Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác quốc tế về KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội trong nước, hợp tác KH&CN đã được đưa vào nội dung ưu tiên của “Chiến lược phát triển khoa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ĐẨY MẠNH HỢP TÁC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA
TRONG BỐI CẢNH MỚI
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Diệu Hiền
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH MỚI 4
1.1.Khái niệm và phân loại 4
1.1.1.Khoa học 4
1.1.2.Công nghệ 4
1.1.3.Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ 7
1.2.Hợp tác khoa học – công nghệ là xu thế tất yếu 8
1.2.1.Các mô hình và lý thuyết kinh tế 8
1.2.2.Lý giải từ thực tế nhu cầu của Việt Nam 10
1.2.3.Lợi ích về chính trị 12
1.3.Các hình thức và kênh hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ 12
1.3.1.Các hình thức hợp tác 12
1.3.2.Các kênh hợp tác 14
1.4.Các nhân tố tác động đến hợp tác khoa học và công nghệ 15
1.5.Chủ thể tham gia hợp tác KH&CN 17
1.6.Ảnh hưởng của hợp tác khoa học – công nghệ đến các chủ thể tham gia 19
1.6 Kinh nghiệm từ hợp tác KH&CN giữa LB Nga và Trung Quốc 21
1.6.1.Sự cần thiết của việc học hỏi kinh nghiệm hợp tác khoa học và công nghệ Nga – Trung 21
1.6.2.Hợp tác KH&CN và chuyển giao công nghệ giữa Trung Quốc và LB Nga 22
1.6.3.Kinh nghiệm cho Việt Nam 26
- K51
Trang 3VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA 29
2.1.Sự cần thiết của hợp tác KH&CN với Liên Bang Nga trong bối cảnh mới 29
2.1.1.Bối cảnh hoạt động hợp tác khoa học công nghệ Việt Nam – Liên Bang Nga 29
2.1.2.So sánh khả năng phát triển KH&CN của Nga và Việt Nam 34
2.1.3 Thực trạng phát triển khoa học công nghệ của Liên Bang Nga 38
2.1.4 Thế mạnh KH&CN của LB Nga hiện nay và nhu cầu của Việt Nam 48
2.2.Thực trạng hoạt động hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam - LB Nga 51
2.2.1.Các giai đoạn hợp tác khoa học – công nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 51
2.2.2.Điển hình của hợp tác khoa học – công nghệ Việt Nam và Liên Bang Nga 55
2.3.Đánh giá 55
2.3.1.Thành tựu đạt được trong hoạt động hợp tác khoa học – công nghệ Việt Nam và Liên Bang Nga 55
2.3.2.Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong hợp tác khoa học – công nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 66
2.3.3.Nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam đối với sản phẩm KH&CN của LB Nga 68
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HỢP TÁC KH&CN VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 71
3.1 Định hướng hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga 71
3.2 Giải pháp 73
3.2.1 Xác định chiến lược hợp tác ngắn và dài hạn 73
3.2.2 Đẩy mạnh cơ sở phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 74
3.2.3 Xây dựng website và mở sản giao dịch công nghệ nhằm cung cấp thông tin cập nhật, quảng bá thông tin các sản phẩm công nghệ của hai nước, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa, hỗ trợ kết nối giữa các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp 74
3.2.4 Kêu gọi vốn đầu tư tư nhân: Xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu có tiềm năng; 75
- K51
Trang 4lãm nhằm khuyến khích và thúc đẩy hợp tác chuyển giao công nghệ 75
3.2.6 Tăng cường hợp tác trong giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: 76
3.2.7 Phát triển thị trường khoa học công nghệ (techmart) tạo điều kiện thuận lợi cho việc thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ 77
3.2.8 Thúc đẩy các chương trình hợp tác KH&CN ở cấp độ doanh nghiệp 78
3.2.9 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách 78
3.2.10 Nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học công nghệ nói chung và hợp tác KH&CN nói riêng trong phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng đời sống xã hội đối với lãnh đạo, doanh nghiệp, cá nhân và toàn xã hội 80
3.2.11 Chủ động khai thác lợi ích và phát huy vai trò của các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên 81
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87
- K51
Trang 5Từ viết tắt Tên Tiếng Anh Nghĩa Tiếng Việt
ASEAN Association of South East Asian
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại
tư do GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GII Global Innovation Index Chỉ số đổi mới sáng tạo
toàn cầu
EAEU The Eurasian Economic Union Liên minh Kinh tế Á-
Âu
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
ROSSTAT Russian Federal State Statistics
NC&PT Nghiên cứu và phát
triển
- K51
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Các thành phần của công nghệ 6
Hình 1.2: Cơ sở của hợp tác khoa học và công nghệ giữa các quốc gia 15
Hình 1.3: Cơ sở của hợp tác khoa học và công nghệ giữa các doanh nghiệp 16
Hình 1.4: Chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực KH&CN trong một quốc gia 18
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Tác động của hợp tác khoa học – công nghệ đối với bên có nền KH&CN kém phát triển hơn (thường là bên nhận chuyển giao công nghệ) 20
Bảng 1.2: Tác động của hợp tác khoa học – công nghệ đối với bên có nền KH&CN phát triển (thường là bên chuyển giao công nghệ) 21
Bảng 1.3: Tổng số du học sinh tại các trường đại học LB Nga phân theo quốc gia 26
Bảng 2.1: So sánh một số tiêu chí của Việt Nam và LB Nga 35
Bảng 2.2: So sánh các yếu tố đầu vào và đầu ra trong đánh giá trình độ phát triển KH&CN của Nga và Việt Nam 36
Bảng 2.3: Số lượng các cơ sở nghiên cứu khoa học và sáng tạo tại LB Nga 41
Bảng 2.4: Nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ tại LB Nga giai đoạn 2000-2014 43
Bảng 2.5: Đầu tư của LB Nga vào Việt Nam theo ngành 65
(tính các dự án còn hiệu lực đến 20/2/2016) 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Chi phí cho NC&PT từ ngân sách Liên Bang Nga 39
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ chi cho NC&PT so với GDP Liên bang Nga 40
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu chi ngân sách LB Nga cho theo lĩnh vực khoa học 41
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu các tổ chức khoa học công nghệ theo hình thức thành lập 42
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu lĩnh vực đầu tư trên sàn IPOboard 45
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu xuất nhập khẩu công nghệ theo các nhóm nước 46
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu loại sản phẩm công nghệ một số doanh nghiệp Việt Nam hiện đang có nhu cầu 70
- K51
