh từ các Viện nghiên cứu y tế dự phòng Chính vì thế, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải tại một số Viện nghiên cứu thuộc hệ y tê dự phòng và Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả” với mục tiêu có
Trang 11cái nhìn tổng quan về công tác quản lý, xử lý chất thải tại các Viện và tìm ra giải pháp thích hợp trong quản lý nhóm chất thải này
2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả thực trạng phát sinh chất thải tại một số viện nghiên cứu thuộc hệ y tế dự phòng phía Bắc
- Mô tả thực trạng quản lý và xử lý chất thải tại một số viện nghiên cứu thuộc hệ y tế
dự phòng phía Bắc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xử lý chất thải đối với các viện nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
Mô tả thực trạng thu gom, xử lý nước thải tại một số viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng:
- Điều tra, đánh giá hệ thống thu gom nước thải từ các phòng thí nghiệm và phòng khám của các viện nghiên cứu thông qua đánh giá bản vẽ thiết kế và phỏng vấn cán
bộ phụ trách về mảng xây dựng, lắp đặt hệ thống thu gom nước thải của đơn vị
- Đánh giá chất lượng nước thải của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Dinh dưỡng: Tiến hành lấy mẫu nước thải phát sinh từ khu vực phòng thí nghiệm và phòng khám, lấy mẫu nước thải tập trung và của đơn vị, phân tích mẫu nước tại phòng thí nghiệm
Mô tả thực trạng thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và lỏng tại một số viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng:
- Đánh giá thực trạng công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn phát sinh
từ các phòng thí nghiệm và phòng khám thông qua quan sát thực tế và phỏng vấn các cán bộ của phòng;
- Đánh giá thực trạng công tác vận chuyển ra bên ngoài và xử lý chất thải rắn này thông qua đánh giá các văn bản, giấy tờ có liên quan, phỏng vấn cán bộ chịu trách nhiệm về chất thải rắn của đơn vị
Trang 12Đề xuất giải pháp quản lý, xử lý chất thải phát sinh tại các viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng:
- Đưa ra giải pháp quản lý, xử lý chất thải dựa vào kết quả nghiên cứu thực tế, ý kiến phản hồi từ các cán bộ của đơn vị nghiên cứu và thông qua tham khảo tài liệu
3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong 7 tháng, từ tháng 5/2016 đến tháng 11/2016
4 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình quản lý chất thải nguy hại trên thế giới
Sớm nhận thấy được sự nguy hại của hóa chất và chất thải phát sinh tại các phòng thí nghiệm, nhiều trường đại học trên thế giới đã đưa ra hướng dẫn thải bỏ, thu gom và quản lý chất thải đặc biệt này để hạn chế đến mức tối đa khả năng ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng
Thu gom, xử lý nước thải phòng thí nghiệm/phòng khám
Khoa An toàn và Sức khỏe môi trường, trường đại học Vanderbilt (VEHS) [22], Mỹ đã đưa ra hướng dẫn về thải bỏ chất thải phòng thí nghiệm qua hệ thống cống thải Trong bản hướng dẫn này, một số dạng hóa chất không được đổ vào hệ thống thoát nước của khu thí nghiệm như các loại hóa chất chưa sử dụng, các chất thải thuộc nhóm clo hydrocacbon như metyl clorua, etyl clorua, v.v; các chất thải thuộc nhóm brom hydrocacbon, chất thải chứa nhóm xyanua, chất thải chứa kim loại nặng; dung môi; dầu
mỡ, v.v Tất cả những nhóm chất thải kể trên không được phép xả vào hệ thống thoát nước thải ở bất kỳ nồng độ nào và phải được thu gom, xử lý như chất thải nguy hại (VEHS, 2003) [22]
Các loại chất thải phòng thí nghiệm có đổ xả vào hệ thống thoát nước bao gồm: (1) chất thải phóng xạ nếu chất thải này đã được pha loãng (và tan trong nước), lượng phát thải tối đa là 200μCi/PTN/ngày; (2) chất thải sinh học khi đã được xử lý phù hợp; (3) hóa chất hữu cơ và vô cơ có nồng độ ≤ 1% Trong đó chất thải sinh học được hướng dẫn cụ thể về cách thải bỏ, phương tiện thu gom, lưu giữ từng loại chất thải sinh học và cách xử lý ban đầu Một số hóa chất vô cơ có thể đổ xuống hệ thống thoát nước của phòng thí nghiệm bao gồm:
Trang 14Bảng 1-1 Một số hóa chất vô cơ có thể thải vào hệ thống thoát nước PTN
Bên cạnh đó, quy định này cũng đưa ra danh mục những hóa chất có thể đổ vào đường cống thoát nước (CEHS, 2014):
- Dung dịch muối hoặc dung dịch đệm có pH = 5,5 – 9,5
- Chất có khả năng hòa tan và không nguy hại như: muối, amino axit, enzyme, đường, protein, axít citric và các muối kiềm của nó, axít lactic và các muối kiềm của nó
- Dung dịch có tính bazo hoặc axit cao đã được trung hòa hoặc pha loãng để đạt pH
= 5,5 – 9,5
Trang 15- Các loại mầm bệnh có thể lan truyền nhanh trong nước, như vi khuẩn
Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli (Ekhaise and Omavwoya, 2008) [17],
virus hoặc trứng giun
Trang 16- Các loại hóa chất - dược phẩm phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh (DH, 2007) [13]
- Chất thải của người bệnh, v.v
Do đó, nước thải phát sinh từ các đơn vị này được khuyến cáo nếu vượt quá tiêu chuẩn
xả thải cho phép thì cần phải được thu gom, xử lý riêng tại đơn vị trước khi xả thải vào
hệ thống thải của địa phương (DH, 2007) [13]
Chính phủ Anh cũng đã ban hành Hướng dẫn về xả thải nước thải từ các hoạt động
khám chữa bệnh năm 2011 Hướng dẫn này phân biệt cụ thể nước thải phát sinh từ
từng hoạt động liên quan đến công tác khám/chữa bệnh và cách xử lý ban đầu, thu
gom Cụ thể như sau:
Bảng 1-3 Hướng dẫn của Anh về xả nước thải từ hoạt động khám chữa bệnh
Nguồn phát sinh Loại nước thải Xử lý trước khi thải bỏ
Phòng khám răng
- Nước súc miệng (có hoặc không có nước bọt + máu)
- Có thể xả trực tiếp
- Vật liệu hàn răng - Phải lọc loại bỏ vật liệu hàn răng
- Thuốc gây mê còn trong ống tiêm
- Thải bỏ cả ống tiêm vào hộp đựng chất thải sắc nhọn
Phòng thí nghiệm
nghiên cứu về
bệnh
- Lượng nhỏ thuốc thử, chất nhuộm màu
- Có thể xả vào lavabo, kết hợp xả nước vòi
- Cồn thừa và các dung môi khác
- Không xả vào lavabo, yêu cầu thu gom riêng
- Thủy ngân (Hg) - Phải thu gom vào thùng riêng và
hợp đồng với đơn vị có tư cách pháp nhân vận chuyển, xử lý Phòng khám nội
soi
- Hóa chất sử dụng để làm sạch và khử trùng thiết bị
- Cần tư vấn chuyên gia xem có được phép xả thải trực tiếp không
Phòng X-quang
Hợp chất hiện phim (BaSO4)
- Không được đổ vào hệ thống thoát nước
- Dung dịch rửa phim - Chỉ có thể được xả vào hệ thống
thoát nước nếu được đơn vị chức năng phê duyệt
(Nguồn: Tóm tắt từ Water.UK (2011)) [23].
Trang 17Thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn/lỏng phòng thí nghiệm/phòng khám
Đối với các loại chất thải rắn và lỏng phát sinh từ phòng thí nghiệm/phòng khám còn được quy định chặt chẽ hơn trong công tác phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển Trường đại học Wollongong, Úc đưa ra quy định cụ thể về thu gom, lưu giữ các loại chất thải phát sinh từ phòng thí nghiệm của trường Trong đó quy định rõ loại thùng chứa riêng đối với từng nhóm hóa chất, cách ghi nhãn cho các loại hóa chất thải bỏ, nơi lưu giữ, v.v Bảng dưới đây tổng hợp một số loại chất thải phát sinh từ phòng thí nghiệm, trích từ quy định của đại học Wollongong
Bảng 1-4 Quy định về thu gom, lưu giữ chất thải PTN (Öc) Loại chất thải Loại thùng chứa Hình ảnh, biểu tượng
Chất thải nguy hại
Dung môi, hóa chất lỏng Thùng 5lít nhựa HDPE
Dụng cụ bị nhiễm các hóa
chất nguy hại
Thùng chứa dụng cụ bị nhiễm các hóa chất nguy hại đặt tại PTN
Giấy lọc, găng tay, giấy
thấm, đồ thủy tinh
Thùng chứa chất thải bị nhiễm hóa chất
Trang 18Loại chất thải Loại thùng chứa Hình ảnh, biểu tƣợng
Các lọ hóa chất cũ, không
sử dụng hết hoặc không
đƣợc dán nhãn
Những lọ hóa chất này có thể chuyển trực tiếp đến điểm tập kết và phải điền đầy đủ vào biên bản vận chuyển chất thải
Có thể liên hệ để yêu cầu thu gom đặc biệt các loại chất thải này
Chất thải rắn
Silica đã sử dụng Thùng chứa 5lít nhựa HDPE
hoặc đựng trong túi đựng chất thải
Vật sắc nhọn Thùng chứa chất thải sắc nhọn
mầu vàng Chất thải sắc nhọn chứa hóa
chất hoặc bị nhiễm bẩn
Thùng chứa chất thải sắc nhọn, hoặc đựng trong túi đựng chất thải (tùy thuộc vào loại hóa chất bị nhiễm: nguy hại sinh học, phóng xạ, gây độc tế bào)
Các loại chất thải khác
Nguy hại sinh học Túi hoặc thùng chứa màu vàng
có biểu tƣợng nguy hại sinh học bên ngoài
Phóng xạ Túi hoặc thùng chứa màu đỏ,
có biểu tƣợng CT phóng xạ bên ngoài
Gây độc tế bào Túi hoặc thùng chứa màu tím
với biểu tƣợng gây độc tế bào mầu trắng bên ngoài
(Nguồn:SoC (2010)) [19]
Trang 19Trong hướng dẫn quản lý chất thải hóa học phòng thí nghiệm của trường đại học Pennsylvania, Mỹ, bên cạnh những hướng dẫn chi tiết các bước giảm thiểu chất thải phát sinh, thu gom và lưu giữ các loại chất thải, v.v còn có nêu bước xử lý cuối cùng đối với các loại chất thải phát sinh từ phòng thí nghiệm của trưởng Các phương pháp
xử lý áp dụng bao gồm: (1) Hầu hết dung môi phát sinh từ trường đều được trộn với các hóa chất tương tự và được sử dụng như nhiên liệu trong các lò nung tại nhà máy sản xuất xi măng; (2) các chất thải khác được tái chế như thủy ngân – dụng cụ đựng thủy ngân, pin xạc, bóng đèn huỳnh quang và chì; (3) các thuốc thử - hóa chất được đốt tại nhà máy xử lý chất thải nguy hại (EHRS, 2011) [15]
