Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của các thành phần KT - XH, tăng dân số cơ học, và đặc biệt là việc phát triển một cách ồ ạt số lượng lớn thuỷ điện dọc theo LVS Vu Gia - Thu B
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý nhiệt tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè và anh chị em đồng nghiệp và những người thân trong gia đình
Trước hết, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cùng các thầy
cô giáo Khoa Môi Trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức và thực hiện thành công khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường (2012 - 2014), tạo cơ hội học tập nâng cao trình độ về lĩnh vực mà tôi tâm huyết Đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Hữu Tuấn và PGS.TS
Vũ Văn Mạnh, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến chủ nhiệm dự án và các cán bộ tham gia dự án “Điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến môi trường và đề xuất giải pháp tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông (sông Ba và sông Vu Gia - Thu Bồn)” đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên
Trần Thị Ngọc Ánh
Trang 4Môc lôc
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Danh mục các chữ viết tắt
Mở đầu 1
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 3
1.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 7
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.2.1.1 Vị trí địa lý 7
1.2.1.2 Địa hình 8
1.2.1.3 Thổ nhưỡng 9
1.2.1.4 Thảm thực vật 10
1.2.1.5 Khí hậu, thủy văn 11
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
1.2.2.1 Dân cư và phân bố 20
1.2.2.2 Các hoạt động kinh tế - xã hội 22
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 29
Trang 52.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát ngoài thực địa 30
2.4.3 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 35
2.4.4 Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa vào chỉ số WQI 38
2.4.5 Phương pháp thống kê phân tích hệ thống 42
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặtlưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 43
3.1.1 Hiện trạng môi trường nước mặt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 43
3.1.1.1 Nhiệt độ 43
3.1.1.2 Độ pH, độ đục, chất rắn lở lửng 43
3.1.1.3 Các chất dinh dưỡng 49
3.1.1.4 DO 52
3.1.1.5 Các chất hữu cơ 53
3.1.1.6 Vi sinh vật 56
3.1.2 Đánh giá chất lượng nước mặt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 58
3.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 63
3.2.1 Ô nhiễm nước do hoạt động của các ngành công nghiệp 64
3.2.2 Ô nhiễm nước do hoạt động của các ngành nông nghiệp 74
3.2.3 Ô nhiễm nước do hoạt động sinh hoạt của các cụm dân cư và nước thải của các bệnh viện 77
3.2.4 Ô nhiễm nước do hoạt động du lịch 78
3.2.5 Ô nhiễm nước do thủy điện 81
Trang 63.3 Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt lưu vực sông
Vu Gia - Thu Bồn 85
3.3.1 Giải pháp phi công trình 85
3.3.1.1 Giải pháp về chính sách 85
3.3.1.2 Giải pháp về quản lý 86
3.3.1.3 Áp dụng các công cụ kinh tế và tiến bộ khoa học 88
3.3.2 Giải pháp công trình 89
3.3.2.1 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn 89
3.3.2.2 Thu gom và xử lý nước thải 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại một số trạm trong LVS Vu Gia- Thu Bồn Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy trên sông Thu Bồn
Bảng 1.3 Dân số LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng gieo trồng các loại cây trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 1.5 Diện tích trồng cây hàng năm và cây lâu năm trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 1.6 Số lượng gia súc, gia cầm trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 1.7 Diện tích nuôi trồng thủy sản trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 1.8 Sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế thành phố
Đà Nẵng
Bảng 1.9 Sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế tỉnh Quảng Nam
Bảng 2.1 Vị trí quan trắc và lấy mẫu nước trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Bảng 2.2 Bảng quy định các giá trị qi, BPi
Bảng 2.3 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa
Bảng 2.4 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH
Bảng 2.5 Bảng so sánh giá trị WQISI
Bảng 3.1 Tỷ lệ % số mẫu WQI
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 1.2 Bản đồ địa hình LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 1.3 Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 1.4 Dân số LVS Vu Gia - Thu Bồn (người)
Hình 1.5 Cơ cấu sử dụng đất LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 2.1 Một số hình ảnh đo đạc, khảo sát tại LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 2.2 Vị trí lấy mẫu nước
Hình 3.1 Biến đổi độ pH tại trạm Thành Mỹ
Hình 3.2 Biến đổi độ pH tại trạm Nông Sơn
Hình 3.3 Biến đổi độ pH trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.4 Biến đổi hàm lượng SS tại trạm Thành Mỹ
Hình 3.5 Biến đổi hàm lượng SS tại trạm Nông Sơn
Hình 3.6 Biến đổi hàm lượng SS trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.7 Biến đổi hàm lượng N - NH4+ trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.8 Biến đổi hàm lượng P - PO43- trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.9 Biến đổi hàm lượng DO tại trạm Thành Mỹ
Hình 3.10 Biến đổi hàm lượng DO tại trạm Nông Sơn
Hình 3.11 Biến đổi hàm lượng DO trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.12 Biến đổi hàm lượng BOD5 trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.13 Biến đổi hàm lượng COD trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.14 Biến đổi hàm lượng Coliformtrên LVS Vu Gia - Thu Bồn
Hình 3.15 Chất lượng nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn (tháng VII/2011)Hình 3.16 Chất lượng nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn (tháng V - VI/2012) Hình 3.17 Chất lượng nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn (tháng IV/2014)
