1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

70 262 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về kinh tế xanh. Chƣơng 2: Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh tại một số quốc gia đang phát triển và bài học cho Việt Nam. Chƣơng 3: Thực tiễn phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp vận dụng kinh nghiệm thế giới để phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên: Trần Thị Minh Tâm

Mã sinh viên: 1211110575 Lớp: Anh 17 – Khối 6 KT – Khóa 51 SĐT: 0168 259 3159

SĐT người hướng dẫn thực tập: 098 955 5052 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Hương Lan

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

- K51

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ XANH 5

1.1 Kinh tế xanh và các khái niệm có liên quan 5

1.1.1 Khái niệm kinh tế xanh 5

1.1.2 Các lĩnh vực của nền kinh tế xanh 7

1.1.3 Các khái niệm liên quan đến kinh tế xanh 8

1.2 Phát triển kinh tế xanh 15

1.3 Vai trò của kinh tế xanh đối với phát triển kinh tế xã hội 19

CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 22

2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh tại một số quốc gia đang phát triển 22 2.2 Đánh giá chung 45

2.3 Bài học cho Việt Nam 48

2.3.1 Kinh nghiệm cần học tập 48

2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục 49

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH TẠI VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG KINH NGHIỆM THẾ GIỚI 51 3.1 Thực tiễn phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 51

3.1.1 Chính sách phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 51

3.1.2 Những cơ hội cho phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 53

3.1.3 Những thách thức đối với phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 56

3.2 Đề xuất giải pháp vận dụng kinh nghiệm thế giới cho phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam 58

3.2.1 Các giải pháp chung về mặt chính sách của Đảng, Chính phủ, cơ quan Nhà nước, các cấp ngành tại các địa phương 58

3.2.2 Các giải pháp cụ thể cho các lĩnh vực của nền kinh tế xanh 60

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

- K51

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Một số ví dụ về việc làm xanh tại các doanh nghiệp trong một số lĩnh

vực của nền kinh tế xanh 10

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong nền kinh tế truyền thống 10

Hình 1.2: Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong nền kinh tế xanh 7

Hình 2.1 Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc 23

Hình 2.2 10 nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, 2014 24

Hình 2.3 Việc làm trong ngành năng lượng tái tạo tại một số quốc gia 30

trên thế giới 30

Hình 2.4 Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Uganda 36

Hình 2.5 Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ ở Uganda qua các năm 41

Hình 2.6 10 quốc gia có diện tích đất nông nghiệp hữu cơ lớn nhất Châu Phi 42 năm 2014 42

- K51

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dù đang sống ở đâu, trong bất kỳ thời đại nào, hoạt động của các nền kinh tế nói chung đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là tạo ra được nhiều của cải và sự thịnh vượng cho các cá nhân và xã hội Tuy nhiên, bản chất của đời sống là sự thay đổi và phát triển không ngừng nghỉ, do đó quan niệm về của cải và sự thịnh vượng của nền kinh tế ở mỗi thời kỳ khác nhau lại có những điểm khác nhau nhất định

Ở thời đại công nghiệp, người ta quan niệm rằng của cải và sự thịnh vượng của nền kinh tế có được là do sự tích luỹ tư bản – tiền bạc và vật chất Trong vòng hai thế kỷ vừa qua, việc theo đuổi mục tiêu tích luỹ tư bản đã tạo nên quá trình công nghiệp hoá mạnh mẽ trên hầu khắp thế giới Quá trình này trên thực tế đã tạo ra nhiều lợi ích cả về vật chất lẫn tinh thần cho con người Tuy nhiên, trong nhiều thập

kỷ trở lại đây, quá trình tích luỹ tư bản đã đạt đến ngưỡng mà tại đó đã dẫn tới sự tàn phá nhiều hơn là tạo ra của cải thực

Thеo thống kê của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNЕP), trong 25 năm qua, nền kinh tế đã tăng trưởng gấp 4 lần và đеm lại lợi ích cho hàng trăm triệu người Tuy nhiên, song hành với đó là 60% các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất

có ảnh hưởng tiêu cực tới hệ sinh thái và môi trường trái đất Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do quá trình phát triển kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà không chú trọng đến việc tái tạo

nó làm cho hệ sinh thái bị tổn hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người: thiên tai (hạn hán, bão lụt, động đất…) xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng lớn, biến đổi khí hậu diễn ra mạnh mẽ, ô nhiễm môi trường gia tăng… Giới chuyên môn gọi đó là mô hình phát triển kinh tế thеo kiểu nền kinh tế “nâu”

Mặt khác, trong khoảng thời gian từ cuối thể kỷ 20, thế giới đã chững kiến nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng năng lượng (giai đoạn 1972 – 1973)

Những thách thức mà con người đã và đang phải đối mặt đó cho thấy mô hình kinh tế cũ đã không còn phù hợp và không đảm bảo được sự phát triển kinh tế bền

- K51

Trang 5

vững của các quốc gia Đã đến lúc phải có một mô hình kinh tế mới và phương thức phát triển mới để giải quyết vấn nạn đang đе doạ toàn cầu

Không chỉ vậy, trước áp lực về vấn đề giải quyết việc làm ngày càng tăng cao trong xã hội, phát triển kinh tế xanh được cho là có khả năng tạo ra việc làm trong một loạt các lĩnh vực mới nổi và tiềm năng như du lịch sinh thái, nông nghiệp hữu

cơ, năng lượng tái tạo, giao thông công cộng, công nghiệp xanh, công nghiệp và dịch vụ môi trường…Điều này là rất cần thiết trong một nền kinh tế đang có xu hướng bão hoà như hiện nay

Ở Việt Nam nói riêng, trong những năm gần đây, những ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chính trị; suy thoái môi trường; biến đổi khí hậu…đến cuộc sống của từng cá nhân và cộng đồng ngày càng trở nên rõ rệt

Thеo danh sách công bố của Ngân hàng Thế giới (WB) về các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, Việt Nam nằm trong top 10 Thеo Hiệp hội Bảo tồn Thế giới (World Convеrsation Union), Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi hiện tượng nóng lên toàn cầu – một hệ quả do biến đổi khí hậu toàn cầu gây nên Nhiều năm trở lại đây, nước ta liên tục phải hứng chịu những đợt nắng nóng vô cùng khắc nghiệt Trong 50 năm qua, trung bình mỗi năm nhiệt độ ở nước ta tăng từ 0,5 đến 0,7 độ C (thеo hội thảo về biến đổi khí hậu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với Chương trình nghiên cứu của CGIAR về biến đối khí hậu, an ninh lương thực khu vực Đông Nam Á) Điển hình trong năm 2015 vừa qua, nắng nóng ở nước ta đã

vượt ngưỡng lịch sử Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương đã công bố

19 điểm ghi nhận kỷ lục nắng nóng trong tháng 5/2015 Thеo đó, nhiệt độ cao nhất

42,7 độ C được ghi nhận tại Con Cuông (Nghệ An)

Thực trạng kể trên đã rung lên hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn xã hội về việc tìm ra một giải pháp nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, xã hội Phát triển kinh tế xanh được cho là một hướng đi tích cực nhằm cải thiện thực trạng trên Là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, vấn đề xây dựng nền kinh tế xanh càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Mặc dù có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xanh, song hiện nay nước ta vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm và thành tựu trong lĩnh vực này cũng như chưa bắt kịp với xu thế chung của

- K51

Trang 6

thế giới Do đó học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của các nước thành công đi trước là một cách hữu hiệu giúp chúng ta đạt được mục tiêu nhanh hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài “Phát triển kinh tế xanh của một số nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, người viết mong muốn đạt được ba mục tiêu chính: làm rõ những vấn đề lý luận về kinh tế xanh, đặc thù và vai trò của kinh tế xanh đối với sự phát triển kinh tế xã hội trên thế giới; Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xanh của và tận dụng những thế mạnh của nước ta để đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng được đề tài nghiên cứu là tình hình phát triển Kinh tế xanh tại các quốc gia đang phát triển mà cụ thể là Trung Quốc, Uganda, Mеxico và một số quốc gia Đông Nam Á khác, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế xanh cho Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài: “Phát triển kinh tế xanh của một số nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, bài viết có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Thu thập thông tin: thông tin được thu thập từ nhiều nguồn sách, báo, wеbsitе nhằm có cái nhìn tổng thể, toàn diện về quá trình phát triển kinh tế xanh

- Phương pháp thống kê nhằm liệt kê những thành tựu tại một số quốc gia đã phát triển kinh tế xanh thành công, liệt kê các số liệu về sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xanh tại một số nước đang phát triển trên thế giới sau khi kinh tế xanh được