Chất thải y tế, do mang đặc tính lây nhiễm và nguy hại cao, được quy định chặt chẽ và hướng dẫn cụ thể trong công tác phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý
Từ năm 1999, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khuyến cáo về công tác quản lý chất thải y tế Trong đó có quy định mã màu và biểu tượng cảnh báo tương ứng với từng lại chất thải y tế như: chất thải lây nhiễm đựng trong túi/thùng màu vàng và biểu tượng nguy hại sinh học bên ngoài, túi/thùng không bị rò rỉ và phải chịu được vi sóng; chất thải sắc nhọn đựng trong hộp kháng thủng màu vàng, có biểu tượng nguy hại sinh học và dòng chữ Chất thải sắc nhọn; Chất thải hóa học đựng trong túi/thùng màu nâu; chất thải phóng xạ đựng trong hộp chì với biểu tượng nguy hại phóng xạ bên ngoài; chất thải thông thường đựng trong túi màu đen (A.Pruss et al 1999; ICRC, 2011) [11], [18] Về thu gom và lưu giữ, WHO khuyến cáo chất thải y tế cần được thu gom hàng ngày, các túi đựng chất thải phải được ghi xuất xứ và phải thay thế túi sạch ngay sau khi thu gom; chất thải lưu giữ riêng và không được lưu giữ tại đơn vị quá 24 tiếng (vào mùa nóng) và quá 48 tiếng (vào mùa lạnh) (A.Pruss et al 1999) [11]; nếu bảo quản lạnh (3 – 80C) có thể lưu giữ chất thải một tuần (ICRC, 2011) [18]
Cho đến nay, nhiều nước trên thế giới, dựa trên khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đã ban hành hoặc đang hoàn thiện chính sách/quy định/hướng dẫn về quản lý chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế như Angola, Benin, Cameroon, Tanzania,
Trang 20Zimbabwe, Bolivia, Cuba, Haiti, Afganistan, Yemen, Pakistan, Armenia, Ukraine, Moldavia, Bangladesh, Bhutan, Cambodia, Myanmar, Laos, Nepal, Vietnam, v.v (ICRC, 2011)
Mặc dù, dựa trên khuyến cáo và hướng dẫn của WHO, nhưng quy định về mã màu và biểu tượng đối với túi/thùng đựng chất thải khá khác nhau tại các nước Theo quy định tại Vương quốc Anh, mã màu được đưa ra thể hiện loại chất thải cũng như phương pháp có thể áp dụng để xử lý chất thải, mã màu được thể hiện trong bảng dưới đây (DoH, 2013) [14]:
Trang 21Bảng 1-5 Mã màu và phương pháp xử lý các nhóm chất thải (Anh)
Vàng
Chất thải cần được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt
Cho biết phương pháp xử lý cần áp dụng là thiêu đốt tại đơn vị có tư cách pháp nhân
Da cam
Chất thải có thể được xử lý
Cho biết phương pháp xử lý cần áp dụng phương pháp xử lý chất thải không khói để bất hoạt vi sinh hoặc làm biến đổi hình dạng/tính chất của chất thải Tuy nhiên đối với loại chất thải này cũng có thể
sử dụng phương pháp thiêu đốt
Tím
Chất thải gây độc tế bào
Cho biết phương pháp xử lý cần áp dụng là thiêu đốt
Vàng/đen
Chất thải không lây nhiễm (như quần áo bảo hộ, găng tay, khẩu
trang không dính máu/dịch cơ thể bệnh nhân, bỉm, miếng lót, chất thải đã khử trùng bằng vi sóng, v.v)
Cho biết phương pháp xử lý là chôn lấp hoặc thiêu đốt như chất thải sinh hoạt/thu hồi năng lượng
Đỏ
Chất thải giải phẫu đem thiêu đốt
Cho biết cần áp dụng phương pháp thiêu đốt đối với loại chất thải này
Đen
Chất thải thông thường
Chôn lấp (tối thiểu), thiêu đốt như chất sinh hoạt để thu hồi năng lượng hoặc áp dụng quy trình xử lý chất thải sinh hoạt thông thường khác tại đơn vị có tư cách pháp nhân Các phần có thể tái chế cần được thu hồi trong quá trình phân loại
Trang 22Trong hướng dẫn của Bộ y tế, Philippine, các loại chất thải được phân loại, lưu giữ, xử
lý như sau:
Bảng 1-6 Hướng dẫn phân loại, lưu giữ, xử lý chất thải (Philippine)
Loạt CT Lưu giữ tại
nguồn
Địa điểm tập kết CT Xử lý
Vận chuyển
ra bên ngoài
Thải bỏ cuối cùng
Phương pháp không đốt
Xe thu gom của thành phố Chôn lấp
Chất thải
hóa học Thùng vàng
- Khu vực tập kết riêng
Nếu là hóa chất không nguy hại - Đổ vào hệ
thống thoát nước -Lưu giữ
riêng đảm bảo thời gian phân hủy
Phương pháp không đốt
Xe thu gom của thành phố - Tái chế
- Phương pháp không đốt
Xe thu gom của thành phố - Chôn lấp
riêng Dược
Trả lại nhà cung cấp
- Nhà cung cấp xử lý
Chai lọ,
giấy bìa Thùng đen
Khu vực tập kết chung
- Làm phân hữu cơ
Trang 231.2 Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
Nhận thấy những tác động có hại và lâu dài đến chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng của các hoạt động phát triển, Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, các tiêu chuẩn, hướng dẫn nhằm hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực đó
Năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường, trong đó nghiêm cấm “thải chất thải chưa được xử lý môi trường; các chất độc; chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước” (QH, 2014) [8] Do đó, tất cả các loại chất thải nguy hại phát sinh đều cần phải được phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường
Dựa trên những quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Danh mục chất thải nguy hại, theo đó tất cả các loại chất thải
có đặc tính dễ nổ, dễ cháy, oxy hóa, ăn mòn, độc tính, dễ lây nhiễm đều được coi là chất thải nguy hại (Bộ TN&MT, 2006) [3] và cần được quản lý - xử lý chặt chẽ Bộ Khoa học công nghệ quy định hình dạng, nội dung của dấu hiệu cảnh báo trong quản lý chất thải nguy hại như sau:
Bảng 1-7 Quy định về dấu hiệu cảnh báo trong quản lý CTNH (Bộ KH&CN) Loại chất thải Biểu tượng và lời Dấu hiệu cảnh báo
Có chất oxy hóa Ngọn lửa trên vòng tròn
Lời: chất oxy hóa
Có các chất độc hại (chất
thải nguy hại)
Xương sọ và hai khúc xương bắt chéo
Có chứa chất gây bệnh
hoặc nguồn vi trùng gây
bệnh
Ba vòng khuẩn lạc Lời: Lây nhiễm trùng
(Nguồn: tóm tắt từ Bộ KHCN (2000) [1]
Trang 24Bộ Y tế cũng đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế Trong đó quy định cụ thể hơn
về các dấu hiệu cảnh báo đối với từng loại chất thải y tế, bên cạnh đó quy định và hướng dẫn cụ thể về phương tiện, cách thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển và phương pháp xử lý phù hợp với từng loại chất thải
Hình 1.1 Hướng dẫn phương tiện thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải y tế
(Bộ Y tế, Việt Nam)
(Nguồn:Cục Quản lý môi trường – Bộ Y tế )
Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng các bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nước thải Trong đó quy định nước thải trước khi được phép thải
ra môi trường phải có các chỉ tiêu phân tích đạt tiêu chuẩn như Crom (III) ≤ 2mg/L; Đồng ≤ 2 mg/L; Mangan ≤ 1mg/L; phenol ≤ 0,5mg/L trong nước thải công nghiệp (Bộ TN&MT 2011) [6]; tổng chất rắn lơ lửng ≤ 100mg/L, amoni ≤ 10mg/L, dầu mỡ động thực vật ≤ 20mg/L, phosphate ≤ 10mg/L, tổng coliforms ≤ 5000/100mL trong nước
Trang 25thải sinh hoạt (Bộ TN&MT 2008) [4]; Salmonella, Shigella, Vibiro cholerae không
phát hiện trong nước thải y tế (Bộ TN&MT 2010) [5]
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một văn bản pháp quy nào quy định, hướng dẫn về việc thu gom, xử lý nước thải phát sinh từ phòng thí nghiệm/phòng khám nói chung và tại các Viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng nói riêng
Thu gom, xử lý nước thải phòng thí nghiệm/phòng khám
Các đơn vị có phòng thí nghiệm/phòng khám phải dựa vào các văn bản pháp quy như
kể trên để xây dựng hướng dẫn về quản lý và xử lý chất thải phát sinh
Trường đại học kỹ thuật công nghệ (ĐHKTCN) TP.HCM đã hướng dẫn xử lý nước thải nguy hại có chứa dung dịch có tính axit/kiềm, thuốc thử hữu cơ khó phân hủy, anion dễ kết tủa trước khi thải bỏ trong Sổ tay quản lý chất thải nguy hại phòng thí nghiệm (ĐHKTCN, 2013) [10] Tuy nhiên, trừ trường đại học kỹ thuật công nghệ TP.HCM, thông tin về hướng dẫn quản lý, xử lý nước thải phát sinh từ các phòng thí nghiệm khác còn hạn chế
Thực tế, cho đến nay chưa có một nghiên cứu hay báo cáo thống kê về thực tế thu gom,
xử lý nước thải phát sinh từ các phòng thí nghiệm/phòng khám tại các viện nghiên cứu không chỉ trong hệ y tế dự phòng mà còn trong các ngành khác
Thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn/lỏng phòng thí nghiệm/phòng khám
Tương tự, đối với công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phòng thí nghiệm Không có tài liệu hướng dẫn của nhà nước hay của các đơn vị có phòng thí nghiệm/phòng khám trừ trường đại học kỹ thuật công nghệ TP.HCM
Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải phòng thí nghiệm của trường đã quy định vai trò và trách nhiệm của từng thành viên trong trường trong công tác quản lý chất thải nguy hại; hướng dẫn và đưa ra mẫu nhãn chất thải nguy hại hoặc không nguy hại, các biểu tượng dành cho từng loại chất thải như quy định trong TCVN 6707:2000; quy định về thùng chứa hóa chất, khu vực lưu giữ chất thải nguy hại, v.v (ĐHKTCN, 2013) [10]
Trang 26Về thực trạng công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý các loại chất thải rắn/lỏng phòng thí nghiệm/phòng khám, cho đến nay chưa có thông tin, số liệu hay báo cáo chính thức nào, đặc biệt là đối với phòng thí nghiệm/phòng khám của các Viện nghiên cứu nằm trong hệ y tế dự phòng
Hiện nay, ngân hàng Thế Giới đã phối hợp với Bộ Y tế triển khai dự án Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện trong giai đoạn từ năm 2012 và dự kiến kéo dài đến năm 2018 Cho đến thời điểm này dự án đã ký thỏa thuận đầu tư cho khoảng 203 bệnh viện trên Toàn Quốc (20 bệnh viện Trung ương, 183 bệnh viện tuyến Tỉnh và Huyện) với tổng số tiền