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thế giới Nghiên cứu của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo với năng lực cạnh tranh quốc gia Chính bởi vai trò ngày càng quan trọng của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy, nếu như Hiến pháp năm 1992 khẳng định khoa học và công nghệ “giữ vai trò then chốt, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước”, thì Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh hơn nữa, rằng KH&CN là “quốc sách hàng đầu”của nước ta
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng và cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, kèm theo đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và
sự xuất hiện ngày càng nhiều thách thức trên quy mô toàn cầu từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đến vấn đề đảm bảo an ninh quốc phòng…, không có một quốc gia nào
dù là quốc gia phát triển nhất có đủ nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để phát triển tất cả các lĩnh vực khoa học công nghệ cũng như một mình giải quyết được các vấn đề trên
Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác quốc tế về KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội trong nước, hợp tác KH&CN đã được đưa vào nội dung
ưu tiên của “Chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2020” Theo
số liệu của Bộ Khoa học và công nghệ, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác KH&CN với hơn 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ, đã ký kết và đang thực hiện hơn 80 hiệp định cấp Chính phủ và cấp Bộ Trong đó, hợp tác KH&CN với Liên Bang Nga được xem là một trong những trụ cột của hợp tác quốc tế về KH&CN với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác của Việt Nam
Năm 2014, Việt Nam và Liên Bang Nga đã ký kết Hiệp định đối tác chiến lược toàn diện về giáo dục và khoa học công nghệ, thể hiện mong muốn của Chính phủ hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác về KH&CN lên tầm cao mới Tuy nhiên,
so với bề dày truyền thống, thiện chí của hai bên và tiềm năng vốn có của hai nước thì kết quả hợp tác đạt được vẫn còn khá khiêm tốn Một số dự án hợp tác với Liên
- K51
Trang 8Bang Nga hiện đang gặp nhiều khó khăn, có nguy cơ chậm tiến độ Trước cơ hội đến từ Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á- Âu, trong đó Nga là thành viên chủ chốt, cũng như trước tình hình kinh tế quốc tế biến động như hiện nay, Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực hơn nữa
để tận dụng một cách hiệu quả lợi ích kinh tế từ FTA với EAEU cùng những lợi thế trong hợp tác với Liên Bang Nga nhằm nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ, từ
đó nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng sản phẩm của các doanh nghiệp, và năng
lực cạnh tranh quốc gia Xuất phát từ tình hình trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Đẩy
mạnh hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh mới” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoa luận: vấn đề đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: tình hình hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai nước, chủ yếu trong giai đoạn 1991-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử làm nền tảng trong quá trình phân tích và kết luận các vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin và tổng hợp phân tích số liệu: đề tài đã kế
thừa, sử dụng số liệu dựa trên các nguồn thông tin thứ cấp như số liệu, thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức thống kê, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài, các cơ quan quản lý khoa học và công nghệ tại Việt Nam và Liên Bang Nga, trao đổi trực tiếp tham khảo ý kiến của một số tổ
- K51
Trang 9chức và doanh nghiệp trong lĩnh vực KH&CN của Việt Nam đang hợp tác với Liên Bang Nga
- Phương pháp điều tra xã hội học: với các đối tượng điều tra là một số các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, sản xuất, cung cấp dịch vụ tư vấn hoặc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trên địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Thái Nguyên tạo cơ sở tham khảo và phân tích nhu cầu của các doanh nghiệp Việt Nam đối với sản phẩm khoa học công nghệ được sản xuất tại Liên Bang Nga, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp
5 Kết cấu của khóa luận
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp tác khoa học và công nghệ trong
bối cảnh mới
Chương 2: Thực trạng hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và
Liên Bang Nga
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hợp tác khoa học và công
nghệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong bối cảnh mới
- K51
Trang 10CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾVỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆTRONG BỐI CẢNH MỚI 1.1 Khái niệm và phân loại
1.1.1 Khoa học
Ngày nay, những cụm từ như “khoa học công nghệ”, “đổi mới, chuyển giao công nghệ” hay các “start up trong lĩnh vực công nghệ” đã không còn xa lạ với chúng ta Vậy, “khoa học” và “công nghệ” bản chất là như thế nào? Hai từ thường được sử dùng cùng nhau, liệu hai khái niệm này có cùng một nội hàm hay không?
Theo Luật Khoa học và công nghệ 2013, “khoa học” là hệ thống tri thức về
quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Phân loại khoa học
Dựa trên tiêu chí: phương pháp hình thành khoa học hay chính là cách tiếp nhận hệ thống tri thức, chúng ta có có chia khoa học ra thành khoa học từ thực nghiệm, từ lý thuyết và từ các hiện tượng tự nhiên
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, Bộ Khoa học và công nghệ nước ta đã ban hành “Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ” kèm theo quyết định số 12/2008 Theo đó có 6 lĩnh vực khoa học chính như sau: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học y dược, khoa học xã hội và khoa học nhân văn
1.1.2 Công nghệ
Trong thời đại ngày nay, chúng ta thường xuyên được tiếp cận với rất nhiều sản phẩm công nghệ; các cụm từ “đổi mới công nghệ”, “công nghệ số”, “công nghệ nhà thông minh”… Vậy “công nghệ” là gì?
“Công nghệ” có nguồn gốc từ 2 thuật ngữ trong tiếng Hy Lạp, đó là
“techne” và “logos” “Techne” là kỹ năng, cách thức, phương pháp để làm ra một cái gì đó, còn “logos” có nghĩa là kiến thức về một điều gì đó Vì vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, technology chính là kiến thức về kỹ năng làm ra một cái gì đó
- K51
Trang 11Như vậy giữa “công nghệ” và “kỹ thuật” có sự khác nhau như thế nào?