Hình 3.18 Kết quả tính WQI
Hình 3.19 Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu BồnHình 3.20 Khai thác cát trên sông Thu Bồn
Trang 9DO Lượng oxy từ trong không khí có thể hòa tan vào nước
KH&CN Khoa học và Công nghệ
KH KTTV&MT Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
KT - XH Kinh tế - xã hội
NCKH Nghiên cứu khoa học
NGTK Niên giám thống kê
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 101
MỞ ĐẦU
Lưu vực sông (LVS) Vu Gia - Thu Bồn là một LVS lớn ở vùng Duyên hải Trung Trung bộ Sông bắt nguồn từ địa bàn tỉnh Kon Tum chảy qua tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng đổ ra biển Đông ở hai Cửa Đại và Cửa Hàn Toàn bộ lưu vực nằm ở sườn Đông Trường Sơn có tiềm nă ng lớn về đất đai, tài nguyên nước, thuỷ năng và rừng
LVS Vu Gia - Thu Bồn là nguồn cung cấp nước chính cho các hoạt động kinh tế - xã hội (KT - XH) và dân sinh cho tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, là cơ sở cho việc phát triển về du lịch, công nghiệp, nông nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với mạng lưới giao thông hàng không, đường sắt, đường bộ Bắc - Nam lên Tây Nguyên, sang Lào, có cảng biển thuận tiện giao lưu quốc tế Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được Đảng và Nhà nước quan tâm, tập trung đầu tư cao nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình phát triển KT - XH Các khu công nghiệp (KCN) Liên Chiểu - Hoà Khánh - Đà Nẵng - Điện Ngọc - Điện Nam đã và đang
đi vào sử dụng và khai thác thu hút đầu tư trong, ngoài nước là những thuận lợi và cơ hội rất lớn cho phát triển nền kinh tế lưu vực
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của các thành phần KT - XH, tăng dân số cơ học, và đặc biệt là việc phát triển một cách ồ ạt số lượng lớn thuỷ điện dọc theo LVS Vu Gia - Thu Bồn trong những năm gần đây đã làm cho chất lượng môi trường nói chung và chất lượng môi trường nước mặt ngày càng suy giảm đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Nhiều vấn đề về môi trường cấp bách đã và đang diễn ra rất phức tạp ở qui mô địa phương và trên toàn lưu vực cần được xem xét xử lý, khắc phục và phòng ngừa
Trước yêu cầu phát triển bền vững KT - XH cho thành phố Đà Nẵng, Hội
An tỉnh Quảng Nam cũng như trên LVS Vu Gia - Thu Bồn, việc “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn” là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn, làm cơ sở quản
Trang 112
l ý môi trường tại địa phương, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường, quản lý và quy hoạch, khai thác nhằm bảo vệ môi trường sông theo định hướng phát triển bền vững
Trang 123
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về LVS, dưới đây là một số định nghĩa:
- Phần diện tích mặt đất giới hạn bởi đường phân thủy, trên đó nước chảy vào một con sông hay một hệ thống sông nào đó gọi là lưu vực Phần diện tích từ đó nước mặt và nước ngầm tập trung vào một hệ thống được gọi là diện tích tập trung nước của hệ thống sông
- Theo Luật Tài nguyên nước năm 1998: LVS là vùng địa lý mà trong phạm
vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông
- Phần mặt đất bao gồm tất cả những vật tự nhiên và nhân tạo có trên đó và cung cấp nguồn nước nuôi dưỡng cho hệ thống sông hay một con sông riêng biệt gọi là lưu vực của hệ thống sông hoặc là LVS Lưu vực của mỗi con sông bao gồm phần thu nước bề mặt và phần thu nước ngầm Phần thu nước mặt là phần diện tích
bề mặt trái đất mà từ đó tất cả lượng nước sinh ra gia nhập vào hệ thống sông hoặc một con sông riêng biệt Phần thu nước ngầm được tạo nên bởi tầng đất đá mà từ đó nước ngầm chảy vào lưới sông
- Một LVS là diện tích đất được giới hạn bởi đường phân thủy mà trên đó tất
cả nước sẽ tập trung chảy ra một cửa duy nhất LVS cũng được gọi là diện tích lưu vực Các cạnh của một LVS được gọi là đầu nguồn, ở phía bên kia đường phân thủy, sẽ có một LVS khác
Tóm lại, LVS là vùng đất mà tất cả lượng mưa rơi trên đó đều tập trung về một sông hoặc suối LVS được giới hạn bằng các đường chia nước LVS được gọi là lưu vực kín khi có đường chia nước mặt và đường chia nước ngầm trùng nhau; nếu không trùng nhau thì gọi là lưu vực hở Trong thực tế tính toán rất khó có thể xác định chính xác đường phân nước ngầm nên thường coi là trùng với đường phân nước mặt Lưu vực tương tự là lưu vực có cùng điều kiện hình thành dòng chảy với lưu vực nghiên cứu
Trang 134
Trên thế giới, vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và quản lý tổng hợp LVS đã được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu Đối với các nước phát triển vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và quản lý tổng hợp LVS, đã được đặt ra từ giữa thế kỷ XX với thuật ngữ "quản lý lưu vực - Watershed Management" Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước trên lưu vực, nhiệm vụ quản lý tổng hợp lưu vực đã được mở rộng cho các dạng tài nguyên liên quan như: đất, khoáng sản, rừng đa dạng sinh học, cảnh quan sinh thái
Đối với các nước đang phát triển vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và quản lý tổng hợp lưu vực mới được quan tâm từ vài chục năm trở lại đây Việc hình thành các tổ chức LVS được nhiều quốc gia coi như là một phương tiện hữu hiệu để qui hoạch trị thuỷ các dòng sông và thực hiện các nội dung phát triển KT - XH Các dòng sông lớn chảy qua địa phận nhiều quốc gia như sông Colorado ở Châu Mỹ, Tigris và Euphrate ở Trung Đông, sông Mê Kông
ở Châu Á , đều có các tổ chức liên quốc gia để điều hoà việc khai thác và quản lý lưu vực
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1950, Nhà nước ta đã quan tâm đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên và quản lý tổng hợp các tài nguyên thiên nhiên trên các LVS quan trọng Trong chương trình hành động 21 (Agenda 21) của Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường Rio cũng đã ghi nhận một số đóng góp của Việt Nam Luật Bảo
