Với lý do trên, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU – Cơ hội và thách thức đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam” cho bài khóa luận tốt nghiệ
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM –
EU (EVFTA) – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Thăng Thị Phương Thảo
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIÊU
DANH MỤC HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM 3
1.1 Một số lý thuyết về tác động của tự do hóa thương mại đối với xuất khẩu nông sản 3
1.1.1 Lý thuyêt về lợi thế so sánh 3
1.1.2 Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố 5
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia 8
1.1.4 Mô hình trọng lực (Mô hình hấp dẫn) 13
1.1.5 Lý thuyết về hiệp định thương mại tự do (FTA) và tác động của FTA đến xuất khẩu các nước thành viên 15
1.2 Những vấn đề cơ bản về hàng nông sản 18
1.2.1 Nông sản là gì? 18
1.2.2 Đặc điểm của các mặt hàng nông sản 19
1.2.3 Vai trò của nông sản đối với nền kinh tế Việt Nam và tình hình xuất khẩu nông sản của nước ta 21
1.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và những vấn đề liên quan đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam 23
1.3.1 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) 23
1.3.2 Những cam kết liên quan đến hàng nông sản và hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam 29
- K51
Trang 3HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM 30
2.1 Thực trạng ngành nông sản Việt Nam và các nhân tố tác động tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 30
2.1.1 Thực trạng ngành nông sản của Việt Nam 32 2.1.2 Các nhân tố tác động tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 39
2.2 Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực 45
2.2.1 Tác động tổng thể của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với nền kinh tế Việt Nam 45 2.2.2 Cơ hội và thách thức đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực 49
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SAU KHI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU CÓ HIỆU LỰC 57
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 57
3.1.1 Mục tiêu phát triển ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn hiện nay 57 3.1.2 Định hướng phát triển ngành xuất khẩu nông sản Việt Nam giai đoạn hiện nay 60
3.2 Một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực 63
3.2.1 Phát triển cả chất và lượng cho nhân lực ngành xuất khẩu nông sản để nâng cao năng lực sản xuất 63
- K51
Trang 4biến nông sản để nâng cao năng suất lao động 64 3.2.3 Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, nghiên cứu nhu cầu và hoạt động xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường tại EU 65 3.2.4 Nhà nước cần có các biện pháp, chính sách hợp lý để thúc đẩy hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản Việt Nam thông qua sự hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh 66 3.2.5 Các biện pháp từ phía doanh nghiệp Việt Nam nhằm quản lý chất lượng sản phẩm nông sản xuất khẩu 68 3.2.6 Các doanh nghiệp không nên chỉ trông chờ vào Ngân sách Nhà nước 68 3.2.7 Khuyến khích sử dụng công nghệ sạch trong sản xuất và xử lý chất thải trong quá trình sản xuất nông sản xuất khẩu nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững 69
Trang 5Viết tắt Tiếng Anh
ASEAN Association of Southeast
EU European Union Liên minh châu Âu
EVFTA EU – Vietnam Free Trade
Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
FDI Foreign Direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
HS Harmonized System Hệ thống hài hòa
RCA Revealed Comparative
TBT Technical Barriers To Trade Hàng rào kỹ thuật đối với
thương mại TPP Trans – Pacific Partnership
Trang 6Bảng 1.1: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam trong Liên minh châu Âu giai đoạn 2010-2014(EU) 25 Bảng 1.2: Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU (theo mã
HS 6 số) 26 Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp chế biến nông sản phân theo ngành hàng 31 Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam năm 2013,2014,2015 36 Bảng 2.3: Dự báo tốc độ tăng trưởng thương mại song phương và thương mại dịch vụ khi EVFTA có hiệu lực 47 Bảng 3.1: Mục tiêu cụ thể của ngành nông sản đến năm 2020 với một số mặt hàng chủ lực 58
- K51
Trang 7Hình 1.1: Mô hình mối liên kết của bốn nhóm yếu tố 9 Hình 1.2: Mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế 14 Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu nông sản 2 tháng đầu năm 2011 35 Hình 2.2: Cơ cấu xuất khẩu nông sản của Việt Nam theo thị trường năm 2013 37 Hình 2.3: GDP của liên minh châu Âu EU giai đoạn 2008-2014 40 Hình 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2008-2015 42
- K51
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Xuất khẩu nông sản vốn được đánh giá là một trong những ngành chiến lược của Việt Nam, đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của nước ta trên thị trường quốc tế và thu về một lượng ngoại tệ không nhỏ cho đất nước Với tốc độ tăng trưởng nhanh và kim ngạch xuất khẩu khá cao trong những năm gần đây, ngành nông sản Việt Nam đã xuất khẩu đa dạng các mặt hàng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trở thành đối tác quen thuộc của nhiều nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU So với các thị trường xuất khẩu khác, Liên minh châu Âu được đánh giá là thị trường tiềm năng và phát triển hơn cả vơi quy mô lớn và khả năng tiêu thụ ổn định
Tuy vậy, tỷ trọng hàng nông sản mà thị trường EU nhập khẩu từ Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành và quan hệ thương mại của cả hai bên Bên cạnh đó, nếu phân tích sâu hơn thì ngành xuất khẩu nông sản của nước
ta vẫn còn tồn tại một số bất lợi cho sự phát triển bền vững, đặc biệt chất lượng các mặt hàng nông sản cũng như các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật cần phải được chú trọng hơn nữa nhằm đáp ứng được các tiêu chuẩn
do Liên minh châu Âu đặt ra Trước bối cảnh đó, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU được kỳ vọng sẽ mở ra một cánh cửa mới cho ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam và góp phần cải thiện kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong thời gian tới
Do đó, việc nghiên cứu, dự báo và đánh giá các cơ hội cũng như thách thức của EVFTA đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ góp phần tạo tiền đề cho Nhà nước và các doanh nghiệp có hướng phát triển hiệu quả và nhanh chóng đạt được những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn về thúc đẩy xuất khẩu và cán cân thương mại Với lý do trên, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU – Cơ hội và thách thức đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam” cho bài khóa luận tốt nghiệp với mục tiêu đánh giá các tác động, cơ hội và thách thức đối với ngành hàng này trong bối cảnh Hiệp định đang đi vào thực hiện
và đề xuất một số kiến nghị để các doanh nghiệp trong nước thuộc nhóm ngành này thúc đẩy sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam sang thị trường đầy triển vọng như EU
- K51
Trang 9Khóa luận sẽ phân tích những nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam – EU có ảnh hưởng tới ngành xuất khẩu nông sản nước ta, từ đó cụ thể hóa các cơ hội và thách thức từ hiệp định và chứng minh vai trò thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu của EVFTA
Để thực hiện bài khóa luận này, một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu đã được sử dụng kết hợp với nhau như mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, thống kê,…
Khóa luận được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Trình bày một số cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế và hiệp định thương mại tự do, thực tiễn về tác động của một số hiệp định thương mại tự do đối với xuất khẩu nông sản
Chương 2: Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu, đồng thời đánh giá các cơ hội và thách thức của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Chương 3: Phân tích mục tiêu và đinh hướng phát triển ngành nông sản và đề xuất một số kiến nghị để tận dụng lợi ích từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với xuất khẩu nông sản
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Đỗ Hương Lan, giảng viên khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, đã tận tình giúp đỡ và giúp em hoàn thành bài khóa luận này
- K51
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG
SẢN CỦA VIỆT NAM
“Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế”.(Bùi Thị Lý và cộng sự, 2009, trang 18)
“Tự do hóa là xu thế chủ đạo trong thương mại quốc tế Tự do hóa thương mại
là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuê quan, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thương mại phát triển” (Bùi Thị Lý và cộng sự, 2009, trang 42)
Để giải thích lợi ích của tự do hóa thương mại đã có rất nhiều lý thuyết, mô hình ra đời, trong đó có lý thuyết về lợi thế so sánh, lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố, lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia và mô hình hấp dẫn (trọng lực) Trong khuôn khổ của khóa luận này, các lý thuyết sẽ được phân tích trong bối cảnh gắn với xuất khẩu sản phẩm nông sản để làm nổi bật tác động của thương mại tự do đối với hoạt động xuất khẩu nông sản
1.1 Một số lý thuyết về tác động của tự do hóa thương mại đối với xuất khẩu nông sản
1.1.1 Lý thuyêt về lợi thế so sánh
