1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam viện dân tôc học

30 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 817,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng bào Khmer Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, với số dân gần một triệu ba tram ngàn người, tập trung ở các tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng b

Trang 1

Mục Lục

1 lý do chọn đề tài 3

2 Mục dích nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Phương pháp nghiên cứu 6

Nội dung 7

I Khái quát về dân tộc Khmer Nam Bộ 7

1 Quá trình tộc người 7

2 Chủng tộc 8

3 Địa bàn cư trú và dân số 8

4 Đặc trưng về ngôn ngữ và chữ viết của người Khmer Nam Bộ 9

5 Văn hóa vật chất 10

6 Thiết chế xã hội 12

II Tín ngưỡng và tôn giáo 16

1 Phật giáo Tiểu thừa Nam tông trong đời sống của người Khmer Nam Bộ 16

1.1 Nguồn gốc Phật giáo tiểu thừa Nam tông 16

1.2 Quá trình phát triển 16

1.3 Đặc điểm của Phật giáo Tiểu thừa Nam tông 17

1.4 Vai trò của Phật giáo Tiểu Thừa đối với đồng bào Khmer Nam Bộ 18

2 Chùa Nam tông của người Khmer Nam Bộ 19

2.1 Tổng quan về chùa của người Khmer Nam Bộ 19

2.1.1 Về niên đại chùa của người Khmer Nam Bộ 20

2.1.2 Kiến trúc 21

2.2 Lễ kết giới trong xây dựng chính điện chùa của người Khmer Nam Bộ .23

2.3 Vai trò của chùa trong xã hội người Khmer Nam Bộ 24

Trang 2

Kết luận 26 Phục lục 27 Tài liệu tham khảo 29

Trang 3

I Đặt vấn đề

1 lý do chọn đề tài.

Đồng bào Khmer Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng

54 dân tộc Việt Nam, với số dân gần một triệu ba tram ngàn người, tập trung

ở các tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số ởthành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ Qua quá trình cộng cư lâuđời cùng với các dân tộc Kinh – Hoa – Chăm… trên mảnh đất Nam Bộ,người Khmer đã có sự giao thoa văn hóa, kết hợp với vắn hóa truyền thốngdân tộc đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc đậm chất Khmer Được thể hiện

rõ qua các ngôi chùa và hoạt động ở mỗi phum, sóc, gắn liến với Phật giáoNam tông tiểu thừa, qua tiếng nói, chữ viết, các lễ hội truyền thống, các hìnhthức nghệ thuật như kiến trúc điêu khắc hội họa, âm nhạc, sân khấu, ca múa,v.v Những bản sắc vô cùng độc đáo đó của đồng bào Khmer Nam Bộ đãđóng góp không nhỏ vào sự đa dạng, phong phú của vùng Đồng bằng sôngCửu Long, Nam bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chúng Để hiểu rõhơn về người Khmer và những nét văn hóa đặc sắc của họ nên tôi đã chọndân tộc Khmer ở Nam Bộ để nghiên cứu

2 Mục dích nghiên cứu.

Hiện tại trên đất nước Việt Nam có 54 dân tộc được công nhận và mỗidân tộc đều có một nét văn hóa bản sắc riêng biệt tạo nên sự phong phú vềvăn háo tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Những văn hóa đặc trưng củatừng tộc người thể hiện qua giọng nói, chữ viết, lễ hội, tín ngưỡng, chínhnhững điều đó đã thôi thúc sự tò mò và của các nhà dân tộc học đồng thờinhu cầu về sự hiểu biết về nền văn hóa của những dân tộc để chúng ta dễdàng hòa nhập với họ nhằm tạo nên sự khắn khít, gần gủi trong xã hội củangười kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó hạn chế sự chia rẽ của

Trang 4

các thế lực thù địch lun muốn chống phá Việt Nam thông qua các dân tộcanh em Đó là những mục đích và mục tiêu để các nhà dân tộc học và nhànước quan tâm trong đó có người Khmer một bộ phận đông đảo sống ở khuvực Nam Bộ.

