1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam

104 339 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của tác giả, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin đăng tải trên các

ấn phẩm, tạp chí và các trang web đều có trích dẫn đầy đủ, các số liệu sử dụng là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả khác chưa được công bố

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hồng Thái – Phó tổng giám đốc Trung tâm khí tượng thủy văn Quốc gia, Chánh văn phòng Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Quốc gia về Tài nguyên môi trường

và biến đổi khí hậu là người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, giúp đỡ và động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Hoan – Học viện Chính trị Khu vực I vì đã giúp đỡ tôi tìm kiếm các nguồn tư liệu trong suốt quá trình làm luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và cán bộ thuộc Khoa sau Đại học – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin được chân thành cảm ơn gia đình, các thầy cô, bạn bè

và đồng nghiệp, những người luôn ở bên tôi và là nguồn động lực to lớn giúp tôi hoàn thành sớm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 201 Nguyễn Thị Hồng Minh

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 4

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam 5

1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 7

1.1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam 10

1.2 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với tác động của BĐKH 14

1.2.1 Quan niệm về cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 14

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16

1.2.3 Khái quát tình hình ban hành cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính ở Việt Nam 21

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 26

2.2 Phạm vi nghiên cứu: 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 31

3.1 Khái quát về cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính 31

3.1.1 Cơ chế, chính sách về huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 31

3.1.2 Cơ chế, chính sách về sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 32

Trang 6

3.1.3 Các bên liên quan tới huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong ứng

phó với biến đổi khí hậu 33

3.1.4 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu và bài học cho Việt Nam 34

3.2 Thực trạng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính 38

3.2.1 Thực trạng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính từ Ngân sách Trung ương cho ứng phó với BĐKH 38

3.2.2 Thực trạng cơ chế, chính sách tài chính huy động nguồn lực tài chính qua chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) và kết quả đạt được 45

3.2.3 Thực trạng cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính từ nguồn ODA tài trợ cho dự án ứng phó với biến đổi khí hậu và kết quả đạt được 48

3.2.4 Cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính và đầu tư của khu vực tư nhân ứng phó với biến đổi khí hậu 51

3.2.5 Huy động nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân 54

3.3 Cơ chế, chính sách nhằm sử dụng nguồn lực tài chính 54

3.3.1 Cơ chế, chính sách nhằm sử dụng nguồn lực tài chính từ Ngân sách Trung ương 54

3.3.2 Cơ chế, chính sách sử dụng nguồn lực tài chính cho chương trình SP-RCC 62

3.3.3 Cơ chế chính sách sử dụng nguồn lực tài chính từ nguồn ODA tài trợ cho dự án ứng phó với biến đổi khí hậu 64

3.3.4 Về sử dụng nguồn vốn trong khu vực tư nhân và người dân: 68

3.4 Đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam 68

3.4.1 Kết quả đạt được 69

3.4.2 Hạn chế của cơ chế, chính sách huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu 73

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách 78

3.5.1 Xây dựng cơ chế, chính sách huy động tài chính phù hợp 78

3.5.2 Hoàn thiện các quy định hiện hành cho khối doanh nghiệp 79

3.5.3 Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên qua đến ODA 80

3.5.4 Tăng cường sự liên kết, phối hợp của các bên liên quan 81

3.5.5 Nâng cao năng lực cho các bên liên quan 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 91

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

COP Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc vế biến đổi khí hậu

CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

IMHEN Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường

NPT-RCC Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí

hậu

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ODA Viện trợ phát triển chính thức

SP-RCC Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu

UNFCCC Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc

REED+

Chương trình Giảm phát thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon từ rừng

UN-REED

Chương trình hợp tác của LHQ về Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua

ở các vùng khí hậu của Việt Nam 6 Bảng 3.1:Tổng tài trợ của các nhà tài trợ cho Chương trình SP-RCC 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Các ngành mục tiêu và Bộ phụ trách (nguồn: PCU, SP-RCC) 46 Hình 3.2: Cơ chế tài chính(nguồn: PCU, SP-RCC) 47 Hình 3.3: Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) theo Bộ, giai đoạn 2010 – 2013 (đơn vị:tỉ đồng) 57 Hình 3.4: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên) của các Bộ (đơn vị: tỷ đồng) 58 Hình 3.5: Chi cho các hoạt động thích ứng (đầu tư và chi thường xuyên) của các Bộ (đơn vị: tỷ đồng)1 59

Hình 3.6: Chi cho cả Thích ứng và Giảm nhẹ ( đơn vị: tỷ đồng)2 59

Hình 3.7:Tổng kinh phí ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT (Đầu tư và chi thường xuyên) (1.044 tỷ đồng) 60 Hình 3.8: Cam kết ODA cho ứng phó với BĐKH tại Việt Nam (đơn vị:

tỉ đồng) 66

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Hiện nay, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất của toàn thế giới trong thế kỉ 21 Biến đổi khí hậu không chỉ tác động lên một ngành, một khu vực, một loài… mà đang tác động mạnh mẽ lên tất cả các lĩnh vực trên hành tinh của chúng ta Việc ứng phó và giảm thiểu tác động của BĐKH hiện là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại BĐKH tác động tiêu cực trên phạm vi lớn như vậy đã buộc các quốc gia trên thế giới phải có những điều chỉnh mang tính chất hệ thống trong các chính sách phát triển của mình cũng như phối hợp với các quốc gia khác Tại Rio de Janeiro, Braxin tháng 5 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đã được tổ chức với sự tham dự của các nguyên thủ và người đứng đầu của 155 nước trên thế giới; tất cả các thành viên tham dự đã ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH làm cơ sở cho nỗ lực chung ứng phó với BĐKH trên toàn cầu Năm 1997, Hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 3 họp tại Kyoto (Nhật Bản) đã ký kết Nghị định thư về cắt giảm khí nhà kính (được gọi tắt là Nghị định thư Kyoto) Theo đó, 36 nước công nghiệp phát triển và các nước

có nền kinh tế chuyển đổi được yêu cầu phải cắt giảm phát thải khí nhà kính Tuy nhiên phải mất đến 8 năm để các nước phê chuẩn, Nghị định thư Kyoto chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 02 năm 2005

Việt Nam là một nước đang phát triển, có bờ biển kéo dài trên 3200km Vì thế, Việt Nam sẽ là một trong các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc-UNDP [54], BĐKH đe dọa Việt Nam ở nhiều cấp, lượng mưa dự kiến sẽ gia tăng và bão nhiệt đới sẽ mạnh hơn Ban cán sự Đảng Chính phủ cũng đã tổng kết chỉ trong 15 năm trở lại đây các loại thiên tai như: bão,

lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 10.711 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm [1]

Nhận thức rõ những tác động nghiêm trọng của BĐKH đến sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã sớm có các chính sách ứng phó với BĐKH[10] Ví dụ như Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH

đã được phê duyệt vào tháng 12 năm 2008, Chiến lược quốc gia Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Chiến lược Tăng trưởng xanh……

Trang 11

Trong số các chính sách đó, chính phủ đã có quan tâm đến vấn đề cơ chế tài chính đối với hoạt động ứng phó BĐKH và bước đầu hình thành cơ chế huy động nguồn lực hợp tác quốc tế và từ xã hội để ứng phó với BĐKH Nhà nước đã có những

ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách cho các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu

và nghiên cứu khoa học và công nghệ về biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ưu tiên huy động vốn vay ưu đãi và khai thác nguồn hỗ trợ không hoàn lại từ các

tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước cho ứng phó với biến đổi khí hậu Nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu từ năm 2010 đến nay đạt trên

500 triệu USD [1] Hàng năm, Nhà nước ưu tiên và tăng dần nguồn đầu tư từ ngân sách cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, các chương trình mục tiêu cụ thể như trồng rừng, nâng cấp hệ thống đê điều, hồ chứa nước, phòng chống sạt lở, chung sống với lũ, an toàn cho tàu thuyền

Tuy nhiên, các chính sách về cơ chế tài chính ứng phó với BĐKH tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu ứng phó với BĐKH trong tương lai Thứ nhất, Chính phủ hiện nay chưa có cơ chế, chính sách phù hợp, thuận lợi

để khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu trên cơ sở mang lại lợi ích cho nhà đầu tư và xã hội Thứ hai là việc huy động nguồn lực từ các tổ chức tài chính quốc tế, Chính phủ các nước, khai thác nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cũng như huy động các nguồn hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho ứng phó với biến đổi khí hậu đạt hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó, mặc dù đã thiết lập và duy trì được một số mối quan

hệ hợp tác, đối tác quốc tế, song chủ yếu vẫn còn ở phạm vi hẹp, ngắn hạn Các cơ chế, thể chế tài chính có tầm chiến lược, dài hạn chưa được thiết lập để đón đầu, thu hút nguồn lực tài chính và sự hỗ trợ công nghệ từ đối tác về BĐKH toàn cầu.[1]

Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu cơ chế, chính sách nhằm huy động

và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam” nhằm làm rõ thực trạng cơ chế chính sách huy động và sử

dụng nguồn lực tài chính hiện nay ở Việt Nam, từ đó góp phần đưa đến một cái nhìn

cụ thể về các cơ chế, chính sách này cũng như chỉ ra được những hạn chế, thiếu sót và hướng khắc phục cho những tồn tại