“Khi mỗi nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hóa, lợi ích của ngoại thương là rõ ràng Nhưng điều gì có thể xảy ra nếu một nước có thể sản xuất có hiệu quả hơn nước kia trong hầu hết các mặt hàng? Hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng của họ trong phân công lao động quốc tế là ở đâu, và ngoại thương diễn như thế nào với những nước này” (Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải, 2009, trang 32)
Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối.Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm “Nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa”, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh.Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm
- K51
Trang 11khác.Quy luật lợi thế so sánh Ricardo rút ra đó là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh
Một cách cụ thể, quốc gia A sẽ xuất khẩu X và nhập khẩu mặt hàng Y khi và chỉ khi:
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, một số nước đang phát triển như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ có lợi thế so sánh vượt trội bởi các nước này sở hữu nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ, điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi dẫn tới chi phí để sản xuất ra các sản phẩm nông sản nói chung thấp hơn một cách tương đối so với các nước đang phát triển Có thể thấy hiện nay Việt Nam, Thái Lan, xuất khẩu một lượng lớn các mặt hàng nông sản đủ các loại sang thị trường Nhật Bản và các nước châu Âu phát triển để đổi lại các sản phẩm có lượng vốn và công nghệ cao từ các nước này
Nguồn gốc của lợi thế so sánh có thể đến từ lợi thế về tự nhiên, khí hậu, cũng
có thể đến từ kỹ thuật, nguồn lao động lành nghề Trong sản xuất nông sản thì vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên đất đai và nguồn lao động dồi dào là những ưu thế nổi trội mang lại lợi ích so sánh cho một quốc gia
Như vậy, theo lý thuyết về lợi thế so sánh, một quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông sản nếu: HỘ I CÁN
- K51
Trang 12
Năm 1965, Bela Balassa cho công bố một bài viết lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “lợi thế so sánh biểu hiện” (The Coefficient of Revealed Comparative Advantage-RCA) để đo lường mức độ lợi thế so sánh của sản phẩm với sản phẩm khác và của nước này với nước khác Đến nay RCA được các nước dùng như là một chỉ số để đo lường lợi thế so sánh Hệ số RCA chỉ ra khả năng canh tranh xuất khẩu của một quốc gia về một sản phẩm xác định trong mối tương quan với mức xuất khẩu thế giới của sản phẩm đó Hệ số RCA được xác định theo công thức sau: RCA= ( ⁄ ) : ( ⁄ )
Trong đó:
: là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của nước A
: là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước A
: là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của toàn thế giới
: là tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới
RCA 2,5: cho thấy ngành xuất khẩu nông sản có lợi thế so sánh rất cao
1<RCA 2,5: cho thấy ngành xuất khẩu nông sản có lợi thế so sánh
RCA 1: cho thấy ngành xuất khẩu nông sản không có lợi thế so sánh
Dựa trên cơ sở dữ liệu của Trung tâm thương mại quốc tế về kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam và tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và thế giới có thể thấy xuất khẩu nông sản của Việt Nam có lợi thế so sánh rất cao và
có tiềm năng xuất khẩu lớn
1.1.2 Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố
Hạn chế của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế là ở chỗ nó cho rằng thương mại diễn ra trên cơ sở có sự chênh lệch năng suất lao động giữa các quốc gia Trên thực tế, để sản xuất ra một mặt hàng nông sản cũng như bất cứ mặt hàng nào phải sử dụng một tập hợp của các yếu tố: vốn, công nghệ, lao động,…Tuy nhiên giá cả, mức độ sẵn có của chúng ở các quốc gia là không giống nhau Vào đầu thế kỷ 20, hai nhà kinh tê học người Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã
- K51
Trang 13nhận thấy rằng chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất của các quốc gia khác nhau và mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất để làm ra các mặt hàng khác nhau mới
là những nhân tố quan trọng quy định thương mại Lý thuyết mà họ xây dựng được gọi là lý thuyết Tân cổ điển về thương mại quốc tế
Lý thuyết là thành quả do Ohlin xây dựng dựa trên các công trình của Heckscher và được công bố lần đầu trong cuốn sách “Thương mại quốc tế và thương mại giữa các vùng” (1993) của ông Trong tác phẩm này, Ohlin đã xây dựng nên một học thuyết mới về thương mại quốc tế từ những công trình trước đó và từ chính luận án của mình Lý thuyết sau này được gọi là lý thuyết Heckscher-Ohlin (viết tắt là lý thuyết H-O), một trong các học thuyết chuẩn trong thương mại quốc
tế Nội dung của định lý H-O có thể tóm tắt như sau: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó
Một mặt hàng được coi là sử dụng nhiều một cách tương đối lao động nếu tỷ
lệ giữa lượng lao động và các yếu tố khác sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai Tương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và các yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được coi là hàm lượng vốn cao Chẳng hạn, mặt hàng X được coi là hàm lượng lao động cao nếu:
Trong đó:
và là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y
và là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y
Một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao động (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa lượng lao động (hay lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc gia khác
Lý thuyết H-O chi tiết hơn lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo khi nhấn mạnh hơn tới sự tương tác giữa các tỷ lệ yếu tố sản xuất sẵn có tại các quốc gia khác nhau với tỷ lệ yếu tố sản xuất cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa cụ
- K51
Trang 14thể.Sự giải thích này dựa trên giả thuyết rằng các quốc gia có mức độ dồi dào các yếu tố khác nhau.Tuy nhiên, những kiểm nghiệm về tính đúng đắn của lý thuyết này lại cho thấy rằng đó không phải là những giải thích luôn luôn đúng cho các mô hình thương mại diễn ra trên thực tế.Học thuyết còn tồn tại một số hạn chế do các giả định của học thuyết rất khó thực hiện như:
Chưa tính đến sự khác biệt về công nghệ giữa các quốc gia
Hiệu suất có thể thay đổi theo quy mô
Rất khó tạo ra một thị trường cạnh tranh hoàn hảo đối với cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất
Sở thích của từng nước đối với từng mặt hàng là không giống nhau
Một khi có thương mại tự do thì các yếu tố sản xuất dễ dàng di chuyển từ quốc gia này này quốc gia khác
Chưa tính đến chi phí vận chuyển và các rào cản thương mại khác
Đối với ngành xuất khẩu nông sản, theo định lý H-O, một quốc gia sẽ xuất khẩu nông sản nếu việc sản xuất nông sản sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó
Trong sản xuất nông sản, các yếu tố sản xuất chính bao gồm các loại giống, phân bón, lao động, máy móc, công nghệ, … Để đơn giản hóa, ta quy các đầu vào thành hai yếu tố chính là lao động và vốn tư bản Ngành xuất khẩu nông sản sử dụng nhiều một cách tương đối lao động so với vốn, hay nói cách khác nông sản là một ngành sản xuất thâm dụng lao động Do vậy, những quốc gia nào dồi dào một cách tương đối về số lượng lao động, chi phí nhân công rẻ sẽ lợi thế trong sản xuất
và xuất khẩu nông sản Xét về điểm này, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Thái Lan,… có ưu thế vượt trội so với các nước phát triển Vì thế có thể nói nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan
Để cụ thể hóa, ta xem xét mô hình thương mại chuẩn với hai nền kinh tế là Việt nam và EU, với hai mặt hàng và gạo và thép, trong đó gạo là mặt hàng đại diện cho ngành nông sản với đặc tính thâm dụng lao động còn thép là đại diện cho những ngành sản xuất thâm dụng vốn
- K51
Trang 15Như vậy, cùng với các lý thuyết thương mại cổ điển khác, lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố đã góp phần quan trọng trong việc giải thích một xu thế trong thương mại quốc tế nói chung và trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản nói riêng
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào những năm 1990 (đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà hoa học ở 12 nước bắt đầu từ năm 1986) Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách khác là tại sao lại có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm Lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Điều này được khái quát cho một thực thể lớn hơn – một quốc gia Lý thuyết của M.Porter đã kết hợp được các cách giải thích khác nhau trong các lý thuyết thương mại quốc tế trước đó và đồng thời đưa ra một khái niệm khá quan trọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia (Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải, 2009)
Lý thuyết này lập luận rằng lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong sản xuất một mặt hàng thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố Mối liên kết của bốn nhóm này tạo thành một mô hình kim cương: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện về cầu, (3) các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, (4) chiến lược,
cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành Porter cho rằng còn hai yếu tố nữa có thể chi phối tới mô hình kim cương của quốc gia theo những cách thức quan trọng khác nhau: đó là Chính phủ và cơ hội Những cơ hội xảy đến, ví dụ những phát minh sáng tạo lớn, có thể tái cấu trúc lại ngành và mang lại cơ hội cho các công ty của một nước vượt lên những công ty khác Chính phủ, bằng cách lựa chọn các chính sách của mình, có thể làm giảm đi hoặc cải thiện lợi thế quốc gia