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Đối với việc nghiên cứu về người Khmer Nam Bộ thì hướng nghiên cứuchính: đó là nghiên cứu phương luận và phương pháp nghiên cứu văn hóa vàtín ngưỡng tôn giáo

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Thị Hạnh

Phương với cuốn Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa

Việt Nam, PGS TS Ngô Văn Lệ với cuốn Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì những nét văn hóa về vật chất và tinh thần của người Khmer

cũng được ông quan tâm, và công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam( Các tỉnh phía Nam ) của Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam ViệnDân tộc học, …

Phạm Thị Phương Hạnh với cuốn Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong

bản sắc văn hóa Việt Nam đã giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng của

người Khmer Nam Bộ (gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) nhằmphát huy những nét đẹp, những mặt tích cực, những tiềm năng, thế mạnh củadân tộc Khmer trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc ViệtNam trong thời kỳ phát triển mới của đất nước Trong sách tác giả khái quát

về người Khmer Nam Bộ, các tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, văn hóa nghệthuật, phong tục tập quán, nghành nghề truyền thống, để từ đó làm nổi bậtlên những nét đặc sắc, những thành tựu đã đạt được của đồng bào Khmertrong thời gian qua

Trang 5

Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam viện Dân tôc học, Các dân tôc ít

người ở Việt Nam ( Các tỉnh phía Nam ), Nxb Khoa học xã hội Cuốn sách

trình bày những điều kiện về tự nhiên, dân cư, ngôn ngữ, lịch sử tộc người

và thành phần dân tộc, kinh tế, xã hội, văn hóa, trình bày về từng dân tộc,quá trình các dân tộc tham gia chống chủ nghĩa đế quốc và xây dựng chủnghĩa xã hội nhằm phục vụ những yêu cầu thực tiễn của đất nước, nhất là ởvùng các dân tộc thiểu số vốn sinh sống lâu đời tại những tỉnh phía Namđược quan niệm là những cộng đồng người bản địa ở khu vực này Nhữngvấn đề về dân tộc thiểu số tại những tỉnh phía Nam cũng mang tính chấtchung của cả nước, song có nhiều đặc điểm đáng lưu ý, xuất phát từ cơ cấu

và thành phần dân tộc, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa các dântộc thiểu số ở những tỉnh phía Nam chủ yếu thuộc hai hệ ngôn ngữ MônKhơ me và Malayo – Polynesian, nhiều dân tộc bảo lưu những tàn tích đậmnét của của chế độ mẫu hệ trong mọi mặt của đời sống, nhiều đang trongthời kỳ quá độ từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ, một số dân tộc trước đây đãkhá phát triễn Đưa các dân tộc ở các tỉnh phía Nam từ những trình độ pháttriển khác nhau, nói chung là nghèo nàn, lạc hậu, lại có nhiều thiên kiếnkhông đúng đắn, đi lên chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ to lớn, nặng nề, nhiềukhó khăn Sự hiểu biết giữa các dân tộc về văn hóa, nếp sống, để phát huytinh thần đoàn kết, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dântộc Hiện nay, các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Nam đang có những thayđổi về mọi mặt Song quá trình phát triển xã hội nói chung diễn ra rất phứctạp, tổng hợp nhiều quan hệ: kinh tế, chính trị, tư tưởng, luân lý, đạo đức; sựđan xen giữa cái cũ và cái mới, trong đó cái củ mất dần đi, cái mới lớnmạnh Cho nên nghiên cứu, trình bày về các dân tộc với tinh thần phê phánnghiêm túc là yêu cầu cần thiết đễ thấy rõ quá trình phát triển, làm sáng tỏcuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới

Trang 6

Ngô Văn Lệ, Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Giáo dục.

Sách trình bày khía niệm văn hóa theo nghĩa rộng Văn hóa là tổng thểnhững thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dântộc sáng tạo ra trong quá trình cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằmđảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người Ngô Văn Lệ chia văn hóa thành:văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất baogồm công cụ sản xuất, thức ăn, phương tiện đi lại, làng mạc nhà cửa, quầnáo,…Văn hóa xã hội là các thiết chế xã hội; hôn nhân, gia đình, dòng họ,làng bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng Văn hóa tinhthần bao gồm các phong tục tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, văn họcnghệ thuật nhân gian Ngô Văn Lệ trình bày văn hóa các dân tộc theo từngnhóm ngôn ngữ Các dân tộc trong từng nhóm ngôn ngữ thường có mối quan

hệ nguồn gốc lịch sử với nhau, vì vậy mà có những đặc điểm văn hóa chungtrong cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Ngoài những nét chung, mỗi dân tộccòn có những nét văn hóa riêng đặc trưng cho từng dân tộc do chính họ sángtạo ra, hoặc vay mượn những yếu tố văn hóa của dân tộc khác