Kỹ thuật là một kỹ năng cần thiết để thực hiện một nhiệm vụ đặc thù Công nghệ có tầm bao quát rộng hơn kỹ thuật, có nội hàm rộng hơn so với “kỹ thuật”, nó bao gồm cả yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật Sự chuyển giao giữa hai công ty bao giờ cũng là chuyển giao công nghệ, không bao giờ chỉ là chuyển giao kỹ thuật
Theo bách khoa toàn thư, công nghệ hiểu theo nghĩa rộng là hệ thống các
phương pháp, quy trình và vật liệu được sử dụng trong một lĩnh vực, hoặc là mô tả khoa học về sản xuất kỹ thuật, còn về nghĩa hẹp, công nghệ là tập hợp quy trình bao gồm tổ chức, thực hiện nhằm chế tạo, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh với chi phí hợp lý đáp ứng nhu cầu hiện tại của xã hội
Một định nghĩa về công nghệ chúng ta có thể thấy trong luật Khoa học công
nghệ ban hành năm 2013: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có
kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP)của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm về công nghệ như sau: Công nghệ là kiến thức có hệ thống
về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Có thể thấy, song song với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với đó là sự mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa các nước trên thế giới, quan niệm “công nghệ” cũng được mở rộng Ngày nay, công nghệ không chỉ được hiểu đơn thuần là kỹ thuật để sản xuất ra một sản phẩm mà còn là kiến thức, kỹ năng để sử dụng, vận hành, quản lý, sáng tạo ra nó và tất cả công nghệ đều có thể mua bán, trao đổi được trên thị trường Công nghệ giờ đây, không chỉ bó hẹp trong các ngành kỹ thuật mà còn mở rộng ra lĩnh vực kinh doanh, dịch
vụ, như: công nghệ ngân hàng, công nghệ trong hoạt động du lịch…
Theo Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình
Dương (The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology – APCTT) công
nghệ gồm 4 thành phần cấu thành, đó là: kỹ thuật, kỹ năng con người, thông tin và
tổ chức Các thành phần trên luôn tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau
- K51
Trang 12Hình 1.1: Các thành phần của công nghệ
Nguồn: Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á và Thái Bình Dương
- Phần kỹ thuật (Technoware) bao gồm cơ sở hạ tầng, thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện, công cụ Đây là phần cốt lõi của bất cứ công nghệ nào
- Phần kỹ năng (Humanware) bao gồm kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm của con người
- Phần thông tin (Inforware) bao gồm các dữ liệu về kỹ thuật và con người được tư liệu hóa sử dụng trong công nghệ như: sơ đồ, số liệu, bản vẽ kỹ thuật, số liệu về cách thức vận hành, bảo dưỡng Hiện nay, phần thông tin còn bao gồm cả thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghệ
- Phần tổ chức (Orgaware) bao gồm sự phối hợp giữa các cá nhân, sự
bố trí sắp xếp, quy trình đào tạo công nhân…Phần tổ chức có vai trò kết nối 3 phần trên lại với nhau, điều hòa, đảm bảo vận hành đồng bộ, phát huy khả năng của 3 phần đó và đạt hiệu quả cao
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu lại chia công nghệ được chia làm 2 phần: phần cứng và phần mềm Phần cứng được hiểu là máy móc, thiết bị, dụng cụ, nhà xưởng Phần mềm bao gồm con người (đội ngũ nhân công, kỹ năng, kinh nghiệm), thông tin (dữ liệu, thuyết minh, mô tả sáng chế, sơ đồ), tổ chức (quan hệ,
bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ cho hoạt động, phân chia nguồn lực, lập kế hoặch, kiểm tra, điều hành)và phần bao tiêu (nghiên cứu khảo sát thị trường đầu ra)
O
T H
- K51
Trang 13Qua nghiên cứu các khái niệm và thành phần cấu tạo, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát về công nghệ như sau: công nghệ là tập hợp hệ thống kiến thức, kỹ năng, giải pháp, bí quyết, kết quả của khoa học nhằm mục đích biến nguồn tài nguyên (vật chất, trí tuệ) thành các sản phẩm
Chúng ta có thể tóm tắt định nghĩa về công nghệ qua hình minh họa sau:
Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ
Như vậy, thông qua quá trình phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy khoa học và công nghệ là hai phạm trù khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khoa học là quá trình khám phá ra tri thức; công nghệ là việc áp dụng tri thức đó nhằm mục đích tạo ra sản phẩm Nếu như thời kỳ đầu, công nghệ thường
đi trước khoa học, thì giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay, khoa học và công nghệ đã gắn liền với nhau Có những lĩnh vực khoa học vượt trước đẩy nhanh tiến bộ công nghệ, khoảng cách thời gian từ khoa học đến công nghệ được rút ngắn Ngược lại, tiến bộ công nghệ thúc đẩy và tạo điều kiện cho khoa học phát triển nhanh Chính
vì vậy, ngày nay chúng ta thường sử dụng hai thuật ngữ đi liền với nhau: “khoa học và công nghệ”
1.1.3 Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ
Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Tuy nhiên thông qua việc tổng hợp và phân tích khái niệm được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu, chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát
Theo PGS.TS Đỗ Hương Lan, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ là một trong những hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế Đây là một hình thức khá non trẻ so với các hình thức lâu đời khác như thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế hay di chuyển sức lao động quốc tế
Tài
nguyên Công nghệ
Sản phẩm Máy móc, phần mềm, thương mại, thông tin, dịch vụ…
- K51
Trang 14Theo TS.Vũ Tuấn Hưng, hợp tác khoa học công nghệ có thể được coi là một hoạt động chung của các chủ thể khoa học công nghệ cùng xác định mục tiêu và tham gia vào quá trình để cùng nhau đi đến một mục tiêu phát triển khoa học công nghệ
Hợp tác có nghĩa là sự liên kết của hai hay nhiều chủ thể lại với nhau, cùng
chung sức hỗ trợ, giúp đỡ nhau thực hiện nhiệm vụ chung trong một lĩnh vực nhất định Hợp tác giữa các chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau trên thế giới, đó có thể là giữa các chính phủ, địa phương, hay doanh nghiệp…được coi là hợp tác quốc tế Đây là một hoạt động được thực hiện dựa trên cơ sở cân nhắc lợi ích so sánh giữa các quốc gia, đóng góp vào nghiên cứu chung tùy theo điểm mạnh của mình, lấy lợi ích chung làm mục tiêu và trên tinh thần hạn chế hay dung hòa những lợi ích đối kháng, hướng tới hợp tác- hai bên cùng có lợi