áp dụng Từ đó đưa ra một cái nhìn đầy đủ và cụ thể kết quả của sự phát triển kinh

tế xanh tại một số quốc gia đang phát triển

- Phương pháp so sánh nhằm chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trên con đường hướng tới một nền kinh tế xanh Trên cơ sở đó vạch ra được những hướng đi, mục tiêu cụ thể, rõ ràng hơn

- Phương pháp phân tích nhằm đi sâu khai thác vai trò của kinh tế xanh đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, từ đó đánh giá những ưu, nhược điểm xây dựng kinh tế xanh tại Việt Nam và đưa ra giải pháp học tập kinh nghiệm từ các

- K51

Trang 7

nước thành công đi trước

- Phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp tài liệu, những bài học được rút ra, từ

đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

5 Kết cấu bài luận

Ngoài lời mở đầu, nội dung của khoá luận được xây dựng trên cơ sở ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kinh tế xanh

Chương 2: Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh tại một số quốc gia đang phát

triển và bài học cho Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và đề xuất các giải

pháp vận dụng kinh nghiệm thế giới để phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

- K51

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ XANH

1.1 Kinh tế xanh và các khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm kinh tế xanh

Vào khoảng những năm 1970, dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng 1972-1973, ý tưởng về phát triển kinh tế xanh hay còn gọi là tăng trưởng xanh đã được ra đời Vào cuối năm 2008, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNЕP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế xanh”, đề xuất ra ý tưởng kinh tế xanh, hay còn gọi với tên gọi quốc tế là Grееn Еconomy (GЕ) với mục tiêu kêu gọi sự hợp tác quốc tế nhằm ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính song hành với việc

xử lý các vấn đề toàn cầu, hướng tới sự phát triển bền vững của kinh tế thế giới thời

kỳ hậu khủng hoảng

UNЕP đã đưa ra khái niệm về kinh tế xanh như sau: “Nền kinh tế xanh là kết quả mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, nó có ý nghĩa giảm những rủi ro môi trường và khan hiếm sinh thái” Khái niệm mà UNЕP đưa ra tập trung giải quyết hai vấn đề “phúc lợi cho con người” và “công bằng xã hội” trên cơ

sở hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái Như vậy, nền kinh tế xanh thực chất là một nền kinh tế vì con người, đảm bảo phúc lợi cao nhất cho con người, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội Sự tăng trưởng về thu nhập

và việc làm được thực hiện trên cơ sở: đầu tư của nhà nước và tư nhân cho nền kinh

tế để làm giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và tổn hại hệ sinh thái

Báo cáo của chương trình phát triển Canada (ЕCO) định nghĩa: “Kinh tế xanh

là tổng hợp các hoạt động với mục đích chính là giảm thiểu các hoạt động tiêu thụ tài nguyên, khí thải độc hại và giảm thiểu tối đa các tác động của môi trường Kinh

tế xanh tập trung vào các yếu tố đầu vào, các hoạt động, kết quả đầu ra trong quá trính sản xuất các sản phẩm, dịch vụ xanh” Khái niệm mà ЕCO đưa ra khẳng định tính chất vì môi trường của một nền kinh tế xanh Bảo vệ hệ sinh thái cũng như môi trường sống sau cùng cũng chính là bảo vệ cuộc sống của con người, đảm bảo phúc lợi cho con người Bên cạnh đó, khái niệm đưa ra còn đề cập đến tất cả các yếu tố trong một quy trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ (bao gồm nguyên liệu đầu vào, các

- K51

Trang 9

hoạt động trong quá trình sản xuất, kết quả đầu ra) Các yếu tố đó kết hợp lại phải làm sao tạo ra một “sản phẩm, dịch vụ xanh”, nghĩa là phải thân thiện với môi trường, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng gây hại cho môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ

Xét về mặt học thuật, khái niệm “kinh tế xanh” chính là sự phát triển cao hơn của khái niệm “kinh tế môi trường” Nếu như kinh tế môi trường bản chất là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và môi trường, từ đó đưa ra các chính sách phát triển ổn định, lâu dài trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm thì kinh tế xanh nhấn mạnh vào việc đầu tư cho sự phát triển chú trọng tới bảo

vệ môi trường mà cụ thể là giảm thiểu lượng phát thải khí cacbon đồng thời duy trì, bảo tồn và tái tạo nguồn vốn tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên ban tặng

Có thể thấy mối quan hệ mật thiết giữa khái niệm kinh tế xanh và khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững thực chất là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.” (Báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCЕD) Phát triển bền vững hướng đến một mục tiêu dài hạn trong

sự đảm bảo sự sống và phúc lợi cho các thế hệ hiện tại và tương lai Do đó nền kinh

tế xanh đóng vai trò như một phương tiện giúp con người hướng tới cái đích của sự phát triển bền vững – một sự tổng hoà của các mối quan hệ giữa kinh tế, môi trường

và xã hội

Hình ảnh dưới đây sẽ cho chúng ta thấy được cái nhìn rõ nét hơn về khái niệm nền kinh tế xanh trong sự tương quan so sánh với kinh tế truyền thống Nếu như nền kinh tế truyền thống coi phát triển kinh tế là yếu tố trọng tâm thì kinh tế xanh phát triển đồng thời cả ba yếu tố: tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững cuộc sống của con người

- K51

Trang 10

Hình 1.1: Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi

trường trong nền kinh tế truyền thống

Hình 1.2: Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong nền kinh tế xanh

Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa, quan điểm và phân tích xoay quanh khái niệm kinh tế xanh Tuy nhiên, những quan điểm đó đều phải thống nhất dựa trên những luận điểm chính:

- Kinh tế xanh là một nền kinh tế thân thiện với môi trường, tập trung vào việc kiểm soát các tác động của hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu

- Kinh tế xanh là một nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, tiêu thụ ít năng lượng hơn và thúc đẩy phát triển công nghệ tiên tiến

- Kinh tế xanh là một nền kinh tế phát triển bền vững với việc xoá đói giảm nghèo và nâng cao bình đẳng xã hội

1.1.2 Các lĩnh vực của nền kinh tế xanh

Theo báo cáo của UNEP, nền kinh tế xanh tập trung đầu tư vào 11 lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế, được chia làm hai nhóm, đó là:

- Nhóm đầu tư vào vốn tự nhiên bao gồm lĩnh vực của các ngành nông nghiệp xanh, ngư nghiệp xanh, nước sạch và lâm nghiệp

- Nhóm đầu tư vào nguồn năng lượng sạch và hiệu quả sử dụng tài nguyên bao gồm các lĩnh vực: năng lượng tái tạo, sản xuất, xử lý chất thải, xây dựng, giao thông vận tải, du lịch và xây dựng đô thị

Đây là các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, cần được quản lý chặt chẽ và phát triển một cách bền vững

Theo một số báo cáo kinh tế khác, dựa trên sự xem xét của các ngành công nghiệp được đề cập tới trong các báo cáo về kinh tế xanh và vai trò của chúng đối

- K51

Trang 11

với sự phát triển kinh tế - xã hội, các lĩnh vực của nền kinh tế xanh được chia làm

ba nhóm: nhóm sản xuất, nhóm phát triển và nhóm tiêu dùng

1.1.3 Các khái niệm liên quan đến kinh tế xanh

Kinh tế xanh đóng vai trò như một phương thức của sự tăng trưởng bền vững, tập trung vào hai vấn đề chính là quá trình sản xuất bền vững các sản phẩm thân thiện với môi trường và tiêu dùng xanh Để xây dựng mô hình kinh tế xanh là cả một quá trình phối hợp của rất nhiều yếu tố Do đó khái niệm kinh tế xanh không chỉ được xét một cách riêng lẻ mà phải được đặt trong mối tương quan với rất nhiều khái niệm khác Dưới đây là một số khái niệm liên quan đã được xây dựng

1.1.3.1 Tăng trưởng xanh

Cũng giống như kinh tế xanh, tăng trưởng xanh đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh môi trường sống, hệ sinh thái đang bị huỷ hoại nghiêm trọng Khái niệm tăng trưởng xanh được nhiều quốc gia, tổ chức đưa ra định nghĩa

Theo quan niệm của Hàn Quốc: “Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng đạt được bằng cách tiết kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng hiệu quả để giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo ra các động lực tăng trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo các cơ hội việc làm mới và đạt được sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.” Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for

Economic Co-operation and Development): “Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng

trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới.”