Tóm lại những công trình của những tác giả nêu trên hầu hết tập trungtrình bày về văn hóa truyền thống của các dân tộc, đồng thời những biến đổicủa nó và những yếu tố văn hóa hiện đại cũng đã được đề cập

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu về dân tộc Khmer NamBộ” tôi sử dụng phương pháp luận: Dựa vào phương pháp đứng trên lậptrường của chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lýluận và kết hợp với hai phương pháp chủ yếu của ngành học là phương pháplịch sử và phương pháp logic Từ những vấn đề liên quan đến văn hóa,

Trang 7

phong tục tập quán của người Khmer Nam Bộ rút ra những đắc điểm vềnguồn gốc, vai trò của nó trong đời sống xã hội người Khmer Nam Bộ.

Nội dung

I Khái quát về dân tộc Khmer Nam Bộ.

1 Quá trình tộc người.

Quá trình tộc người có thể hiểu ngắn gọn theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp

là chỉ quá trình chung quy dẫn đến biến đổi thành phần tộc người, theo nghĩarộng là chỉ bất kỳ sự biến đổi nào của yếu tố này hay yếu tố khác của mộttộc người đều được coi là quá trình tộc người

Các nhà nghiên cứu cho rằng người Khmer ở Việt Nam và ở Campuchia,vốn có chung nguồn gốc lâu đời, nhưng do biến thiên lịch sử mà tách thànhhai cộng đồng khác nhau Quan sát diện mạo của người Khmer ở Tây Nam

Bộ chúng ta biết rằng dân tộc này từ xa xưa đã chịu ảnh hưởng sâu nặng củanền văn hóa Ấn Độ, thông qua đạo Bà la môn, rồi đạo Phật Văn hóa Ấn Độthâm nhập vào nước ta không phải thông qua con đường cưỡng bức mà quacon đường truyền đạo của giáo sĩ và thương nhân, dần dần được Khmer hóa,nhuần nhị như chính sự phát triển tự thân của văn hóa bản địa Khmer

Về mặt ngôn ngữ, và văn hóa: tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khmer, nằm trong ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), có nguồn gốc bản địa,được bổ sung bởi các ngôn ngữ du nhập Hệ thống chữ viết của ngườiKhmer dựa trên cơ sở chữ ghi âm vị học, theo dạng chữ viết Pallava, tồn tại

ở vùng Nam Ấn, được biến đổi dần qua các thế kỷ ở các địa phương cho đếnchữ viết Campuchia ngày nay và được người Khmer Nam Bộ sử dụng Cònvăn hóa do quá trình sống đan xen với người Việt, và các dân tộc khác trong

Trang 8

quá trình cộng cư người Khmer đã tiếp thu và biến nó thành những nét đặcsắc riêng mang đậm chất văn hóa của người Khmer vùng Nam Bộ.

2 Chủng tộc.

Người Khmer là một trong số các dân tộc thiểu số hiện diện tại ViệtNam, danh tộc “Khmer”, thuộc nhóm chủng tộc Môn – Khmer cùng nhómchủng tộc với người Campuchia Đặc trưng nhận dạng chủng tộc ở ngườiKhmer Nam Bộ là da có màu đen xám Tỷ lệ người có tóc quăn nhiều hơnngười Kinh Trong dòng tộc Khmer có những dòng họ lớn như: Sơn, Kim,Lâm, Châu, Thạch, Danh,….Người Khmer ngay thẳng, thật thà, rất tôn trọngđạo lý [3; tr.9,10]

3 Địa bàn cư trú và dân số.