vệ Môi trường (1993) và Luật Tài nguyên nước (1999) đã xác định yêu cầu quản lý thống nhất qui hoạch LVS kết hợp với địa bàn hành chính Nhà nước đã cho triển khai biên soạn và phê duyệt các qui hoạch tổng thể phát triển KT - XH phần châu thổ sông Cửu Long (1993) và của đồng bằng sông Hồng (1995)
Vấn đề nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường và quản lý tổng hợp lưu vực đã được nhiều nhà khoa học (Lê Quý An, Lê Thạc Cán, Ngô Đình Tuấn, Nguyễn Trọng Sinh, Lê Bá Thảo, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Thượng Hùng, Tôn Thất Lãng, Vũ Văn Tuấn, Nguyễn Văn Cư ) và nhiều cơ quan
Trang 145
(Cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi, Viện Địa lý, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Hội Địa lý, Hội Thuỷ lợi, Trường Đại học Thuỷ lợi, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Qui hoạch Thuỷ lợi, Uỷ ban sông Mê Kông ) quan tâm Hàng loạt các công trình khoa học có liên quan đã được công bố:
1 Chương trình nghiên cứu khoa học (NCKH) “Quản lý tài nguyên, bảo vệ
môi trường và phòng chống thiên tai” (2002) của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Một trong những đề tài đã được thực hiện của
Chương trình này là đề tài “Nghiên cứu xây dựng chiến lược quản lý phát triển bền
vững LVS Vu Gia - Thu Bồn” do Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện Mục tiêu
chính của đề tài này là sử dụng hợp lý, tái tạo tài nguyên thiên nhiên kết hợp bảo vệ môi trường và xây dựng khung cơ chế, chính sách phục vụ công tác quản lý lưu
vực Cũng trong chương trình này đã triển khai đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học
và phương pháp tính toán ngưỡng khai thác sử dụng nguồn nước và phương pháp tính toán dòng chảy môi trường, ứng dụng cho LVS Ba và sông Trà Khúc” do
trường Đại học Thủy lợi thực hiện Đề tài này đã đánh giá được thực trạng về dòng chảy môi trường trên LVS Ba và sông Trà Khúc, đề xuất một số giải pháp khai thác
sử dụng hợp lý nguồn nước trên lưu vực
2 Đề tài “Tình hình quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước LVS Vu Gia
- Thu Bồn” (2007) của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Đề tài đã đánh giá
được tình hình khai thác nước phục vụ cho nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp cũng như hiện trạng chất lượng nước và môi trường, hiện trạng quản lý tài nguyên nước LVS Vu Gia - Thu Bồn
3 Báo cáo “Đánh giá tổng quan hiện trạng khai thác sử dụng nước mặt trên
LVS Vu Gia - Thu Bồn”(2007) của Bộ TN&MT Báo cáo đã đánh giá được hiện
trạng khai thác và sử dụng nước mặt từ đó đưa ra được các giải pháp bảo vệ nguồn nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn
4 Dự án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên đất và
nước LVS Thu Bồn - Vu Gia, Quảng Nam - Đà Nẵng”, do Trung tâm Nghiên cứu,
Trang 156
Ứng dụng và Chuyển giao Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Quảng Nam, chủ trì thực hiện từ tháng 8/2005 đến tháng 4/2008 Mục tiêu của dự án là ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý tài nguyên đất và nước LVS Thu Bồn - Vu Gia, Quảng Nam - Đà Nẵng, phục vụ phát triển nông nghiệp - nông thôn
5 Bài báo “Đánh giá chất lượng nước (CLN) sông Bồ ở tỉnh Thừa Thiên
Huế dựa vào chỉ số CLN (WQI)”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 58, 2010 do
Nguyễn Văn Hợp, Phạm Nguyễn Anh Thi, Thủy Châu Tờ - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, Nguyễn Minh Cường - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế nghiên cứu Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng chỉ số WQI theo mô hình gốc của Bhargava để đánh giá CLN cho LVS Bồ
6 Bài báo “Xây dựng chỉ số chất lượng để đánh giá và quản lý CLN hệ
thống sông Đồng Nai” Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện Khoa
học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (KH KTTV&MT) (2010) TS Tôn Thất Lãng - Trường Cao đẳng Tài nguyên Môi trường thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã sử dụng phương pháp Delphi để xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng môi trường nước sông Đồng Nai
7 Dự án “Tác động của biến đổi khí hậu lên tài nguyên nước và các biện
pháp thích ứng (phần LVS Thu Bồn)” dự án giữa Bộ TN&MT và Cơ quan phát triển
Quốc tế Đan Mạch (2010) do Viện KH KTTV&MT thực hiện Dự án đã nghiên cứu các mô hình được ứng dụng trong tính toán tác động của biến động khí hậu lên tài nguyên nước LVS, từ đó đưa ra các kịch bản biến đổi khí hậu ở LVS Thu Bồn và đánh giá tác động lên nguồn nước, tác động của biến đổi khí hậu đến lũ và xâm nhập mặn hệ thống sông, tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước và thủy điện trên LVS Thu Bồn
8 Báo cáo chuyên đề “Tổng quan về quản lý, khai thác tài nguyên nước,
định hướng phát triển kinh tế xã hội và những yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý tài nguyên nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn” do TS Tô Việt Thắng - Viện Khoa
học Thủy lợi Việt Nam chủ trì thuộc Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu và
Trang 167
xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) phục vụ công tác quản lý và khai thác tài nguyên nước ở Việt Nam” (2013) của Bộ KH&CN Trong nghiên cứu này đề tài
đã sử dụng Bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định trong quản lý tổng hợp LVS (DSS) để
hỗ trợ cho việc quy hoạch, quản lý tài nguyên nước theo LVS, cụ thể thực hiện với LVS Vu Gia - Thu Bồn
9 Dự án “Điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến môi
trường và đề xuất giải pháp tổng thể bảo vệ môi trường LVS (sông Ba và sông Vu Gia - Thu Bồn)” dự án đang thực hiện từ năm 2010 - nay do TS Nguyễn Thị Thảo
Hương - Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chủ trì