2 Mục đích nghiên cứu:

- Đánh giá được thực trạng cơ chế, chính sách huy động và sử dụng các nguồn lực trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trang 12

- Xác định được điểm mạnh, điểm yếu của nguồn tài chính Nhà nước, khu vực

tư nhân và các bên liên quan khác trong huy động và sử dụng các điều kiện về tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam và nguyên nhân của những điểm mạnh, điểm yếu đó

- Đề xuất được một số biện pháp nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

3 Kết cấu luận văn

Chương 1: Tổng quan về biến đổi khí hậu và tình hình nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu

Chương 2: Đối tương, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Kết luận và Khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI

CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

1.1.1 Một số khái niệm

- Biến đổi khí hậu

Theo báo cáo lần thứ tư của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu [65],

“BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi

về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn”.Nói cách khác, có thể hiểu BĐKH

là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu trong thời gian đủ dài

Bộ Tài nguyên và Môi trường [10] định nghĩa biến đổi khí hậu là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”

Như vậy, BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,

“khung” thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới

- Chính sách

Từ điển bách khoa Việt Nam [40] đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

- Cơ chế

Cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện"[41] Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý

- Cơ chế, chính sách: "cơ chế" đi đôi với từ "chính sách" thể hiện những biện pháp của Nhà nước để tác động tới xã hội (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ tiền tệ, các công cụ quản lý hành chính khác, các công cụ kinh tế)

Trang 14

- Nguồn tài chính là khả năng về tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền, tài sản vật chất hoặc phi vật chất Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Kết quả của quá trình phân phối các nguồn tài chính là sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định [39]

- Huy động nguồn lực tài chính có thể được hiểu là một quá trình kinh tế - xã hội được thực hiện thông qua các chính sách, biện pháp và các hình thức mà Nhà nước, các tổ chức xã hội và các chủ thể kinh tế đưa ra nhằm chuyển các nguồn lực tài chính từ dạng tiềm năng thành các quỹ tiền tệ được sử dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội [17]

- Sử dụng nguồn tài chính, được hiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm tập trung nguồn lực tài chính đã huy động được để thực hiện việc phân phối, giải ngân, chi tiêu cho mục đích ứng phó với BĐKH (thích ứng hoặc giảm nhẹ); [6]

1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu và nước biển dâng toàn cầu

Trên quy mô toàn cầu, BĐKH được thể hiện rõ nhất ở những biểu hiện sau:[12]

- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,89oC (0,69†1,08oC) trong giai đoạn 1901-2012

- Nhiệt độ trung bình toàn cầu có chiều hướng tăng nhanh đáng kể trong vài thập

kỷ gần đây Mức tăng trung bình giai đoạn 1951-2012 khoảng 0,12oC/thập kỷ

- Số ngày và số đêm lạnh giảm, số ngày và số đêm nóng cùng với hiện tượng nắng nóng tăng rõ rệt trên quy mô toàn cầu từ khoảng năm 1950 Mưa lớn có xu thế tăng trên nhiều khu vực, trong khi đó lại giảm ở một số khu vực

- Trong giai đoạn 1901-2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng khoảng 19cm Tốc độ tăng trung bình của mực nước biển toàn cầu là 1,7mm/năm trong giai đoạn 1901-2010 và 3,2mm/năm trong giai đoạn 1993-2010

1.1.2.2 Diễn biến khí hậu Việt Nam trong những năm vừa qua

Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC.[5] Mức tăng trung bình giai

Trang 15

đoạn 1958-2012 khoảng 0,1oC/thập kỷ, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu (0,12oC/thập kỷ, IPCC 2013) [71] So với trung bình thời kỳ 1981-1990, nhiệt độ trung bình năm trong 20 năm gần đây đã tăng khoảng 0,38oC và trong 10 năm gần đây đã tăng khoảng 0,42oC So với trung bình thời kỳ 1958-2014, nhiệt độ trung bình thập niên 2001-

2010 cao hơn khoảng 0,29oC; trung bình 4 năm 2011-2014 cao hơn khoảng 0,19oC Có sự khác nhau về mức tăng nhiệt độ giữa các vùng và các mùa trong năm Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông; thấp nhất vào mùa xuân Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên

có xu thế tăng của nhiệt độ rõ rệt nhất; khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng của nhiệt độ

thấp nhất [5]

Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm qua

ở các vùng khí hậu của Việt Nam

Trang 16

Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể

ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua.[5] Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượ ng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với

các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua (Bảng 1.1)

Nhiệt độ cực trị tăng ở các vùng, nhưng nhiệt độ tối cao giảm ở một số trạm phía Nam Hạn hán trong mùa khô xảy ra thường xuyên hơn Mưa cực đoan giảm ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng Số ngày rét đậm, rét hại giảm nhưng xuất hiện những đợt rét

dị thường Tần suất và cường độ của El Nino và La Nina có xu thế tăng

Ở Việt Nam, số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không giống nhau Hầu hết các trạm có xu hướng tăng, tuy nhiên, một số ít trạm lại không thể hiện rõ xu hướng này Tính trung bình cho tất cả các trạm, mực nước tăng khoảng 2,45mm/năm

1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Khí hậu bị biến đổi thường do 2 nhóm nguyên nhân:

- Biến đổi khí hậu do yếu tố tự nhiên: Những nguyên nhân tự nhiên gây nên sự thay đổi của khí hậu Trái Đất có thể là từ bên ngoài hoặc do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của hệ thống khí hậu trái đất, bao gồm:

+ Thay đổi của các tham số quỹ đạo trái đất: Do Trái đất tự quay xung quanh trục của nó và quay xung quanh mặt trời, theo thời gian, một vài biến thiên theo chu kỳ

đã diễn ra Các thay đổi về chuyển động của Trái đất gồm: Sự thay đổi của độ lệch tâm

có chu kỳ dao động khoảng 96.000 năm; độ nghiêng trục có chu kì dao động khoảng 41.000 năm và tuế sai ( tiến động) có chu kì dao động khoảng từ 19.000 năm đến 23.000 năm.[12] Những biến đổi chu kỳ năm của các tham số này làm thay đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và do đó làm thay đổi khí hậu trái đất

+ Biến đổi trong phân bố lục địa – biển của bề mặt Trái Đất có thể biến dạng qua các thời kì địa chất do sự trôi dạt của các lục địa, các quá trình vận động kiến tạo,

Trang 17

phun trào của núi lửa,….Sự biến dạng này làm thay đổi làm thay đổi phân bố lục địa – đại dương, hình thái bề mặt Trái đất, dẫn đến sự biến đổi trong phân bổ bức xạ mặt trời trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương Ngoài ra, các đại dương là một thành phần chính là một thành phần chính của hệ thống khí hậu, dòng hải lưu vận chuyển một lượng nhiệt lớn trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào khí quyển

+Sự biến đổi về phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của Trái đất: Sự phát xạ của mặt trời đã có những thời kì yếu đi gây ra băng hà và có những thời kì hoạt động mãnh liệt gây ra khí hậu khô và nóng trên bề mặt Trái đất Ngoài ra, sự xuất hiện các vết đen mặt trời làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống Trái đất thay đổi, năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất

+Hoạt động của núi lửa: Khí và tro núi lửa có ảnh hưởng đến khí trong nhiều năm Bên cạnh đó, các sol khí do núi lửa phản chiếu bức xạ mặt trời trở lại không gian

và vì vậy làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái đất

Có thể thấy rằng nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu do các yếu tố tự nhiên là biến đổi từ từ, có chu kỳ rất dài, vì thế nguyên nhân này chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào biến đổi khí hậu trong giai đoạn này

-Biến đổi khí hậu do sự tác động của con người:

+Hiệu ứng nhà kính: Được định nghĩa là hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí như hơi nước( O2), Các bon ô xít (CO2), Nitơ ôxit (NO2), mêtan (CH4) và chlorofluorocarbon (CFC), làm giảm lượng nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống Trái đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, làm duy trì nhiệt độ Trái đất cao hơn khoảng 300C so với khi không có các chất khí đó(IPCC, 2013) [71]

Các khí nhà kính (KNK) trong bầu khí quyển bao gồm các khí nhà kính tự nhiên và các khí phát thải do các hoạt động của con người Tuy các khí nhà kính tự nhiên chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhưng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên Trái đất Trước hết, các khí nhà kính không hấp thụ bức xạ sóng ngắn của mặt trời chiếu xuống Trái đất, nhưng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt trời phát ra và phản xạ một phần lượng bức xạ này trở vào Trái đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất

Trang 18

+ Hoạt động của con người và sự nóng lên toàn cầu: Biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện tại là do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức các khí nhà kính vào bầu khí quyển Những hoạt động của con người đã tác động lớn đển hệ thống khí hậu, đặc biệt kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (Khoảng từ năm 1750) Theo IPCC, sự gia tăng khí nhà kính kể từ năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các hoạt động của con người Hay nói cách khác, nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu trong giai đoạn hiện này bắt nguồn từ sự gia tăng khí nhà kính có nguồn gốc từ hoạt động của con người [71]

Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp, con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than,dầu, khí đốt), qua đó đã phát thải vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ của Trái đất

Theo báo cáo lần thứ 5 của IPCC, nồng độ các khí nhà kính như CO2, CH4 và

N2O trong bầu khí quyển đã tăng với một tốc độ chưa từng có trong vòng 800.000 năm trở lại đây Nồng độ của CO2 đã tăng khoảng 40% so với thời kỳ tiền công nghiệp, chủ yếu là do sự phát thải từ đốt các nhiên liệu hóa thạch và làm thay đổi bề mặt Đại dương đã hấp thụ khoảng 30% lượng CO2 do con người thải ra, gây ra sự axit hóa đại dương (IPCC, 2013).[71] Sự axit hóa đại dương được định lượng hóa bằng sự giảm nồng độ pH Độ pH của bề mặt nước đại dương đã giảm 0,1 từ khi bắt đầu kỉ nguyên công nghiệp, tương ứng với mức tăng 26% của nồng độ ion hydro[12]

CFC và HCFC: Khác với các chất khí có nguồn gốc tự nhiên, các chất CFC và HCFC hoàn toàn là sản phẩm do con người tạo ra Mặc dù lượng khí CFC và HCFC không lớn nhưng có xu hương tăng lên, gây lo ngại về việc phá hủy tầng ozon Tuy nhiên, nhờ việc thực hiện Nghị định thư Montreal, nồng độ của các chất khí CFC và HCFC có xu hướng giảm dần [12]

Như vậy, BĐKH không chỉ là hậu quả của hiện tượng hiệu ứng nhà kính (sự nóng lên của trái đất) mà còn bởi nhiều nguyên nhân khác Tuy nhiên, có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc biệt trong kỷ nguyên công nghiệp Trong suốt gần 1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 đến 280 phần triệu (ppm).[12] Hiện tại, con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387 ppm

và sẽ còn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí

Trang 19

CO2 trong khí quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề BĐKH là do trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển

1.1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam

- Tác động đến đa dạng sinh học [27]

+Một số loài sẽ bị biến mất, một số loài được ghi trong sách Đỏ nhất là các loài

rất nguy cấp và nguy cấp chỉ còn sống sót ở một địa điểm nhất định

+ Các HST, các sinh cảnh (habitat) cần thiết cho các loài di cư, hoặc các loài

nguy cấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất hoặc thu hẹp

+Các HST bị biến đổi và phân mảnh: do mực nước biển dâng cao nên một số quần xã có tầm quan trọng quốc tế hay quần thể của các loài phân bố hạn hẹp có thể bị

biến mất hoặc bị chia cắt, phân mảnh như các vùng đảo, vùng ven biển, v.v

+ Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, văn hóa

và khoa học hoặc có tầm quan trọng về tiến hoá ở các đảo hoặc ven biển, cửa sông sẽ

bị mất hoặc bị thu hẹp

+Môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các loài động, thực vật ngoại lai xâm nhập và phát triển nhanh hơn Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của các loài ngoại lai xâm hại hiện đang là mối đe dọa lớn đến tính ổn định và đa dạng của các HST Các đảo nhỏ và các HST thủy vực nước ngọt, các vũng, vịnh ven biển là

những nơi bị tác động nhiều nhất

+BĐKH còn ảnh hưởng đến các thủy vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy, v.v ) qua

sự thay đổi nhiệt độ nước và sẽ làm giảm năng suất sinh học của các cây trồng trong ngành nông nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động thực vật bản địa, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế

-Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp

Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự bất thường của chu kì sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, giảm sút năng suất mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác.Đợt rét hại kéo dài 33 ngày trong mùa đông 2007/2008 là một minh chứng Trong đợt rét đã có hàng nghìn con trâu bò, hàng nghìn hécta lúa xuân đã cấy, hàng chục ngàn hécta mạ non, nhiều đầm cá tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ đã bị chết, thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng

Trang 20

-Tác động của BĐKH tới tài nguyên rừng

Việt Nam có đa dạng sinh học cao, có các hệ sinh thái đa dạng.Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái đặc biệt là hệ sinh thái rừng đã bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng giảm, rừng ngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng (Giảm 80% diện tích) [49]do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng có tăng về diện tích nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh vẫn chỉ khoảng 8% (so với 50% diện tích các nước trong khu vực)[49] Nhiệt độ tăng còn làm tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH

-Tác động của BĐKH tới tài nguyên đất

Tác động của BĐKH tới tài nguyên đất: Việt Nam là một quốc gia khan hiếm đất, bình quân đất đầu người được xếp thứ 159 và chỉ bằng khoảng 1/6 bình quân của thế giới (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, 2004)[49] Trong thời gian qua, diện tích đất nông nghiệp lại càng bị thu hẹp do sức ép dân số,

đô thị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp ngày càng gia tăng

Dưới tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của cư dân và phần đất mầu mỡ nhất cho sản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thiên tai, bão, lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng sói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất

Hiện tượng thiếu nước và hạn hán sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung

-Tác động của BĐKH tới tài nguyên nước

Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông… đều tăng Ngoài ra, lượng bốc hơi nước của các thuỷ vực (hồ ao, sông, suối ) cũng tăng Hậu quả là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn.[49]

Nhưng thay đổi về mưa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và cường độ các trận lũ, tần xuất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước dưới đất Theo dự đoán, BĐKH sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở

nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Trang 21

-Tác động của BĐKH tới sức khỏe

BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như bão lũ, hạn hán…Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt xuất huyết (muỗi); qua môi trường nước (các bệnh đường ruột) và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi) Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân Việt Nam thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người

và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh)…nhiều bệnh có diễn biến bất thường và phức tạp

-Tác động của BĐKH tới vùng ven biển

Tất cả các tác động của BĐKH đều rõ rệt nhất ở vùng ven biển, đây sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây ra những tổn thất năng nề về người và của:

+Gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thuỷ sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền thống ở đây

+Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất

là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thuỷ hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương

sẽ bị thu hẹp nhanh chóng [49]

+Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác

động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời

+Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ánh hưởng lớn tới các rạn san hô, HST có

tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn hiệu quả chống xói mòn bờ biển và rừng ngập mặn San hô là các động vật rất nhạy cảm với

các yếu tố sinh thái, nhất là nhiệt độ và chất lượng nước

-Tác động của BĐKH tới an ninh môi trường/an ninh quốc gia

BĐKH còn có thể ảnh hưởng tới an ninh môi trường nói riêng, an ninh quốc gia nói chung, tập trung ở những vấn đề sau:

+Sử dụng chung nguồn nước: Việt Nam có khoảng 2/3 tổng lượng nước là từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào.[56] Việc sử dụng nước phía thượng nguồn, việc xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện của các quốc gia trên thượng nguồn các sông lớn (sông Hồng, sông Cửu Long) sẽ là một khó khăn rất lớn cho chúng ta trong sử

Trang 22

dụng nguồn nước và bảo vệ môi trường BĐKH sẽ làm suy thoái tài nguyên nước, khi đó nhu cầu dùng nước của các quốc gia đều tăng lên, làm tăng các bất đồng và xung đột có thể có trong sử dụng chung nguồn nước

+Tị nạn môi trường/ khí hậu (trong nước và quốc tế) do mất nơi ở hoặc do bệnh tật và nghèo đói Có những cảnh báo cho rằng vấn đề tị nạn khí hậu không chỉ đơn thuần là vấn đề xã hội, kinh tế mà có thể còn là vấn đề chính trị, chiến tranh

+An ninh sinh thái do sự nhiễu loạn của nhiều HST, sự xâm lấn của các sinh

vật lạ và sinh vật biến đổi gen

-Tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng

+ Cơ sở hạ tầng ở đây được hiểu là những công trình xây dựng thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống và sản xuất như xây dựng, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch-dịch vụ Đặc trưng của những đối tượng này là thời gian tồn tại tương đối dài, có thể hàng thế kỷ và chịu tác động trực tiếp và liên tục của khí hậu, thời tiết, và hiện nay là BĐKH với xu hướng ngày càng gia tăng

Nhìn một cách khái quát, tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng thể hiện ở hai góc độ, quy hoạch xây dựng và thiết kế công trình

+Quy hoạch xây dựng Quy hoạch xây dựng bao gồm không chỉ quy hoạch

đô thị, nông thôn, các khu dân cư, các cụm công nghiệp mà còn cả các công trình giao thông vận tải, trong thủy lợi, y tế, giáo dục, du lịch và dịch vụ Những quy hoạch xây dựng bao giờ cũng được tính toán một cách phù hợp với phân bố không gian

và điều kiện khí hậu của từng vùng, từng địa phương, từng lọai công trình Vì vậy, BĐKH sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các qui hoạch này, nhất là khi mực nước biển dâng,

và thiên tai gia tăng

+Thiết kế công trình Thiết kế công trình bao giờ cũng được tính toán phù hợp với tải trọng khí tượng, trong đó tải trọng gió và tải trọng nhiệt là quan trọng nhất đối với các nước nhiệt đới như Việt Nam