Đất Nam Bộ bao gồm ba khu vực: Đông Nam Bộ, Sài Gòn – Gia Định,nay là thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ tức Đồng bằng sông CửuLong Trên đất Nam Bộ có cộng đồng các dân tộc Việt sinh sống, như:người Kinh, Hoa, Khmer, Chăm và một số dân tộc thiểu số khác như Xtiêng,Chơ ro, Mạ, v.v

Đồng bằng sông Cửu Long ( Tây Nam Bộ ) là nơi có đông đảo đồng bàoKhmer sinh sống Theo số liệu của cơ quan Đặc trách công tác dân tộc Nam

Bộ, tính đến năm 1997, cả nước có khoảng 200.000 hộ, với tổng số dân1.066.250 người, Đồng bằng sông Cửu Long có 1.046.368 người, chiếm tỷ

lệ 98% Đồng bào Khmer tập trung nhiều ở các tỉnh như: Sóc Trăng có348.116 người, Trà Vinh: 293.232 người, Kiên Giang: 181.149 người, Angiang: 85.728 người, Bạc Liêu: 58.073 người, Cần Thơ kể cả Hậu Giang:

Trang 9

33.900, Cà Mau: 23.678, Vĩnh Long: 22.351 người1, ngoài ra còn gần20.000 người định cư ở vùng Đồng Nam Bộ Trên đất miền Đông, đồng bàoKhmer tập trung nhiều ở các tỉnh: Bình Phước: 10.273 người, Tây Ninh:4.660 người, Đồng Nai: 2.150, Bà Rịa – Vũng Tàu: 1.873, Bình Dương: 976người,…Và số lượng người Khmer cũng tăng dần qua từng năm theo số liệucủa Vụ địa phương III – Ủy ban Dân tộc, năm 2009, tổng số dân Khmer ởĐồng bằng sông Cửu Long là 1.162.695 người [3; tr 7, 8, 9]

Trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer chủ yếu định cưtrên 20 huyện, thị của 9 tỉnh, thành : Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, KiênGiang, Bạc Liệu, Cà Mau, Vĩnh Long, Hậu Giang, Cần Thơ Ở Đồng bằngsông Cửu Long, người Khmer sinh sống tập trung đông nhất trên dưới 30%tổng số dân địa bàn chủ yếu là bốn khu vực: Sóc Trăng ( Vĩnh Châu, MỹXuyên, Mỹ Tú, thị xã Sóc Trăng nay là thành phố Sóc Trăng, Long Phú ),Trà Vinh (Trà Cú, Châu Thành, Cầu Kè), An Giang (vùng biên giới haihuyện Tri Tôn, Tịnh Biên), Kiên Giang ( Giồng Riềng, Gò Quao) Vì vậykhi nói về người Khmer trong khía niệm dân tộc còn gắn thêm địa danhvùng đất cư trú, thành một phổ niệm rộng “Người Khmer Nam Bộ”

4 Đặc trưng về ngôn ngữ và chữ viết của người Khmer Nam Bộ.

Cộng đồng người Việt hiện có 54 dân tộc, Phần lớn các dân tộc đều cóngôn ngữ, tiếng nói riêng, nhưng chữ viết cho từng dân tộc thì không phảidân tộc nào cũng có Trên bình diện chung, các dân tộc đều sử dụng tiếngViệt và chữ Quốc ngữ làm phương tiện giao tiếp chung cho toàn xã hội; còn

ở phương diện cộng đồng dân tộc, làng xóm, họ sử dụng tiếng dân tộc mình

để giao tiếp Người Khmer Nam Bộ là dân tộc thiểu số có tiếng nói ( ngôn

1 Cơ quan đặc trách công tác dân tộc Nam Bộ: Vai trò của chùa đối với đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam

Bộ, tr 16

Trang 10

ngữ ) và chữ viết riêng Ngôn ngữ, chữ viết cảu họ thuộc hệ thống ngữ tộckhác với hệ ngôn ngữ người kinh Theo Thái Văn Chải và Đinh Lê Thư, cóhai phương ngữ Khmer ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, nhưng sự khácbiệt thực tế không lớn ở hai phương ngữ này trên cả ba bình diện: ngữ pháp,ngữ âm và từ vựng, vì sự chia cắt không gian và thời gian không lớn Nếu

có, chỉ là sự khác biệt ở một số khẩu ngữ dùng ở địa phương này mà không

có ở địa phương khác Sự khác biệt đáng nêu ở đây là sự khác biệt giữaphương ngữ Khmer vùng biên giới Tây Nam của hai tỉnh An Giang, KiênGiang với phương ngữ Khmer vùng biển của hai tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh.Mặc dù, trước đây người ta thường phân chia hai tỉnh này thành hai phươngngữ Khmer gọi là: Khmer thượng và Khmer hạ Phương ngữ Khmer vùngbiên giới Tây Nam có thể có sự tác động của tiếng Khmer người Campuchia,trong quá trình họ qua lại giao thương, buôn bán với nhau Rất có thể cónhững từ ngữ mới trong tiếng Khmer Campuchia được người Khmer vùng