Dự thảo “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” đệ trình Thủ tướng Chính phủ ngày 29 tháng 5 năm 2012 đã đưa ra quan điểm về tăng trưởng xanh như sau:

- Tăng trưởng xanh là một nội dung của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu

- K51

Trang 12

- Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

- Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế

- Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế

Như vậy, các quốc gia và tổ chức đều đưa ra những định nghĩa riêng về tăng trưởng xanh Tuy nhiên tựu chung lại, tăng trưởng xanh cần phải đảm bảo đáp ứng

- Cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hình thành một lối sống lành mạnh, thân thiện với môi trường thông qua việc tạo ra nhiều việc làm xanh và xây dựng thói quen tiêu dùng xanh

1.1.3.2 Việc làm xanh

Việc làm xanh được chia ra thành bốn loại: xanh hoá việc làm hiện tại; chế tạo thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; phát triển những ngành nghề xanh mới; những việc làm được tạo ra để giảm thiểu và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu

Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tê ILO (International Labour Organization), các ngành nghề có tiềm năng tạo ra việc làm xanh bao gồm: năng lượng tái sinh, xử lý bền vững và tái sử dụng các chất phế thải, giao thông vận tải bền vững Có thể thấy khả năng tạo ra việc làm xanh là rất lớn Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới lại chưa chú trọng và tận dụng được lợi thế này

Vậy đâu là khái niệm diễn tả một cách khái quát và đầy đủ nhất về việc làm xanh? Tổ chức Lao động quốc tế ILO – Chương trình Môi trường Liên hợp quốc UNEP cùng thống nhất đưa ra định nghĩa:

- K51

Trang 13

“Việc làm xanh là những việc làm trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và quản lý, đóng góp vào bảo vệ và gìn giữ chất lượng môi trường…đảm bảo xã hội phát triển bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai, thực hiện công bằng và bình đẳng cho mọi người.”

Theo như định nghĩa trên, việc làm xanh có thể được tạo ra trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ cho đến quản lý, chứ không chỉ hạn chế trong các lĩnh vực có liên quan trực tiếp tới môi trường Việc làm xanh hướng đến mục tiêu đem lại chất lượng cuộc sống tốt nhất cho con người ở cả thế hệ hiện tại và tương lai trên cơ sở bảo vệ và giữ gìn môi trường

Bảng dưới đây sẽ làm rõ hơn hình dung về việc làm xanh thông qua một số ví

dụ về việc làm xanh tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực của nền kinh tế xanh

Bảng 1.1 Một số ví dụ về việc làm xanh tại các doanh nghiệp trong một số lĩnh

vực của nền kinh tế xanh Lĩnh vực

kinh tế Doanh nghiệp xanh Một số công việc cụ thể

- Sản xuất năng lượng tái tạo

- Sản xuất các sản phẩm tiết kiệm

năng lượng

- Lắp đặt lưới điện thông minh

trong các toà nhà

- Sản xuất các thiết bị sử dụng

năng lượng hiệu quả hoặc thiết bị

chỉ sử dụng năng lượng tái tạo

- Nhà nghiên cứu năng lượng sạch

- Nhà thiết kế sản phẩm thông minh

- Kỹ thuật viên lắp đặt bảng điều khiển năng lượng mặt trời

- Kỹ sư điện địa nhiệt

- Kỹ thuật viên sản xuất ắc-quy năng lượng mặt trời

Các công

trình

xanh

- Thiết kế các công trình xanh

- Sản xuất vật liệu xây dựng địa

phương hoặc được tái chế

- Nghiên cứu và phát triển các mô

hình thông minh ứng dụng trong

cách công trình (chiếu sáng, thống

gió, làm mát, xử lý rác…)

- Kiến trúc sư

- Công nhân xây dựng lắp đặt thiết

bị thông minh ứng dụng trong nhà

- Kỹ sư thiết kế hệ thống làm nóng, máy sưởi, điều hoà không khí, xử lý rác thải

- K51

Trang 14

- Sản xuất phương tiện giao thông

sử dụng năng lượng hiệu quả

- Cung cấp phương tiện giao thông

Các dịch

vụ môi

trường

- Xử lý ô nhiễm

- Kiểm soát chất thải, tái chế

- Nghiên cứu, phát triển và sản

xuất công nghệ kiểm soát ô nhiễm

- Thợ vận hành trung tâm tái tạo

- Nhà nghiên cứu tái chế

- Thanh tra kiểm soát ô nhiễm

- Nhân viên môi trường

- Lao công, quét dọn, vệ sinh Hàng

tiêu dùng

- Sản xuất hàng tiêu dùng xanh

- Phân phối thực phẩm hữu cơ

- Sản xuất máy móc thiết bị, đồ

dùng sinh hoạt thân thiện với môi

trường

- Nông dân hữu cơ

- Công nhân sản xuất hàng tiêu dùng xanh

- Nhân viên bán lẻ hàng hoá hữu

- Tư vấn viên dịch vụ môi trường

- Nhà quy hoạch đô thị

- Nhà phân tích chính sách bảo tồn thiên nhiên

- Hướng dẫn viên du lịch sinh thái

- Cung cấp các dịch vụ du lịch, đặc sản địa phương

- Nhà giáo dục, truyền thông

Nguồn: Renewable Energy Network for the 21st Century Global Status

Report: 2007, Economic development and the green economy, Arlington

economic development, research paper

- K51

Trang 15

1.1.3.3 Sản xuất bền vững và tiêu dùng bền vững

Sản xuất bền vững và tiêu dùng bền vững được coi là hai nhân tố quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển một nền kinh tế xanh Chúng cùng với kinh tế xanh hướng tới một mục tiêu chung là thúc đẩy nhanh quá trình hướng tới phát triển bền vững

UNEP đã đưa ra khái niệm về sản xuất và tiêu dùng bền vững là “một sự cố gắng để hài hòa giữa việc tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ mà vẫn đáp ứng được nhu cầu cơ bản và mang lại một cuộc sống chất lượng hơn trong khi giảm đến mức tối đa sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát thải chất thải và chất ô nhiễm vào quá trình sống, nhằm hạn chế ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế

hệ tương lai Trong đó sản xuất bền vững chú trọng vào các tác động kinh tế, xã hội

và môi trường của quá trình cung cấp; tiêu dùng bền vững liên quan đến khía cạnh nhu cầu, chú trọng vào các thói quen và sự lựa chọn của người tiêu dùng trong sử dụng hàng hóa và các dịch vụ”

Sau đây, người viết sẽ phân tích riêng rẽ để hiểu rõ hơn về hai khái niệm sản xuất bền vững và tiêu thụ bền vững

a Sản xuất bền vững

Sản xuất bền vững là việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ bằng một quá trình,

hệ thống không gây ô nhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; an toàn đối với sức khoẻ của người lao động, cộng đồng và người tiêu dùng Nếu một quá trình sản xuất được coi là bền vững thì nó sẽ đem lại lợi ích cho cả môi trường, người lao động và cộng đồng

Xét một cách chi tiết, sản xuất bền vững cần đảm bảo được các yếu tố sau:

- Sản phẩm và đóng gói được thiết kế an toàn và thân thiện với môi trường

- Các dịch vụ được tổ chức nhằm đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả

- Các chất thải và chất được tạo ra trong quá trình sản xuất mà gây hại cho hệ sinh thái phải được giảm thiểu, loại bỏ hoặc tái chế

- Các chất hoá học và điều kiện sản xuất gây hại đến sức khoẻ con người và môi trường phải bị loại bỏ

- K51

Trang 16

- Các năng lượng, tài nguyên thiên nhiên phải được bảo tồn và sử dụng một cách có hiệu quả nhất

- Nơi làm việc và công nghệ sản xuất phải được thiết kế sao cho tối thiểu hoá hoặc loại bỏ các yếu tố gây hại đến sức khoẻ con người và môi trường sống

- Công việc được tổ chức, sắp xếp sao cho đảm bảo được hiệu quả cũng như

sự sáng tạo của người lao động

- Sự an toàn và phúc lợi của người lao động phải là yếu tố được ưu tiên hàng đầu, cũng như điều kiện để phát triển năng lực của họ

- Cộng đồng dân cư xung quanh nơi làm việc phải được tôn trọng, nâng cao về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và thể chất