Những tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội

Những tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với Việt Nam có thể được tóm tắt như sau (IMHEN, 2011): [50]

Tác động của nước biển dâng làm tăng diện tích bị xâm nhập mặn, mất đất canh

tác nông nghiệp, gia tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông, đô thị, khu dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân, các hệ

Trang 23

sinh thái ven biển, cửa sông Tây Nam bộ, duyên hải miền Trung và hạ lưu sông Đồng Nai là các vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đặc biệt là vùng Tây Nam bộ

Tác động của nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cơ cấu cây

trồng, vật nuôi, mùa vụ, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến năng suất giảm, tăng nguy cơ, rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm cho các loài vi khuẩn, côn trùng, sinh vật mang bệnh phát triển mạnh; gia tăng sức ép lên cơ thể con người, làm giảm khả năng đề kháng, nhất là đối với người cao tuổi và trẻ em, dẫn đến dễ bị nhiễm bệnh, nhiễm dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm Nhiệt độ tăng cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng các công trình, sức bền vật liệu, tăng chi phí làm mát, thông gió, bảo quản, vận hành các phương tiện

Tác động của gia tăng cực trị của thời tiết, thiên tai làm cho thiên tai ở nước ta

trở nên nguy hiểm hơn, khó lường trước hơn, chúng ta mất đi thế chủ động phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai đã được xây dựng trong nhiều năm Hạn hán, thiếu nước ở nhiều vùng vào mùa kiệt sẽ gay gắt hơn trước tác động của biến đổi khí hậu Diện tích đất suy thoái, bạc màu, hoang mạc hóa mở rộng, thậm chí có thể bị sa mạc hóa Nguy

cơ mất an ninh về nước sẽ đến sớm hơn so với dự báo Lũ lụt cũng sẽ nguy hiểm hơn, sức tàn phá sẽ lớn hơn nhiều Nhiều công trình chắn sóng, chắn cát, đê sông, đê biển sẽ không còn tác dụng hoặc dễ bị phá vỡ trước lũ lụt Các hệ sinh thái tự nhiên cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do những diễn biến cực đoan của thời tiết, thiên tai

Từ những tác động nếu trên, có thể nói thích ứng với BĐKH cũng đang là một thách thức lớn đối với Việt Nam Với quan điểm nhìn nhận đánh giá tác động của BĐKH ở hai khía cạnh là sự tác động của sự biến đổi từ từ và tác động của các hiện tượng cực đoan [33] việc thích ứng cũng cần phải có chiến lược và lộ trình thích hợp

1.2 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với tác động của BĐKH

1.2.1 Quan niệm về cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu

Hiện nay chưa có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về tài chính biến đổi khí hậu Theo nghĩa rộng, có thể hiểu việc tài trợ về tài chính cho các hoạt động để giảm nhẹ phát thải GHG và thích ứng với tác động của BĐKH ngày càng trở nên cần thiết Các nguồn lực công là nguồn đóng góp quan trọng cho tài chính khí hậu, nhưng tài chính quốc tế có thể góp phần quan trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển

Trang 24

Tài chính khí hậu quốc tế có thể sẵn sàng thông qua sự kết hợp của các quỹ song phương (ODA hoặc các sáng kiến tài chính khí hậu cụ thể), đa phương (ví dụ, Các Quỹ Đầu tư Khí hậu) và các Quỹ của UNFCCC (cũng như các quỹ đa phương nhưng được thành lập bởi COP: Quỹ cho các nước kém phát triển nhất (LCDCF), Quỹ BĐKH đặc biệt (SCCF) và Quỹ Thích ứng (AF)) Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) mới thành lập gần đây mà công cụ điều hành đã được thông qua ở COP17 tại Durban năm

2011 có thể được xếp vào loại quỹ thuộc UNFCCC, thậm chí nếu COP có chút quyền lực can thiệp hơn các quỹ UNFCCC khác [34] Thị trường cácbon và Cơ chế phát triển sạch (CDM) là công cụ dựa vào khung khổ điều tiết của các chính phủ và cộng đồng quốc tế, công cụ này có thể đưa các khoản đầu tư vào công nghệ giảm phát thải bằng cách áp giá cho carbon và cho phép các công ty (và các chính phủ) để mua bán giảm phát thải để thực hiện các nghĩa vụ giảm phát thải nhất định của mình.[52] Mặc dù các quỹ này không thể dựa vào nghĩa vụ tài chính của các chính phủ vì chúng được sử dụng để thực hiện các cam kết giảm nhẹ, nhưng chúng có thể cung cấp khuyến khích

cho việc đầu tư vào công nghệ thân thiện khí hậu

Tài chính khí hậu liên quan đến UNFCCC được nêu ở một số điều của Công ước Điều 4.3 [73] đưa ra nghĩa vụ chung của các nước phát triển phải cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển Hõ trợ tài chính này được xác định là phải „mới

và tăng thêm‟ Tuy nhiên định nghĩa này lại chưa nêu nghĩa vụ định lượng, do vậy rất khó đánh giá việc thực hiện cam kết này có được hoàn thành hay không Việc cung cấp hỗ trợ tài chính cho các hành động khí hậu được thực hiện theo cái gọi là cơ chế tài chính được định nghĩa tại Điều 11 của UNFCCC Điều 11 [73] mô tả rằng một hoặc nhiều hơn các tổ chức có thể thực hiện vận hành cơ chế này Lâu nay, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) là tổ chức vận hành duy nhất theo cơ chế tài chính này; tuy vậy,

về bản thân nó lại không phải là một cơ chế tài chính.Tại COP 17, COP quyết định rằng “giao cho Quỹ Khí hậu xanh là một tổ chức vận hành Cơ chế tài chính của Công

ước theo Điều 11 của Công ước”

Như vậy trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào về "tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu", tuy nhiên tổng hợp từ lý thuyết và thực tiễn có thể rút ra khái niệm tài chính cho ứng phó với BĐKH là tài chính dành cho quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế toàn cầu có mức carbon thấp, dành cho các hoạt động nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với BĐKH diễn ra trong hoạt động hàng ngày của cả khối nhà nước và tư nhân[63] Vì vậy, có thể nhận

Trang 25

thấy nguồn tài chính với quy mô lớn này đòi hỏi sự tham gia đóng góp của cả khối nhà nước và tư nhân Trong đó, nhà nước đóng vai trò chủ đạo về tài chính cho ứng phó với BĐKH

Xét về khía cạnh quản lý và điều hành nền kinh tế của Nhà nước đối với hoạt động ứng phó với BĐKH, có thể khái quát: Cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính, là tổng thể các thể chế và thiết chế được cụ thể hoá thành các quyết định của Nhà nước, của các cấp, nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính để thực hiện các mục tiêu ứng phó với BĐKH Cơ chế, chính sách này phản ánh các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp, công cụ, các nguyên tắc

và phương thức hành động của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính thực hiện những mục tiêu ứng phó với BĐKH của đất nước

Cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH liên quan với nhiều cơ chế, chính sách khác, xét trên mối quan hệ tác động định hướng tới nền kinh tế và là quan hệ có tính hai chiều Mối quan này đặt ra yêu cầu cho sự phối hợp đồng bộ trong hoạch định chính sách ứng phó với BĐKH Vì vậy, trong quá trình ban hành cơ chế, chính sách việc phối hợp giữa các bộ, ban ngành trong việc soạn thảo các chính sách liên ngành và chính sách trong phạm vi quản lý của từng ngành có liên quan đến ứng phó với BĐKH là rất quan trọng

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.2.1.Tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào về "tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu".Tuy nhiên, tổng hợp từ lý thuyết và thực tiễn có thể rút ra khái niệm tài chính cho ứng phó với BĐKH là tài chính dành cho quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế toàn cầu có mức carbon thấp, dành cho các hoạt động nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với BĐKH diễn ra trong hoạt động hàng ngày của cả khối nhà nước và tư nhân (Brent Cloete và Yash Ramgowlan, 2011)[63] Do đó, nguồn tài chính với quy mô lớn này đòi hỏi sự tham gia đóng góp của cả khối nhà nước và tư nhân, ít nhất là trong ngắn hạn Trong đó, nhà nước đóng vai trò chủ đạo về tài chính cho ứng phó với BĐKH

Van Melle và các cộng sự (2010)[72] cho rằng vấn đề tài chính cho ứng phó với BĐKH đang trở thành mối quan tâm lớn trên diễn đàn quốc tế về BĐKH, đặc biệt trong khuôn khổ của UNFCCC Vấn đề còn tranh cãi trên bàn đàm phán là