là 117 triệu USD Các nội dung đầu tư cho các bệnh viện chủ yếu tập trung vào mảng thu gom, xử lý nước thải y tế; thu gom, xử lý chất thải rắn y tế bằng phương pháp thân thiện với môi trường; nâng cao năng lực quản lý chất thải y tế cho bệnh viện (bao gồm phương tiện thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải cũng như nâng cao năng lực kiến thức và thực hành quản lý chất thải cho nhân viên y tế) Tuy nhiên đối tượng được đầu
tư của dự án chủ yếu là các bệnh viện có số giường bệnh >200 giường, không bao gồm
hỗ trợ cho các đơn vị thuộc hệ thống Y tế dự phòng
Chính vì vậy, nghiên cứu “Thực trạng quản lý, xử lý chất thải tại một số viện y tế dự phòng” là rất cần thiết Đây sẽ là nghiên cứu ban đầu và làm tiền đề để “Xây dựng đề
án quản lý, xử lý chất thải phù hợp” đối với các Viện nghiên cứu thuộc hệ y tế dự phòng nói riêng và các viện nghiên cứu nói chung để hướng tới một môi trường khỏe mạnh và an toàn hơn
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quản lý, xử lý chất thải của Viện nghiên cứu thuộc hệ y tế dự phòng
- Cán bộ phòng thí nghiệm, phòng khám tại viện được nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tại các viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng và lựa chọn chủ đích 03 viện nghiên cứu trung ương, nằm trên địa bàn Hà Nội, bao gồm:
- Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
- Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
- Viện Dinh dưỡng
2.1.2.1 Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, trước là Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường được thành lập theo quyết định số 370/BYT/QĐ ngày 24/12/1982 Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường là một viện đầu ngành trong nhiều lĩnh vực thuộc
hệ y tế dự phòng, có chức năng nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến chuyên môn; truyền thông giáo dục sức khỏe; hợp tác quốc tế và cung cấp dịch vụ khoa học kỹ thuật về sức khỏe nghề nghiệp và phòng chống tai nạn thương tích, vệ sinh và sức khỏe môi trường, vệ sinh và sức khỏe trường học; đề xuất, tư vấn cho Bộ Y
tế về các vấn đề liên quan trong lĩnh vực chuyên ngành Trong đó, quản lý chất thải rắn
y tế và nước thải là một mảng không thể thiếu Viện được Bộ Y tế giao nhiệm vụ quan trắc môi trường y tế tại các bệnh viện hành năm nhằm đánh giá chất lượng môi trường bệnh viện cũng như đánh giá công tác quản lý chất thải y tế của bệnh viện Do đó, Viện
có hệ thống các phòng xét nghiệm về vi sinh, hóa lý và sinh hóa để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
Trang 28Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường có 4 phòng, 2 trung tâm và 6 khoa, trong đó
có 2 khoa thuộc khối xét nghiệm, bao gồm:
- Khoa Xét nghiệm và Phân tích và
- Khoa Vệ sinh an toàn lao động và
- Phòng X-quang của khoa Bệnh nghề nghiệp
Chất thải phát sinh của đơn vị bao gồm:
- Chất thải thông thường: chiếm 98 – 99% tổng lượng chất thải rắn phát sinh, bao gồm:
Chai lọ thủy tinh, vật liệu nhựa, vỏ hộp, bìa cacton, giấy loại và các loại chất thải sinh hoạt khác: chiếm khoảng 23% tổng lượng chất thải thông thường phát sinh
Chất thải ngoại cảnh như cành/lá cây khô, gạch, vữa, cát, v.v: chiếm khoảng 77% tổng lượng chất thải thông thường phát sinh
- Chất thải nguy hại: chiếm 0,7 – 1% tổng lượng chất thải rắn phát sinh, bao gồm:
Nước rửa phim phát sinh từ phòng X-quang của khoa Bệnh nghề nghiệp
Ống nghiệm môi trường, thạch nuôi cấy, lam kính, tuýp đựng mẫu, bệnh phẩm, v.v phát sinh từ khoa Xét nghiệm và Phân tích kỹ thuật cao
Vỏ lọ hóa chất, hóa chất quá hạn sử dụng, găng tay, giấy thấm dính hóa chất, v.v phát sinh từ khoa Xét nghiệm và Phân tích kỹ thuật cao và khoa
Vệ sinh an toàn lao động
Dung môi hữu cơ, các loại acid, Pb, Hg và một số hóa chất xét nghiệm khác được xả vào hệ thống thu gom nước thải (Phụ lục 4)
Bình áp suất
2.1.2.2 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương được thành lập theo Sắc lệnh luật số 41 ngày 03 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tên của Viện đã thay đổi qua các giai đoạn:
Trang 29- Viện Vi trùng học (1945-1946): Theo Sắc lệnh luật số 41 ngày 03 tháng 10 năm
291/BYT Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (1998291/BYT nay): Theo Quyết định số 230/1998/QĐ-TTg ngày 30 tháng 11 năm1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ thuộc Bộ
Y tế