An Giang – Kiên Giang cập nhật và sử dụng; thành ra có thể thấy được sựkhác biệt ngôn ngữ trên bình diện ngữ âm, từ vựng giữa hai vùng ngườiKhmer ở Đồng bằng sông Cửu Long Theo sự phận loại ngữ hệ được thừanhận thì tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nằm trong ngữ

hệ Nam Á (Austroasiatic), có nguồn gốc bản địa, được bổ sung bởi các ngônngữ du nhập Hệ thống chữ viết của người Khmer dựa trên cơ sở chữ ghi âm

vị học, theo dạng chữ viết Pallava, tồn tại ở vùng Nam Ấn, được biến đổidân qua các thế kỷ ở các địa phương cho đến chữ viết Campuchia ngày nay

và được người Khmer Nam Bộ sử dụng

5 Văn hóa vật chất.

Nhà ở của người Khmer cơ bản khá giống với Nhà của người Việt trongvùng Hầu hết nhà có nền bằng đất, nốc nhà lợp bằng các loại lá dừa hoặc lá

Trang 11

thốt nốt, và vật liệu xây nhà chủ yếu là mây, tre, gỗ Có hai loại nhà nền đấtmái lá Loại nhà cỡ nhỏ chủ chỉ có hai mái, mái trước ngắn, mái sau dài Nhànền đất cỡ lớn gồm hai mái chính và hai mái phụ Đây là kiểu nhà thôngdụng của nhiều gia đình trung nông Khmer Hệ kèo và cột được liên kếtvững chắc bằng ngàm, mộng và con xỏ Trong nhà gian giữa phía trướcđược dùng để tiếp khách, hai bên nhà là chổ ngủ của đàn ông, nữa phía saulàm hai buồng nhỏ giành cho phụ nữ

Nhà sàn hiện nay còn lưu lại ở người Khmer rất ít, chủ yếu dọc biên giớiCampuchia và rải rác một số trong chùa phật giáo Khmer qua kiến trúc Sala,

là nơi hội họp cho các sư sãi và tín đồ

Về kiến trúc của những ngôi chùa của người Khmer có những đặc điểmriêng: chiều dài bằng hai lần chiều ngang, mái gồm nhiều nếp, góc mái congvút được chạm trổ khá tinh vi Đặc biệt là ngôi chính điện với ba cấp mái.Mỗi cấp thường chia làm ba nếp Sự thay đổi cấp mái khiến cho chùa trở nên

đồ sộ, đẹp mắt Trần của chính điện được trang trí bằng nhiều bức họa dângian mô tả cuộc sống của Phật Bàn thờ Phật ở chính điện gồm một tượngPhật cao và hàng tượng Phật nhỏ Trang phục của người Khmer giống ngườiViệt địa phương, kiểu y phục bà ba được người Khmer dùng phổ biến.Người Khmer dùng chiếc khăn rằn như một vật tùy thân, để quàng vào cổ,đội lên đầu, hay được dùng thay thế cho thắt lưng Phụ nữ ngày lễ mặc áodài, áo may bịt tà, thân áo rộng, dài ngang dưới gối, cổ áo xẻ trước ngực, tay

áo chật, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải theo theo chiều dọc từ náchđến gấu áo Phụ nữ thường mặc áo bà ba đen có quàng thêm chiếc khăn rằn.Đàn ông mặc quần đen, áo bà ba trắng hoặc đen có quàng thêm khăn trắngvắt vai Tấm xà rông hoặc tấm chăn dệt bằng tơ thường mặc lúc nghỉ ngơitrong nhà cùng chiếc áo mỏng bó sát người

Trang 12

Trong ngày cưới người Khmer có kiểu trang phục cưới riêng Chú rễ mặc

xà rông và áo màu đỏ, cổ cứng, cài cúc trước ngực Cô dâu mặc xăm pốtmàu tím hồng và áo dài đỏ thắm, quàng khăn trắng, và đội mủ cỗ truyền