Nhìn chung, có nhiều công trình khoa học đã công bố đều có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần giảm nhẹ thiên tai lũ lụt, hạn kiệt phục vụ cho việc khai thác
sử dụng hợp lý một số dạng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trên các LVS Song các đề tài, dự án đó mới chỉ đề cập đến vấn đề môi trường ở mức độ tổng thể, chưa có đề tài nào đề cập vấn đề môi trường nước cụ thể, số liệu điều tra khảo sát chất lượng môi trường nước trên LVS Vu Gia - Thu Bồn còn rất rời rạc, không liên tục và thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về chất lượng môi trường nước hiện nay Luận văn này sẽ góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan và chung nhất về chất lượng môi trường nước mặt trên LVS Vu Gia - Thu Bồn
1.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
LVS Vu Gia - Thu Bồn nằm ở phần phía Bắc của vùng Nam Trung bộ, trong phạm vi (107013'-108034') kinh độ Đông, (14058'-16004') vĩ độ Bắc; hợp thành bởi dòng chính sông Thu Bồn và các sông nhánh Vu Gia, Ly Ly, Túy Loan Phía Bắc lưu vực giáp LVS Hương, phía Tây giáp sông Xê Công (nhánh sông Mê kông) ở lãnh thổ Lào, phía Nam giáp các LVS Tam Kỳ, Sê San, Ba, Trà Bồng, Trà Khúc, phía Đông giáp biển Với diện tích 10.350km2
, LVS Vu Gia - Thu Bồn bao gồm phần lớn địa phận tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng và một phần tỉnh Kon Tum (hình 1.1)
Trang 17ba phía: Bắc, Tây và Nam Chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bằng là vùng trung du với những đồi núi thấp có độ cao (100 - 800) m
Vùng đồng bằng hẹp có địa hình thấp dưới 30 m, phân bố ở một số huyện thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam (Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An) và thành phố Đà Nẵng (huyện Hòa Vang, các quận Ngũ Hành Sơn và Hải Châu) Tiếp giáp với biển là những dải cát có những cồn cát cao hơn 10 m (hình 1.2)
Trang 189
Vùng ven biển được đặc trưng bởi sự xen kẽ những đoạn địa hình thoải, là các cồn cát có nguồn gốc từ biển, cát được sóng gió đưa lên bờ và nhờ tác dụng của gió cát được đưa đi xa bờ về phía Tây tạo nên các đồi cát có dạng lượn sóng chạy dọc theo bờ biển
Hình 1.2: Bản đồ địa hình LVS Vu Gia - Thu Bồn [4]
1.2.1.3 Thổ nhưỡng
Trên lưu vực gồm các loa ̣i đất chính sau:
- Cát địa hình: diện tích 31.121 ha ở các huyê ̣n ven biển, nghèo dinh dưỡng
- Đất cát ven biển : diện tích 11.600 ha phân bố ở các huyê ̣n ven biển đã đươ ̣c cải ta ̣o trồng tro ̣t hướng chính trồng dừa , đào lô ̣n hô ̣t , nếu bón phân và giải quyết thuỷ lợi ngăn mă ̣n có thể trồng lúa
- Đất nhiễm mặn : đất nhiễm mặn trung bình tâ ̣p trung ở vùng đất ven biển
Hô ̣i An loa ̣i này chủ yếu là trồng cói khoảng 800 ha Đất mặn nhiều ở ven biển Hội
An, Duy Xuyên , Hoà Vang diện tích 8.930 ha Đất mặn ít phân bố dọc các huyện ven biển có diê ̣n tích 9.360 ha nếu cải ta ̣o có thể làm đất trồng tro ̣t
- Đất phù sa : diện tích 51.280 ha nằm ở các huyê ̣n Điê ̣n Bàn , Duy Xuyên ,
Đa ̣i Lô ̣c, Hoà Vang, Quế Sơn loa ̣i này thích hợp trồng lúa và màu
Trang 1910
- Đất và đất bạc màu có nguồn gốc Feralit : diện tích 58.980 ha nằm ở các huyê ̣n Tiên Phước , Quế Sơn , Đa ̣i Lô ̣c , Hiê ̣p Đức , Tây Đa ̣i Lô ̣c có thể trồng cây công nghiê ̣p ngắn ngày
- Đất trên đá Granit , đa ́ vôi , đá biến chất và trên sa thạch : có diện tích
684.060 ha nằm ở các huyê ̣n miền núi như Duy Xuyên , Quế Sơn Tiên Phước , Trà
My, Phướ c Sơn, Giằng chủ yếu là đất rừng
- Đất dốc tụ: có diện tích 4.950 ha loại này chủ yếu trồng lúa và màu phân bố rải rác trong lưu vực
- Đất trên đá dăm , cuô ̣i kết : diê ̣n tích 26.380 ha ở các huyê ̣n Hiên , Giằng,
Đa ̣i Lô ̣c
- Đất có mùn trên núi : có diện tích 175.895 ha ở các vùng núi cao thuô ̣c các huyện Giằng , Hiên, Trà My , Phước Sơn , Đa ̣i Lô ̣c Đi ̣a hình phức tạp chủ yếu là rừng
1.2.1.4 Thảm thực vật
LVS Vu Gia - Thu Bồn thuộc khí hậu ẩm, nhiệt đới, địa hình có sự phân hóa mạnh, thảm thực vật phong phú và đa dạng, có kiểu rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới phân bố ở độ cao trên 800 m; kiểu rừng kín là rụng hơi ẩm nhiệt đới; kiểu rừng cây thưa, lá rộng hơi khô nhiệt đới và kiểu rừng cây lá kim hơi khô nhiệt đới
Thảm thực vật LVS Thu Bồn - Vu Gia nhìn chung mang đậm tính chất của thảm thực vật nhiệt đới nóng ẩm Nam Trường Sơn với độ che phủ rừng tự nhiên đạt 44,07% diện tích lưu vực
Phần lớn các kiểu thảm thực vật chính trong lưu vực Vu Gia - Thu Bồn tồn tại trên địa hình núi, đồi thoát nước tốt, dưới 800 m hay 1.000 m có rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm, rừng rụng lá, rừng thưa cây lá rộng, lá kim, từ 700 (hay 1.000 m) đến 1.600 m có rừng kín cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm, rừng thưa cây lá kim, trên 1.600 m có rừng kín cây lá rộng ôn đới ẩm Còn ở các địa hình vùng trũng ngập nước có rừng đầm lầy hay các trảng cỏ chịu ngập; trên các đụn cát có các cây bụi lá cứng hay rừng thưa
Trang 2011
Các kiểu thảm thứ sinh nhân tác như rừng Tre nứa, trảng cây bụi, cỏ; các quần xã cây trồng Thuộc loại kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh có lớp đất dày hơn một mét với tầng mùn trên bề mặt Hệ thống các tầng cây với hệ thống lá dày đặc, hạn chế sự tác động trực tiếp của hạt mưa, gió, dòng chảy mặt đến đất, ngăn cản quá trình xói mòn đất, làm chậm đi sự tập trung nước trong các lưu vực Do vậy khi con người phá hủy thảm thực vật, hay thay thế chúng bằng các kiểu thảm trồng với cấu trúc đơn giản hơn thì cân bằng giữa tầng dày đất và thảm bị phá vỡ
LVS Vu Gia - Thu Bồn, địa hình dốc là khu vực có lượng mưa lớn, biến động mạnh và tập trung, nên ảnh hưởng của thảm thực vật đối với chất lượng và môi trường nước lưu vực, trong những năm gần đây do khai thác chặt phá rừng thường được thể hiện rõ trong việc gây lũ quét ở thượng nguồn, gây úng ngập ở khu vực thũng lũng và vùng đất thấp ở đồng bằng Do vậy khi có mưa bão hiện tượng lũ lụt, sạt lở còn thường xuyên xảy ra và hiện tượng hạn kiệt kéo dài trong mùa khô đã thấy xuất hiện trong khu vực LVS Vu Gia - Thu là có phần không nhỏ của việc điều tiết nước thông qua thảm thực vật trong lưu vực