- Khả năng phát triển kinh tế dài hạn của doanh nghiệp được nâng cao

Như vậy, điểm nhấn trong khái niệm sản xuất bền vững nằm ở giá trị trong dài hạn của nó Bằng việc đầu tư vào các sản phẩm được thiết kế an toàn hơn; công nghệ và quy trình sản xuất hiệu quả; chú trọng đào tạo, phát triển năng lực cho người lao động, các tổ chức và doanh nghiệp sẽ đạt được thành công trong việc xây dựng mô hình sản xuất bền vững

b Tiêu dùng bền vững

Sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người Việc tiêu dùng đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng GDP quốc gia Tuy nhiên, việc sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng lên của con người từ các nguyên liệu thô trong môi trường có thể gây suy giảm hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường Do đó, khái niệm tiêu dùng bền vững được đưa ra nhằm giải quyết câu hỏi việc tiêu dùng phải được thực hiện theo cách nào để tối thiểu hoá những thiệt hại cho môi trường và đảm bảo cho sự tiêu dùng của các thế hệ tương lai

Tiêu dùng bền vững ở đây được hiểu là việc sử dụng sản phẩm và dịch vụ theo cách thức gây ra ít ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nhất, đáp ứng nhu cầu của con người không chỉ ở hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai Khi thực hiện tiêu dùng bền vững, các nguồn tài nguyên sẽ được con người khai thác và sử dụng một cách “khôn ngoan hơn” Chất thải từ quá trình sản xuất và ô nhiễm môi trường được tối thiểu hoá

- K51

Trang 17

Một số giải pháp cho tiêu dùng bền vững có thể bao gồm việc sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh như năng lượng mặt trời, năng lượng gió; phát triển các nguồn nhiên liệu thay thế như nhiên liệu sinh học…

Như vậy, tiêu dùng bền vững không phải là tiêu dùng ít đi mà đòi hỏi con người phải biết tiêu dùng một cách hợp lý, kiểm soát tài nguyên tốt hơn, giảm áp lực đối với môi trường Chìa khoá để đạt mục tiêu tiêu dùng bền vững là “do more and better with less” – tạm dịch là sản xuất nhiều hơn, chất lượng hơn với một nguồn lực được tiêu tốn ít hơn

1.1.3.4 Các chỉ số đo lường kinh tế xanh

Mỗi một khái niệm, tiêu chí đặt ra đều có một hệ thống chỉ số để đo lường tính hiệu quả của nó Chẳng hạn để đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế người ta dùng GDP (Gross domestic product) – tổng sản phẩm quốc dân; để đo lường lạm phát người ta dùng các chỉ số giá như CPI (Consumer price index) – chỉ số giá tiêu dùng, PPI (Production price index) – chỉ số giá sản xuất

Tương tự như vậy, để đo lường quá trình chuyển đổi đến nền kinh tế xanh, UNEP phối hợp với các đối tác như OECD (Organization for Economy Cooperation Development) – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, WB (World Bank) – Ngân hàng thế giới để phát triển một bộ các chỉ tiêu đo lường kinh tế xanh mà từ đó các quốc gia có thể lựa chọn sao cho phù hợp với thực trạng riêng của quốc gia mình Các chỉ số này được chia thành ba nhóm:

- Các chỉ số kinh tế: Chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong cáclĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững như GDP xanh

- Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về mức độ ô nhiễm trong ngành và toàn bộ nền kinh tế

- Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội Ví dụ: các chỉ số tổng hợp

về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi…

Trong các chỉ sổ đo lường kinh tế xanh kể trên, GDP xanh (Green GDP) – một chỉ số đo lường sự phát triển của nền kinh tế xanh theo mức sản lượng trong nước – được sử dụng phổ biến nhất trong việc đánh giá tính hiệu quả trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh của một quốc gia Như đã đề cập đến ở trên, để đo lường sự

- K51

Trang 18

tăng trưởng kinh tế, người ta dùng GDP Tuy nhiên GDP chỉ tính toán được tổng sản phẩm đầu ra của nền kinh tế mà không tính đến những phí tổn gây ra cho môi trường GDP xanh đã giải quyết được bài toán này bằng cách lấy chỉ số GDP tính theo cách truyền thống trừ đi các chi phí tiêu dùng tài nguyên và các mất mát về môi trường do hoạt động kinh tế gây ra

1.2 Phát triển kinh tế xanh

Phát triển kinh tế xanh là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự phối hợp của nhiều biện pháp trên nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội như: tài chính, pháp luật, truyền thông, giáo dục…

1.2.1 Các điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế xanh

1.2.1.1 Thay đổi cơ cấu các khoản đầu tư, chi tiêu trong chi tiêu chính phủ

Việc thay đổi cơ cấu các khoản đầu tư, chi tiêu trong chi tiêu chính phủ mang tính hai chiều, bao gồm hai hướng: tăng cường đầu tư, chi tiêu vào các hoạt động có lợi cho nền kinh tế xanh và hạn chế chi tiêu vào các lĩnh vực khai thác tài nguyên gây ô nhiễm và suy thoái môi trường

Việc sử dụng hiệu quả các khoản chi tiêu chính phủ và ưu đãi đầu tư đóng một vai trò quan trọng và then chốt trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi của nền kinh tế từ kinh tế “nâu” sang kinh tế “xanh” Chi tiêu chính phủ trong điều kiện khuyến khích phát triển kinh tế xanh gồm ba nhân tố chính Thứ nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm xanh có điều kiện phát triển và có chỗ đứng trên thị trường Thứ hai là tăng cường đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng xanh và cuối cùng là đầu tư vào các ngành công nghiệp xanh tiềm năng, xây dựng lợi thế cạnh tranh, tạo thêm nhiều việc làm

Tuy nhiên, hiện nay các nhà đầu tư còn có tâm lý e dè khi đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế xanh Nguyên nhân chủ yếu nằm ở yếu tố giá cả Các sản phẩm được sản xuất theo quy trình công nghệ xanh thường có giá thành cao hơn so với sản phẩm truyền thống do chi phí công nghệ sản xuất xanh cao hơn so với chi phí công nghệ sản xuất truyền thống thông thường Điều này là một bất lợi cho tính cạnh tranh của các sản phẩm xanh trên thị trường Để khắc phục tình trạng này, chính phủ có thể tăng trợ cấp đối với các mặt hàng được sản xuất theo công nghệ xanh và đánh thuế môi trường đối với những mặt hàng được sản xuất gây tổn hại

- K51

Trang 19

nhiều đến môi trường

Ngoài ra, để khuyến khích thị trường sản phẩm xanh phát triển, chính phủ cũng có thể mua sắm bền vững các nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho việc xây dựng cơ cở hạ tầng công cộng cùng các máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, tạo

ra nhu cầu cao và dài hạn đối với hàng hóa và dịch vụ xanh Điều này sẽ cho phép các doanh nghiệp đầu tư dài hạn và đổi mới sản xuất, dẫn tới thương mại hóa trong nền kinh tế xanh đồng thời nâng cao ý thức tiêu dùng, mua sắm, chi tiêu bền vững của người dân

Bên cạnh đó, chính phủ có thể gia tăng các khoản chi cho việc trồng rừng, bảo

vệ rừng đầu nguồn, khắc phục hậu quả của ô nhiễm môi trường và khôi phục lại hệ sinh thái đã bị huỷ hoại

Song song với việc tăng cường đầu tư, chi tiêu vào các hoạt động có lợi cho nền kinh tế xanh như đã nói đến ở trên là việc giảm chi tiêu vào các lĩnh vực khai thác tài nguyên gây ô nhiễm và suy thoái môi trường Từ đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ hai mốt, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNDP) đã đưa ra cảnh báo đối với toàn cầu về tình trạng cạn kiệt tài nguyên môi trường Theo số liệu thống kê mà tổ chức này đưa ra, việc sử dụng các nguồn tài nguyên đã tăng hơn 40% trong thời gian hơn chục năm (từ 1992 đến 2005), trong khi khả năng tạo ra các nguồn tài nguyên mới của trái đất ở mức rất thấp, thậm chí nhiều nguồn tài nguyên đang có xu hướng cạn kiệt dần như nước (ba phần tư trái đất là nước, tuy nhiên chỉ có xấp xỉ 1% lượng nước trên thế giới là có thể sử dụng được), dầu mỏ, than, khí đốt…Do đó, việc giảm chỉ tiêu vào các hoạt động khai khác tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường là vô cùng cần thiết Thay vào đó, chính phủ nên tăng cường đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển để tìm ra các nguồn năng lượng thay thế, năng lượng tái sinh, năng lượng sạch Thực tế cho thấy, trong thời gian qua việc sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh góp phần tiết kiệm tài nguyên

và giảm ô nhiễm môi trường như năng lượng gió, năng lượng mặt trời…cũng đã được nhiều quốc gia quan tâm Tuy nhiên mức độ phổ biến của hoạt động này còn chưa cao, chi phí cho việc đưa vào sử dụng loại năng lượng thay thế này còn cao dẫn đến hạn chế sự tiếp cận rộng rãi đối với chúng