- K51
Trang 16Hình 1.1: Mô hình mối liên kết của bốn nhóm yếu tố
Nguồn: Porter, 1990 Theo lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của một nước trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản phụ thuộc vào bốn nhóm yếu tố và sự tác động từ phía Chính phủ và các cơ hội ngẫu nhiên:
Điều kiện các yếu tố sản xuất: Đây chính là trọng tâm của lý thuyết H-O, Porter đã thực sự phân tích kỹ các đặc tính của các yếu tố sản xuất và không đề xuất bất cứ nội dung gì hoàn toàn mới Sự phong phú dồi dào của các yếu tố sản xuất có vai trò nhất định đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia, các quốc gia có lợi hơn khi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố đầu vào mà quốc gia đó có nhiều Các doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh khi họ sử dụng các nhân tố đầu vào có chi phí thấp, chất lượng cao và có vai trò quan trọng trong cạnh tranh Porter thừa nhận sự phân cấp các yếu tố sản xuất, phân biệt giữa các yếu tố cơ bản (nguồn tài nguyên thiên nhiên, vi trí địa lý, khí hậu,…) và các yếu tố cao cấp (hệ thống hạ tầng viễn thông hiện đại, lao động có tay nghề và trình độ cao, bí quyết công nghệ) Trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, các yếu tố đầu vào sản xuất cũng bao gồm nhiều nhóm với thuộc tính khác nhau:
Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành
Trang 17 Nhóm đầu vào cơ bản bao gồm các loại giống, phân bón, các yếu tố môi trường tự nhiên, vốn hay lao động giản đơn Tầm quan trọng của đầu vào cơ bản trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày một giảm do nhu cầu sử dụng chúng giảm dần và khả năng cung ứng hoặc tiếp cận với chúng ngày càng mở rộng
Nhóm đầu vào cao cấp gồm công nghệ, lao động có tay nghề và trình độ cao, tính độc đáo của sản phẩm,… đang ngày càng thay đổi năng lực cạnh tranh và giúp các doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh trình độ cao
Ngoài ra, có loại đầu vào sử dụng chung cho tất cả các ngành như hệ thống đường cao tốc, vốn tín dụng, lao động có trình độ trung học Có đầu vào chuyên ngành chỉ phù hợp với một hoạc một số ít ngành như cơ sở hạ tầng có tính chất đặc thù, tri thức của một chuyên ngành cụ thể, kỹ năng cụ thể.Các đầu vào chuyên ngành có vai trò quyết đinh và bền vững hơn trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đầu vào chung Tính chất chuyên ngành hoặc cao cấp của đầu vào thay đổi theo thời gian và sự khác biệt giữa các nước, khu vực Nhìn chung, so với các đầu vào có nguồn gốc từ điều kiện tự nhiên, các đầu vào do con người con người tạo ra
có tầm quan trọng lớn hơn trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh Do vậy, lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào việc tạo ra các đầu vào
Như vậy, việc chủ động về nguồn cung giống, phân bón, đầu tư lao động và phát triển dây chuyền sản xuất sẽ mang lợi thế cho một quốc gia trong việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu nông sản
Điều kiện về nhu cầu trong nước: Porter nhấn mạnh tới vai trò của cầu trong nước trong việc giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia Thông qua các tác động tĩnh và động, nhu cầu trong nước xác định mức đầu tư, tốc độ và động cơ đổi mới của các doanh nghiệp trong nước Ba khía cạnh của nhu cầu trong nước có ảnh hưởng lớn tới lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là: bản chất của nhu cầu, dung lượng và mô hình tăng trưởng của nhu cầu và cơ chế lan truyền nhu cầu trong nước
ra các thị trường quốc tế Sản phẩm nông sản là mặt hàng thiết yếu, vì thế các quốc gia đông dân và có dân số tăng nhanh thường có nhu cầu lớn đối với mặt hàng này
và có lợi thế cạnh tranh cao hơn các quốc gia khác Tuy nhiên, yếu tố quyết định quan trọng hơn tới năng lực cạnh tranh là khả năng lan truyền nhu cầu ra thị trường thế giới, tức là các sản phẩm nông sản do một nước sản xuất không chỉ đáp ứng nhu
- K51
Trang 18cầu trong nước mà còn thu hút sức mua của người dân các quốc gia khác Các quốc gia đông dân có lực lượng lao động dồi dào như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,… đang có thế mạnh rất lớn về nhu cầu đối với các mặt hàng nông sản
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Thuộc tính lớn thứ ba trong lợi thế cạnh tranh quốc gia về một ngành là sự hiện diện của các ngành hỗ trợ và liên quan Đối với mỗi doanh nghiệp, các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào cho chuối hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó, các ngành sản xuất liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những ngành mà sản phẩm của chúng mang tính chất bổ trợ việc chia sẻ hoạt động thường xuyên diễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp thị dịch vụ Nói chung, một quốc gia có lợi thế cạnh trnah trong nhiều ngành hỗ trợ
và nhiều ngành liên quan sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Đối với sản xuất nông sản thì các ngành cung cấp giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo về thực vật, máy móc, vật tư nông nghiệp và chuỗi dịch vụ phân phối, tiếp thị, quảng cáo, cho vay vốn hỗ trợ sản xuất là những ngành hỗ trợ trực tiếp và
có quan hệ mật thiết trong việc thúc đẩy sản xuất các mặt hàng nông sản và đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng Việc quan tâm và thúc đẩy các ngành hỗ trợ và liên quan sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho một nước trong sản xuất và xuất khẩu nông sản
Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh: Thuộc tính thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia đề cập về nội dung chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh trong phạm vi một quốc gia Môi trường cạnh tranh trong nước cũng thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sáng tạo sản phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó góp phần đẩy nhanh sự phát triển của ngành về quy mô và chất lượng sản phẩm Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹ năng tổ chức như trình độ học vấn và hướng đích của cán bộ quản lý, sức mạnh động cơ cá nhân, các công cụ ra quyết định, quan hệ với khách hàng, quan hệ giữa người lao động và bộ máy quản lý…tạo
ra lợi thế hoặc bất lợi cho doanh nghiệp
Các quốc gia đang phát triển và đông dân như Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc,…
có khá nhiều doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản và đa phần các doanh nghiệp bên cạnh phục vụ tiêu dùng trong nước còn đẩy mạnh xuất khẩu sang các
- K51
Trang 19quốc gia phát triển như Nhật Bản, Mỹ, EU, Điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh và đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược rõ ràng, tạo ra những lợi thế riêng để đứng vững và phát triển
Vai trò của Chính phủ đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia: Chính phủ có thể tác động tới lợi thế cạnh tranh của quốc gia thông qua bốn nhóm nhân tố xác định lợi thế cạnh tranh Các tác động của Chính phủ có thể là tích cực hoặc tiêu cực Chính phủ có thể tác động tới các điều kiện đầu vào thông qua các công cụ trợ cấp, chính sách thị trường vốn, chính sách giáo dục, y tế,… Vai trò điều hành của Chính phủ được xác định trên các mặt: định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế; môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế; điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng; kiểm tra và kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua sử dụng các công cụ ngân sách, thuế khóa, tín dụng,
Chính sách của hầu hết các nước hiện nay là tự do hóa, đẩy mạnh xuất khẩu Đối với các quốc gia mà nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như Việt Nam thì việc Chính phủ khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước chế biến nông sản xuất khẩu đã làm cho ngành xuất khẩu nông sản có cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh, vươn ra thị trường khu vực và thế giới
Vai trò của cơ hội: Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan đến tình trạng hiện tại của quốc gia và thường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công ty (và thường cả của Chính phủ) như: sự thay đổi bất ngờ về công nghệ, thay đổi về chi phí đầu vào như tăng giá đột ngột dầu mỏ, tăng mạnh của cầu thế giới hay khu vực, quyết định chính trị của các Chính phủ nước ngoài Các cơ hội ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là khi bối cảnh hội nhập và tự do hóa ngày càng mạnh mẽ như hiện nay Ví dụ, giá phân bón giảm mạnh có thể hạ thấp chi phí sản xuất để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh
Các cơ hội là rất quan trọng vì chúng tạo ra sựt hay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thế của những doanh nghiệp thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng mới để có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt
- K51
Trang 20Theo lý thuyết của M.Porter, các nước nên xuất khẩu sản phẩm của những ngành mà tại đó cả bốn thành phần của mô hình kim cương có điều kiện thuận lợi Tất cả các yếu tố phân tích ở trên sẽ cùng nhau tạo nên một hệ thống để duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia Sự tác động của các yếu tố này là tích cực hay tiêu cực sẽ phụ thuộc vào từng quốc gia Do đó, cần phải có sự đột biến đủ để thay đổi những
cơ sở của lợi thế và tạo ra đủ để cho phép một mô hình kim cương mới thay thế mô hình kim cương mới Nhìn chung, tự do hóa thương mại, xóa bỏ hàng rào thuế quan