1.2.1.5 Khí hậu, thủy văn
Trên LVS Vu Gia - Thu Bồn có: 2 trạm khí tượng: Đà Nẵng, Trà My;15 trạm
đo mưa, trung bình khoảng 600 km2
có một trạm đo mưa , hầu hết các trạm có tài liê ̣u từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975; 8 trạm thuỷ văn , trong đó 2 trạm đo lưu lượng và 6 trạm đo mực nước ; trong 6 trạm đo mực nước có 4 trạm nằm trong vùng ảnh hưởng triều Nhìn chung, số liệu quan trắc tại các trạm bảo đảm
độ tin cậy (hình 1.3)
Trang 21- Lƣợng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng (140-150) kcal/cm2 Cân bằng bức xạ trung bình năm khoảng (75-100) kcal/cm2
Trang 22- Lượng mây tổng quan trung bình năm biến đổi trong phạm vi (5 - 7,7)/10 bầu trời, có xu thế tăng dần từ đồng bằng lên miền núi
- Tốc độ gió bình quân hàng năm vùng núi đạt (0,7 - 1,3) m/s, trong khi đó vùng đồng bằng ven biển đạt (1,3 - 1,6) m/s
- Lượng bốc hơi trung bình trên lưu vực khoảng 680 1.040 mm, ở vùng núi lượng bốc hơi khoảng (680 - 800) mm, vùng đồng bằng ven biển lượng bốc hơi khoảng (880 - 1.050) mm
- Lượng mưa năm phân bố rất không đều trong lưu vực, từ dưới 2.000 mm ở thung lũng sông Bung tăng lên tới trên 4.000 mm ở vùng núi, trong đó trung tâm mưa lớn Trà My - thượng nguồn sông Thu Bồn là trung tâm mưa lớn nhất ở Nam Trung bộ, và là một trong số trung tâm mưa lớn ở nước ta
Mùa mưa ở LVS Vu Gia - Thu Bồn kéo dài từ tháng IX đến tháng XII, mùa khô từ tháng I đến tháng VIII Riêng tháng V và tháng VI xuất hiện đỉnh mưa phụ, càng về phía Tây đỉnh mưa phụ càng rõ nét hơn, hình thành thời kỳ tiểu mãn trên LVS Bung Lượng mưa trong mùa mưa chiếm (65 - 80)% lượng mưa cả năm Tuy nhiên, thời kỳ mưa lớn nhất vùng nghiên cứu thường tập trung vào 2 tháng là tháng X và tháng XI, thành phần lượng mưa trong 2 tháng này chiếm (40 - 50)% lượng mưa
cả năm Trên toàn LVS, thời gian các tháng mùa mưa, mùa khô nói chung là đồng nhất Ba tháng liên tục có lượng mưa nhỏ thường từ tháng II đến tháng IV, lượng mưa trong 3 tháng này chỉ chiếm khoảng (3 - 5)% lượng mưa cả năm
Trang 2314
Lượng mưa phân bố trên lưu vực tăng dần từ đồng bằng lên miền núi Do ảnh hưởng của địa hình mà lượng mưa phân bố theo không gian rất phúc tạp Các sườn đón gió lượng mưa tăng rõ rệt, ngược lại các sườn khuất gió lượng mưa giảm
đi đáng kể Lượng mưa hàng năm trên LVS thay đổi từ 2.000 4.000 mm, được phân bố như sau: Từ 3.000 4.000 mm ở vùng núi cao như Trà My, Tiên Phước
Từ 2.500 3.000 mm ở vùng núi trung bình Khâm Đức, Nông Sơn, Quế Sơn Từ 2.000 2.500 mm ở vùng núi thấp và đồng bằng ven biển: Tây Giang, Đông Giang,
Ba Na, Hội Khách, Ái Nghĩa, Giao Thuỷ, Hội An, Đà Nẵng Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu mùa mưa không đồng thời: Vùng núi mùa mưa đến sớm hơn (do ảnh hưởng mùa mưa Tây Trường Sơn) và chậm dần về phía đồng bằng ven biển, những thời kỳ mưa lớn nhất trên lưu vực thường tập trung vào tháng X và XI (bảng1.1)
Bảng 1.1: Lượng mưa trung bình tháng, năm tại một số trạm trong LVS Vu Gia- Thu Bồn [10]
trạm
Thời kỳ quan trắc
Lượng mưa trung bình tháng, năm (mm)
Trang 2415
trạm
Thời kỳ quan trắc
Lượng mưa trung bình tháng, năm (mm)
Có thể thấy mối quan hệ khá phức tạp của đặc điểm khí hậu với môi trường nước trong lưu vực Chế độ mưa trong lưu vực ảnh hưởng rất lớn đến hàm lượng các chất trong nước sông và có mối quan hệ tỷ lệ nghịch Lượng bốc hơi gia tăng cũng là nguyên nhân tăng nồng độ các chất gây ô nhiễm nước Còn nhiệt độ gia tăng lại làm khả năng hòa tan các chất khí trong nước giảm
Về phía hạ lưu lòng sông thường thay đổi, bờ sông thấp và có bãi rộng, nên hàng năm vào mùa lũ nước tràn vào đồng ruộng, làng mạc gây ngập lụt Hệ thống sông
Vu Gia - Thu Bồn được hình thành từ 2 sông chính là Vu Gia và Thu Bồn [4]
* Sông Vu Gia:
Sông Vu Gia được hợp thành từ nhiều sông nhánh, mà đáng kể là các sông Đăk Mi (sông Cái), sông Bung, sông A Vương và sông Kon Sông Vu Gia, theo nhánh Đăk Mi, có chiều dài đến cửa ra tại Đà Nẵng là 204 km; ngược lên thượng lưu, đến Cẩm Lệ là 189 km và đến Ái Nghĩa là 166 km Diện tích lưu vực đến Ái Nghĩa là 5.180 km2 Lưu vực Vu Gia có độ dốc bình quân 21,3%, chiều dài lưu vực 85,0 km, chiều rộng bình quân lưu vực 43,4 km, mật độ lưới sông 0,41 km/km2 Sông Vu Gia sau khi chảy qua Ái Nghĩa phân ra 2 nhánh chính, một nhánh chảy sang sông Thu Bồn, một nhánh khác được tách ra làm nhiều nhánh nhỏ như các
Trang 2516
sông Yên, La Thành, La Thọ, chảy qua đồng bằng Bắc sông Thu Bồn rồi tập trung
ra biển ở cửa Hàn
Thượng lưu sông Vu Gia có các nhánh sau:
- Sông Cái (Đăk Mi): Bắt nguồn từ những đỉnh núi cao trên 2.000 m (Ngọc Linh 2.598 m), thuộc tỉnh Kon Tum Sông có chiều dài 129 km, với diện tích lưu vực 2.602 km2, chảy theo hướng chính Bắc - Nam sau nhập vào sông Bung
- Sông Bung: Bắt nguồn từ những dãy núi cao ở phía Tây - Bắc, chảy theo hướng Tây - Đông, với chiều dài 131 km và diện tích lưu vực 2.530 km2 Sông Bung có nhiều nhánh nhỏ nhưng đáng kể là sông A Vương có diện tích lưu vực 898
km2, chiều dài sông 84 km
- Sông Kon: Bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện Tây Giang, có diện tích lưu vực 627 km2 và chiều dài sông 47 km, với hướng chảy chính là Bắc - Nam
kể là các sông sau:
- Sông Tranh có diện tích lưu vực 644 km2, chiều dài 196 km
- Sông Khang có diện tích lưu vực 609 km2, chiều dài 57 km
- Sông Trường có diện tích lưu vực 446 km2, chiều dài 29 km
Như vậy, toàn bộ lưu vực hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn tính từ thượng nguồn đến cửa sông có diện tích là 10.350 km2
LVS có dạng phát triển hình bầu với chiều dài lưu vực gấp 2 lần chiều rộng bình quân lưu vực Phần thượng du LVS