Trang 26

các nước phát triển hay đang phát triển, sẽ đảm nhiệm vấn đề tài chính trang trải cho các hoạt động ứng phó với BĐKH ở các nước đang phát triển, và vấn đề không thể bỏ qua là với cơ chế, chính sách tài chính nào để quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này Nguồn huy động tài chính chủ yếu hỗ trợ các nước đang phát triển ứng phó với BĐKH trong Thỏa thuận Cancun trong COP 16- duy trì thay đổi nhiệt độ dưới 20C

là từ các nước phát triển với nhận thức rằng các quốc gia này gây ra phần lớn khí thải dẫn đến BĐKH Với tổng nguồn lực tài chính huy động từ các nước này trong thỏa thuận là 100 tỷ đô là từ năm 2020 sẽ được thực hiện dưới hình thức viện trợ phát triển Còn một số khoản viện trợ thực hiện sớm hơn, 2010-2012, với tiêu chí ưu tiên cho các nước kém phát triển nhất và châu Phi.[72] Do bản chất nguồn tài chính này tương tự như khoản viện trợ phát triển do đó cơ chế quản lý như giám sát, báo cáo, thẩm tra tài chính tương đối nhạy cảm Dẫn đến đặc thù và cơ chế phân bổ tài chính cho nguồn này hiện còn chưa thống nhất

Các tác giả cũng nhận định rằng nguồn huy động tài chính này rất đa dạng: Từ khu vực công, tư, hợp tác song phương, đa phương và có thể từ nguồn tài chính tiềm năng cho đổi mới thay thế, với cơ chế phân bổ dự kiến thông qua Quỹ khí hậu xanh

Cụ thể là từ các nguồn thu từ carbon ở các nước đang phát triển, như thuế carbon, phí năng lượng (như trong ngành điện), nhiên liệu hóa thạch thuế giao dịch tài chính

và phí giao thông vận tải toàn cầu và hiện nay nguồn thu tiềm năng có thể từ thị trường carbon, tuy nhiên còn phụ thuộc vào thỏa thuận toàn cầu về giá, hạn ngạch cũng như tính thanh khoản của thị trường

Marquard và Tyler (2010) [65] trong nghiên cứu của mình chỉ ra diễn biến ứng phó với BĐKH đã có sự thay đổi với sự nhận diện rằng vấn đề ứng phó với BĐKH là vấn đề toàn cầu, xu thế hướng tới tăng trưởng carbon thấp và bền vững là toàn thế giới không chỉ cho các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển và do đó nguồn nội lực của mỗi quốc gia cần coi trọng và tận dụng Hay nói cách khác, nguồn huy động tài chính ứng phó với BĐKH không chỉ tập trung ở các nước phát triển, mà

từ các nước đang phát triển, không chỉ từ nguồn viện trợ đầu tư nước ngoài, mà là

từ trong nước.[65] Với cơ chế tài chính là các khoản chi tiêu phải tuân thủ các ưu tiên trong ứng phó với BĐKH Cũng theo định hướng này, Brent Cloete và Yash Ramgowlan (2011) đã phát hiện rằng Nam Phi theo đuổi chính sách tài chính khai thác tối đa nguồn lực trong và ngoài nước cho ứng phó với BĐKH nhằm chuyển dịch

Trang 27

nền kinh tế sang hướng tăng trưởng xanh, tăng trưởng carbon thấp Quốc gia này cũng khẳng định để ứng phó với những biến đổi khó tránh khỏi của khí hậu, tất yếu phải

có cơ chế và chính sách tài chính phù hợp cho hoạt động ứng phó với BĐKH [63]

Ngân hàng thế giới (2009) đánh giá chi phí cho ứng phó, bao gồm thích ứng và giảm nhẹ, đối với BĐKH trên thế giới rất lớn, được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong ngắn hạn và cả trong dài hạn Ước tính tổng ngân quỹ cơ bản và bổ sung cho các hoạt động liên quan đến ứng phó với BĐKH từ cộng đồng quốc tế lên đến 230-250 tỷ đô la mỗi năm.[77] Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu ứng phó với BĐKH đòi hỏi nguồn lực tài chính khổng lồ lên tới 4,6 nghìn tỷ đô la mỗi năm Trên thế giới, nguồn huy động tài chính ứng phó với BĐKH khá phong phú, theo cơ chế chung thì dòng chảy tài chính sẽ từ các nước phát triển, tổ chức quốc tế cùng với dòng tài chính trong nước, theo hệ thống cơ chế phân bổ tài chính riêng, các công cụ tài chính như thương mại carbon, qua các tổ chức trung gian, đổ vào khu vực tư nhân, gắn với các chương trình, dự án với các hoạt động cụ thể ứng phó với BĐKH [77]

Các báo cáo của UNFCCC (2008, 2011) chỉ ra cơ chế phân bổ tài chính cho ứng phó với BĐKH có xu hướng phân bổ đồng đều cho cả thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH (chứ không chú trọng ưu tiên cho hoạt động giảm nhẹ như trước) và

cơ chế này ngày càng được củng cố trước nhu cầu tài chính cho hoạt động thích ứng với BĐKH ở các nước đang phát triển đối với các nước phát triển và sẽ được đưa vào đàm phán chính thức trong các kỳ COP sau [74;75] Với cách tiếp cận là nguồn tài chính như ODA sẽ phân bổ cho hoạt động thích ứng, còn các nguồn khác huy động từ thị trường carbon sẽ dành cho hoạt động giảm nhẹ tác động của BĐKH [34]

Cơ chế tài chính trong khuôn khổ UNFCCC được thực hiện qua Cơ chế tài chính UNFCCC và Quỹ tín thác GEF, Quỹ biến đổi khí hậu đặc biệt (SCCF), Quỹ cho các nước kém phát triển nhất (LDCF) và Quỹ thích ứng (UNFCCC, 2008; UNFCCC, 2011) Trong đó ba công cụ đầu do GEF quản lý, huy động chủ yếu từ nguồn đóng góp tự nguyện, còn quỹ thích ứng được điều hành bởi Ban điều hành độc lập với nguồn quỹ từ 2% khoản thu từ các dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) [74;75]

Ngoài các cơ chế và các quỹ trong khuôn khổ UNFCCC, còn có: i- Các quỹ biến đổi khí hậu đa phương khác bao gồm Quỹ đầu tư khí hậu, Quỹ carbon ngân hàng thế giới, Quỹ Liên hợp quốc và các sáng kiến đa phương khác; ii- Hỗ trợ tài chính ứng

Trang 28

phó biến đổi khí hậu song phương; iii- Ngân hàng phát triển đa phương (MDBs); iv- Nguồn tài chính của mỗi quốc gia; v- Nguồn tài chính tư nhân Có thể nói, nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu từ cả hai nguồn công và tư không phải và không thể là giải pháp lớn và dài hạn (Ward, 2010)[76] Nguồn huy động tài chính tư nhân có thể từ vốn của tổ chức, thị trường carbon, đầu tư hợp tác, đầu tư mạo hiểm

và tổ chức từ thiện Từ cơ chế tài chính cấp độ toàn cầu, có thể tham khảo, áp dụng sáng tạo cho "thế giới thu nhỏ" tại các quốc gia, với nguyên tắc đa dạng hóa, hợp tác tài chính công tư, hợp tác đa phương, tăng cường hợp tác với các tổ chức tài chính, nhằm huy động tối đa và hiệu quả nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu Như vậy, qua tình hình nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới có thể thấy cơ chế

và chính sách tài chính hiệu quả cho ứng phó với biến đổi khí hậu còn là một câu hỏi lớn, dù đã hình thành một số công cụ có kết quả tích cực song chưa phải là biện pháp tối ưu Để có cơ chế và chính sách phù hợp phải cần có sự đồng tâm nhất trí giữa các quốc gia cùng sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu

1.2.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước

Thời gian qua, với những hậu quả nghiêm trọng của BĐKH, Việt Nam đã ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của ứng phó với BĐKH, đặc biệt đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cũng như việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự tăng trưởng bền vững của quốc gia Chịu tác động mạnh mẽ nhất từ BĐKH ở Việt Nam là tài nguyên nước, ngành nông nghiệp và an ninh lương thực, vấn đề sức khỏe con người ở các vùng đồng bằng và cả dải ven biển

Tuy nhiên, ở Việt Nam, BĐKH lại là một trong những nội dung nghiên cứu còn mới mẻ cả về phương pháp luận cũng như các công cụ nghiên cứu Do đó, việc tìm hiểu cũng như nghiên cứu về ứng phó với BĐKH cũng như cơ chế và chính sách tài chính cho hoạt động này là nhiệm vụ khó khăn và đầy thử thách

- Nguồn huy động tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Ở Việt Nam hiện nay hiện có các nguồn chính huy động tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu như sau:

+ Nguồn trong nước: i- Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu: Tập trung vào nâng cao nhận thức, năng lực với biến đổi khí hậu, tập trung nhiều hơn vào thích ứng với biến đổi khí hậu (NTP-RCC); ii- Chương trình khoa học công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu: Chủ yếu là các đề tài, nghiên cứu

Trang 29

+ Nguồn ngoài nước: Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP- RCC) do một loạt các nhà tài trợ đóng góp chung, có nguồn đầu tư cho các dự án

Vũ Xuân Nguyệt Hồng và các cộng sự (CIEM) [51] trong nghiên cứu vấn

đề tài chính cho vấn đề môi trường, tập trung vào khu vực đô thị và nông thôn Việt Nam cho thấy nhu cầu về tài chính là cấp bách, cần có cơ chế huy động khuyến khích đầu tư giải quyết vấn đề môi trường, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ xanh nhằm phát triển đô thị và nông thôn bền vững Tuy nhiên, chưa nghiên cứu sâu về cơ chế chính sách tài chính ứng phó với BĐKH