và giảm dần các hàng rào phi thuế quan sẽ có hiệu ứng tích cực tới cả bồn yếu tố, nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành xuất khẩu nông sản trên trường quốc tế Tuy nhiên, lý thuyết của Porter vẫn cần được kiểm chứng bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác nhau Nội dung phân tích của lý thuyết chủ yếu dựa trên những tổng kết thực tiễn, những điều này cũng hoàn toàn có thể phát biểu cho các lý thuyết thương mại mới, lý thuyết về lợi thế so sánh và lý thuyết H-O Có lẽ chính xác nhất của từng lý thuyết này vốn lẽ là các nghiên cứu bổ sung lẫn nhau, chỉ giải thích một phần về mô hình thương mại quôc tế mà thôi Chúng ta không thể xác định được cụ thể việc sẵn có đầu vào cho sản xuất sẽ làm tăng lợi thế cạnh tranh lên bao nhiêu hay sự gia tăng sản lượng nông sản chế biến nước ta sản xuất sẽ đóng góp bao nhiêu vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành xuất khẩu nông sản nếu chỉ dựa vào lý thuyết này
1.1.4 Mô hình trọng lực (Mô hình hấp dẫn)
Mô hình hấp dẫn trong thương thương mại dựa trên cơ sở mô hình trọng lực hấp dẫn của Newton lần đầu tiên được ra áp dụng trong phân tích kinh tế bởi Timbergen vào năm 1962 với dạng đơn giản như sau:
=
Trong đó:
A: hệ số hấp dẫn, cản trở
: quy mô nền kinh tế nước i
: quy mô nền kinh tế nước j
: khoảng cách giữa hai nước
: hệ số thể hiện mức độ tác động của từng yếu tố trong mô hình
- K51
Trang 21Mô hình trọng lực là mô hình kinh tế lượng – là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước
và được sử dụng rất rộng rãi trong thương mại quốc tế
Đẩy Biên giới nước xuất khẩu Biên giới nước nhập khẩu Hút
Hình 1.2: Mô hình hấp dẫn trong thương mại quốc tế
Nguồn: Đào Ngọc Tiến (2008) Ban đầu mô hình hấp dẫn bị phê phán bởi nhiều nhà khoa học do chưa có căn
cứ lý thuyết nền tảng Tuy nhiên, sau đó đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh cho
cơ sở lý thuyết hàm chứa trong mô hình này.Có khá nhiều nghiên cứu chứng minh cho mô hình hấp dẫn dựa vào nền tảng là các lý thuyết cơ bản về thương mại quốc
tế như nghiên cứu của Jame E.Anderson (1979).Nghiên cứu này chỉ ra mô hình hấp dẫn có thể giải thích các luồng thương mại dựa trên sự khác biệt về công nghệ trong
mô hình của trường phái Ricardo, dựa trên sự khác biệt về sự sẵn có của các yếu tố
Nước nhập
khẩu
Nước xuất khẩu
lý xuất khẩu
Khoảng cách giữa hai quốc gia
Chính sách khuyến khích/quản
lý nhập khẩu
Sức mua của thị trường nước nhập khẩu
Các yếu tố ảnh hưởng đến cung
Các yếu tố hấp dẫn/cản trở
Các yếu tố ảnh hưởng
đến cầu Các yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại quốc tế
- K51
Trang 22đầu vào sản xuất trong mô hình H-O Tổng hợp lại, với việc xét đến nhiều yếu tố khác nhau tác động đến luồng thương mại cũng như việc dễ dàng trong việc lượng hóa các yếu tố đó để giải thích cho khía cạnh quy mô của các luồng thương mại quốc tế thì mô hình hấp dẫn ngày càng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu
về thương mại quốc tế Các yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại quốc tế được xếp vào 3 nhóm chính: nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cung, nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cầu và nhóm các yếu tố hấp dẫn/cản trở
Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cung: Nhóm này bao gồm GDP và dân số của nước xuất khẩu Khi hàng hóa được tạo ra àng nhiều thì khả năng xuất khẩu càng lớn và dân số của nước xuất khẩu cũng sẽ tỷ lệ thuận với kim ngạch nước xuất khẩu Dân số của mỗi quốc gia chính là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc sản xuất ra nhiều hàng hóa xuất khẩu
Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cầu: Nhóm này bao gồm GDP và dân số của nước nhập khẩu GDP của nước nhập khẩu càng lớn thì khả năng sản xuất của quốc gia đó tăng, càng khó khăn cho việc xâm nhập của hàng hóa nước ngoài Dân số nước nhập khẩu sẽ tỷ lệ thuận với lượng xuất khẩu vì dân số càng lớn thì nhu cầu về hàng hóa của quốc gia đó càng nhiều
Nhóm các yếu tố hấp dẫn hay cản trở: Nhóm này bao gồm chính sách của mỗi quốc gia trong việc khuyến khích hay cản trở luồng hàng của nước đối tác và khoảng cách về mặt địa lý giữa các quốc gia Một số biện pháp khuyến khích xuất khẩu của chính phủ không chỉ đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu mà còn tác động đến mức độ tập trung thương mại Yếu tố về khoảng cách địa lý ảnh hưởng đến cước phí vận chuyển thường khó thay đổi nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến mức độ tập trung thương mại
Tổng hợp lại các yếu tố được đưa vào mô hình hấp dẫn gần đây, một lần nữa khẳng định tác động của nhiều yếu tố tùy thuộc vào đối tượng cụ thể được nghiên cứu bới mỗi nghiên cứu với một mẫu lại cho những tác động trái chiều nhau
1.1.5 Lý thuyết về hiệp định thương mại tự do (FTA) và tác động của FTA đến xuất khẩu các nước thành viên
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số
- K51
Trang 23nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên Hiện nay, FTA còn có các nội dung mới xúc tiến và tự do hóa đầu tư, chuyển giao công nghệ, lao động và môi trường Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới, hiện có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực
Một FTA thông thường bao gồm những nội dung chính sau:
Tự do hóa thương mại: Thuế và các rào cản thương mại phi thuế
Ngày càng có nhiều mặt hàng được miễn hoặc giảm thuế và có lộ trình thích hợp cho việc cắt giảm FTA quy định cả về các biện pháp hạn chề định lượng
và các rào cản kỹ thuật thương mại khác và quy định về đơn giản hóa thủ tục hải quan
Tự do hóa thương mại dịch vụ: Các FTA ngày nay thường bao gồm cả thương mại hóa dịch vụ nghĩa là các nước tham gia hiệp định cam kết ở cửa thị trường cho nhau Tuy nhiên, phạm vi và mức độ mở cửa lớn hay nhỏ trong các FTA còn tùy thuộc vào quốc gia tham gia ký kết Ví dụ: Nếu FTA
có sự tham gia của Mỹ hay một số quốc gia phát triển thì mức độ tự do hóa rất cao hoặc tuyệt đối
Tự do hóa đầu tư: Cam kết tự do hóa hướng tới đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều, đặc biệt là các nước phát triển Nội dung của tự do hóa đầu tư bao gồm: quy định dỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư của nước đối tác và tạo điền kiện thuận lợi cho họ
Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết: Thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, viễn thông, nghiên cứu khoa học công nghê,…
Một số cam kết khác: Cam kết về việc sử dụng cơ sở dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ như các sản phẩm sinh học, dược phẩm, tin học,… Ngoài ra, trong các FTA khác còn có các vấn đề như mua sắm Chính phủ, cạnh tranh, môi trường và lao động
Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia một số FTA song phương, đa phương và khu vực như: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile, Hiệp định khu vực Thương mại tự
- K51
Trang 24do Asean (AFTA), Hiệp định thương mại tự do Asean – Hàn Quốc, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP),…
Lợi ích của các FTA là tạo ra môi trường thuận lợi và khuyến khích phát triển thương mại nội bộ khối, nhằm thúc đẩy thương mại các nước thành viên phát triển
do việc cắt giảm thuế quan và phi thuế quan sẽ làm giảm giá hàng xuất khẩu của các nước thành viên trên thị trường của nhau, tạo cho chúng có lợi thế cạnh tranh cao hơ
so với sản phẩm cùng loại của các nước thành viên của khối Bên cạnh đó, FTA giúp nâng cao sức cạnh tranh của nèn kinh tế các thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Hiệp định thương mại tự do tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và khuyến khích đầu tư nội bộ khối, bởi vì FTA tạo ra một thị trường thống nhất rộng lớn hơn so với thị trường một nước nên các nhà đầu tư nước ngoài sẽ sẵn sàng đầu tư khi có một thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn như vậy Các FTA có tác động đáng kể tới hoạt động xuất nhập khẩu của các nước thành viên thông qua quá trình tạo lập thương mại và chuyển dịch thương mại
Tạo lập thương mại: Tạo lập thương mại là phần kim ngạch thương mại tăng them do thành lập khu vực thương mại Tác dộng này sẽ xuất hiện khi một nước thành viên của FTA thay thế việc sản xuất một mặt hàng nội địa có chi phí cao bằng việc nhập khẩu mặt hang đó rẻ hơn từ các nước thành viên FTA, do việc rỡ bỏ hàng rào thuế quan khiến giá hàng hóa nhập khẩu thấp hơn chi phí cho việc sản xuất mặt hàng đó ở trong nước Tạo lập thương mại sẽ làm tăng phúc lợi kinh tế tổng hợp của các nước thành viên do việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cắt giảm các ngành
ít hiệu quả, tăng cường đầu tư vào các ngành công nghiệp dựa trên lợi thế so sánh Tạo lập thương mại sẽ khiến ngân sách Chính phủ giảm sút do mất đi một phần từ nguồn thu thuế nhập khẩu, các nhà sản xuất nội địa cũng sẽ giảm lợi nhuận
do đứng trước sự cạnh tranh gay gắt và thị phần bị chia sẻ cho các doanh nghiệp nước ngoài
Chuyển hướng thương mại: Tác động chuyển hướng thương mại sẽ diễn
ra khi các thành viên của FTA chuyển hướng nhập khẩu hàng hóa Việc dỡ bỏ thuế quan giữa các nước thuộc một FTA sẽ khiến giá nhập khẩu một mặt hàng nào đó từ các thành viên FTA thấp hơn giá nhập từ nước nằm ngoài FTA, do nước nhập khẩu
- K51
Trang 25vẫn duy trì một mức thuế quan cao đối với các nước không phải thành viên FTA Trong trường hợp này các nước phi thành viên sẽ bị thiệt hại từ việc thành lập một FTA nào đó
FTA sẽ tác động tới chuyển hướng thương mại bởi các nước thành viên sẽ tăng cường nhập khẩu hàng hóa của nhau do hàng rào thuế quan được cắt giảm Phần kim ngạch thương mại dịch chuyển từ nhà xuất khẩu ngoài khu vực sang nhà xuất khẩu thành viên của khu vực thương mại