Vu Gia - Thu Bồn có thể tính đến km 130 của dòng chính Sông suối ở phần thượng
Trang 2617
nguồn có nhiều hướng chảy khác nhau do địa hình núi chia cắt bởi các đứt gãy có hướng khác nhau Mạng lưới sông suối có dạng nan quạt mở rộng nên khả năng tập trung nước trên dòng sông chính khá lớn đây là một trong những nguyên nhân hình thành những trận lũ ác liệt trên lưu vực Dòng chảy trong phần thượng du khá thẳng nhưng do các nếp uốn địa hình nên hệ số uốn khúc của các sông thường đạt (1,80-2,30) Mật độ lưới sông của khu vực này đạt thấp (0,2 - 0,4) km/km2 Độ cao bình quân ở vùng này đạt tới 780 m và độ dốc bình quân cũng đạt tới 32% Phần trung
du ngắn, dốc kéo dài 26 km chảy trong vùng đồi thấp Sông chảy khá thẳng và không có phụ lưu lớn gia nhập
Phần hạ du (vùng tam giác châu) tính từ Thường Đức ra đến biển với chiều dài sông 49 km Khác với vùng thượng và trung du chảy theo hướng gần Bắc Nam, phần hạ lưu lại chuyển hướng thành Tây Đông và đổ ra biển tại Hội An Đây là khu vực dòng sông uốn khúc quanh co, độ dốc lòng sông giảm hẳn, nhiều các phân lưu đan xen như sông Ngang, Vĩnh Diện, Tĩnh Yên đổ ra vịnh Đà Nẵng qua sông Hàn nên khả năng thoát nước của khu vực này rất kém
Toàn bộ LVS Vu Gia - Thu Bồn có 19 phụ lưu cấp I có chiều dài lớn hơn
10 km, 37 phụ lưu cấp II, 22 phụ lưu cấp III, 2 phụ lưu cấp IV và 3 phân lưu là Cẩm
Lệ, Vĩnh Diện, Trường Giang Sông Tĩnh Yên là phụ lưu cấp I lớn nhất trong hệ thống sông Thu Bồn với diện tích lưu vực là 3.690 km2 Dòng chính dài 163 km bắt nguồn từ độ cao 2.000 m , đến nhập lưu với Thu Bồn ở bờ phải cách cửa sông chính
30 km Độ dốc bình quân lưu vực là 21,3%, mật độ lưới sông 0,41 km/km2, hệ số uốn khúc 2,67
Do ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện địa hình nên lượng mưa phân bố không đồng đều trên toàn lưu vực Vùng núi thượng nguồn sông Vu Gia có lượng mưa nhỏ hơn so với vùng núi thượng nguồn sông Tĩnh Yên do ở đây nằm sâu trong lục địa hơn và bị che khuất bởi các nhánh núi của dãy Trường Sơn Hai trạm mưa có độ cao tương tự nhau, trạm Khâm Đức có lượng mưa trung bình đạt 2.887,3 mm trong khi trạm Trà My lượng mưa đạt tới 4.034 mm Lượng mưa có xu hướng tăng dần từ biển và từ vùng núi phía Tây lưu vực (phần đỉnh dãy Trường Sơn) xuống phần trung lưu
Trang 2718
lưu vực Các tâm mưa ở đây đều nằm ở phần trung lưu có vị trí gần biển và độ cao địa hình trung bình như tâm mưa Trà My Lượng mưa bình quân hàng năm có sự phân bố không đồng đều theo không gian, phần thượng du sông, vùng núi chỉ đạt từ (2.800 - 3.000) mm/năm, vùng trung lưu đạt tới (3.500 - 4.000) mm/năm còn phần đồng bằng hạ du lượng mưa trung bình đạt (2.000 - 2.200) mm/năm
Với tiềm năng nguồn nước mưa phong phú nhưng phân phối lượng mưa cũng rất bất điều hòa và phụ thuộc nhiều vào biến động của thời tiết nên sự dao động dòng chảy trên sông suối trong vùng nghiên cứu qua các năm cũng rất lớn
Sự biến đổi dòng chảy qua các năm
Để đánh giá sự biến đổi dòng chảy qua các năm tác giả sử dụng tài liệu thủy văn của 2 trạm Thành Mỹ và Nông Sơn trên sông Thu Bồn (Bảng 1.2) Hệ số Cv của lưu vực nghiên cứu đạt tới (0,35 - 0,39) - đây là khu vực có sự biến động dòng chảy qua các năm lớn nhất trên lãnh thổ Việt Nam Hệ số Cv có quan hệ mật thiết với sự biến động của lượng mưa năm, lượng bốc hơi năm và diện tích lưu vực
Sự biến động mạnh mẽ của lượng mưa là nguyên nhân chính gây nên sự biến động lượng dòng chảy qua các năm ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ nói chung và LVS vùng nghiên cứu nói riêng Lượng mưa ở khu vực này cũng có hệ số biến động lượng mưa rất lớn từ (0,20 - 0,30) Theo nhiều nghiên cứu cho thấy hệ số biến động dòng chảy Cv cũng phụ thuộc rất lớn vào diện tích lưu vực Thông thường hệ
số biến động dòng chảy Cv giảm khi diện tích lưu vực tăng Quan hệ tỷ lệ nghịch của hai yếu tố này khá chặt chẽ với hệ số tương quan đạt tới 0,8
Tổng lượng mưa hàng năm rơi xuống LVS Thu Bồn - Vu Gia là 29 km3tương ứng với lớp nước mưa là 2.763 mm Do lượng mưa phong phú nên dòng chảy trên lưu vực nghiên cứu khá lớn Hàng năm LVS Thu Bồn đổ ra biển xấp xỉ 15 tỷ m3nước tương ứng với modun dòng chảy trung bình M = 46 l/skm2 Hệ số dòng chảy trên toàn lưu vực là 0,53 cao hơn hệ số dòng chảy trung bình toàn lãnh thổ Cũng như lượng mưa, lượng dòng chảy sông suối cũng phân bố không đều theo không gian và thời gian
Trang 2819
Sự biến đổi dòng chảy trong năm
Mùa lũ: Mùa lũ trên sông kéo dài (3-4) tháng nhưng với lượng dòng chảy chiếm tới (60-70)% lượng dòng chảy năm, thậm chí có những năm lượng dòng chảy mùa lũ chiếm trên 80% Theo số liệu trung bình nhiều năm mùa lũ trên lưu vực nghiên cứu xuất hiện từ (X-XII) chiếm từ (60 - 67)% lượng dòng chảy năm với moduyn trung bình mùa lũ (165-224) l/skm2 Tháng có dòng chảy lớn nhất rơi vào tháng XI chiếm tới (27-30)% lượng dòng chảy năm và modun dòng chảy tháng lớn nhất đạt tới (210-300) l/skm2 Cũng như dòng chảy năm đây là khu vực có lượng dòng chảy mùa lũ rất lớn so với toàn lãnh thổ Việt Nam
Mùa kiệt: Kéo từ tháng (I-IX) với moduyn dòng chảy mùa kiệt cũng khá cao (35-40) l/skm2 so với lãnh thổ Việt Nam Do độ dốc địa hình lớn và lớp vỏ thổ nhưỡng mỏng khả năng giữ nước kém nên lượng dòng chảy trong sông chủ yếu do nước mưa cung cấp còn nước ngầm tầng nông của vùng thường chỉ chiếm (20-25)% tổng lượng dòng chảy toàn phần Nguồn ẩm mang đến lưu vực bởi hoàn lưu Tây Nam gây mưa trong tháng V-VIII nên trong mùa kiệt dài xuất hiện lũ tiểu mãn trong các tháng V, VI xóa nhòa mùa khô hạn ở đây với modun dòng chảy tháng trung bình đạt (27-35) l/skm2 Tháng có dòng chảy nhỏ nhất thường xuất hiện vào tháng IV hoặc VIII chiếm (2-3)% lượng dòng chảy năm với modun dòng chảy tháng nhỏ nhất đạt (20-22) l/skm2 tuy nhiên do địa hình dốc, đổ thẳng ra biển nên ở đây thường xuyên xảy ra hiện tượng thiếu nước dùng ngay cả trong sinh hoạt dân cư Đây cũng là một trong những nguyên nhân mặn tiến sâu vào đất liền trong mùa kiệt