Vũ Xuân Nguyệt Hồng (CIEM) nghiên cứu "Cơ chế chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho bảo vệ môi trường” [52], chỉ ra rằng, về lâu dài nguồn vốn bảo vệ môi trường phải có sự đóng góp của khối doanh nghiệp Từ đó cần có chính sách vừa khuyến khích, vừa có chế tài cho doanh nghiệp có ý thức và thực hiện trách nhiệm với

xã hội, cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường góp phần phát triển doanh nghiệp, ngành và quốc gia theo hướng tăng trưởng xanh Tuy nhiên, nghiên cứu dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa nghiên cứu sâu và bao quát về chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Vũ Xuân Nguyệt Hồng và các cộng sự nghiên cứu "Cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp",[53] đã chỉ ra rằng, một trong những giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu là sử dụng công nghệ sạch,

từ đó cần có chính sách, đặc biệt là chính sách huy động vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, vừa thực hiện hoạt động xã hội trong bảo vệ môi trường, vừa tăng trưởng bền vững Tuy nhiên, nghiên cứu không đề cập một cách bao quát về chính sách tài chính ở phương diện hiệu quả sử dụng trong ứng phó với BĐKH

- Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính

Về phân bổ nguồn lực, nghiên cứu của Vũ Thị Quỳnh Hoa (2013) trong bài viết "Tài chính cho biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Các khía cạnh giới và giảm nghèo" cho thấy chính sách tài chính cho biến đổi khí hậu cần thay đổi chiến lược trong việc

ưu tiên phân bổ nguồn lực nhằm tăng cường khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng ưu tiên cho đối tượng dễ bị tổn thương Phân tích chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu theo khía cạnh xã hội, cho thấy các nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo, phụ nữ và trẻ em sẽ chịu thiệt hại nặng hơn trước biến đổi khí hậu do họ hầu như không có nguồn lực để phục hồi Trong khi đó thực tế ngân sách, theo kết quả nghiên cứu thí điểm tại hai tỉnh Quảng Nam và Bến Tre, phân bổ

Trang 30

cho hoạt động này rất hạn chế mà phần lớn chỉ tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng Các nguồn lực tài chính do các NGOs huy động được nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, chủ yếu sử dụng tài trợ cho các dự án hỗ trợ cộng đồng ứng phó biến đổi khí hậu và lồng ghép biến đổi khí hậu vào các dự án Các hoạt động giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu chủ yếu bao gồm: Sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm phát thải, tăng cường xử

lý phát thải, tăng diện tích trồng rừng gắn với thị trường carbon, REDD+ Các hoạt động chính thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm: Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, sản xuất nông lâm thích ứng với biến đổi khí hậu

Đồng thời một câu hỏi khác được đặt ra là nên phân bổ nguồn lực tài chính cho biến đổi khí hậu hay nên tập trung cho giảm thiểu hay thích ứng, cho phần cứng hay phần mềm Một số đề xuất về hướng giải pháp chung nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng tài chính cho biến đổi khí hậu được nêu ra như: "Chi tiêu thông minh hơn"

có sự chú trọng thỏa đáng đến hoạt động giám sát và đánh giá để tăng hiệu quả chi tài chính cho biến đổi khí hậu; hợp tác thống nhất các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm; chuyển từ mô hình chương trình sang dự án để có những hoạt động trọng điểm, cụ thể; tăng cường huy động các nguồn lực tài chính mới như thuế chuyển tiền, thuế các bon, thuế hàng không, cũng như tăng cường nguồn tài chính cho biến đổi khí hậu từ khối tư nhân

Qua những phân tích trên, có thể nhận thấy rằng Việt Nam đã bước đầu có những quan tâm nhất định đến các cơ chế, chính sách huy động và quản lý nguồn lực tài chính Tuy nhiên hầu như các nghiên cứu đều chưa chuyên sâu hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa bao quát được hết về các chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách ban ra nhiều khi còn mơ hồ hoặc chưa rõ ràng Nhóm cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn áp dụng Vậy nên cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về vấn đề cơ chế, chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.2.3 Khái quát tình hình ban hành cơ chế, chính sách huy động và sử dụng

có hiệu quả nguồn lực tài chính ở Việt Nam

1.2.3.1 Tình hình ban hành cơ chế, chính sách tài chính trong những năm qua

Những năm vừa qua, các cơ quan hoạch định chính sách và các nhà lãnh đạo

Trang 31

Việt Nam đã thay đổi nhận thức về vấn đề biến đổi khí hậu Hiện nay, biến đổi khí hậu được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt Cũng vì thế từ năm 2007 đến nay, Đảng ta đã quan tâm chỉ đạo và ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về ứng phó với BĐKH trong cả nước:

Trước tiên phải kể đến Nghị quyết số 26 –NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn.[30] Trong đó có nhiệm vụ cần phải tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân ĐBSCL, miền trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động tham gia các biện pháp ứng phó với BĐKH toàn cầu; nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; chủ động triển khai các công trình giảm thiểu tác hại của BĐKH

Nghị quyết số 13 –NQ/TW ngày 16/01/2012 [31] của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với quan điểm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải gắn với tiết kiệm đất canh tác, BVMT, tăng trưởng xanh và ứng phó với BĐKH

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT Đây là Nghị quyết chuyên đề của Đảng thể hiện chủ trương, đường lối toàn diện về chủ động ứng phó với BĐKH

Bên cạnh đó, còn phải kể đến rất nhiều các chủ trương khác như đưa ra định hướng về phát triển bền vững ở Việt Nam [45]; các chiến lược quốc gia về phòng chống, giảm nhẹ thiên tai [47]; hoặc sát cánh cùng các chương trình của thế giới như phê duyệt tổ chức thực hiện nghị định thư Tokyo [47] …

Nhằm thực hiện đường lối và chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa thành các Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, chỉ thị về công tác ứng phó với BĐKH và nước biển dâng như sau:

Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, trong đó lần đầu tiên đã đưa nhiệm

vụ ứng phó với BĐKH vào Hiến pháp, tại khoản 1, Điều 63 “1.Nhà nước có chính sách BVMT; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó BĐKH”[14]

Trang 32

Kế đến phải kể ra những bộ luật có liên quan đến ứng phó với BĐKH như sau:

-Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2014: Luật đã ban hành một số chính

sách, pháp luật có qui định liên quan đối với lĩnh vực thích ứng và giảm nhẹ khí nhà kính Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng; bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều

hòa khí hậu, góp phần BVMT và giảm tác động của BĐKH [18]

- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010:Luật cũng đưa ra

chính sách của Nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để BVMT và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính [24]

- Luật Tài nguyên nước năm 2012: Có 5 nội dung đề cập trực tiếp đến BĐKH

trong việc bảo đảm nguồn nước, chống hạn hán, lũ lụt khi điều kiện thời tiết xảy ra cực đoan và bất thường [25]

- Luật Phòng chống thiên tai năm 2013: Luật được ban hành dựa trên quan điểm

thích ứng BĐKH và đã đưa ra nguyên tắc phòng, chống thiên tai phải dựa trên cơ sở khoa học; kết hợp sử dụng kinh nghiệm truyền thống với tiến bộ KHCN; kết hợp giải pháp công trình và phi công trình; BVMT, hệ sinh thái và thích ứng BĐKH [23]

- Luật Khoa học và công nghệ năm 2013: đã đưa ra chính sách nhằm ưu tiên

và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN; BVMT và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu KH&CN tiên tiến và hiện đại, cải thiện năng suất lao động, BVMT và giảm thiểu tác động của BĐKH [19]

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: Luật có 1 chương riêng với 10 điều, đã

qui định nguyên tắc và đưa ra một số chính sách có tác động trực tiếp đến thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính [20]

- Luật Xây dựng năm 2014: Luật đã thể hiện chính sách của Nhà nước trong

việc thiết kế các công trình thích ứng BĐKH; bảo đảm các công trình xây dựng sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, gần với thiên nhiên để hấp thụ và giảm thiểu phát thải khí nhà kính [26]

- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015: Luật đã thể hiện

chính sách của Nhà nước trong tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển và hải đảo, biến đổi khí hậu, nước biển dâng; quản lý chặt chẽ các hoạt động ở biển [22]

Trang 33

Bên cạnh đó phải kể đến nhiều Quyết định liên quan đến BĐKH của các Bộ, Ban ngành cùng các chiến lược, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH được triển khai trong thời gian qua nhằm đưa ra các phương án tốt nhất để góp phần giúp Việt Nam thích ứng với BĐKH

1.2.3.2 Các văn bản về cơ chế chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính từ Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngày 23/01/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Thủ tướng Chính phủ ban hành các Quyết định: Quyết định số TTg ngày 02/12/2008 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu[48]; Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 Ban hành Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 43/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 Thành lập

158/2008/QĐ-Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2015[35]; Quyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 5/10/2012 kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 - 2020

Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ TN&MT, Bộ KH&ĐT ban hành Thông tư Liên tịch số 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT ngày 15/3/2010 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí NSNN thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2009-2015

Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ TN&MT ban hành Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 04/7/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một

số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch; Thông tư liên tịch số 204/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15/12/2010 sửa đổi bổ sung một số nội dung của Thông tư liên tịch số 58/2008/ TTLT-BTC- BTNMT

1.2.3.3 Văn bản chính sách về cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính qua chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC)

Trang 34

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cơ chế tài chính cho chương trình SP-RCC tại công văn số 8981/VPCP-QHQT ngày 10/12/2010 trên cơ sở kiến nghị của Bộ Tài chính tại văn bản số 15020/BTC-QLN ngày 5/11/2010;

Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT ngày 5/3/2013 hướng dẫn cơ chế quản lý nguồn vốn Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH Thông

tư này hướng dẫn cơ chế quản lý nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ để thực hiện các dự án đầu tư phát triển nhằm ứng phó với BĐKH được xác định theo Tiêu chí đánh giá dự án ưu tiên do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 04/10/2011(xem phụ lục 1) cho Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH (sau đây gọi tắt là Chương trình SP-RCC)[44] Đối với nguồn vốn thực hiện NPT - RCC và cân đối ngân sách nhà nước quy định trong Cơ chế tài chính đối với các khoản vay, viện trợ nước ngoài cho Chương trình SP-RCC được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 8981/VPCP-QHQT ngày 10/12/2010 không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này

1.2.3.4 Văn bản cơ chế chính huy động và sử dụng nguồn lực tài chính từ nguồn ODA tài trợ cho dự án ứng phó với biến đổi khí hậu

Quy trình thu hút và sử dụng ODA hiện nay được thực hiện theo quy định tại Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Đối với vốn tài trợ theo dự án, mục đích, nội dung sử dụng vốn, phương thức giải ngân theo quy định của Thông tư số 218/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi nước ngoài của các nhà tài trợ

Như vậy, chúng ta có thể thấy, Đảng và nhà nước đã có những quan tâm đúng mức đến biến đổi khí hậu cũng như tài chính cho biến đổi khí hậu Những nghị định, thông tư được ban hành nhằm hỗ trợ một cách tối đa cho việc đầu tư vào tất cả các hoạt động của ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu Tuy nhiên để đạt được những kết quả tốt nhất vẫn là một chặng đường dài cần sự nỗ lực và cố gắng không chỉ riêng của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn dân

Trang 35

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đối khí hậu Tuy nhiên trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài, học viên xin phép được nghiên cứu cơ chế, chính sách ở Trung Ương và các Bộ ngành

- Về nội dung:

+ Hiện nay để tiếp cận về cơ chế, chính sách có thể nghiên cứu theo 2 hướng sau: Thứ nhất tiếp cận về nghiên cứu phương pháp và quy trình xây dựng/thực thi cơ chế, chính sách; và Thứ hai tiếp cận về nghiên cứu nội dung của cơ chế, chính sách Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp cận theo hướng nghiên cứu nội dung cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

+ Nội dung về huy động nguồn tài chính được hiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm phát hiện, khai thác và huy động được mọi nguồn lực tài chính

cả trong nước và quốc tế tập trung cho mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu; nội dung về sử dụng nguồn tài chính, được hiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm tập trung nguồn lực tài chính đã huy động được để thực hiện việc phân phối, giải ngân, chi tiêu cho mục đích ứng phó với biến đổi khí hậu (thích ứng hoặc giảm nhẹ

+ Cơ chế, chính sách nói chung và cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu riêng thường không tồn tại riêng

rẽ mà bao giờ cũng có sự liên kết hoặc chi phối qua lại với các cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội khác nhau Cơ chế, chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu

là dạng giao thoa giữa chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu và cơ chế, chính sách tài chính, đó là cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động đến các chủ thể nhằm điều chỉnh quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để hình thành, khai thác sử dụng nguồn lực tài chính đó nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Để có thể đi vào cuộc sống, cơ chế, chính sách được thể chế hóa thành các quy định pháp luật Tuy nhiên, cơ chế, chính sách không chỉ thể hiện trong các quy định pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của nhà nước

Trang 36

+ Đánh giá chính sách là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được khi ban hành và thực thi một chính sách Có nhiều tiêu chí để đánh giá một chính sách tài chính có đáp ứng được mục đích cuối cùng hay không Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài xem xét việc đánh giá xem xét mục tiêu có thể thực hiện được hay không, thông qua đó xác định (đo lường) tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính phù hợp, các tác động của chính sách

-Tính hiệu lực (Effectiveness): hiểu theo nghĩa rộng, tính hiệu lực của một

chính sách là việc xem xét mục tiêu có đúng, hợp lý và thực hiện được không hoặc có đạt mục tiêu đề ra hay không, bao gồm cả các yếu tố liên quan khác trong quá trình thực thi chính sách

-Tính hiệu quả (Efficiency): Tính hiệu quả là mức độ đạt được các mục tiêu

ban đầu đã đặt ra và thể hiện kết quả đạt được, nhìn vào dòng vốn từ đầu vào đến đầu

ra Cụ thể, tính hiệu quả được đánh giá theo các nội dung dưới đây: Mức độ đạt được các mục tiêu đề ra ban đầu; Sự phù hợp của đầu vào và mức độ đạt được các mục tiêu thiết lập

-Tính phù hợp: Sự phù hợp được xem xét thông qua giá trị pháp lý của các

mục đích, mục tiêu tổng thể trong mối tương quan với nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Những chỉ tiêu đánh giá tính phù hợp được quan tâm đến đó là: Nhất quán so với nhu cầu của xã hội, của quốc gia; thích hợp về phương pháp khi triển khai; Tính thích hợp trong việc lựa chọn các mục tiêu; sự phù hợp với năng lực, điều kiện của quốc gia;

-Tính tác động: Tiêu chí này xem xét sự tiếp tục hưởng lợi từ một can thiệp

phát triển sau khi những hỗ trợ phát triển đã kết thúc, hoặc khả năng để một dự án tiếp tục có lợi ích lâu dài

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

(1)- Phương pháp thu thập thông tin, tư liệu, số liệu: Ở phương pháp này, học

Trang 37

viên tập trung tìm kiếm ở các nguồn tài liệu liên quan như: các văn kiện của Đảng, văn bản luật pháp của nhà nước Trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã được nghiệm thu và công bố, các bài báo khoa học trong nước và quốc tế đăng trên tạp chí chuyên ngành liên quan đến

cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu; các số liệu từ Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các tổ chức khác như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, cơ quan thường trú của Liên Hợp quốc tại Việt Nam,

Các văn kiện của Đảng, văn bản luật pháp của nhà nước Trung ương và địa phương giúp đưa ra cái nhìn tổng quan về việc các cơ chế, chính sách về huy động và

sử dụng đã được ban hành như thế nào? Cụ thể ra sao? Từ đó có cái nhìn bao quát hơn

về hệ văn bản pháp luật của Việt Nam về các cơ chế, chính sách, cũng như mức độ quan tâm của Đảng và nhà nước đến việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính về BĐKH

Học viên cũng cố gắng tìm hiểu các thông tin, số liệu ở các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã được nghiệm thu và công bố, các bài báo khoa học trong nước và quốc tế đăng trên tạp chí chuyên ngành liên quan đến cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu; Tuy có thể không thật đầy đủ hoặc không đáp ứng được phần nhiều về các số liệu thông tin, nhưng những số liệu này góp phần đưa đến cái nhìn đa chiều, và học tập được kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu đi trước trong vấn đề phân tích chính sách tài chính

Các số liệu từ Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các tổ chức khác như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, cơ quan thường trú của Liên Hợp quốc tại Việt Nam, nhằm phục vụ cho những nghiên cứu và phân tích của tác giả, là những dẫn chứng quan trọng để giúp người đọc nhận thấy rõ hơn mức độ huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính trong công tác ứng phó và thích ứng với BĐKH trong những năm qua ở Việt Nam, mà cụ thể hơn là ở các cấp Bộ, ngành ở Trung ương

Trang 38

(2)- Phương pháp phân tích chính sách: Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, so sánh mức độ đồng bộ hóa; tính phù hợp giữa luật pháp với thực tiễn, giữa luật pháp quốc gia với luật pháp quốc tế; những khoảng trống hoặc sai sót cần khỏa lấp; những chồng chéo cần phải được được tháo dỡ )

Như đã nói ở phần phương pháp phân tích số liệu, với phương pháp phân tích chính sách, học viên tập trung phân tích vào các chính sách, cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực tài chính từ các nguồn như Ngân sách Trung ương, nguồn vốn ODA, khối tư nhân và người dân Việt Nam Từ đó học viên sẽ phân tích các ưu điểm và hạn chế trong từng nguồn vốn, các nguồn vốn được sử dụng hiệu quả ra sao? Còn những tồn tại gì? Đâu là nguyên nhân của những tồn tại đó và đưa ra hướng khắc phục Việc phân tích chính sách sẽ góp phần chỉ ra đâu là chính sách phù hợp, đâu ra chính sách cần sửa đổi dựa trên những kết quả đạt được từ các chính sách đó

(3)- Phương pháp đánh giá SWOT: Dùng để phân tích Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Rủi ro – Nguy cơ (Threats)