1.2 Những vấn đề cơ bản về hàng nông sản
1.2.1 Nông sản là gì?
“Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng Sản phẩm nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và
ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất
là đất.” (vi.wikipedia.org)
Tại Việt Nam, nông nghiệp thường được hiểu là bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp, sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Các ngành thuộc lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản được đưa vào nhóm ngành công nghiệp Khác với định nghĩa của Việt Nam về hàng nông sản, WTO cho rằng nông sản bao gồm các mặt hàng từ chương 1 đến chương 24 trong
hệ thống thuế mã HS của Việt Nam, trong đó không bao cá và các sản phẩm từ cá, các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp
“Theo FAO, hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng hóa khác nhau bao gồm: nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm hàng thịt
và các sản phẩm từ thịt, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu mỡ, nhóm hàng sữa và các sản phẩm từ sữa, nhóm hàng nông sản nguyên liệu, nhóm hàng rau quả.” ( Definition of Agricultural Products – http://www.fao.org)
Mỗi quốc gia đều có một định nghĩa riêng về các mặt hàng nông sản.Trên thị trường thương mại thế giới, nông sản thường được chia làm 2 loại là nhóm các mặt hàng nông sản nhiệt đới và nhóm còn lại Nông sản nhiệt đới được hiểu là những
- K51
Trang 26sản phẩm từ cà phê, chè, ca cao; bông và các nhóm sợi khác như đay, lanh; các loại hoa quả như xoài, chuối, thanh long,… Hiện nay, các quốc gia đang phát triển trên thế giới đang chiếm ưu thế trong việc sản xuất các loại sản phẩm của nhóm hàng này
1.2.2 Đặc điểm của các mặt hàng nông sản
Nông sản là nhóm hàng nhạy cảm trong thương mại quốc tế, đây là mặt hàng thiết yếu đối với đời sống của con người và là hàng hóa thiết yếu cho sản xuất của mỗi quốc gia Hiện nay, số lượng các hiệp định mang tính dài hạn được ký kết giữa các chính phủ đang ngày càng tăng lên Điều này đã và đang thúc đẩy việc mua bán hàng hóa nông sản trên thị trường thế giới và khẳng định thêm vị trí chiến lược của nhóm hàng này Vấn đề an ninh lương thực luôn được các quốc gia đặc biệt chú trọng và hầu hết các nước đều hoạch định cho riêng mình các chính sách can thiệp vào sản xuất và xuất khẩu lương thực, cùng với đó đặc biệt quan tâm chính sách dự trữ lương thực và bảo hộ nông nghiệp
Hàng nông sản nhạy cảm hơn so với các mặt hàng công nghiệp bởi 2 lý do chính Thứ nhất, đại bộ phận dân cư có thu nhập thấp ở các quốc gia phát triển và đang phát triển chịu tác động đáng kể từ thương mại hàng nông sản Thứ hai, mỗi quốc gia đều có mong muốn đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong bối cảnh thị trường thể giới với nhiều biến động hiện nay
Quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa nông sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết – khí hậu và mang tính thời vụ Mỗi loại cây trồng có sự thích ứng với những điều kiện nhất định dẫn tới những mùa vụ khác nhau Giá của các mặt hàng nông sản cũng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố mùa vụ Giá bán hàng hóa nông sản rẻ hơn vào chính vụ khi số lượng các mặt hàng dồi dào, chủng loại phong phú và ngược lại, giá bán nông sản trên thị trường sẽ cao khi trái vụ
Hàng hóa nông sản rất nhạy cảm đối với các điều kiên ngoại cảnh như khí hậu, đất đai, nguồn nước, thời tiết Tất cả những sự thay đổi của điều kiên tự nhiên đều
có tác động tới sự phát triển của cây trồng, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng của hàng nông sản Đây là yếu tố người tiêu dùng đặc biệt quan tâm vì nó có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người Đây cũng chính là lý do vì sao nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới hiện nay đang đặt ra nhiều yêu cầu đối với hàng hóa nông
- K51
Trang 27sản nhập khẩu như tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng, xuất xứ,… Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp sản xuất nông sản nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng cần phải tìm ra giải pháp nhằm đáp ứng những yêu cầu này và
từ đó thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản cho nước mình Các mặt hàng nông sản cần được chế biến và bảo quản tốt để khắc phục sự không phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng khi hàng nông sản phụ thuộc rất nhiều vào mùa vụ và các yếu tố tự nhiên Đây
là khâu quan trọng và quyết định tới chất lượng các mặt hàng nông sản
Hàng hóa nông sản rất đa dạng và phong phú về chủng loại, có nguồn gốc khác nhau phù hợp với điều kiên thời tiết, khí hậu của mỗi địa phương Điều này dẫn tới việc các trang trại sẽ có những phương thức sản xuất khác nhau cho các giống nông sản Chất lượng sản phẩm là vấn đề quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản vì nhóm hàng này không mang tính đồng đều như các sản phẩm công nghiệp Mỗi quốc gia đều có những mặt hàng nông sản đặc trưng và chiến lược cho riêng mình Do sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên hầu hết các nước đều tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản để đáp ứng nhu cầu trong nước Tuy nhiên, do khoảng cách về công nghệ lớn nên nhiều nước đang phát triển còn chưa phát huy được hết lợi thế của mình trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, trong đó có Việt Nam khi mà các số lượng sản phẩm nông sản xuất khẩu chưa qua chế biến vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là cà phê, gạo, ca cao, hạt tiêu, điều, rau quả,…
Cà phê: Hiện nay, cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của nước ta và đang dần trở thành ngành sản xuất chủ lực của nền kinh tế quốc dân Trên thế giới có rất nhiều chủng loại cà phê, nhưng có thể phân thành 2 nhóm chính là cà phê vối và cà phê chè Tại Việt Nam, cà phê vối phát triển rất nhanh và đã đem lại nguồn thu lớn cho kinh tế nước nhà thông qua hoạt động xuất nhập khẩu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là nơi cung cấp cà phê chủ lực của nước ta với năng suất cao và chất lượng tốt
Hồ tiêu: Từ nhiều năm nay, Việt Nam được biết đến với tư cách là một nhà xuất khẩu hồ tiêu số một thế giới Cây hồ tiêu có nguồn gốc từ Ấn Độ, được trồng ở Việt Nam từ thế kỳ XVII Hiện nay, các tỉnh Bình Phước, Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Gia Lai,… là những tỉnh trọng điểm
- K51
Trang 28trồng hồ tiêu ở Việt Nam Cây hồ tiêu có khả năng chịu được nhiệt độ thấp khoảng 10oC, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ không khí 20-32oC, độ ẩm tương đối trên 70% Các cây hồ tiêu cần lượng mưa cao và cần có ánh sáng tán xạ Các giống hồ tiêu được trông phổ biến trong các tỉnh phía Nam như tiêu Sẻ, tiêu Ấn Độ, tiêu Trung, tiêu Phú Quốc,… Việc trồng tiêu phụ thuộc vào điều kiên khí hậu của từng địa phương nhưng thường là vào đầu mùa mưa Đất để trồng tiêu cần được bừa kỹ và xử lý mầm bệnh trước khi trồng
Gạo: “Gạo được hiểu là phần còn lại của hạt thóc sau khi đã tách bỏ các vỏ trấu, một phần hay toàn bộ cám và phôi Tùy theo kích thước, hình dạng hạt gạo, tỷ lệ gạo tấm, gạo được phân thành hạt rất dài, hạt dài, hạt trung bình và hạt ngắn Về mặt cảm quan, gạo phải có mùi vị, màu sắc đặc trưng cho từng loại gạo.” (nongsanviettuan.com, “Hàng nông sản xuất khẩu có đặc điểm gì”) Về phương thức bảo quản, gạo phải được cất trong kho theo từng lô, được tiếp xúc với gió tự nhiên khi trời nắng ráo và độ ẩm không khí không quá 80%
Rau quả: Rau quả là mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống con người, nó cung cấp các dưỡng chât cần thiết như vitamin B,E,… giúp đảm bảo sức khỏe Đối với loại hàng hóa này, độ tươi của sản phẩm được đặc biệt chú trọng, sau đó là hương vị, màu sắc và hình dáng sản phẩm Có rất nhiều hình thức để bảo quản rau quả xuât khẩu như: bảo quản bằng điều kiện thường, bảo quản lạnh, bảo quản bằng điều chỉnh khí quyển,…