Chế độ thủy văn có ảnh hưởng lớn đến môi trường nước trong LVS Đầu mùa lũ, dòng chảy tràn trên bề mặt lưu vực sẽ kéo theo một lượng lớn các chất gây
ô nhiễm đưa vào dòng sông Nhưng đến mùa lũ do lượng nước từ thượng nguồn đưa
về lớn có tác dụng pha loãng các nguồn gây ô nhiễm dòng chảy mặt, hàm lượng các chất gây ô nhiễm đưa về hạ du giảm hẳn Tuy nhiên, sang mùa kiệt khi lượng nước nguồn về giảm, nguồn chất thải lỏng vẫn không thay đổi thì hàm lượng các chất gây
ô nhiễm dòng chảy mặt lại tăng thêm Mặc khác, ranh giới mặn trong mùa kiệt cũng
bị đẩy sâu vào trong lục địa
Trang 2920
Bảng 1.2: Đặc trưng dòng chảy trên sông Thu Bồn [10]
Diện
(km 2 ) m3/s l/s/km2 (mm) 109m3 m3/s l/s/km2 l/s/km2 109m3 m3/s l/s/km2 (mm) 109m3
1 Thành Mỹ Thu Bồn 1.850 124 67,0 2.111 3,91 0,39 306 X-XII 165 2,43 62,3 63,0 34,1 1,47 37,7
2 Nông Sơn Thu Bồn 3.155 263 83,4 2.626 8,28 0,35 708 X-XII 224 5,63 67,9 114 36,1 2,66 32,1
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Dân cư và phân bố Tính đến 31/12/2013 dân số trên lưu vực Vũ Gia - Thu Bồn là 2.012.122 người, có mật độ dân số 168 người/km2 Dân cư trên địa bàn lưu vực phân bố không đều chủ yếu tập trung ở các thị trấn, thị xã, thành phố và vùng đồng bằng (như thành phố Đà Nẵng 4.295 người/km2, Hội An 1.500 người/km2, Điện Bàn 950 người/km2…) còn các huyện miền núi thì dân cư rất thưa thớt chỉ có 13 - 20 người/km2 như huyện Hiên, Tây Giang… Dân số khu vực thành thị chiếm: 44,8%
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên lưu vực 1,01% Dân số 22 huyện trong LVS Vu Gia
- Thu Bồn trong những năm gần đây được trình bày trong hình 1.4 và bảng 1.3
Hình 1.4: Dân số LVS Vu Gia - Thu Bồn
0 500,000
Trang 30(Nguồn: Niên giám thống kê (NGTK) Đà Nẵng - 2014, NGTK Quảng Nam - 2014)
Trang 31sở hạ tầng… Tính đến cuối năm 2013, đất nông nghiệp đang sử dụng trong lưu vực là: 125.452,1 ha chiếm xấp xỉ 11,9%, đất lâm nghiệp là 865.224,6 ha chiếm 82,1%, đất chuyên dùng là 37.925,9 ha chiếm 3,6%, đất ở là 24.867,3 ha chiếm 2,4% Hiện trạng sử dụng đất trên LVS Vu Gia - Thu Bồn được trình bày trong hình 1.5
Hình1.5: Cơ cấu sử dụng đất LVS Vu Gia - Thu Bồn
(Nguồn: NGTK Đà Nẵng - 2014, NGTK Quảng Nam - 2014)
* Tình hình sản xuất nông nghiệp
Theo NGTK của tỉnh Kon Tum , Quảng Nam và t hành phố Đà Nẵng , tình hình sản xuất nông nghiệp trong lưu vực qua các năm như sau:
11,9%
2,4%
Đất Nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở
Trang 32Năm
Lúa Diện tích 80.865 79.444 80.508 80.618 79.729
Sản lượng 366.426 380.866 378.590 401.829 394.280 Ngô Diện tích 14.022 14.498 14.296 14.202 13.776
Cây hàng năm 137.991 136.680 138.267 137.802 136.449
(Nguồn: NGTK Đà Nẵng - 2014, NGTK Quảng Nam - 2014)
- Đất lúa: Trong LVS Vu Gia - Thu Bồn chỉ có 19/22 quận, huyện, thành phố
có diện tích đất lúa Tổng diện tích đất lúa năm 2013 là 79.729 ha, được trồng tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng Nhìn chung, quỹ đất trồng lúa đã được khai thác một cách triệt để, các vùng có công trình thủy lợi tưới chủ động sản xuất đạt năng suất cao, hầu hết sản xuất 2 - 3 vụ lúa/năm Đất lúa tập trung nhiều ở các huyện: Điện Bàn, Đại Lộc, Hòa Vang, Duy Xuyên, Quế Sơn…
Trang 3324
- Đất cây hàng năm khác: tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven biển Tổng diện tích ngô, sắn, khoai là 30.187 ha Tổng diện tích trồng cây hàng năm là 136.449 ha
- Đất cây lâu năm: chiếm 14.124 ha tập trung ở các huyện Tiên Phước, Trà
My, Hiên, Nam Giang Trồng các loại cây: quế, chè, tiêu, đào lộn hột…
Cây màu như ngô, khoai lang được trồng trên dải đồng bằng ven biển, vùng đất cao Sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ gia súc và chế biến để làm thức ăn cho người đang có xu hướng tăng… Cây sắn được trồng trên những vùng đất bạc màu, chủ yếu tập trung ở các huyện miền núi, loại cây này đang có xu hướng giảm, được thay thế dần bằng cây công nghiệp ngắn ngày Cây công nghiệp hàng năm như lạc, mía được trồng ở vùng trung du các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, đang
có xu hướng tăng nhẹ…
Nhìn chung sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào thiên nhiên, đặc biệt ở vùng thượng lưu, năng suất cây trồng còn thấp, sản xuất chủ yếu 1 vụ, diện tích không ổn định
* Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi chiếm 23% giá trị sản xuất nông nghiệp, đàn gia súc, gia cầm vẫn giữ mức ổn định và phát triển Từ hình thức chăn nuôi gia đình, một số địa phương đã thí điểm hình thức chăn nuôi trang trại nông lâm kết hợp, và bước đầu đã
có những kết quả khả quan Số lượng gia súc, gia cầm trong LVS Vu Gia - Thu Bồn tính đến năm 2013 là (bảng 1.6): Đàn trâu: 51.768 con; Đàn bò: 141.584 con; Đàn lợn: 497.662 con; Đàn dê: 9.104 con; Đàn gia cầm: 4.580.820 con
Bảng 1.6: Số lượng gia súc, gia cầm trên LVS Vu Gia - Thu Bồn (con)
Trang 34Bảng 1.7: Diện tích nuôi trồng thủy sản trên LVS Vu Gia - Thu Bồn (ha)
(Nguồn: NGTK Đà Nẵng - 2014, NGTK Quảng Nam - 2014)
c Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Từ ngày giải phóng đến nay, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã phát triển mạnh mẽ Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành 16 xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng do Trung ƣơng quản lý và 160 xí nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ do Tỉnh quản lý
Giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng tăng bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 là 12,3%, thời kỳ 1996 - 2000 là 14,77% ngành công nghiệp
Trang 3526
trên địa bàn đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của thời kỳ đầu, chuyển sang nền kinh tế thị trường, lực lượng sản xuất được tăng cường, từng bước đổi mới cơ chế quản lý, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao chất lượng Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 25,3% năm 1996 lên 32,95% năm