Điểm mạnh chính là lợi thế của các cơ chế, chính sách ở Việt Nam Như được

sự quan tâm của Đảng và chính phủ, được đầu tư đúng mức, sự thích nghi nhanh nhạy của Việt Nam trước xu thế chung của thế giới

Điểm yếu: Nói một cách dễ hiểu là những hạn chế, những điểm còn chưa tốt Học viên sẽ chỉ ra những hạn chế của cơ chế, chính sách huy động và sử dụng ở Việt Nam Những điểm cần khắc phục để hoàn thiện hơn nữa các cơ chế, chính sách

Cơ hội: Là những tác động từ bên ngoài góp phần ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ chế, chính sách Mà cụ thể ở đây là xu hướng toàn cầu, là những chính sách, Luật thế giới ngày càng có lợi, hay cụ thể hơn là sự quan tâm đúng mức của thế giới đến những tác động của BĐKH ở Việt Nam

Rủi ro và nguy cơ: Đó là những khó khăn mà Việt Nam có thể gặp phải Ví như chính sách không phù hợp hay không đáp ứng được kì vọng của các tổ chức đầu tư

Nhìn chung phương pháp SWOT giúp đưa đến cái nhìn tổng quát cho việc nghiên cứu các cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính, giúp đánh giá được thực trạng về huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tìm kiếm cơ sở đề xuất giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nắm bắt cơ hội; lường trước, giảm nhẹ hoặc triệt tiêu rủi ro trong huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trang 39

(4)- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Học viên sử dụng phương pháp này để

có những đánh giá, nhận xét và gợi ý các đề xuất một cách chuyên sâu hơn về những vấn đề liên quan đến huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu Với phương pháp chuyên gia, học viên lựa chọn hình thức phỏng vấn, trao đổi qua điện thoại – đưa ra những câu hỏi với các chuyên gia để thu thập ý kiến cho những vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn

Một số câu hỏi được học viên sử dụng là:

+ Tác động của BĐKH đến Việt Nam như thế nào?

+ Các chủ thể ảnh hưởng đến huy động và sử dụng nguồn tài chính cho BĐKH + Thực trạng huy động nguồn tài chính nhằm ứng phó với BĐKH hiện nay? + Ông (bà) đánh giá như thế nào về hiệu quả của các Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH hiện nay?

Trang 40

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH

ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

3.1 Khái quát về cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính

3.1.1 Cơ chế, chính sách về huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu

Huy động nguồn tài chính được hiểu là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm phát hiện, khai thác và huy động được mọi nguồn lực tài chính cả trong nước và quốc tế tập trung cho mục tiêu ứng phó với BĐKH

Để thực hiện được cơ chế, chính sách huy động nguồn lực tài chính cần có các yếu tố như: Chủ thể cần vốn; Các nhà đầu tư; Hệ thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các quy định tài chính và Môi trường tài chính và kinh tế

Sự huy động nguồn lực tài chính chỉ đặt ra khi các chủ thể không đủ khả năng tự tài trợ, hoặc có thể nói họ không đủ vốn để thực hiện hết các kế hoạch phát triển của tổ chức mình Huy động vốn phải tuân thủ các cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu, giá cả vốn Để huy động vốn hiệu quả cần phải tính toán các nhu cầu và quy mô vốn cần huy động, lựa chọn các công cụ tài chính và đòn bẩy kinh tế trong huy động vốn Các yêu cầu đặt ra cho chính sách huy động vốn là: [6]

+ Về thời gian: phải đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để giảm thiểu các vấn đề phát sinh do thiếu hụt vốn

+ Về kinh tế: Chi phí chấp nhận được và có tính cạnh tranh

+ Về mặt pháp lý: Phải sử dụng các phương thức huy động vốn sao cho thích hợp với khuôn khổ pháp luật cho phép Khu vực công, có thể vay nợ trong và ngoài nước với mức giới hạn cho phép Khu vực tư, có thể lựa chọn phương thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu hay vay nợ từ các định chế tài chính Hộ gia đình khi cần vốn có thể thực hiện vay nợ từ các định chế ngân hàng

Cơ chế, chính sách huy động vốn có thể được thực hiện thông qua một số cách thức sau:

- Cơ chế, chính sách tài chính huy động nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH thông qua hệ thống ngân sách Nhà nước Thu Ngân sách nhà nước bao gồm:

Ngày đăng: 27/08/2017, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban cán sự Đảng Chính phủ 2013, Báo cáo tóm tắt đề án Chủ trương, giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường (trình hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa XI – Dự thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đề án Chủ trương, giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường
3. Báo cáo của Bộ Tài chính “Về việc thực hiện triển khai thực hiện Nghị quyết số 853/NQ-UBTVQH13 ngày 05/12/2014 của Ủy ban TVQH về về kết quả giảm sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực hiện triển khai thực hiện Nghị quyết số 853/NQ-UBTVQH13 ngày 05/12/2014 của Ủy ban TVQH về về kết quả giảm sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long
5. Báo cáo tổng kết đề tài BĐKH. 43, “Nghiên cứu luận cứ khoa học cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam” thuộc Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu luận cứ khoa học cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam”
6. Báo cáo tổng kết đề tài BĐKH.59, “Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường 2016, “kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam”, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
17. Hà Thị Thuận; Hoàng Văn Hoan, Phạm Thu Hương “Huy động nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam”. Tạp chí Khí tượng thủy văn số 643, tháng 7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
27. Nguyễn Chu Hồi, “Biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học”, Tạp chí Tuyên giáo số 5/2015 -http://www.tuyengiao.vn/Home/MagazineContent?ID=1790 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học
33. Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, 2013, “Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN – Các khoa học trái đất và môi trường, tập 29 số 2(2013)42-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế
38. Trần Thanh Tùng, Về nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam, Báo kinh tế và dự báo 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
39. Trần Thị Tố Linh “Huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân nhằm phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” – Luận án Tiến sỹ Kinh tế, 2013, Chuyên ngành kinh tế chính trị, Đại học kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân nhằm phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
53. Vũ Xuân Nguyệt Hồng và các cộng sự nghiên cứu "Cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp", Nxb Khoa học và Kỹ thuật – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật – 2008
54. UNDP 2008, “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới chia cắt”, Báo cáo phát triển con người 2007/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới chia cắt
66. Nijkamp et al. 2002. ô A comparative institutional evaluation of PPP in Dutch urban land use and revitalization projects”, Urban studies, Vol. 39 No. 10, pp. 1865-80.67. NCPPP, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban studies
2. Báo cáo của Bộ KH&ĐT gửi Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 3016/BKHĐT-KHGDTNMT ngày 19/5/2014 Khác
4. Báo cáo tổng kết Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu Khác
7. Bài trình bày của TS. Lê Văn Minh: Hội thảo vùng về Thiết kế và Quản lý các Quỹ khí hậu quốc gia. Bangkok, 2013 Khác
8. Bộ kế hoạch và Đầu tư (2015), Báo cáo Rà soát Đầu tư và Chi tiêu công cho Biến đổi khí hậu của Việt Nam Khác
9. Bộ Tài chính (2009), Sách Xanh Bộ Tài Chính: Chiến lược Chính sách Kinh tế và Tài khóa cho Giảm thiểu BĐKH ở Indonesia, Nhóm đối tác Bộ Tài chính Australia – Indonesia, Jakarta Khác
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008): Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Khác
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (13/10/2009). Công văn số 3815/BTNMT- KTTVBĐKH về Khung hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu để hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm qua - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm qua (Trang 15)
Hình 3.1. Các ngành mục tiêu và Bộ phụ trách (nguồn: PCU, SP-RCC) - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
Hình 3.1. Các ngành mục tiêu và Bộ phụ trách (nguồn: PCU, SP-RCC) (Trang 55)
Hình  3.2: Cơ chế tài chính(nguồn: PCU, SP-RCC) - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
nh 3.2: Cơ chế tài chính(nguồn: PCU, SP-RCC) (Trang 56)
Bảng 3.1:Tổng tài trợ của các nhà tài trợ cho Chương trình SP-RCC - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
Bảng 3.1 Tổng tài trợ của các nhà tài trợ cho Chương trình SP-RCC (Trang 57)
Hình 3.3: Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) theo Bộ, giai đoạn - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
Hình 3.3 Tổng chi cho BĐKH (đầu tư và chi thường xuyên) theo Bộ, giai đoạn (Trang 66)
Hình  3.4: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên)  của các - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
nh 3.4: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên) của các (Trang 67)
Hình  3.5: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên)  của các Bộ (đơn - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
nh 3.5: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tư và chi thường xuyên) của các Bộ (đơn (Trang 68)
Hình  3.7:Tổng kinh phí ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT (Đầu tư và chi thường - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
nh 3.7:Tổng kinh phí ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT (Đầu tư và chi thường (Trang 69)
Hình 3.8: Cam kết ODA cho ứng phó với BĐKH tại Việt Nam (đơn vị: tỉ đồng) - Nghiên cứu cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam
Hình 3.8 Cam kết ODA cho ứng phó với BĐKH tại Việt Nam (đơn vị: tỉ đồng) (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w