Là dân tộc có truyền thống trồng lúa nước, thức ăn chủ yếu là cơm Xuấtphát từ món gạo nếp người Khmer đã chế biến nó thành những món ăn phổbiến như cháo, xôi, bánh, rượu Vào các ngày lễ tết, người Khmer cũng làmcác loại bánh: bánh tét, bánh chưng, bánh ú, bánh in Bún nước lèo là món

ăn đặc biệt được người Khmer ưa chuộng, nó là món ăn không thể thiếuđược vào ngày mồng một tết ở chùa Bữa cơm hằng ngày của người Khmer

là các loại rau, bầu, bí, thịt, cá, đánh bắt buộc từ các con sông, kênh,…Người Khmer còn chế biến nhiều loại mắm và cá khô Mắm bồ hóc được coi

là món ăn đặc trưng mà nhiều người biết đến và ưa thích, mắm này có thể ănsống, cho vào canh, nước lèo hoặc ăn với bún

Do điều kiện sinh sống ở vùng kênh, rạch, sông ngòi nên phương tiện đilại chủ yếu là các loại xuồng, thuyền Riêng ghe ngo thì chỉ được dùng đểđua vào các dịp lễ hội và được cất giữ trong khuôn viên chùa Phương tiện dichyển trên bộ của người Khmer là xe bò, xe trâu, cộ trâu

6 Thiết chế xã hội.

Cũng như làng xóm của người Việt, phum, sóc, là đơn vị xã hội cơ bảncủa người Khmer Trong thời kỳ đầu khai phá Đồng bằng sông Cửu Long,người Khmer đã lập nên những phum là đơn vị cư trú đầu tiên Phum cóhàng rào lũy tre làm ranh giới tự nhiên, bao gồm dăm bảy gia đình có mốiquan hệ huyết thống và hôn nhân với nhau [5; tr 54]

Sóc là tổ chức xã hội cao hơn bao gồm nhiều phum Ý nghĩa của sóccũng rất phức tạp Theo nghĩa rộng có nghĩa là “xứ”, là địa phương Sóc cóthể phát triển bằng hai cách, là một dân số của phum do phát triển đông hơn,

Trang 13

một bộ phận tách riêng ra khai thác một khoảng đất thổ cư láng giềng đã tạonên một phum mới, hai là những người bà con bên cha hoặc mẹ ở gần nhaucùng khai thác đất thổ cư rồi lập thành phum Những phum láng giềng thànhlập một sóc, cùng nhau khai phá ruộng đất mở rộng diện tích trồng trọt Trước đây, sóc là một đơn vị xã hội tự quản truyền thống Việc huy độngdân làm công ích hay chế độ vần công cũng phổ biến trong từng sóc Đứngđầu sóc là mê sóc Đây là những người có kinh nghiệm am hiểu phong tụctập quán, có uy tín được bầu lên Mỗi sóc của người Khmer đều có ít nhấtmột ngôi chùa Ban quản trị chùa đảm nhận chứa năng xã hội của phum ,sóc Trên thực tế, chùa giữ vai trò là trung tâm của sóc Trong xã hội cổtruyền Khmer, sóc là đơn vị xã hội khá hoàn chỉnh Đó là cái khung văn hóa,

xã hội mà mỗi người Khmer sinh ra lớn lên, rồi mất đi giữa những ngườithân và láng giềng

Gia đình của người Khmer chủ yếu là gia đình nhỏ gồm vợ chồng và concái, có cả gia đình lớn gồm ba, bốn thế hệ cùng chùng sống mỗi gia đìnhsống trong một ngôi nhà riêng và là đơn vị kinh tế độc lập Người đàn ônggiữ vai trò quan trọng trong việc quản lý gia đình, nuôi dạy con cái, Nhữngcông việc lớn như cưới xin, múa sắm, góp tiền cho nhà chùa đều được vợchồng bàn bạc Quan hệ vợ chồng bình đẳng về cả trách nhiệm và nghĩa vụ.Quyền thừa kế tài sản được chia đều cho các con, không phân biệt, nam, nữ,trưởng, thứ

Hiện nay người Khmer thường lấy họ cha Theo một số tài liệu “trước khinhà Nguyễn đặt ra họ: Danh, Kim, Lâm, Sơn, Thạch, người Khmer ở Đồngbằng sông Cửu Long không có họ mà chỉ có độc nhất tên gọi của mỗi cánhân do cha mẹ đặt cho Ngoài những họ Nhà Nguyễn đặt, người Khmer còn