Hàng hóa nông sản rất phong phú về chủng loại dẫn tới sự đa dạng về chất lượng của cùng một mặt hàng Thị yếu và nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường thế giới là rất khác nhau Một mặt hàng nông sản có thể được yêu thích ở thị trường này nhưng lại không được chấp nhận ở thị trường khác Do đó, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cần phải xác định rõ thị trường mục tiêu, khách hàng tiềm năng trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh, đầu tư
1.2.3 Vai trò của nông sản đối với nền kinh tế Việt Nam và tình hình xuất khẩu nông sản của nước ta
Ngành nông nghiệp đang đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước
ta, nó chiếm khoảng 20% GDP và thu hút 55% lao động cả nước với sự tham gia
- K51
Trang 29của hàng chục triệu hộ nông dân, hàng chục nghìn hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp trong nước Việt Nam có rất nhiều lợi thế trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và sản xuất nông sản nói riêng Tuy nhiên, việc đầu tư cho lĩnh vực này chưa thật sự đồng bộ, khâu thu mua, chế biến hàng hóa vẫn còn nhiều yếu kém Nếu khắc phục được những nhược điểm này, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất hàng nông sản lớn Trong cơ cấu xuất khẩu của nước ta, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta bao gồm dầu thô, dệt may, da giày, nông sản và thủy sản Hiện nay, Việt Nam có hàng chục mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mang tầm vóc quốc tế, trong đó đứng đầu là xuất khẩu hồ tiêu, tiếp theo là gạo, cà phê, cao su,…
Kim ngạch xuất khẩu của hồ tiêu năm 2014 đạt trên 1 tỷ USD, trong đó sản lượng chiếm trên 41% tổng sản lượng các nước trồng tiêu trên toàn thế giới và lượng xuất khẩu đạt 58% thị phần hồ tiêu toàn cầu Tốc độ xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam tăng mạnh trong những năm qua, đạt mức 15-20%/năm (vietnam.vnanet.vn, Hồ tiêu Việt Nam) Năm 2010, Việt Nam chỉ xuất khẩu hàng nông sản sang 18 thị trường nhưng con số này đã tăng lên 28 thị trường vào năm
2015 với tổng kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD, chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (www.nhandan.com, Động lực và triển vọng xuất khẩu nông sản Việt Nam) Trong năm 2015, giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chính của nước ta như cao su, cà phê, gạo,… giảm nhẹ do một số khó khăn về thời tiết, nhu cầu và giá cả trên thị trường Nhìn chung, xuất khẩu nông nghiệp nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng có nhiều điểm sáng tích cực Trong đó, có sự cải thiện đáng
kể trong cơ cấu theo hướng nâng cao tỷ lệ thành phẩm cao cấp và ứng dụng công nghệ trong sản xuất hàng hóa nông sản Bên cạnh đó, công tác bảo quản cũng được chú trọng hơn trước dẫn tới nâng cao giá trị cho các sản phẩm khi xuất khẩu ra thị trường thế giới
- K51
Trang 301.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và những vấn đề liên quan đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam
1.3.1 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
1.3.1.1 Quan hệ Việt Nam – EU
Quan hệ ngoại giao Liên minh châu Âu – Việt Nam được chính thức thiết lập vào ngày 28-11-1990, kể từ đây Việt Nam trở thành một trong những đối tác chính của EU tại khu vực Đông Nam Á Phạm vi hợp tác song phương trải rộng khắp các lĩnh vực từ các vấn đề chính trị, các thách thức mang tính toàn cầu tới kinh tế, thương mại đầu tư và phát triển Qua đó, EU đã đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Liên minh châu
Âu là một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của Việt Nam như giày dép, dệt may, nông sản, thủ công mỹ nghệ, đồ
gỗ dân dụng, thủy sản,… Đồng thời EU cũng là một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Một trong những dấu mốc quan trọng đầu tiên của mối quan hệ song phương là việc ký kết Hiệp định Hợp tác Khung (FCA) vào năm 1995, hiệp định cụ thể hóa 4 mục tiêu: đảm bảo các điều kiện và thúc đẩy
sự phát triển thương mại – đầu tư song phương, hỗ trợ sự phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam, tăng cường hợp tác kinh tế và hỗ trợ Việt Nam trong công tác bảo
vệ môi trường và quản trị bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Năm 2012, Hiệp định đối tác và Hợp tác toàn diện EU – Việt Nam (PCA) được ký kết, thể hiện cam kết của Liên minh châu Âu trong việc tiến tới mối quan hệ hiện đại, trên diện rộng và cùng có lợi với Việt Nam
Hiện nay, EU và Việt Nam vẫn không ngừng mở rộng hợp tác và thắt chặt quan hệ thương mại, kinh tế, chính trị, nhất là việc thiết lập các cơ chế đối thoại, trao đổi song phương giữa các nhà lãnh đạo cấp cao của hai bên để hợp tác cùng phát triển Quan hệ của Việt Nam với từng nước thành viên cũng từng bước phát triển với việc Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 7 nước thành viên chủ chốt trong tổng số 28 quốc gia của khối Tính đến năm 2015, 20 trong tổng số 28 nước thành viên đã thành lập Cơ quan đại diện ngoại giao tại Hà Nội, phản ánh vị thế chính trị
- K51
Trang 31quan trọng của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á Mối quan hệ song phương được khẳng định thêm bằng việc hoàn tất quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU toàn diện và đầy tham vọng – một dấu mốc quan trọng trong hợp tác thương mại, kinh tế và đầu tư giuwac Việt Nam và liên minh châu Âu EU đã tái khẳng định cam kết của mình trong việc hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Việt Nam trên nhiều phương diện và là nguồn đầu tư nước ngoài, nguồn tri thức và kỹ thuật chủ chốt Việt Nam.Theo tinh thần này, EU sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong chiến lược đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
EU hiện là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta trong nhiều năm liền.Trong giai đoạn 2010-
2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU có nhiều chuyển biến tốt, muwac tăng trưởng trung bình của giai đoạn là gần 20%/năm Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đạt 34,67 tỷ USD, là mức cao nhất của Việt Nam sang thị trường
EU trong những năm gần đây, tăng 7,16% so với năm 2013 (Tổng cục Hải quan, 2014) Kết thúc 11 tháng đầu năm 2015, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với hầu hết các châu lục đều tăng so với cùng kỳ năm 2014, trong đó, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và châu Âu đạt 42,85 tỷ USD, tăng 10,5% (Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, 2015) Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, số lượng sản phẩm, dịch vụ mang tính cạnh tranh và đối đầu trực tiếp rất ít Đức, Anh, Pháp, Hà Lan là những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam trong khối EU Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu sang Đức gần 7 tỷ USD (tăng 5% so với năm 2013), Anh là 4,06 tỷ USD (giảm 10% so với năm 2013), Hà Lan đạt 2,91 tỷ USD (tăng 5% so với năm 2013) (Tổng cục Hải quan, 2013) Đáng chú ý là 2 thị trường Áo và Latvia, tuy kim ngạch nhập khẩu hàng Việt Nam chưa cao nhưng có mức tăng trưởng kim ngạch trong giai đoạn 2010-2012 trên 100% cho thấy nhiều triển vọng trong thời gian tới (Tổng cục Hải quan,2010,2011,2012)
- K51
Trang 32Bảng 1.1: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam trong Liên minh châu Âu
giai đoạn 2010-2014(EU)
Quốc gia Kim ngạch xuất
khẩu năm 2014 (nghìn USD)
Thị phần của nước xuất khẩu Việt Nam (%)
Tăng trưởng giai đoạn 2010-2014 (%)