2000 Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Đà Nẵng và Quảng Nam được trình bày trong bảng 1.8 và bảng 1.9
Bảng 1.8: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế tỉnh Quảng Nam
9 Quần áo may sẵn (1000 cái) 47.931 69.962 97.412 112.024
10 Giày dép các loại (1000 đôi) 16.911 23.681 29.410 26.901
11 Ô tô lắp ráp các loại (sản
12 Trang in ốp sét (triệu trang) 1.905 3.210 4.006 4.347
13 Gạch nung các lọai (1000 viên) 448.890 443.914 391.128 414.596
Trang 3623 Điện sản xuất (triệu Kwh) 723 762 1.805 2.203
(Nguồn: NGTK Quảng Nam - 2014) Bảng 1.9: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế thành phố Đà Nẵng
5 Giày thể thao (1000 đôi) 1.206 1.275 962 2.649 4.317
6 Giấy bìa các loại (tấn) 22.677 20.028 29.551 29.233 27.415
Trang 37kể đất làm đường giao thông đến nhà máy, đường công vụ để thi công đường dây và vệt hành lang an toàn lưới điện Trong số diện tích đất thu hồi để làm thủy điện có phần diện tích đất màu mỡ sản xuất của cư dân bản địa, một vấn đề đặt ra là vì đất tái sản xuất ít màu mỡ nên diện tích phải lớn hơn mới đáp ứng được nhu cầu đất theo tập quán sản xuất (01 năm sản xuất, 04 năm bỏ hoang), làm gia tăng tình trạng phá rừng làm nương rẫy Các dự án thủy điện hình thành kéo theo sự ra đời của các tuyến đường giao thông đến các nhà máy, tạo ra cơ hội tốt cho lâm tặc tiếp cận với rừng đầu nguồn để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép, làm cho nguy cơ rừng nguyên sinh bị tàn phá ngày càng trở nên trầm trọng hơn
Trang 3829
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn
- Các thông số môi trường nước nghiên cứu: nhiệt độ; pH; độ đục; chất rắn
lơ lửng; các chất dinh dưỡng: NH4+, PO43-; DO; các chất hữu cơ: COD, BOD5; coliform
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
LVS Vu Gia - Thu Bồn thuộc địa phận 3 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng và Quảng Nam và một phần huyện Đắc Tô của tỉnh Kon Tum Do điều kiện khách quan không cho phép nên tác giả chỉ tiến hành tập trung nghiên cứu ở các khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, KCN thuộc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: góp phần cho việc quản lý, khai thác sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường nước trên các LVS
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn
+ Xác định được nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu
ô nhiễm bảo vệ môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn, nâng cao hiệu lực trong quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững
2.3 Nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này tác giả tiến hành nghiên cứu một số nội dung sau:
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt LVS Vu Gia - Thu Bồn: Phân tích, đánh giá một số chỉ tiêu CLN của LVS Vu Gia - Thu Bồn (nhiệt độ; pH; độ
Trang 392.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ của đề tài tác giả tiến hành thu thập số liệu, tài liệu về khu vực nghiên cứu, đặc biệt là các thông số đo đạc về môi trường nước mặt
Các số liệu được lấy từ nhiều nguồn, đề tài khác nhau chính vì vậy tác giả phải hệ thống lại, chọn lọc và xử lý để có được bộ số liệu tốt nhất theo yêu cầu của
đề tài
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát ngoài thực địa
Phương pháp này nhằm đo đạc ngoài hiện trường theo tuyến, điểm, khu vực đặc trưng nhằm bổ sung tài liệu và kiểm tra kết quả nghiên cứu Đây là phương pháp truyền thống, có độ chính xác cao nhất và cũng là phương pháp tốn kém nhất luôn được thực hiện trong công tác điều tra cơ bản về hiện trạng, diễn biến tài nguyên thiên nhiên và môi trường Các số liệu, kết quả thu được qua phương pháp này là cơ sở thiết yếu để xác định nguyên nhân, dự báo và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Phương pháp này còn nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá chính xác hoá các thông tin sai lệch hoặc mâu thuẫn nhau được phát hiện ra trong quá trình phân tích tổng hợp tài liệu điều tra theo phiếu thông tin qua các câu hỏi kiểm tra chéo
Trang 4031
Phương pháp quan trắc và phân tích môi trường được tiến hành theo quy định về phương pháp quan trắc và phân tích môi trường của Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ TN&MT
- Phương pháp thu mẫu: Tiến hành quan trắc, phân tích và thu mẫu môi trường nước trên hệ thống các điểm khảo sát đại điện đảm bảo đủ độ tin cậy cho tính toán xác định chất lượng môi trường nước Chủ yếu dựa vào phương pháp thu và phân tích mẫu chuẩn của Mỹ công bố năm 1995 Nội dung chủ yếu của phương pháp bao gồm: mẫu nước được lấy tại các tầng khác nhau bằng máy lấy nước Van Deers Tại mỗi điểm tiến hành thu mẫu tại 3 vị trí (giữa sông, phía bờ trái, phía bờ phải) để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của nguồn dữ liệu nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại các điểm nghiên cứu trên LVS
- Phân tích nhanh một số chỉ tiêu môi trường tại thực địa bằng máy Horiba (Nhật) bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, pH, độ đục, độ dẫn điện, hàm lượng oxy hòa tan (DO)
- Phương pháp bảo quản mẫu:
Tiêu chuẩn này đề ra những hướng dẫn chung về kỹ thuật bảo quản những mẫu không thể được phân tích tại chỗ mà phải vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích theo bảng tiêu chuẩn (Phụ lục 1)
Để đáp ứng mục tiêu đã đề ra tác giả tiến hành 01 chuyến khảo sát tổng hợp vào tháng IV năm 2010 và 03 chuyến khảo sát, đo đạc thực địa vào tháng VII năm 2011; tháng V, tháng VI năm 2012 và tháng IV năm 2014 với vai trò là thành viên
tham gia dự án:“Điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến môi
trường và đề xuất giải pháp tổng thể bảo vệ môi trường LVS (sông Ba và sông Vu Gia - Thu Bồn)” dự án thực hiện từ năm 2010 - nay, do TS Nguyễn Thị Thảo
Hương - Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chủ trì (hình 2.1)