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương có chức năng nghiên cứu về dịch tễ học, vi sinh y học, miễn dịch học và sinh học phân tử; nghiên cứu phát triển vắc xin mới và chế phẩm sinh học dùng cho người; chỉ đạo một số chương trình y tế quốc gia; tư vấn và đề xuất với Bộ Y tế về các chiến lược và biện pháp y học dự phòng nhằm hạn chế và thanh toán các bệnh phổ biến, nguy hiểm và mới nảy sinh; chỉ đạo hoạt động chuyên ngành, đào tạo sau đại học và xây dựng mạng lưới y tế dự phòng trên phạm vi toàn quốc Trong nghiên cứu khoa học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương là đơn vị chuyên nghiên cứu:
- Nghiên cứu dịch tễ học: Nghiên cứu phát hiện quy luật dịch tễ và yếu tố nguy
cơ các bệnh lây và bệnh không lây, chú trọng các bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm và mới nảy sinh; nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng chống dịch
- Nghiên cứu vi sinh y học, xác định các tác nhân vi sinh vật gây bệnh như vi rút,
vi khuẩn với mức độ an toàn sinh học cao nhất và các biện pháp phòng chống
- Nghiên cứu về miễn dịch và sinh học phân tử, đáp ứng miễn dịch và sự thay đổi
về miễn dịch học đối với các bệnh
Trang 30- Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm
và sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế dùng cho người
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương có 9 khoa, 6 phòng, 2 trung tâm, trong đó có các khoa và 2 trung tâm có hoạt động xét nghiệm:
Chất thải phát sinh của đơn vị bao gồm:
- Chất thải thông thường: chiếm 98 – 99% tổng lượng chất thải rắn phát sinh, bao gồm:
Chai lọ thủy tinh, vật liệu nhựa, vỏ hộp, bìa cacton, giấy loại và các loại chất thải sinh hoạt khác: chiếm khoảng 23% tổng lượng chất thải thông thường phát sinh
Chất thải ngoại cảnh như cành/lá cây khô, gạch, vữa, cát, v.v: chiếm khoảng 77% tổng lượng chất thải thông thường phát sinh
- Chất thải nguy hại: chiếm 0,7 – 1% tổng lượng chất thải rắn phát sinh, bao gồm:
Ống nghiệm môi trường, thạch nuôi cấy, lam kính, tuýp đựng mẫu, bệnh phẩm, v.v
Vỏ lọ hóa chất, hóa chất quá hạn sử dụng, găng tay, giấy thấm dính hóa chất, v.v
Dung môi hữu cơ, các loại acid, Pb, Hg và một số hóa chất xét nghiệm khác được xả vào hệ thống thu gom nước thải
Bình áp suất
Trang 31- Nhu cầu dinh dưỡng và cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam phù hợp với trạng thái sinh lý, điều kiện sinh thái và điều kiện kinh tế xã hội;
- Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn uống của các đối tượng nhân dân; nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng và những vấn đề sức khỏe có liên quan đến ăn uống;
- Giá trị dinh dưỡng của thực phẩm dùng trong bữa ăn của người Việt Nam và tác dụng sức khỏe của thực phẩm;
- Vệ sinh ăn uống, vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Dinh dưỡng lâm sàng: các phương pháp chữa bệnh bằng ăn uống; xây dựng các chế độ dinh dưỡng theo bệnh lý và
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Viện Dinh dưỡng có 11 khoa, 7 phòng và 5 trung tâm, trong đó có khoa Vi sinh thực phẩm và Sinh học phân tử; khoa Hóa thực phẩm; khoa Vi chất dinh dưỡng và khoa Hóa sinh và chuyển hóa dinh dưỡng thuộc khối xét nghiệm
Chất thải phát sinh từ các khoa/phòng của đơn vị bao gồm:
- Chất thải thông thường: chiếm khoảng 95 - 98% tổng lượng chất thải phát sinh hàng ngày của đơn vị, bao gồm
Chất thải ngoại cảnh: lá, cành cây khô; gạch, vữa, cát, v.v
Chất thải sinh hoạt
Trang 32- Chất thải y tế nguy hại: ống/chai lọ đựng mẫu, đĩa petri nuôi cấy vi sinh vật, găng tay sử dụng một lần, chai lọ đựng hóa chất hoặc hóa chất hết hạn sử dụng Lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 0,8% tổng lượng chất thải phát sinh hàng ngày của đơn vị
- Bình áp suất: chiếm từ 1 – 4% tổng lượng chất thải phát sinh của đơn vị
Hóa chất xét nghiệm thải qua đường thoát nước chủ yếu là các dung môi hữu cơ, các loại acid, hóa chất tẩy rửa (Phụ lục 5)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Tổng quan
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng Nghiên cứu mô tả cắt ngang sẽ được tiến hành như sau:
- Thu thập bản vẽ kỹ thuật về hệ thống thu gom, xử lý nước thải (nếu có) phát sinh
từ các khoa, phòng, đặc biệt tập trung vào hệ thống thu gom nước thải từ phòng thí nghiệm và phòng khám
- Lấy và phân tích các mẫu nước thải khi ra khỏi phòng thí nghiệm và phòng khám, đồng thời lấy và phân tích mẫu nước thải tại bể tập trung và sau khi được xử lý (nếu có)
- Đánh giá công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn của đơn vị bằng cách quan sát thực tế và sử dụng bảng kiểm
- Điều tra, phỏng vấn các cán bộ phòng thí nghiệm, phòng khám để đánh giá kiến thức và thực hành trong công tác quản lý chất thải rắn