Như vậy, tổng hợp các định nghĩa và phân tích trên, chúng ta có thể đi đến
một khái niệm tổng quan như sau: “hợp tác về khoa học và công nghệ” là sự thiết
lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ trong hoạt động KH&CN thông qua việc phối hợp hành động trong quá trình nghiên cứu và phát triển khoa học nhằm mục đích giải quyết những quyền lợi về phát triển KH&CN một cách có hiệu quả nhất
1.2 Hợp tác khoa học – công nghệ là xu thế tất yếu
Hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ mà mục đích cuối cùng nước ta hướng tới là đón nhận chuyển giao công nghệ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và khoa học công nghệ nói riêng nhằm bắt kịp với trình độ phát triển của khoa học công nghệ tiên tiến Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng, là nguồn lực sản xuất trực tiếp tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, ngành và quốc gia
Nhằm lý giải cho vai trò quan trọng của chuyển giao công nghệ có thể dựa vào một số mô hình kinh tế cũng như thông qua việc phân tích tình hình kinh tế -
xã hội sau đây:
1.2.1 Các mô hình và lý thuyết kinh tế
Mô hình tăng trưởng Solow
Mô hình tăng trưởng Solow đã chứng minh được rằng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn chỉ có thể đạt được khi có tiến bô khoa học công nghệ Các yêu tố
- K51
Trang 15còn lại đều gặp phải giới hạn do quy luật lợi tức cận biên giảm dần nên không thể mag lại tăng trưởng vĩnh viễn Tăng tỷ lệ tiết kiệm sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển và đạt tới một trạng thái dừng mới có mức sản lượng trên một lao động cao hơn, nhưng sau đó quá trình tăng trưởng sẽ chấm dứt Giảm tỷ lệ tăng dân số cũng giúp cho nền kinh tế đạt tới một trạng thái dừng mới có mức sản lượng trên một lao động cao hơn nhưng chỉ trong ngắn hạn, thêm nữa cách thức này không được khả thi Chỉ có sự gia tăng liên tục của trình độ công nghệ mới giúp cho nền kinh tế duy trì được đà tăng trưởng sản lượng trên một lao động trong dài hạn
Mô hình kim cương của Michael Porter
Một mô hình kinh tế nữa cũng chỉ ra vai trò quan trọng của chuyển giao công nghệ đó là mô hình kim cương của Michael Porter phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh đồng thời đánh giá một quốc gia hay vùng lãnh thổ có môi trường kinh doanh vi mô lành mạnh hay không Theo Michael Porter có 4 nhân tố tác động qua lại với nhau, bao gồm: điều kiện các yếu tố sản xuất (vốn, con người, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, hành chính, công nghệ thông tin), chiến lược
cơ cấu và sự cạnh tranh giữa các ngành (pháp luật, các quy định, cơ chế chính sách khuyến khích thúc đẩy tăng năng suất), điều kiện về nhu cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan Ngoài ra còn có 2 yếu tố tác động chung từ Chính phủ
và các cơ hội Việc hợp tác trong lĩnh vực KH&CN và nhận chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến trên thế giới có thể giúp Việt Nam cải thiện được yếu tố các yếu tố sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, góp phần tăng khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên trường quốc tế
Phát triển KH&CN không chỉ tạo tiềm lực để phát triển kinh tế mà ngược lại, khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo ra nguồn tài chính tái đầu từ phục vụ cho việc phát triển KH&CN
Thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo
Thuyết này cho rằng “Mỗi nước đều có lợi thế so sánh trong sản xuất một mặt hàng nào đó và kém lợi thế so sánh trong mặt hàng khác Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất một hàng hóa với mức chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác” và “Các nước đều có lợi khi tham gia vào Thương mại quốc tế” (Bùi Thị Lý, 2009, trang 23) Theo đó mỗi quốc gia sẽ được
- K51
Trang 16lợi khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất hiệu quả hơn các nước khác (những hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh), và sẽnhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản không hiệu quả bằng các nước khác ( những hàng hóa bất lợi thế so sánh)
Với vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại tự do phát triển, lý thuyết Lợi thế so sánh cũng chính là tiền đề cho các hoạt động Hợp tác quốc tế về KH-CN Cụ thể lý thuyết này được dùng để giải thích cho lí do tại sao lại có sự bắt tay trong nghiên cứu hay ứng dụng sản xuất giữa các quốc gia không cùng trình độ
và năng lực trong lĩnh vực KH-CN Trong các mối quan hệ hợp tác này, các quốc gia phát triển có năng lực cao về KH-CN, có hệ thống cơ sở vật chất hiện đại sẽ đóng góp vào đó yếu tố “chất xám”, “công nghệ” và “tư bản” Đây được xem như
là những thế mạnh- một dạng lợi thế so sánh của nhóm quốc gia này Ngược lại các quốc gia đang phát triển lại có yếu tố “nhân lực” dồi dào, giá rẻ, có đội ngũ tri thức
có kiến thức tốt nhưng thiếu điều kiện thực hành, hoặc có môi trường pháp lí đơn giản, ít rắc rối- là điều kiện tốt để tiến hành thực nghiệm các thành tựu KH-CN cần kiểm chứng…đây chính là lợi thế của các nước này khi tham gia vào hợp tác Và đương nhiên, lợi thế mà nhóm quốc gia này đóng góp chính là lợi ích mà Hợp tác quốc tế mang lại cho nhóm quốc gia kia
1.2.2 Lý giải từ thực tế nhu cầu của Việt Nam
Giá nhân công tại Việt Nam sẽ không còn là lợi thế cạnh tranh nên cần xây dựng các trung tâm R&D và tiến hành chuyển giao công nghệ
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới phát triển nền kinh tế tri thức mà động lực tăng trưởng chính là sự tiến bộ về KH&CN thay vì dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ như trước đây Vì vậy các nước đều mong muốn mở rộng hợp tác về KH&CN với mục đích học hỏi lẫn nhau
Theo nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản, tốc độ tăng tiền lương tối thiểu tại Việt Nam năm 2015 so với năm 2010 là 130% Với đà tăng này, chỉ khoảng 5 năm nữa chi phí nhân công tại Việt Nam sẽ bằng Trung Quốc Trong khi đó, theo báo Nikkei Asian của Nhật Bản, chính việc tăng lương đã khiến các doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang khu vực Đông Nam Á
- K51
Trang 17Không thể gia công mãi, khi Việt Nam gia nhập ngày càng nhiều FTA thì cạnh tranh phải dựa trên giá trị gia tăng, khối lượng công nghệ hàm chứa trong đó