1.2.1.2 Xây dựng khung pháp lý hiệu quả, tạo động lực cho việc thúc đẩy phát triển

- K51

Trang 20

tư vào lĩnh vực sản xuất xanh Tuy nhiên, đứng trên cương vị của những người làm chính sách cần chú ý đến tính hai mặt của vấn đề Bên cạnh việc đem lại động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế xanh, các quy định, tiêu chuẩn cũng có thể là một thách thức đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi thâm nhập thị trường Do đó, chính phủ cần phải cân bằng giữa việc bảo vệ môi trường và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngoài hệ thống luật pháp, quy định về quy hoạch đất đai đóng vai trò quan trọng trong điều phối xây dựng cơ sở hạ tầng Xây dựng quy chế quy hoạch hợp lý giúp các nước hạn chế những mặt trái của đô thị hóa Đây cũng có thể là công cụ để tạo ra các hành lang xanh bảo vệ hệ sinh thái và phát triển đô thị một cách bền vững

Bên cạnh các quy tắc và quy định được bắt buộc thực thi bởi pháp luật; các chính phủ cần phải tăng cường đàm phán thỏa thuận với các công ty để họ tự nguyện điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình theo hướng bền vững Các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế xanh khi họ thấy quyền lợi lâu dài hoặc khả năng xây dựng thương hiệu của mình khi tham gia vào các cam kết vì một nền kinh

- K51

Trang 21

nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Nhật… thường là những quốc gia đi đầu trong việc sáng tạo và ứng dụng những công nghệ như vậy trong sản xuất Đối với những nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, việc thúc đầy đầu tư và hợp tác công nghệ đối với các nước phát triển sẽ góp phần

to lớn để học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ nhằm cải tiến nền sản xuất trong nước

Không chỉ hợp tác trên lĩnh vực công nghệ mà hợp tác trên lĩnh vực thương mại với những thoả thuận thống nhất về quy chuẩn sản phẩm sao cho phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường cũng sẽ góp phần đẩy mạnh quá trình hướng tới nền kinh tế xanh

Các hiệp định đa phương về môi trường đã thiết lập các khuôn khổ pháp lý và thể chế giải quyết những thách thức môi trường toàn cầu, nó đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế xanh

1.2.1.4 Nâng cao năng lực tổ chức và tính minh bạch trong quản lý

Xây dựng và phát triển kinh tế xanh là cả một quá trình lâu dài, kết quả không thể có được trong ngày một ngày hai Vì vậy cần phải có một sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban ngành, các cấp quản lý sao cho tất cả đều nắm rõ chủ trương, chính sách, đường hướng để từ đó có được những bước đi đúng đắn, hành động thống nhất Đồng thời, phải có sự giám sát sát sao, điều chỉnh kịp thời trong từng giai đoạn

Thêm vào đó, để có thể chuyển dịch từ nền kinh tế “nâu” sang “xanh” không chỉ cần sự đầu tư về mặt thời gian, công sức mà chi phí cũng rất lớn, đặc biệt là tài chính công Vì vậy, việc giám sát chặt chẽ là cần thiết để tránh tình trạng tham nhũng gây thất thoát tài sản, hao tổn nguồn lực quốc gia

1.2.1.5 Tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, nâng cao năng lực lao động và

hệ thống thông tin

Việc phát triển kinh tế xanh đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng mới Muốn thay đổi hành vi của một cá nhân hay tập thể trước hết phải thay đổi từ nhận thức của họ Do đó việc xây dựng các chương trình đào tạo, nâng cao các kỹ năng để chuẩn bị lực lượng lao động cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và nâng cao nhận thức cộng đồng về kinh tế xanh là hết sức cần thiết Khi mỗi cá nhân

- K51

Trang 22

hiểu được ý nghĩa, vai trò của việc xây dựng kinh tế xanh, thấy được quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong công cuộc này, họ sẽ dễ dàng thích ứng và thay đổi hành vi, thái độ của mình

1.3 Vai trò của kinh tế xanh đối với phát triển kinh tế xã hội

1.3.1 Đối với vấn đề phát triển bền vững

Kinh tế xanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Để phát triển bền vững phải đảm bảo sự hài hoà và cân đối giữa ba yếu tố kinh tế, môi trường và

xã hội Trong nền kinh tế xanh, môi trường là nhân tố được coi trọng hàng đầu, tiếp đến là xã hội Dưới góc nhìn của kinh tế xanh, sự tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất những tổn hại đối với môi trường sống, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài nguyên và đem lại phúc lợi cao nhất cho con người,

xã hội Tất cả nhằm mục tiêu cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài Ở những nền kinh tế khác nhau, cách thức triển khai và áp dụng mô hình phát triển kinh tế xanh có thể không giống nhau, tuỳ thuộc vào các yếu tố như đặc điểm kinh tế, địa lý, xã hội, tiềm lực con người…Tuy nhiên, dù áp dụng theo cách nào thì vẫn phải đảm bảo những nguyên tắc cốt lõi tạo nên một nền kinh tế xanh: phúc lợi tạo ra cao nhất, đảm bảo công bằng xã hội, hạn chế tối đa những rủi

ro cho môi trường và hệ sinh thái

Với những nhân tố cốt lõi như vậy, kinh tế xanh đóng vai trò như một công cụ hiệu quả để các quốc gia hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

1.3.2 Đối với tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được xem là một chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để đánh giá về mức độ tăng trưởng của một nền kinh tế Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế theo các phương thức truyền thống thường kéo theo một loạt hệ quả như: khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học…Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống con người nói chung và một bộ phận dân cư mà cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác các nguồn lực môi trường (đánh bắt cá, lâm nghiệp, nông nghiệp…) nói riêng

- K51

Trang 23

Kinh tế xanh đóng góp một vai trò tích cực trong việc giải quyết thực trạng trên Nhờ có các khoản “đầu tư xanh” mà các nguồn năng lượng được sử dụng hiệu quả hơn, nâng cao hệ thống xử lý chất thải, công tác nghiên cứu và tìm ra các nguồn năng lượng tái tạo được đẩy mạnh Như vậy, kinh tế xanh góp phần tạo ra một sự tăng trưởng bền vững, tăng trưởng nhưng không kéo theo sự huỷ hoại môi trường sống

Bên cạnh đó, một phần của các khoản “đầu tư xanh” còn được sử dụng để cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông công cộng và các lĩnh vực dựa trên vốn tự nhiên như nông nghiệp xanh, lâm nghiệp, ngư nghiệp và cấp nước Trên cơ sở đó, người nghèo sẽ được tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, tạo điều kiện cho việc làm kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo

1.3.3 Đối với thị trường lao động

Nền kinh tế xanh sẽ tạo ra nhiều việc làm xanh trong các lĩnh vực mới nổi như năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, xử lý chất thải… Điều này không những tăng thu nhập, giải quyết tình trạng thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng mà còn bảo vệ môi trường, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, kinh tế xanh tập trung phát triển sinh kế cho bộ phận dân cư nghèo sống phụ thuộc vào thiên nhiên Các dịch vụ sinh thái và hoạt động kinh tế dựa vào vốn tự nhiên phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm mới ngay tại địa phương, góp phần cải thiện cuộc sống, hạn chế vấn

đề dân số quá tải tại các thành phố lớn và các tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng xã hội công bằng

Để kinh tế xanh phát huy tốt vai trò của nó trong việc tạo ra việc làm, cả Nhà nước và người lao động đều cẩn phải nỗ lực trong việc đầu tư vào những kỹ năng mới cần thiết cho chuyên môn, công việc Bên cạnh đó, Nhà nước cần nghiên cứu

để đề ra những chính sách phù hợp để điều chỉnh việc làm trong các lĩnh vực chủ chốt như năng lượng, giao thông vận tải

1.3.4 Đối với môi trường, đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu

Ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu là những vấn đề rất khó có thể lường trước được những hậu quả mà nó gây ra cho cuộc sống của con người Do đó, cần có những giải pháp ngăn chặn tình trạng này tiếp diễn và gia tăng Trong nền kinh tế xanh, nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên được

- K51

Trang 24

sử dụng hiệu quả, kết hợp với duy trì và bảo vệ Nguồn năng lượng tái tạo ngày càng tăng sẽ giảm được những rủi ro về biến động giá nhiên liệu hóa thạch, đồng thời đạt được lợi ích giảm thiểu phát thải hiệu ứng nhà kính Kinh tế xanh cũng giải quyết một phần không nhỏ lượng cacbon, chất thải rắn và nước thải xả ra môi trường bằng các biện pháp tái chế và chuyển đổi thành nguồn năng lượng mới Bên cạnh đó, các lĩnh vực dựa trên nguồn vốn tự nhiên như nông nghiệp xanh, thủy sản, lâm nghiệp được khai thác hợp lý sẽ góp phần duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học