- Điều tra, phỏng vấn các cán bộ chịu trách nhiệm về chất thải rắn của đơn vị để đánh giá kiến thức và thực hành trong trong công tác quản lý chất thải rắn của đơn
vị Đồng thời kết hợp với tra cứu hệ thống văn bản, giấy tờ liên quan đến công tác này
Trang 332.2.2 Điều tra khảo sát lấy mẫu
Viện Dinh dưỡng: 22 người (thuộc khoa Xét nghiệm);
Tổng số mẫu phỏng vấn: 55 người (Tổng số mẫu phỏng vấn là số lượng phiếu phỏng vấn tối đa các cán bộ tại thời điểm khảo sát)
Mẫu nước thải
Vị trí lấy mẫu, thời gian lấy mẫu, thông số phân tích các mẫu nước thải được lấy tại 3 Viện được nêu cụ thể trong Bảng 2.1:
Bảng 2-1 Lý lịch mẫu nước thải tại 3 Viện nghiên cứu
TT Đơn vị Vị trí lấy mẫu Thời gian
lấy mẫu
Ký hiệu mẫu
Thông số phân tích
1 Viện VSDTTW
Nước thải lấy tại đầu
ra của hệ thống xử lý nước thải tại nhà chăn nuôi nghiên cứu sản xuất động vật
7-9h 9/6/2016 DT 1 1 pH
15-17h 9/6/2016 DT 6 Nước thải lấy tại đầu
ra của trạm xử lý nước thải tại tòa nhà công nghệ cao
7-9h 9/6/2016 DT 2 15-17h
9/6/2016 DT 7 Nước thải lấy tại đầu
ra của hệ thống xử lý nước thải tòa nhà Ireland
7-9h 9/6/2016 DT 3 15-17h
9/6/2016 DT 8
Trang 34TT Đơn vị Vị trí lấy mẫu Thời gian
lấy mẫu
Ký hiệu mẫu
Thông số phân tích
Nước thải lấy tại đầu
ra của hệ thống xử lý nước thải nhà 3 tầng
7-9h 9/6/2016 DT 4
11 Thủy ngân (Hg)
12 Asen (As)
13 coliforms
14 Các vi khuẩn gây bệnh
15-17h 9/6/2016 DT 9 Nước thải tại vị trí
cống xả cuối cùng của Viện vào hệ thống thoát nước chung của thành phố
7-9h 9/6/2016 DT 5 15-17h
9/6/2016 DT 10
2 Viện Dinh
dưỡng
Nước thải tại vị trí cống thu gom chung, trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung của thành phố
7-9h 10/6/2016 DD 1
15-17h 10/6/2016 DD 2
3 Viện SKNN &
MT
Nước thải tại hố ga tập trung của tòa nhà A
8/6/2016 SK 3 9/8/2016 SK 5 10/8/2016 SK 7 13/10/2016 SK 9 14/10/2016 SK 11
Nước thải tại vị trí cống thu gom chung, trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung của thành phố
7/6/2016 SK 2 8/6/2016 SK 4 9/8/2016 SK 6 10/8/2016 SK 8 13/10/2016 SK 10 14/10/2016 SK 12
Trang 35- Thời điểm lấy mẫu: 2 thời điểm: cao điểm (buổi chiều: 15-17h, khi nước thải phát
sinh từ các hoạt động xét nghiệm) và thấp điểm (buổi sáng 7-9h, khi chưa phát sinh nước thải từ các hoạt động xét nghiệm)
- Tiêu chuẩn so sánh: QCVN 28:2010/BYT (Cột B áp dụng cho nước thải y tế) và
QCVN 40:2011/BTNMT (cột B áp dụng cho nước thải công nghiệp)
2.2.3 Phân tích phòng thí nghiệm
Mẫu nước thải lấy tại 3 Viện: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện dinh dưỡng, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường được phân tích tại phòng thí nghiệm Hóa lý và Vi sinh của khoa Xét nghiệm và Phân tích kỹ thuật cao – Viện sức khỏe nghề nghiệp và môi trường
Bảng 2-2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu nước thải
6 Nitrat (tính theo N) SMEWW 4500-NO3- E:2012
Trang 36- Thu thập các văn bản, quy định của viện về công tác thu gom, xử lý nước thải
- Phỏng vấn các cán bộ phòng thí nghiệm, phòng khám về kiến thức và thực hành trong thải, thu gom nước thải phát sinh bằng bộ Phiếu điều tra số 1
- Lấy mẫu nước thải phát sinh từ các phòng thí nghiệm, phòng khám Lấy mẫu nước thải tập trung trước và sau khi xử lý (nếu có)
- Phân tích mẫu nước thải theo TCVN và SMEWW
Mô tả thực trạng thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và lỏng tại một số viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng
- Thu thập các văn bản, quy định của đơn vị về công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải; kết hợp phỏng vấn cán bộ lãnh đạo phụ trách chung về công tác này tại đơn vị
- Quan sát thực tế kết hợp phỏng vấn các cán bộ phòng thí nghiệm về thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý các loại chất thải phát sinh từ phòng thí nghiệm
- Quan sát thực tế kết hợp phỏng vấn các cán bộ phòng khám về thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải phát sinh từ khu vực phòng khám bằng bộ Phiếu điều tra số 1 Bộ phiếu phỏng vấn sẽ bao gồm cả kiến thức, thái độ và thực hành của các cán bộ về chất thải y tế
- Quan sát thực tế công tác thu gom chất thải tại các khoa xét nghiệm bằng bộ Phiếu điều tra số 2
Trang 37Đề xuất giải pháp quản lý và xử lý chất thải phát sinh từ các viện nghiên cứu hệ y
- Các số liệu nghiên cứu định tính đƣợc phân tích theo mục tiêu nghiên cứu
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng quản lý, xử lý nước thải tại ba Viện nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nước thải của các Viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng
Do đặc thù các Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Viện Dinh dưỡng và Viện