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày nay, kinh tế Việt Nam nói chung các doanh nghiệp nước ta nói riêng muốn phát triển được không thể chỉ mãi gia công, lắp ráp, “buôn thô bán gốc”, tham gia chuỗi hàng hóa toàn cầu ở phần giá trị thấp được Để tạo ra giá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh và giá thành, tạo dựng thương hiệu của mình, các doanh nghiệp cần làm chủ được công nghệ sản xuất Hơn nữa, trong thời gian gần đây Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các Hiệp định thương mại tự do như TPP, AEC, EAEU…Với việc giảm mức thuế nhập khẩu tiến tới thuế suất 0%, nếu không chủ động nắm vững khoa học
kỹ thuật, thay đổi công nghệ thì nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam sẽ gặp phải
sự cạnh tranh rất lớn từ bên ngoài
Phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa và đáp ứng yêu cầu chung của bối cảnh quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu và khách quan Xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học công nghệ có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Một mặt, xu thế này chính là hệ quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Mặt khác để thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển cần có sự hợp tác, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia Mỗi quốc gia thường chỉ
có thế mạnh về một số lĩnh vực, lại có những lĩnh vực đòi hỏi phương tiện nghiên cứu vượt quá tiềm lực quốc gia, vì vậy để đảm bảo đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất xu hướng hợp tác cùng phát triển đã trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt, Việt Nam lại là quốc gia có xuất phát điểm công nghệ thấp vì vậy để tiếp cận với công nghệ tiên tiến đang phát triển như vũ bão trên thế giới, thu hút các dự án đầu tư nước ngoài hướng tới chuyển giao công nghệ là một trong những mục tiêu quan trọng của Việt Nam
Không những vậy, tình hình thế giới đang ngày càng trở nên phức tạp: biến đổi khí hậu diễn ra gay gắt trên diện rộng, nhiều dịch bệnh mới xuất hiện…nên để giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu như vậy đòi hỏi các quốc gia xích lại gần nhau, hợp tác với nhau chặt chẽ hơn và sâu rộng hơn nữa
- K51
Trang 18Lợi ích về kinh tế
Hợp tác về KH&CN giúp cho nước đang phát triển như Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế tri thức của thế giới Thông qua hợp tác về KH&CN, nước ta có thể khai thác hiệu quả thành tựu KH&CN của thế giới, thu hút nguồn lực và công nghệ nước ngoài để nâng cao và phát triển trình độ KH&CN trong nước, góp phần thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và từng bước hội nhập nền kinh tế tri thức thế giới
1.2.3 Lợi ích về chính trị
Ngày nay, hợp tác về KH&CN giữa các quốc gia không chỉ đem lại lợi ích
to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần tăng cường vai trò, tầm ảnh hưởng của quốc gia đó, nâng cao vị thế trên trường quốc tế và hỗ trợ cho hoạt động thương mại tại nước ngoài
Các tổ chức quốc tế và khu vực, các quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến thực hiện chính sách hợp tác KH&CN không chỉ để giúp đỡ các nước đang phát triển mà còn thông qua đó tăng cường vai trò, tầm ảnh hưởng của mình Nếu như các nước tiếp nhận công nghệ không có chiến lược phát triển, chính sách khéo léo, chỉ đơn thuần nhập khẩu công nghệ không hướng đến chuyển giao, thì sớm muộn sẽ dẫn đến sự phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài Một khi nước ngoài đã chi phối được công nghệ sẽ rất dễ chi phối toàn bộ nền kinh tế và từ
đó là cả nền chính trị, bởi giữa chính trị và kinh tế có mối liên hệ chắt chẽ, biện chứng với nhau
1.3 Các hình thức và kênh hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ
1.3.1 Các hình thức hợp tác
Hình thức là phương thức hay cơ chế trong hợp tác Khoa học và Công nghệ
Hợp tác về khoa học và công nghệ giữa các nước có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng có nhiều cách thức để phân loại hình thức hợp tác khoa học – công nghệ Dựa trên các tài liệu nghiên cứu, tác giả xin tổng hợp thành một số tiêu chí phân loại và hình thức hợp tác khoa học – công nghệ chủ yếu như sau:
Cách phân loại thứ nhất, đó là dựa vào cơ sở khoa học công nghệ, theo đó có
ba hình thức phổ biến là:
- K51
Trang 19- Hợp tác nhưng không thành lập pháp nhân;
- Hợp tác trên cơ sở thành lập pháp nhân (thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước này sang nước đối tác)
- Hợp tác thông qua trao đổi giấy phép, nhượng quyền, bằng phát minh sáng chế
Bên cạnh đó, còn có một cách phân chia thứ hai Hợp tác khoa học – công
nghệ được phân chia thành: hợp tác theo chiều dọc và theo chiều ngang
- Hợp tác theo chiều ngang thường diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, có điểm tương đồng trong phương thức phát triển và áp dụng KH&CN Hình thức hợp tác này nhằm khai thác lợi ích kinh tế theo quy mô, tuy nhiên tiềm ẩn khả năng xung động, lộ bí mật công nghệ giữa các đối tác hợp tác Đi liền với hợp tác theo chiều ngang chúng ta có chuyển giao khoa học công nghệ theo chiều ngang: thông qua trao đổi công nghệ đã có sẵn, có thể rút ngắn thời gian so với chuyển giao dọc, vì không cần thời gian nghiên cứu Chuyển giao ngang có mức
độ mạo hiểm thấp hơn, tuy nhiên đòi hỏi bên nhận cũng phải có trình độ tương đối
để tiếp nhận, tránh những sai lầm trong chuyển giao Đây là hình thức chuyển giao khá phổ biến hiện nay, bởi cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc các nhà sản xuất phải không ngừng đổi mới công nghệ, kèm theo đó là chuyển giao công nghệ đã lỗi thời, lạc hậu sang các cơ sở sản xuất ở nước khác
- Hợp tác theo chiều dọc diễn ra giữa các chủ thể hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị, trong đó sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác Hình thức hợp tác này mang lại nhiều lợi ích, giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và thường ít tiềm ẩn nguy cơ xung đột giữa các đối tác vì hoạt động hợp tác mang tính bổ trợ, không phải cạnh tranh Hoạt động hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp cũng có thể được coi là hợp tác theo chiều dọc Từ đây, ta có thể suy ra, chuyển giao theo chiều dọc là chuyển giao từ cơ sở nghiên cứu vào doanh nghiệp sản xuất Các cơ sở nghiên cứu có thể thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc là một đơn vị độc lập có quan hệ hợp tác với doanh nghiệp