Trang 14

có những họ có nguồn gốc do lai Kinh hay Hoa, như: Trần, Nguyễn, Dương,

là mẹ )

Ở người Khmer, hôn nhân một vợ một chồng là phổ biến, trai gái cùngmột sóc thường kết hôn với nhau Hôn nhân đến nay thường vẫn do cha, mẹsắp xếp, nhưng phải được sự chấp thuận của con cái Nguyện vọng của concái thường được cha mẹ quan tâm Trên thực thế, trai gái thường đồng ý vớinhau trước và cha mẹ hai bên sắp xếp cuộc hôn nhân Tục ở rễ trước lễ cướimột thời gian để bù đắp chi phí cho nhà gái vì nhà trai nghèo, nay chỉ còntồn tại ở một số nơi xa xôi hẻo quánh

Sau khi kết hôn vợ chồng trẻ sẽ ra ở riêng nếu có đủ cơ sở vật chất Theo

lệ thường , các cặp vợ chồng có thể cư trú bên chồng hoặc bên vợ Mặc dùkhông có quy định bắt buộc nhưng trong thực tế họ thường cư trú bên vợ.Tập tục này phản ánh rất đậm nét tàn dư của chế độ mẫu hệ

Sinh đẻ là việc có nhiều bất trắc đối với phụ nữ vì thế người Khmer cónhiều cấm kị liên quan đến sinh đẻ Khoảng thời gian trước và sau khi sinh 3ngày, gia đình mời thầy pháp đến làm phép ếm bảo vệ mẹ và con Đồng bàoquan niệm nếu người mẹ chết trong lúc sinh nở là báo hiệu một điềm gở, họcòn hạn chế người lạ vào nhà khi có người sinh

Trang 15

Để bước vào cuộc sống, con người phải trải qua nhiều giai đoạn trưởngthành, được đánh dấu bằng những nghi thức chuyển tiếp khác nhau dophong tục quy định Lễ mở mắt được tổ chức khi đứa bé trong khoảng từ batháng đến chín tháng tuổi, lễ cắt chảm đánh dấu ngày bé lên bảy hay támtuổi Những tập quán này ngày nay không còn mang tính bắt buộc nữa.

Tục vào bóng mát của người con gái Khmer lúc đến tuổi trưởng thànhcũng không còn tồn tại Đối với nam giới tục đi tu vẫn còn thực hiện nghiêmtúc cho đến ngày nay Đây là một phong tục mang sắc thái dân tộc của xứđạo phật tiểu thừa mà từ lâu vẫn được đồng bào Khmer tôn trọng và duy trì.Con trai 12 tuổi phải vào chùa đi tu, học phật pháp và được giáo dục văn hóadân tộc Tu hành là một giai đoạn quan trọng mà thanh niên Khmer me bắtbuộc phải trải qua, trước khi được xã hội nhìn nhận là người có đầy đủ tưcách và đạo đức Sau khi hoàn tục họ được mọi người tôn kính Thời gian tuhành cũng là lúc các chàng trai lọt vào cặp mắt xanh của các cô gái Khmer Hôn lễ Khmer trải qua ba bước: “lễ dạm hỏi, đám cưới ở nhà trai, đámcưới ở nhà gái Trong hôn lễ, đóng vai trò là Achapolia – người chủ trì cuộchôn lễ và chọn ngày tốt để cưới; Maha là người có uy tín và làm chứng chonhà trai; Mê ba – đại diện cho nhà gái thường là ông ngoại cô dâu Trongđám cưới, gia đình mời các vị sư đến chúc lành” [5; tr 56]

Người Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa có tập quán thiêu người chết Tùytheo địa vị xã hội và mức độ giàu nghèo mà thời gian từ lúc chết đến hỏathiêu dài ngày hay ngắn ngày Sau khi thiêu, tro được cất chung trong nhữngngôi tháp xây quanh chính điện chùa Đám tang được Achapon người coi vềnghi lễ và chọn ngày giờ thiêu xác; còn Achadoki trông coi việc khiêng quantài, châm lửa và hốt tro cốt, các sư vãi tụng niệm và cầu siêu Hằng năm, vào

Ngày đăng: 27/08/2017, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w