Vệ sinh dịch tễ trung ương là những viện nghiên cứu thuộc hệ y tế dự phòng nên sẽ có khu vực xét nghiệm, khu vực phòng khám (khu dịch vụ) và khu hành chính Chính vì vậy, nhìn chung, nước thải phát sinh từ các Viện này đều mang một số đặc tính như sau:
- Chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, amoni, tổng N, P, dầu mỡ, tổng chất hoạt động bề mặt, v.v Đây là những thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt
- Bên cạnh những thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt, nước thải phát sinh từ các Viện đều có khả năng chứa các vi khuẩn gây bệnh với mức độ tập trung cao hơn so với nước thải sinh hoạt
- Ngoài ra, do có các phòng xét nghiệm hóa lý, vi sinh/vi khuẩn, hóa sinh, v.v nên nước thải của các Viện nghiên cứu hệ y tế dự phòng còn chứa các hóa chất như acid, kiềm, các kim loại nặng, v.v
Bên cạnh đó, do không có giường bệnh nên khối lượng nước thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn của các đơn vị này không quá lớn so với các bệnh viện, cụ thể như sau:
- Viện Dinh dưỡng QG: 10 – 12 m3/ngày
- Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương: 101 m3 /ngày trong đó lượng nước thải phát sinh từ các hoạt động xét nghiệm (NTXN): ~ 28,8 m3/ngày
- Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường: 10,4 – 14,9 m3/ngày
• Năm 2014: ~ 10,4 m3/ngày (NTXN: ~ 2,08 m3/ngày)
• Năm 2015: ~ 14,9 m3/ngày (NTXN: ~ 2,98 m3/ngày)
• Năm 2016: ~ 10,5 m3/ngày (NTXN: ~ 2,10 m3/ngày)
(Số liệu tổng hợp từ điều tra, khảo sát)
Trang 393.1.2 Hệ thống thu gom và xử lý nước thải
3.1.2.1 Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, với chức năng nghiên cứu về dịch tễ học, vi sinh y học, miễn dịch học và sinh học phân tử, do vậy đặc thù nước thải phát sinh chủ yếu là nước sinh học (chiếm >79% tổng lượng xả thải) nằm rải rác ở các khu nhà, nên Viện VSDTTW với mục tiêu là xử lý cục bộ từng khu nhà, không xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung
Việc tổ chức thu gom và xử lý nước thải tại Viện được thực hiện như sau:
Hệ thống thoát nước: là hệ thống thoát nước riêng gồm hệ thống thoát nước thải và hệ thống thoát nước mưa
- Hệ thống thoát nước mưa: được thiết kế để thu nước từ mái của các khối nhà, nước mưa trên sàn, đường bao quanh Viện, sau đó thoát vào hệ thống thoát nước chung của thành phố chạy qua khuôn viện của Viện
- Hệ thống thoát nước thải: Thiết kế 2 hệ thống thoát nước thải là hệ thống thoát nước thải từ các phòng thí nghiệm và hệ thống thoát xí gồm nước thải sinh hoạt
và các loại nước thải rửa và vệ sinh khác
Nước thải sinh hoạt được xử lý qua hệ thống bể tự hoạt 3 ngăn tại từng Khối nhà, theo hệ thống thoát xí đổ vào hệ thống thoát nước bề mặt
Nước thải từ các phòng thí nghiệm tại Khối nhà công nghệ cao và tòa nhà Ireland, Khối nhà 3 tầng được xử lý bằng hệ thống xử lý riêng: nước thải từ các phòng thí nghiệm được dẫn về trạm xử lý nước thải dưới tầng hầm, với công nghệ của Nhật Bản, sau khi xử lý sẽ được thoát vào hệ thống thoát nước thải chung của Viện
Tất cả các loại nước thải sau khi xử lý được thoát vào hệ thống thoát nước chung của Thành phố đi qua khuôn viên của Viện tại cửa xả trên phố Lò Đúc
Trang 40Quy trình công nghệ xử lý nước thải:
- Nước thải từ các phòng thí nghiệm:
Nguyên lý xử lý của các hệ thống là như nhau, công suất xử lý của mỗi hệ thống là 0,3m3/h Nguyên lý chung của hệ thống xử lý nước thải như sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn điều hòa lưu lượng dòng thải:
Nước thải từ các phòng thí nghiệm tự chảy xuống bể chứa nước điều hòa, mục đích là để điều hòa lượng và chất lượng nước, ổn định hoạt động của hệ thống xử lý, làm đơn giản quá trình vận hành và quản lý hệ thống
Giai đoạn 2: Giai đoạn khử trùng
Nước thải từ bể điều hòa được bơm định lượng cấp vào hệ thống với lưu lượng 300l/h Trên đường ống, hóa chất khử trùng (NaOCl và HCl để nồng độ pH giảm còn 6,5 – 7) được châm trực tiếp vào đường ống với liều lượng đã được tính toán nhằm tiêu diệt các
vi khuẩn gây bệnh Giữ nguyên nồng độ Cl tại 100ppm và pH của nước thải trong khoảng 6,5-7 trong vòng 1h để khử trùng Hóa chất châm vào được trộn đều với nước nhờ thiết bị hòa trộn tĩnh Stalic mixer Hỗn hợp nước thải và hóa chất được chứa vào
bể chứa dung dịch 500lit
Giai đoạn 3: Giai đoạn xử lý Clo dư
Sau khi hết thời gian khử trùng, cho dung dịch Na2SO3 vào nước thải để trung hòa lượng Cl còn dư cho đến khi đo nồng độ Cl nhỏ hơn 2ppm
Nước thải sau khi tiếp xúc với than hoạt tính đã được loại bỏ Clo đến nồng độ cho phép, nước thải được chứa vào bể thu gom nước thải, sau đó dùng bơm vào hệ thống thoát nước chung