đó Chuyển giao dọc thường thấy ở các nước phát triển Chuyển giao này có ưu điểm là thường mang đến cho người sản xuất công nghệ hoàn toàn mới, có khả
- K51
Trang 20năng thích ứng gần như tuyệt đối với môi trường sản xuất, tuy nhiên mức độ mạo hiểm tương đối cao, vì công nghệ mới chưa được khẳng định trên thị trường
1.3.2 Các kênh hợp tác
Các hình thức hợp tác này chỉ chỉ ra được nội dung và đối tượng của quan hệ hợp tác giữa các bên Để có thể thực sự vận hành và đưa vào thực tiễn hoạt động thì còn cần tới các kênh dẫn- là các phương thức thực hiện hợp tác cụ thể Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày nay, có một số kênh hợp tác phổ biến và hiệu quả trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sau đây
Kênh thương mại hàng hóa: Thành tựu khoa học và sản phẩm công nghệ có
thể được chuyển giao, trao đổi qua kênh thương mại hàng hoá Chính kênh này cho phép hoạt động chuyển giao công nghệ được thực hiện một cách hiệu quả bởi thông qua lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, các tri thức công nghệ cũng được di chuyển theo Như vậy, thương mại quốc tế được xem là khá phù hợp cho các quốc gia muốn tiến hành việc chuyển giao công nghệ
Kênh FDI- đầu tư trực tiếp nước ngoài: Kênh này thường được thực hiện
thông qua sự mở rộng thị trường của các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia Những tập đoàn này khi mở các chi nhánh hoặc công ty con ở các quốc gia khác nhau thường xây dựng các trung tâm nghiên cứu địa phương, thu hút các nhà khoa học trong và ngoài nước cùng làm việc, thực hiện hình thức hợp tác nghiên cứu học thuật Bên cạnh đó, công nghệ cũng được chuyển giao cho các công ty này và còn
cả những kỹ năng quản lý, chiến lược nghiên cứu hay các sáng chế, phát minh cũng được chuyển nhượng và trao đổi Các quốc gia được đặt công ty con sẽ có cơ hội
vươn lên, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Kênh hợp tác thông qua dự án giữa các Viện nghiên cứu và trường Đại học giữa các quốc gia: thông thường tại các Viện nghiên cứu quốc gia hay các trường Đại học lớn
sẽ có những quỹ phát triển và các dự án liên kết đào tạo quốc tế, mà đối tác thường là các chủ thể tương ứng của các quốc gia khác Có rất nhiều mạng lưới liên kết toàn cầu như vậy được hình thành và phát huy vai trò quan trọng trong việc thực hiện các loại hình hợp tác đào tạo và nghiên cứu học thuật Tiêu biểu có thể kể tới một số mạng lưới như Hiệp hội các trường Đại học châu Á- Thái Bình Dương AUAP, Mạng lưới liên kết các trường Đại học Á- Âu ASEA-UNINET, Hiệp hội Khoa học Thái Bình dương PSA,…
- K51
Trang 21Kênh hợp tác thông qua kí kết các hiệp định, các thỏa thuận,công ước chung
về các vấn đề liên quan tới ngành KH-CN: rất nhiều mối quan hệ hợp tác về khao
học giữa các quốc gia được thực hiện khi các quốc gia này tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế như Hội nghị bộ trưởng Khoa học APEC, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Công ước Berne về quyền sở hữu trí tuệ,
Với việc đa dạng hóa các kênh hợp tác cũng như các hình thức hợp tác, hoạt động hợp tác quốc tế về KH-CN ngày càng được tăng cường và mở rộng theo nhiều mức độ khác nhau Các chủ thể tham gia vào các hoạt động này cũng trở nên phong phú hơn, từ các cơ quan quản lí KH-CN của các quốc gia, tới các quỹ đầu tư nghiên cứu KH-CN, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, phi chính phủ khác Điều này là tất yếu để tạo nên sự phù hợp giữa các nhân tố hợp tác và dẫn tới sự phát triển một cách toàn diện hơn cho ngành Khoa học- Công nghệ toàn cầu
1.4 Các nhân tố tác động đến hợp tác khoa học và công nghệ
Hình 1.2: Cơ sở của hợp tác khoa học và công nghệ giữa các quốc gia
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
- K51
Trang 22Hợp tác về khoa học và công nghệ phụ có phát triển sâu rộng, thực chất và đem lại hiệu quả hay không, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Những yếu tố chính được liệt kê trên hình vẽ đó là: cơ chế chính sách của các chính phủ, hệ thống pháp luật trong đó hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, năng lực công nghệ, nhu cầu của thị trường công nghệ…Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố trên, các chính phủ đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh hơn nữa quá trình hợp tác khoa học công nghệ, nắm bắt cơ hội tiếp thu tri thức, tăng cường tiềm lực KH&CN của quốc gia
Bên cạnh các yếu tố kể trên, còn có một số các yếu tố ảnh hưởng khác, như: quan hệ chính trị giữa hai quốc gia, vị thế thương mại và công nghệ, khoảng cách công nghệ giữa hai nước, tình hình cạnh tran trên thị trường thế giới…
Hình 1.3: Cơ sở của hợp tác khoa học và công nghệ giữa các doanh
nghiệp
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Với sự ra đời của ngày càng nhiều các doanh nghiệp khoa học và công nghệ hay start up công nghệ trên thế giới, cùng với chính sách hợp tác sâu rộng về khoa học và công nghệ giữa các quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
đó tìm kiếm đối tác mở rộng hợp tác Vậy đâu là những yêu tố để một doanh nghiệp dựa vào đó phân tích, đi đến kết luận trong quá trình tìm kiếm đối tác thực hiện dự
- K51
Trang 23án chung về khoa học công nghệ? Trên hình vẽ chỉ liệt kê một số yêu tố chính tác động đến quá trình hợp tác đó
1.5 Chủ thể tham gia hợp tác KH&CN
Hợp tác KH&CN không chỉ diễn ra giữa chính phủ các nước, mà còn được triển khai sâu rộng giữa các doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức nghiên cứu (viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, tổ chức dịch vụ KH&CN) và cá nhân các nhà nghiên cứu, nhà khoa học với nhau
Hợp tác KH&CN vừa mang tính chất hỗ trợ lẫn nhau vừa mang tính chất cạnh tranh Bên cạnh đó, ngày nay, với xu thế phát triển khoa học và công nghệ gắn với định hướng thị trường, nên hoạt động và quá trình hợp tác giữa các chủ thể ngoài chịu sự quản lý, điều chỉnh của chính phủ, còn bị tác động của yếu tố thị trường Dưới đây là mô hình tổng qua của một số chủ thể hoạt động trong lĩnh vực KH&CN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- K51
Trang 24Hình 1.4: Chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực KH&CN trong một quốc gia
Hệ thống phát triển khoa học công nghệ
Bộ máy
quản lý
Hệ thống chính trị
Nghiên cứu
Sản xuất
Chuyển giao công nghệ
Trung tâm CGCN
Khu công nghệ cao
Tổ hợp R&D