1.3.5 Đối với với các lợi ích kinh tế và xã hội về nhiều mặt

Đô thị hoá với tốc độ nhanh chóng là thực trạng đang diễn ra tại nhiều khu vực dân cư, đặc biệt ở các nước đang phát triển Nó gây ra nhiều áp lực đối với nhiều mặt của đời sống như: ô nhiễm môi trường, thiếu nước sạch, cơ sở hạ tầng xuống cấp, quá tải trong dịch vụ y tế… Kinh tế xanh là một giải pháp giúp ứng phó với thực trạng trên thông qua việc cải thiện môi trường sống, hướng tới đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao sức khoẻ con người để từ đó làm giảm áp lực đối với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Bên cạnh đó, kinh tế xanh cũng giúp giải quyết nhu cầu việc làm, nâng cao nhận thức người dân trong việc duy trì, bảo vệ hệ sinh thái, tiết kiệm năng lượng, thực hiện nếp sống văn minh đô thị

Trong nền kinh tế xanh, nhiều phương pháp nông nghiệp bền vững được sử dụng góp phần bảo đảm an ninh lương thực Những tiến bộ trong khai thác tài nguyên và đa dạng hoá các nguồn năng lượng sẽ góp phần làm giảm chi phí nhập khẩu, bảo đảm an ninh năng lượng cho các quốc gia, tránh những biến động của giá

cả thị trường

- K51

Trang 25

CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH TẠI MỘT

SỐ QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH

NGHIỆM CHO VIỆT NAM

2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh tại một số quốc gia đang phát triển

2.1.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh tại Trung Quốc

2.1.1.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế, xã hội của Trung Quốc

Kể từ cuộc cải cách thị trường năm 1978, Trung Quốc đã chuyển dịch từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường và trải qua sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng Trong những năm cuối thế kỷ hai mươi và thập niên đầu của thế kỷ hai mốt, tăng trưởng GDP bình quân của Trung Quốc đạt 10% một năm – một mức tăng trưởng bền vững và nhanh nhất của một nền kinh tế quan trọng trong lịch sử

Sự tăng trưởng này đã giúp hơn 800 triệu người thoát khỏi đói nghèo (Theo World

Bank) Đến năm 2015, Trung Quốc đã đạt mục tiêu tăng trưởng thiên niên kỷ và

đóng góp một phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng thiên niên kỷ toàn cầu Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, đóng một vai trò quan trọng và có tầm ảnh hưởng trong nền kinh tế toàn cầu

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tăng trưởng GDP trung bình của Trung Quốc có xu hướng giảm dần, trung bình đạt 7,3% một năm Mặc dù tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc có giảm rõ rệt so với thời kỳ trước nhưng đây vẫn là mức tăng trưởng cao Hình dưới đây sẽ mô tả rõ hơn về xu hướng tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc

- K51

Trang 26

Hình 2.1 Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc

(Đơn vị: %)

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (World Bank)

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank), dân số Trung Quốc năm 2014 là 1,364 tỷ người, chiếm gần một phần năm dân số thế giới, đưa Trung Quốc trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng

Trung Quốc được ví như “Công xưởng của thế giới” với đội ngũ nhân công giá rẻ

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là quốc gia đang phát triển (Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc vẫn chỉ bằng một phần nhỏ so với các quốc gia phát triển) và công cuộc cải cách thị trường của Trung Quốc vẫn chưa hoàn thành Tốc

độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã mang lại cho quốc gia này nhiều thách thức như: bất bình đẳng, đô thị hoá nhanh chóng, đặc biệt là thách thức đối với môi trường sinh thái

Đi kèm với dân số đông, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và lượng phát thải cũng ngày càng gia tăng

Là quốc gia có lượng phát thải cao nhất thế giới, hiện Trung Quốc đang phải đối mặt với áp lực trong nước và quốc tế về yêu cầu giảm thải trong khi vẫn phải

- K51

Trang 27

duy trì mức tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 7%, bất chấp cuộc khủng hoảng kinh

tế toàn cầu, giá cả leo thang và nguy cơ bất ổn xã hội

2.1.1.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc

 Chính sách năng lượng xanh của Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những quốc gia có nhu cầu tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới Theo báo cáo của Cục quản lý thông tin năng lượng của Mỹ (The US Energy Information Administration – EIA), Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên toàn cầu và là quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai, sau Mỹ Năm

2013, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trở thành nhà nhập khẩu dầu mỏ và các nguyên liệu hoá lỏng khác lớn nhất thế giới

Hình 2.2 10 nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, 2014

(Đơn vị: triệu thùng/ngày)

Nguồn: Cục quản lý thông tin năng lượng của Mỹ, cập nhật tháng 5 năm 2015

Từ biểu đồ cho thấy Trung Quốc hiện đang dẫn đầu danh sách các quốc gia có lượng tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới với 6,1 triệu thùng mỗi ngày, bỏ xa nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ với 5,1 triệu thùng mỗi ngày Theo EIA, lượng gia tăng tiêu thụ dầu của Trung Quốc chiếm 43% lượng gia tăng tiêu thụ dầu của thế giới năm 2014

Lượng khí ga tự nhiên tiêu thụ ở Trung Quốc cũng tăng nhanh chóng trong nhiều thập kỷ trở lại đây Đây cũng là quốc gia sản xuất, tiêu thụ, nhập khẩu than đá lớn nhất thế giới và chiếm gần một nữa lượng tiêu thụ than đá trên toàn cầu – một nhân tố chính đóng góp vào lượng phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính

- K51

Trang 28

ЕTrước thực trạng lượng năng lượng tiêu thụ không ngừng gia tăng, chính phủ Trung Quốc đã và đang thực hiện Chiến lược phát triển mới: phát triển kinh tế xanh nhằm hướng tới duy trì nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững, đề cao chất lượng tăng trưởng Chiến lược phát triển mới của Trung Quốc chuyển từ phương thức phát triển kinh tế tiêu hao nhiều tài nguyên sang phương thức phát triển kinh tế tiết kiệm tài nguyên

Chính sách phát triển năng lượng của Trung Quốc hướng tới nguồn năng lượng có hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao với các nội dung cơ bản sau: ưu tiên tiết kiệm tài nguyên, dựa vào các nguồn tài nguyên trong nước; phát triển đa dạng các nguồn năng lượng; thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ trong ngành công nghiệp năng lượng, đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển và tăng cường hợp tác quốc tế vì lợi ích chung

Bộ Khoa học và Công nghê Trung Quốc đã phát động một loạt các chương trình thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ năng lượng tái tạo:

- Chương trình nghiên cứu công nghệ cao R&D (chương trình 863): Được khởi động vào năm 1982, được tài trợ và quản lí bởi chính phủ Trung Quốc để giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc là quốc gia đầu tiên thực hiện chương trình hỗ trợ khoa học để kiểm soát ô nhiễm và sử dụng tài nguyên hiệu quả Gần 1 tỷ USD đã được đầu tư từ năm 2001 đến năm 2005 cho chương trình này

- Chương trình 937: Chương trình quốc gia tập trung nghiên cứu cơ bản, bổ sung cho chương trình 863 với mục tiêu chính là năng lượng và phát triển bền vững Chương trình đã tài trợ 382 dự án (1998 - 2008) với tổng vốn đầu tư 1,3 tỷ đô

- Các kế hoạch năm năm: Kế hoạch năm năm lần thứ mười một (2006 - 2010) của Trung Quốc đã xác định công nghệ năng lượng là trọng tâm của Chương trình

863, với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, than sạch và tập trung năng lượng tái tạo Kế hoạch năm năm lần thứ mười hai (2011-2015) được chính thức công bố vào tháng 3/2011 đã cam kết giảm năng lượng tiêu thụ xuống 16% trên một đơn vị GDP và giảm cường độ phát thải CO2 trên một đơn vị GDP xuống 17% trước năm 2015 so với số liệu năm 2010 Kế hoạch này cũng đặt ra mục tiêu cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng

- K51

Trang 29

với mức tăng trưởng hàng năm 15% và mức tổng sản lượng đạt 720 tỷ USD trước năm 2015 (tương đương 2% GDP)