Nguồn: Tổng cục Hải quan 2010,2011,2012,2013,2014 Thương mại hai chiều Việt Nam – EU có xu hướng gia tăng, thặng dư mà Việt Nam được hưởng trong các giao dịch thương mại song phương với EU giúp cân bằng đáng kể thâm hụt thương mại lớn của nước ta với các nước khác Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta sang thị trường EU vẫn là những sản phẩm truyền thống có thế mạnh như dệt may, giày dép, cà phê, thủy hải sản, máy vi tính,…EU cũng đang dành cho Việt Nam chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) đối với một số mặt hàng xuất khẩu.Tuy nhiên, EU có thể rút lại ưu đãi bất cứ lúc nào nếu một ngành hàng nào đó của nước ta đạt được năng lực cạnh tranh nhất định Do đó, chương trình này không có tính ổn định và chỉ manh tính đơn phương
- K51
Trang 33Bảng 1.2: Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU (theo mã
HS 6 số)
Mã HS Mô tả hàng hóa Kim ngạch năm
2014 (nghìn USD)
% tăng trưởng so với năm 2013
090111 Cà phê chưa rang,
chưa khử chất phe-in
640411 Giày, dép thể thao,
giày tennis, giày bóng rổ, giày thể dục, giày luyện tập
và các loại tương
tự, có đế ngoài bằng cao su hoặc plastic
Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam Một phần không thể thiếu của mối quan hệ gắn bó Việt Nam – EU là lĩnh vực hợp tác phát triển.Thực tế Liên minh châu Âu cũng các nước thành viên của mình hiện đang là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam.EU đã công bố gói viện trợ trị giá
400 triệu Euro trong giai đoạn 2014-2020 với trọng tâm hướng tới quản trị công hiệu quả và lĩnh vực năng lượng EU cũng là nhà đầu tư lơn với 25 quốc gia thành viên đầu tư vào Việt Nam, tính đến 20/10/2015, có 1710 dự án từ các quốc gia
- K51
Trang 34thuộc Liên minh châu Âu còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 21,48 tỷ USD, chiếm 8,7% tổng dự án và chiếm 7,9% tổng vốn đầu tư đăng ký của
cả nước (Bộ Kế hoạch và đầu tư – Cục đầu tư nước ngoài, 16/11/2015).Các nhà đầu
tư quan tâm đến hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là ngành công nghiệp, xây dựng một số ngành dịch vụ điển hình Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên, trong qua hệ đầu tư, EU là đối tác đầu tư FDI hàng đầu vào Việt Nam
Về phía Việt Nam, dự án đầu tư của nước ta sang EU không nhiều sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh tế, chủ yếu tập trung vào một số nước như Anh, Đức, Hà Lan Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 18 dự án còn hiệu lực đầu tư vào Đức với tổng vốn đăng ký là 73,3 triệu USD, 3 dự án đầu tư vào Hà Lan với tổng vốn đăng ký là 5,7 triệu USD (Tổng cục Thống kê Việt nam, 2015a)
1.3.1.2 Tiến trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
Quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU đã chính thức kết thúc vào ngày 02/12/2015 tại Brussels – Bỉ Hai bên đã khẳng định
“Đây là thời khắc lịch sử trọng đại và là một dấu ấn đặc biệt kỷ niệm 25 năm quan
hệ ngoại giao giữa Việt Nam và EU” Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia đàm phán với nhiều đối tác thương mại và đầu tư trong một loạt các hiệp định thương mại tự do Việt Nam luôn chủ động trong việc tìm kiếm các cơ hội đàm phán FTA với các đối tác nằm ngoài khu vực Đông Nam Á như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU Trong đó, hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu được Chính phủ ưu tiên hàng đầu Như vậy, sau gần 3 năm đàm phán với 14 phiên chính thức cùng nhiều phiên giữa kỳ ở các cấp Bộ trưởng,và chỉ sau 4 tháng kết thúc tuyên bố đàm phán cơ bản, EVFTA sẽ sớm được ký kết, làm thủ tục phê chuẩn hiệp định và đi vào thực thi cam kết Việt Nam và EU đều mong muốn hoàn tất quá trình phê chuẩn trong thời gian sớm nhất để hiệp định có thể có hiệu lực ngay từ đầu năm 2018
Với mức độ cam kết đã đạt được, EVFTA là một hiệp định toàn diện, chất lượng rất cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng
đã lưu ý đến chênh lệch trình độ phát triển kinh tế Qua các phiên đàm phán, Việt
- K51
Trang 35Nam và EU đã trao đổi và hiểu rất rõ cách tiếp cận, quan điểm và mong muốn của nhau trong các vấn đề Các nội dung chính của hiệp định bao gồm:
- Thương mại hàng hóa
- Quy tắc xuất xứ
- Thương mại dịch vụ và đầu tư
- Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS)
- Thuận lợi hóa hải quan
- Phòng vệ thương mại
- Hàng rào kỹ thuât trong thương mại (TBT)
- Cạnh tranh doanh nghiệp Nhà nước
- Sở hữu trí tuệ
- Mua sắm của Chính phủ
- Phát triên bền vững
- Thể chế và pháp lỹ
- Hợp tác và xây dựng năng lượng
- Bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư
Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam – EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại Đặc điểm nổi bạt trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu là tính bổ sung mạnh mẽ Do đó, EVFTA được dự đoán sẽ mang lại nhiều tác động tích cực chocả Việt Nam và EU, trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích kinh tế.(Báo điện tử, Bộ Công Thương)
EVFTA được kỳ vọng sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư với các dự án chất lượng cao của EU và các đối tác khác vào Việt Nam, Việt Nam có cơ hội trở thành địa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU trong khu vực Điều này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tích cực của Việt Nam Ngoài ra, việc ký kết FTA với một đối tác phát triển cao như EU cũng sẽ mở ra nhiều cơ hội tiếp cận nguồn công nghệ hiện đại, học hỏi kỹ năng quản lý, nâng cao tay nghề, tạo thêm việc làm cho người lao động, giúp ổn định an sinh – xã hội cho Việt Nam
- K51
Trang 36So với các hiệp định thương mại tự do trước đây mà Việt Nam tham gia, EVFTA sẽ là một hiệp định thương mại tự do hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với các nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới cũng như xu thế ký kết hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương hiện nay
1.3.2 Những cam kết liên quan đến hàng nông sản và hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Việt Nam và EU đã công bố kết thúc quá trình đàm phán và toàn bộ nội dung
cơ bàn trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) sau 14 phiên đàm phán chính thức Cả hai bên cam kết sẽ nhanh chóng hoàn tất các thủ tục để tiến tới phê chuẩn hiệp định Trong EVFTA, có một số cam kết liên quan tới hàng nông sản, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản của nước ta:
- Gạo: Liên minh châu Âu cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch đáng kể đối với mặt hàng gạo xay xát, gạo chưa xay và gạo thơm, theo đó thì gạo nhập khẩu sẽ được miễn thuế hoàn toàn Đối với gạo tấm, hạn ngạch sẽ được xóa
bỏ theo lộ trình EU cam kết sẽ đưa thuế nhập khẩu đối với mặt hàng gạo trong vòng 7 năm
- Rau củ quả: Đối với các sản phẩm rau củ quả, rau của quả chế biến và nước hoa quả về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan khi hiệp định có hiệu lực
- Ngô ngọt và tinh bột sắn: EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch đáng kể đối với các mặt hàng này
Trên đây là những cam kết chính từ phía Liên minh châu Âu dành cho Việt Nam trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU đối với các mặt hàng nông sản Đây là một cơ hội lớn cho nước ta trong hoạt động xuất khẩu nông sản khi EU
là một đối tác tiềm năng với quy mô thị trường lớn và sức mua ổn định Vấn đề đặt
ra là các doanh nghiệp Việt Nam cần phải biết tận dụng cơ hội, học hỏi kinh nghiệm
và ứng dụng các công nghệ hiện đại của các quốc gia phát triển để góp phần nâng cao giá trị các sản phầm nông sản của nước ta khi xuất khẩu ra thị trường thế giới HỘ I CÁN
- K51
Trang 37CHƯƠNG 2: HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM
2.1 Thực trạng ngành nông sản Việt Nam và các nhân tố tác động tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường EU
Liên minh châu Âu EU hiện đang là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam về quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư Vì vậy, việc ký kết hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU sẽ tác động không nhỏ đối với nền kinh tế nước