Trung tâm tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật
Trung tâm
kỹ thuật
Trung tâm kiến thức
Nhà đầu tư mạo hiểm (business angel)
Nhà thầu phụ
Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao
Trung tâm phân tích
dữ liệu
Trung tâm thông tin khoa
học kỹ thuật
Trung tâm ĐMST
- K51
Trang 251.6 Ảnh hưởng của hợp tác khoa học – công nghệ đến các chủ thể tham gia
Trên thế giới hiện nay, có ba mô hình hợp tác quốc tế cơ bản đó là: hợp tác giữa các nước có nền khoa học – công nghệ tiên tiến, mô hình hợp tác giữa các quốc gia có nền khoa học – công nghệ phát triển nganh nhau và mô hình hợp tác giữa quốc gia tiên tiến và nước chậm phát triển khoa học
Một trong những mục tiêu chính mà các nước có nền khoa học công nghệ kém phát triển hướng tới là tăng cường hợp tác với các quốc gia phát triển về khoa học công nghệ nhằm mục đích tiếp thu được công nghệ tiên tiến hay chính là nhận chuyển giao công nghệ Chuyển giao công nghệ là hoạt động tác động đến cả bên truyền bá và bên tiếp thu công nghệ
Bên cạnh những lợi ích, cũng có không ít những rủi ro mà các bên có thể phải đối mặt Dung hòa lợi ích của các bên là điều kiện cần thiết để thúc đẩy quá trình hợp tác diễn ra hiệu quả Một số lợi ích và rủi ro mà các bên có thể gặp phải được trình bày tóm tắt trong hai bảng dưới đây
- K51
Trang 26Bảng 1.1: Tác động của hợp tác khoa học – công nghệ đối với bên có nền KH&CN
kém phát triển hơn (thường là bên nhận chuyển giao công nghệ)
Lợi ích
Rủi ro Doanh nghiệp Chính phủ
- Rút ngắn được chi
phí và thời gian dành
cho R&D
- Tiếp thu được
công nghệ mới tiên tiến
- Tăng giá trị gia
tăng của sản phẩm
(nâng cao chất lượng
hoặc tạo ra sản phẩm
mới) từ đó tăng lợi
nhuận của công ty
- Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực
- Thiết lập, mở
rộng quan hệ hợp tác
với công ty bên giao nói
riêng và quốc gia
chuyển giao công nghệ
nói chung
- Tiết kiệm ngoại tệ bằng cách thay thế nhập khẩu
- Giải quyết việc làm cho người dân
- Thúc đẩy phát triển công nghiệp trong nước, tận dụng được nguồn lực trong nước, tạo việc làm
- Nâng cao trình độ, chất lượng nguồn nhân lực quốc gia
- Tạo môi trường đầu
tư thuận lợi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
- Tăng tổng sản phẩm quốc nội, đẩy nhan tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Phụ thuộc về công nghệ
(trường hợp bên giao không chuyển giao hết quy trình công nghệ)
- Không đủ điều kiện, trình độ chuyên môn để tiếp thu công nghệ
- Không phù hợp của công nghệ
- Bên chuyển giao công nghệ không có đủ năng lực
- Sự mâu thuẫn về mục tiêu giữa công ty tiếp thu công nghệ và chính phủ nước đó (vấn đề môi trường…)
Nguồn: APCTT
- K51
Trang 27Bảng 1.2: Tác động của hợp tác khoa học – công nghệ đối với bên có nền
KH&CN phát triển (thường là bên chuyển giao công nghệ)
- Thu nhập từ việc công nghệ chuyển
giao
- Lợi nhuận từ việc kinh doanh các mặt
hàng phụ trợ kèm theo công nghê chuyển
giao
- Tiếp cận, thâm nhập thị trường mới
với chi phí và rủi ro thấp
- Cải tiến sản phẩm thích ứng với các thị
trường khác nhau
- Giảm chi phí sản xuất
- Kéo dài vòng đời công nghệ của sản
phẩm
- Tạo ra đối thủ cạnh tranh mới
- Ảnh hưởng đến uy tín của nhà cung cấp công nghệ
- Tiết lộ kiến thức của bí mật công nghệ
- Thiếu thông tin phản hồi từ khách hàng của nước người nhận chuyển giao
Nguồn: APCTT
1.6 Kinh nghiệm từ hợp tác KH&CN giữa LB Nga và Trung Quốc
1.6.1 Sự cần thiết của việc học hỏi kinh nghiệm hợp tác khoa học và công nghệ Nga – Trung
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc hay Trung Quốc đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong đổi mới sáng tạo công nghệ Để đạt được những thành tựu công nghệ như ngày hôm nay, các quốc gia trên đều có những chiến lược phát triển lâu dài và đúng hướng, theo đó luôn chú trọng tăng cường hoạt động hợp tác sâu rộng và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ
Trong số các quốc gia kể trên, có một đất nước đã thiết lập quan hệ hợp tác
về khoa học công nghệ với LB Nga năm 1992 (cùng thời gian với Việt Nam) Tuy hợp tác về KH&CN giữa Trung Quốc và LB Nga không được liên tục và không có
bề dày lịc sử tốt đẹp như giữa Việt Nam và LB Nga, nhưng Trung Quốc hiện nay đã trở thành một đối tác hợp tác vô cùng quan trọng đối với Nga, nước này cũng đã sở
- K51
Trang 28hữu nhiều công nghệ được chuyển giao từ LB Nga và đã trở thành quốc gia hàng đầu thế giới trong sản xuất các sản phẩm công nghệ
Vậy cách thức, mô hình hợp tác của Trung Quốc là như thế nào? Bài học cho Việt Nam trong hợp tác với LB Nga về KH&CN là gì?
1.6.2 Hợp tác KH&CN và chuyển giao công nghệ giữa Trung Quốc và LB Nga
Trung Quốc và LB Nga đã ký kết Hiệp định Liên chính phủ về hợp tác khoa học kỹ thuật ngày 18/12/1992, Biên bản liên chính phủ về các nguyên tắc của việc bảo vệ và phân chia quyền sở hữu trí tuệ năm 1999, đặt nền móng cho sự phát triển quan hệ hợp tác khoa học kỹ thuật Một trong những hướng hợp tác Nga – Trung Quốc là củng cố và phát triển mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo,
mở rộng hợp tác KH&CN giữa các trung tâm khoa học, Viện hàn lâm, Công viên công nghệ
Hình thành quỹ nghiên cứu khoa học chung, thực hiện dự án nghiên cứu chung trong nhiều lĩnh vực giữa hai nước
Trung Quốc và LB Nga tiến hành nhiều dự án hợp tác nghiên cứu khoa học chung dựa vào sự hợp tác hiệu quả đem lại hỗ trợ tích cực của Quỹ nghiên cứu cơ bản Nga và Quỹ quốc gia khoa học tự nhiên Trung Quốc Dự án chung được hình thành trong các lĩnh vực được ưu tiên như công nghệ tiết kiệm năng lượng, hệ thống nano, công nghệ vật liệu thân thiên với môi trường, sản phẩm công nghệ thông tin
và truyền thông
Thành lập khu công nghệ cao Nga – Trung
Nhiều khu công nghệ cao, công viên công nghệ được thành lập tại Trung Quốc, cũng như tại Nga với mục đích thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa hai nước, đồng thời giúp tháo gỡ mọi rào cản và tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - thương mại
Ngày 13/10/2014, Quỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài LB Nga, Quỹ đầu tư Nga- Trung và lãnh đạo tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc đã nhất trí thành lập một mạng lưới khu công nghệ cao Nga- Trung mang tên “Con đường tơ lụa” Theo Biên bản ghi nhớ được kí kết trước đó, một khu công nghệ cao với diện tích 4 km2 sẽ được xây dựng tại tỉnh Thiểm Tây, một khu công nghệ cao sẽ được quy hoặch tại khu công nghệ cao Skolkovo của Nga với diện tích 200000 m2 Hai dự án này theo kế hoặch