Để thúc đẩy quá trình nghiên cứu và phát triển nguồn năng lượng tái tạo, Trung Quốc đã ban hành một loạt các bộ luật bao gồm: Luật Điện lực 1995, Luật bảo tồn năng lượng 1997, Luật phòng chống và kiểm soát ô nhiễm 2000, Luật năng lượng tái tạo 2005 Song song với đó, chính phủ Trung Quốc cũng xây dựng các chương trình phát triển kế hoạch vừa và dài hạn về năng lượng tái tạo nhằm đảm bảo các bộ luật được thực thi một cách nghiêm túc và có hiệu quả

Luật năng lượng tái tạo của Trung Quốc năm 2005 được coi là kim chỉ nam định hướng cho sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo Bộ Luật đã đưa ra một loạt các ưu đãi tài chính như: quỹ quốc gia về thúc đẩy năng lượng tái tạo, cho vay,

ưu đãi về thuế, các dự án năng lượng tái tạo hay yêu cầu các nhà khai thác lưới điện mua các nguyên liệu từ nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký

Ngoài ra, để nâng cao nhận thức cộng đồng về năng lượng tái tạo, phổ biến sâu rộng đến cho người dân về lợi ích của việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chiến dịch truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là truyền hình từ cấp trung ương đến địa phương Nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức, điển hình như “Tuần lễ tiết kiệm năng lượng” hay những cuộc triển lãm về công nghệ giảm cường độ sử dụng năng lượng tại nhiều tình thành khác nhau trên cả nước

a Năng lượng gió

Năm 1996, Trung Quốc đã thành lập Quỹ năng lượng tái tạo Kinh phí dành cho việc nghiên cứu và tiến hành sản xuất năng lượng gió được Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc trợ cấp Năm 2006, Uỷ ban Quốc gia về Phát triển và Cải cách (NDRC) của Trung Quốc đã ban hành các biện pháp tạm thời về quản lý thuế

và phân bổ chi phí năng lượng tái tạo Năm 2008, các thương hiệu sản xuất tua-bin gió địa phương như Sinovel Wind, Goldwind Science, Technology và Dongfang Electric đã chiếm thị phần hơn 50%

b Năng lượng mặt trời

Trung Quốc là nhà sản xuất các tấm pin năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới, đáp ứng hơn ba phần tư nhu cầu sử dụng pin năng lượng mặt trời của toàn thế giới

- K51

Trang 30

Một bản tin của tổ chức nghiên cứu GMT (Green Tech Media Research – một trong những công ty phân tích và tư vấn hàng đầu về lĩnh vực chuyển đổi ngành công nghiệp toàn cầu của Mỹ) cho biết: trong năm 2015, sản lượng sản xuất điện năng từ năng lượng mặt trời của Trung Quốc chiếm 25% tổng công suất thế giới

Nhằm khuyến khích người dân sử dụng điện năng lượng mặt trời, tháng 3 năm

2009, chương trình “Mái nhà vàng” đã được phát động với nội dung: mỗi mái nhà lắp đặt pin mặt trời có công suất 50KW trở lên sẽ được nhận một khoản trợ cấp trị giá 2,93USD/W Khoản tiền này có thể bao gồm 50% chi phí lắp đặt

Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc cũng đầu tư những khoản tiền lớn cho các dự

án dài hạn nhằm kết nối nguồn điện mặt trời với lưới điện quốc gia

Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp sản xuất bình nước nóng năng lượng mặt trời mang lại lợi nhuận cho cả các nhà sản xuất và các hộ gia đình Nhiều hộ gia đình được sử dụng nước nóng kéo theo các lợi ích về sức khỏe và vệ sinh Việc lắp

đặt các hệ thống năng lượng nước nóng mặt trời được ưu tiêu cho các lĩnh vực tiêu dùng, chẳng hạn như bệnh viện, trường học, nhà hàng, hồ bơi…

c Thuỷ điện

Nếu như từ năm 1990 trở về trước, Trung Quốc chưa có đủ khả năng về cả kỹ thuật và kinh tế để xây dựng các công trình thuỷ điện lớn thì từ những năm 1990 trở

đi, nước này đã đủ khả năng thiết kế và xây dựng các công trình thuỷ điện lớn Kể

từ khi xây dựng thành công con đập lớn nhất thế giới Tam Hiệp nằm trên sông Dương Tử (1993 – 2008), Trung Quốc không chỉ phát triển mạng lưới thuỷ điện khổng lồ trên toàn quốc mà còn mở rộng đầu tư vào các dự án ở khắp các khu vực trên thế giới từ châu Phi đến Đông Nam Á, Mỹ Latinh…

Theo MLTPRE (Chương trình phát triển kế hoạch vừa và dài hạn về năng lượng tái tạo của chính phủ Trung Quốc), công suất thuỷ điện của Trung Quốc đạt tới 540GW/năm Trung Quốc đã thông qua một số luật trong suốt 20 năm qua để giảm sự tác động đến nguồn nước và hệ sinh thái khi xây dựng các đập thủy điện tại các con sông lớn như Trường Giang, Hoàng Hà…

d Năng lượng sinh khối

Sinh khối là một loại vật chất sinh học tái tạo bắt nguồn từ các bộ phận trên cơ

- K51

Trang 31

thể sinh vật hay từ các loài sinh vật như cây cối, chất xơ gỗ, chất thải gia súc, chất thải nông nghiệp…

Năng lượng sinh khối là một loại năng lượng bền vững mang lại rất nhiều lợi ích, trong đó có những lợi ích cơ bản như:

- Năng lượng sinh khối sản xuất ra một lượng nhỏ cacbon so với các nguồn năng lượng hoá thạch khác do đó làm giảm quá trình gây hiệu ứng nhà kính

- Đây là nguồn năng lượng sẵn có, do đó việc thành lập các mạng lưới sản xuất và tiêu thụ năng lượng sinh khối trong phạm vi địa phương sẽ giúp tối thiểu hoá các chi phí tài chính, môi trường và vận chuyển

- Giảm nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường, góp phần bảo vệ môi trường

và sự đa dạng sinh học

Trung Quốc là quốc gia rất dồi dào nguồn năng lượng sinh khối đến từ nông nghiệp, lâm nghiệp, khu vực dân cư, chất thải từ các đồn điền, trang trại…Do đó nước này đã và đang tìm cách tận dụng các nguồn năng lượng sẵn có này nhẳm giảm bớt áp lực khủng hoảng năng lượng diễn ra tại Trung Quốc nói riêng và trên toàn cầu nói chung Chương I Bộ luật Năng lượng tái tạo (2005) của Trung Quốc đã chỉ rõ rằng Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ việc sử dụng năng lượng sinh khối Trong kế hoạch trung và dài hạn cho việc phát triển năng lượng tái tạo của Trung Quốc phát hành năm 2007 cũng nhấn mạnh rằng cần phải chú trọng hơn nữa đến việc phát triển các nguồn năng lượng sinh khối

Kể từ năm 1995, Trung Quốc đã đưa năng lượng sinh khối vào hệ thống các

kế hoạch năm năm của quốc gia Trong kế hoạch năm năm lần thứ chín 2000), công nghệ kỵ khí hiệu quả cao (anaerobic technology) đã được áp dụng trong việc xử lý tập trung lượng chất thải khổng lồ từ các khu đô thị Trong suốt kế hoạch năm năm lần thứ mười (từ 2001-2005), kế hoạch phát triển công nghiệp năng lượng sinh khối vùng nông thôn đã được đưa ra Kể từ kế hoạch năm năm lần thứ mười một, mỗi kế hoạch năm năm được đưa ra đều có những chương trình đặc biệt hướng tới việc phát triển công nghiệp năng lượng sinh khối

(1996-Theo một bài báo cáo được viết bởi các nhà nghiên cứu thuộc Viện bảo tồn năng lượng, Học viện khoa học, Quảng Châu Trung Quốc: năm 2010, tổng sản lượng điện được sản xuất từ năng lượng sinh khối của Trung Quốc theo ước tính đạt

- K51

Trang 32

5.500.000 KW và dự kiến tăng lên 30.000.000 KW vào năm 2020 Trung Quốc là nước sản xuất ethanol lớn thứ ba thế giới, sau Mỹ và Brazil Điện sinh khối được sử dụng rộng rãi tại các vùng nông thôn Trung Quốc tập trung sản xuất năng lượng sinh học từ các loại cây trồng phi lương thực Năng lượng sinh khối cũng được xem như là một giải pháp hạn chế sa mạc hóa với các chương trình trồng cây liễu và thu hoạch liễu tại các khu vực bị ảnh hưởng để sản xuất năng lượng Một nhà máy điện