ta Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, năm 2013, EU đã vươn lên vị trí thứ nhất và trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta, với kim ngạch đạt 24,33 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm 2012 và chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước (Tổng cục thống kê, 2013) Một số mặt hàng chủ lực xuất khẩu vào thị trường EU chiếm tỷ trọng cao như: dệt may, giầy dép và các mặt hàng nông sản, đặc biệt là cà phê Tuy vậy, quan hệ thương mại hai bên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Vì thế, ký kết thành công FTA giữa Việt Nam và EU được kỳ vọng sẽ mở ra một trang mới cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam sang thị trường
EU
Hiện tại, chỉ tính riêng các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả, chế biến gỗ, cao su,… thì nước ta có khoảng 6.610 doanh nghiệp và hàng loạt hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản Trong đó, chế biến lúa gạo có 582 doanh nghiệp, chiếm 8,8% tổng số doanh nghiệp cả nước; chế biến cà phê có 239 doanh nghiệp, chiếm 3,6%,… Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản Một số địa phương có ít ngành hàng có doanh nghiệp chế biến như Lạng Sơn, Bắc Kan, Phú Thọ; trong đó có 4 địa phương là thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đồng Nai, Bình Dương có nhiều doanh nghiệp chế biến nhiều loại mặt hàng nông sản Điều đáng nói là có đến 88,89% số tỉnh, thành phố có trên 100 doanh nghiệp chế biến nông sản hoạt động là ở khu vực phía Nam Chỉ có 2 tình, thành phố phía Bắc có trên 100 doanh nghiệp chế biến nông sản là Hà Nội và Bắc Ninh, với 289 và 102 doanh nghiệp (Dự án điều tra thực trạng chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản trong các loại hình tổ chức sản xuất – Viện QH và Thiết kế nông nghiệp, 2013)
- K51
Trang 38Bảng 2.1: Số lƣợng doanh nghiệp chế biến nông sản phân theo ngành hàng
Nguồn: Dự án điều tra thực trạng chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản trong các
loại hình tổ chức sản xuất – Viện QH và Thiết kế nông nghiệp, 2013
Đa phần các doanh nghiệp chế biến nông sản là các doanh nghiệp dân doanh Số doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài tương đối thấp.Chế biến cao su là ngành có nhiều doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nhất Số doanh nghiệp có sở hữu nhà nước chiếm 21,77% tổng số doanh nghiệp chế biến trong ngành Ngành chế biến cà phê và chế biến chè có doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước xấp xỉ nhau, chiếm 10,88% và 10,51% tổng số doanh nghiệp chế biến trong ngành Trong khi đó, ngành chế biến hồ tiêu hầu như không có doanh nghiệp chế biến nhà nước nào tham gia trong lĩnh vự chế biến Điều này cho thấy có 4 ngành hàng là lúa gạo, cà phê, cao su và chè đang được nhà nước quan tâm đầu tư hơn các ngành chế biến khác
Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài đang đầu tư mạnh vào ngành chế biến rau quả và chế biến hồ tiêu Do vậy, số lượng các doanh nghiệp FDI trong 2 lĩnh vực này cao hơn hẳn các lĩnh vực chế biến nông sản khác Các doanh nghiệp có sở hữu ngoài nhà nước đang chiếm tỷ lệ áp đảo trong lĩnh vực chế biến nông sản nói chung Đây cũng là xu thế phát triển tất yếu của sản xuất hiện nay
Hầu hết các doanh nghiệp chế biến nông sản đều có quy mô nhỏ và sử dụng ít lao động Bình quân số lao động cho một danh nghiệp chế biến nông sản chỉ khoảng
154 người Doanh nghiệp chế biến cao su có bình quân lao động cao hơn so với các
- K51
Trang 39ngành hàng khác với 496 người/doanh nghiệp, trong khi đó doanh nghiệp chế biến lúa gạo và chè sử dụng ít lao động nhất (62 và 81 người/doanh nghiệp) Các doanh nghiệp chế biến trong những ngành hàng khác đều chỉ sử dụng khoảng 130-160 lao động mỗi doanh nghiệp Trong đó, lao động trong ngành chế biến chè và điều tạo ra khối lượng thấp nhất, dưới 10 tấn sản phẩm/năm Trong khi các doanh nghiệp trong lĩnh vực còn lại đều tạo ra khối lượng sản phẩm dao động trong khoảng 12,6-73,5 tấn sản phẩm/năm (Dự án điều tra thực trạng chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản trong các loại hình tổ chức sản xuất – Viện QH và Thiết kế nông nghiệp, 2013)
Để phân tích các cơ hội và thách thức đối với ngành xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực, trước hết cần
có cái nhìn tổng quát về thực trạng phát triển của ngành và tìm ra các nhân tố tác động tới giá trị hàng nông sản, tận dụng tối đa cơ hội để đưa sản phẩm Việt Nam sang thị trường châu Âu
2.1.1 Thực trạng ngành nông sản của Việt Nam
2.1.1.1 Tổng quan ngành nông sản Việt Nam
Từ ngàn xưa nông nghiệp đã là ngành kinh tế quan trọng của Việt nam.Các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn về cả chủng loại, mẫu mã và ngày một hoàn thiện hơn về mặt chất lượng Từ một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân thì giờ đây nông nghiệp Việt Nam không những cung cấp đủ lương thực thực phẩm cho thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế Nhà nước ta đã xác định nông sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế đất nước.Nông sản là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sản đó như: lúa, rau, trái cây, hạt tiêu,… Việt Nam là một nước nông nghiệp với điều kiện khí hậu, thổ những tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng nông sản phát triển.Một số mặt hàng nông sản đã là thế mạnh của Việt Nam trong thới gian qua như: gạo, cà phê, chè, tiêu, hạt điều,… Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới, hàng nông sản của Việt Nam đã có mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trê thế giới, trong đó có những thị trường lớn và khó tính như EU, Mỹ và Nhật Bản Thực
- K51
Trang 40tế đã chứng minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường thế giới Tuy nhiên, để hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên những thị trường lớn này là một thách thức không dễ vượt qua
Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng và đã tạo thế ổn định cho cả nền kinh tế.Nông nghiệp và xuất khẩu nông sản
đã thể hiện rõ vai trò là nền tảng và tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trên trường quốc tế.Tuy nhiên, ngành nông sản của Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn
và thách thức khi nước ta đang trên đường hội nhập và tham gia vào các FTA lớn như EVFTA, TPP,…Khi tham gia vào sân chơi quốc tế, Việt Nam luôn có những
cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh, giá trị xuất khẩu nông sản với nước khác.Vấn đề
đặt ra là Việt Nam cần phải biết nắm bắt và tận dụng triệt để cơ hội
2.1.1.2 Tiềm năng sản xuất hàng nông sản ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có rất nhiều điều thuận lợi để sản xuất các mặt hàng nông sản, tiềm năng của nước ta được thể hiện ở các điểm sau:
Về khí hậu: Khí hậu ở Việt nam rất đa dạng và có sự phân hóa rõ ràng từ Bắc vào Nam, tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại cây trồng Ngoài ra, tiềm năng về độ ẩm, nhiệt độ và gió dồi dào phân bố đồng đều cũng giúp thúc đẩy các loại cây trồng phát triển Việt Nam có số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn dẫn tới nền nhiệt cao Cùng với đó là độ ẩm không khí trong năm trung bình trên 80% và lượng mưa dồi dào, tất cả đều là tiềm năng cho sản xuất nông sản
Về đất đai: Việt Nam có tiềm năng đất nông nghiệp rất lớn, trong đó diện tích đất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long được đưa vào
sử dụng khá cao Tuy nhiên, tình trạng thâm canh trong nông nghiệp vẫn còn yếu kém, đặc biệt là hệ thống thủy lợi Các cơ quan chức năng cần có các biện pháp khai thác cũng như đầu tư hợp lý để thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu
Về nguồn nhân lực: Theo Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam hiện nay là khoảng 90 triệu người và số dân sống bằng nghề nông chiếm tỷ lệ cao Nước
ta có lực lượng lao động dồi dào để cung cấp cho ngành nông nghiệp nói
- K51