ở Nội Mông đốt cháy 200.000 tấn liễu hàng năm, sản xuất 210 triệu KWh điện, thay cho việc đốt than đá Tro tàn còn sót lại từ quá trình đốt có thể được sử dụng làm phân bón

e Việc làm

Chính sách năng lượng tái tạo của Trung Quốc không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường, đối phó với khủng hoảng năng lượng của Trung Quốc mà còn có ý nghĩa không nhỏ trong việc giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động, góp phần làm giảm áp lực đối với kinh tế, xã hội

Theo Báo cáo Thường niên về Năng lượng tái tạo và Việc làm năm 2015 của

Tổ chức Năng lượng tái tạo Quốc tế (The International Renewable Energy Agency – IRENA), ước tính có khoảng 7,7 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp được tạo ra trong ngành năng lượng tái tạo năm 2014 Trong đó Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc tạo công ăn việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo

- K51

Trang 33

Hình 2.3 Việc làm trong ngành năng lƣợng tái tạo tại một số quốc gia

trên thế giới

(Đơn vị: %)

Nguồn: Báo cáo Thường niên về Năng lượng tái tạo và Việc làm của Tổ chức

Năng lượng tái tạo Quốc tế, 2015

Biểu đồ trên đã cho thấy rõ ưu thế của Trung Quốc Đây là quốc gia dẫn đầu đối với tạo việc làm trong ngành năng lượng tái tạo với xấp xỉ 3,4 triệu việc làm được tạo ra, chiếm 46,73% trong tổng số việc làm xanh được tạo ra bởi mười quốc gia được nhắc đến trong biểu đồ Thеo sau Trung Quốc là Brazil, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Đức với lần lượt 12,88%; 9,98%; 6,02%; 5,11%

Cũng thеo bài báo cáo này, trong danh sách chín lĩnh vực của ngành năng lượng tái tạo, Trung Quốc dẫn đầu ở tám lĩnh vực Lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm xanh nhất ở Trung Quốc năm 2014 là năng lượng điện mặt trời với 1,6 triệu việc làm trực tiếp, gián tiếp được tạo ra và năng lượng gió với 502.400 việc làm đã được tạo ra

 Phát triển các ngành công nghệ tiên tiến

Trung Quốc là nước đã và đang có những bước tiến lớn trong việc chuyển đổi

từ mô hình sản xuất với chi phí cao, gây ô nhiễm môi trường và không bền vững

- K51

Trang 34

sang mô hình năng suất cao, chi phí thấp, thân thiện với môi trường, áp dụng công nghệ tiên tiến và mang tính bền vững cao Gần 40 năm kể từ khi nước này thực hiện cải cách kinh tế vào năm 1978, hàng loạt các chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao đã tạo động lực cho các doanh nghiệp công nghệ cao phát triển Vào tháng 3 năm 1986, Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu và triển khai Chương trình 863 (còn gọi là “Dự án 863”) được khởi xướng bởi cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình Chương trình nhằm đến phát triển công nghệ cao tại 9 ngành công nghiệp là công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ thông tin, hàng không, công nghệ lasеr, năng lượng, viễn thông và công nghệ hàng hải Vào ngày 9/2/2006 Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành Định hướng Quốc gia về Chương trình phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2006-

2020, trong đó xác định rõ: tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao; tăng cường chú trọng đầu tư vào khoa học công nghệ; tăng cường hỗ trợ để doanh nghiệp đổi mới; phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn (công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ năng lượng mới); tăng cường nghiên cứu các công nghệ thеn chốt (y dược, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học …) Đây là kế hoạch phát triển Khoa học

và Công nghệ trong thời gian dài nhất từ trước đến nay của Trung Quốc Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ đạt được những bước đột phá về khoa học và công nghệ có tầm ảnh hướng trên quy mô toàn thế giới và đưa Trung Quốc vào danh sách các quốc gia đổi mới nhất trên thế giới

Bằng việc để cho các khu phát triển công nghệ cao được phép thành lập, Trung Quốc đã ban hành hàng loạt các luật lệ và quy định liên quan, ví dụ như quy định về phạm vi các lĩnh vực khoa học và công nghệ cao được phát triển, gồm có: không gian và vũ trụ, vi điện tử, thông tin điện tử, khoa học vật liệu, khoa học về trái đất và địa lý biển, năng lượng mới và năng lượng hiệu quả cao, các yếu tố cơ bản và phóng xạ, khoa học về y học và vi sinh, sinh thái và bảo vệ môi trường, cùng các ngành công nghệ thay thế khác cho những ngành công nghệ truyền thống đang được áp dụng hiện nay

Đầu năm 2010, các lãnh đạo Trung Quốc đã tổ chức các cuộc họp và xác định cần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp với trọng tâm

- K51

Trang 35

phát triển là những doanh nghiệp quy mô lớn sở hữu hoặc áp dụng công nghệ cao Thеo đó, muốn chuyển đổi cơ cấu kinh tế thành công thì khu vực công nghiệp của Trung Quốc cần sử dụng năng lượng hiệu quả hơn và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế, dần thay thế trang thiết bị cũ và lạc hậu bằng máy móc hiện đại Bảy ngành công nghiệp chiến lược gồm: công nghệ sinh học; công nghệ thông tin thế hệ mới; năng lượng thay thế; sản xuất thiết bị cao cấp, vật liệu tiên tiến; xе chạy bằng năng lượng thay thế; các ngành công nghiệp tiêu tốn ít năng lượng và thân thiện với môi trường Bảy ngành công nghiệp này được định hướng phát triển thеo 3 giai đoạn: giai đoạn 1 tới năm 2015, giai đoạn hai tới năm 2020 và giai đoạn ba tới năm 2030 Năm 2013 giá trị ước tính của 7 ngành công nghiệp này trong nền kinh tế Trung Quốc chiếm khoảng 2% GDP Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, hơn 1.500 tỷ USD sẽ được Trung Quốc dành để đầu tư phát triển những ngành này Thеo tính toán, các ngành này sau khi được đầu tư đã tăng lên chiếm 8% GDP vào năm 2015, và dự kiến đạt 15% vào năm 2020 Đến năm 2030, kỳ vọng bảy ngành công nghiệp chiến lược này sẽ có trình độ phát triển và năng lực tiến tới trình độ tiên tiến, sánh tầm với các nước sở hữu ngành công nghiệp phát triển nhất trên thế giới

Cũng trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 về phát triển kinh tế - xã hội, Trung Quốc sẽ đầu tư gần 470 tỷ USD vào các khu vực xanh, tăng hơn 2 lần so với mức

211 tỷ USD trong kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006-2010, tập trung vào ba lĩnh vực: công nghệ sạch, tái chế và tái sử dụng rác thải, năng lượng tái tạo Ngành công nghiệp bảo vệ môi trường của Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng trung bình 15-20%/năm và sản lượng công nghiệp thеo tính toán đạt 743 tỷ USD trong giai đoạn 5 năm (2011-2015), so với 166 tỷ USD trong kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006-2010 Mức độ ảnh hưởng của khu vực này ước tính cao hơn 8-10 lần so với các khu vực công nghiệp khác

 Chính sách và hành động ứng phó với biến đổi khí hậu

Tháng 6 năm 2007, Trung Quốc ban hành Kế hoạch quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó đã đặt ra các mục tiêu: tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh nghiên cứu về biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề liên quan đến biến

- K51

Ngày đăng: 27/08/2017, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Phát triển năng lượng gió tại Mеxico, truy cập ngày 20/3/2016, http://www.ipsi.org.vn/TinTucChiTiеt.aspx?nId=680&nCatе=2 Link
8. Phát triển năng lượng gió tại Mеxico, truy cập ngày 25/3/2016 http://www.ipsi.org.vn/TinTucChiTiеt.aspx?nId=680&nCatе=2 Link
1. Viện nghiên cứu quản lý Trung ương – Trung tâm thông tin tư liệu, 2012, Tiềm năng tạo việc làm xanh ở Việt Nam Khác
2. Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn Xuân Trung, 2012, Kinh tế xanh trong đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tới Khác
3. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Trung tâm thông tin tư liệu, 2010, Tiềm năng tạo việc làm xanh ở Việt Nam Khác
4. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25 tháng 9 năm 2012, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Khác
5. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2014, Quyết định phê duyệt hành động quốc gia về tawg trưởng xanh giai đoạn 2014- 2020 Khác
6. Viện chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, 2011, Bản dịch của báo cáo hướng tới nền kinh tế xanh – Lộ trình cho phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo (UNЕP) Khác
10. Kinh tế học xanh – Xu hướng phát triển của lý thuyết kinh tế hiện đại, truy cập ngày 26/3/2016H Ộ I CÁNS Ự FTU- K51 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w