- K51
Trang 29sẽ hoàn thiện vào năm 2018 Theo dự kiến, trong năm 2016 Trung Quốc sẽ xây dựng thêm 2 công viên công nghệ nữa tại trung tâm Moscow: Z-park và Yan Tan
Trước đó, năm 2006, tại tỉnh Trường Xuân (tỉnh lỵ thuộc tỉnh Cát Lâm), Khu công nghê cao Nga- Trung đã được thành lập với diện tích hơn 70000 m2 và đi vào hoạt động dựa trên biên bản ghi nhớ giữa Viện Hàn lâm Trung Quốc và Viện Hàn lâm khoa học Nga tại Xibiri năm 2004 Khu công nghệ cao Nga –Trung đem lại cho Trung Quốc những lợi thế sau:
- Trưng bày, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật của
LB Nga với mục đích ứng dụng, cải biến phù hợp với nhu cầu của thị trường Trung Quốc;
- Thiết lập và tăng cường mối quan hệ hợp tác trực tiếp giữa các tổ chức và nhà khoa học Nga để nhận được sự trao đổi, chuyển giao công nghệ mà Trung Quốc quan tâm, dựa vào nguồn đầu tư quốc gia;
- Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang thị trường LB Nga;
- Nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao đạt tiêu chuẩn của Nga dựa trên công nghệ và một số linh kiện, thành phần kỹ thuật của Nga với mục đích cung ứng cho thị trường Trung Quốc và xuất khẩu sang nước thứ ba
- Tổ chức sản xuất sản phẩm theo công nghệ tiêu chuẩn Chấu Âu hoặc Trung Quốc, lấy nhãn hiệu xuất xứ từ Nga hoặc của cả hai quốc gia Nga- Trung để xuất sang thị trường hai nước và nước thứ ba
- Sản xuất các sản phẩm và dịch vụ bằng công nghệ của Nga, lấy nhãn xuất xứ từ Trung Quốc để cung ứng cho thị trường nội địa Trung Quốc thông qua việc mua li-xăng hoặc liên hệ, hợp tác trực tiếp với chuyên gia Nga, sau đó Trung Quốc sẽ tiến hành nghiên cứu công nghệ để tự tạo ra sản phẩm tương tự hoặc sao chép công nghệ
- Nhập khẩu sản phẩm của Nga cần thiết cho nền kinh tế Trung Quốc, trong đó cần kể đến những sản phẩm hàng hóa theo đặt hàng của chính phủ, như: xăng dầu, gỗ, kim loại đen và kim loại màu, laze trong công nghiệp và y học, chế phẩm sinh học, v.v…
- K51
Trang 30Ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực là lợi thế so sánh của mỗi nước
Quân sự là thế mạnh của LB Nga Chính vì vậy Trung Quốc luôn mong muốn đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự
Trong năm 2005, cung cấp vũ khí của Nga sang Trung Quốc đạt mức cao nhất (65,4% tổng trị giá xuất khẩu vũ khí trang bị của Nga) Tuy nhiên từ năm 2006 trở đi, thị phần của Trung Quốc trong tổng cán cân xuất khẩu quân sự của Nga đã giảm dần Lý do là trong thời gian gần đây Trung Quốc đã tự sản xuất vũ khí nhờ sao chép thành công nhiều mẫu vũ khí của Nga Hầu hết xuất khẩu quy mô lớn vũ khí và thiết bị quân sự của Nga cho Trung Quốc thuộc lĩnh vực hàng không, thiết bị hải quân và phòng không
Trong chuyến thăm chính thức của Tổng thống Nga V.Putin đến Trung Quốc tháng 5/2014, hai nước đã thảo luận và ký kết khởi động hai dự án lớn Theo đó, Nga và Trung Quốc sẽ hợp tác nghiên cứu sản xuất máy bay thân rộng, có khả năng bay đường dài và đây có thể sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh của Airbus của Châu
Âu và Boeing của Mỹ Dự án thứ hai: Nga sẽ tiến hành sản xuất máy bay trực thăng vận tải hạng nặng Mi-26 tại Trung Quốc Thông qua các dự án này, Trung Quốc sẽ
có được công nghệ sản xuất máy bay
Trước đó, những năm 1990 Trung Quốc đã mua của Nga một số lượng lớn các máy bay Su-27/Su-30 Từ năm 2007, dựa trên nghiên cứu cấu tạo của máy bay
Su -27, Trung Quốc đã tạo ra phiên bản riêng của máy bay J-11V
Bên cạnh ngành hàng không, Trung Quốc còn hợp tác sâu rộng với LB Nga trong ngành công nghiệp vũ trụ Trong những năm qua Trung Quốc là nước cung cấp và cũng là nước tiêu thụ mạnh nhất trong lĩnh vực hệ thống thông tin không gian địa lý Ngày 20/5/2014 Tổng thống Nga V.Putin và Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đã ký kết Thỏa thuận chung giữa hai nước về giai đoạn mới trong phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện về nâng cao hiệu quả các chương trình hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản liên quan đến công nghệ vũ trụ, công nghệ viễn thám, thiết bị định vị vệ tinh, khám phá không gian vũ trụ và tàu vũ trụ có người lái Kể từ năm 1992, giữa Nga và Trung Quốc đã có 92 thỏa thuận hợp tác về công nghệ vũ trụ được ký kết Mới đây là chương trình hợp tác giai đoạn 2013-
2017
- K51
Trang 31Văn phòng đại diện tại nước ngoài duy nhất của Cơ quan Vũ trụ LB Nga được đặt tại Bắc Kinh, Trung Quốc Nga và Trung Quốc triển khai rất nhiều dự án chung, như: dự án nghiên cứu mặt trăng “Luna-Globe” và dự án nghiên cứu sao Hỏa “Phobos – Soil” Theo báo Interfax của Nga, ngày 31/10/2005, phó giám đốc
Cơ quan không gian LB Nga Yury Noshenko cho biết Nga và Trung Quốc sẽ thực hiện dự án ché tạo nên máy thăm dò tự hành trên mặt trăng Nga sẽ chuyển giao các kinh nghiệm quý báu của mình cho Trung Quốc trong dự án hợp tác đầy hấp dẫn này Về dự án nghiên cứu sao Hỏa, Trung Quốc sẽ phóng vệ tinh của minh lên sao Hỏa trên một tên lửa Phobos Explorer của Nga Sau khi vào quỹ đạo sao Hỏa, vệ tinh này sẽ được tách ra khỏi tàu của Nga và tiến hành thăm dò môi trường không gian, còn tàu Phobos Explorer sẽ hạ cánh xuống một mặt trăng của sao Hỏa và trở
về Trái Đất với các mẫu đất đá Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng mong muốn hợp tác với Nga trong dự án chế tạo đài quan sát vũ trụ “Tia hồng ngoại” và “Radiostron” Đồng thời hai nước đang tiến hành triển khai dự án hợp tác giữa hệ thông định vị GLONASS của Nga và Beidou của Trung Quốc nhằm hướng tới một tiêu chuẩn chung thống nhất
Bên cạnh đó, hai bên thường xuyên tổ chứccác buổi hội thảo khoa học, hội nghị, diễn đàn, cuộc gặp gỡ nhằm tăng cường trao đổi kiến thức, giao lưu giữa các nhà khoa học hai nước
- K51
Trang 32Tăng cường trao đổi, đào tạo nguồn nhân lực tại LB Nga
Bảng 1.3: Tổng số du học sinh tại các trường đại học LB Nga phân theo quốc gia Quốc gia Năm học 2007-2008 Năm học 2008-2009 Tỷ lệ (%)
Nguồn: Bộ Giáo dục và khoa học Nga
Theo bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy số lượng du học sinh Trung Quốc đông nhất trong số các nước Châu Á có du học sinh đang học tập, nghiên cứu tại LB Nga, gấp 4 lần số lượng du học sinh Việt Nam
1.6.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam
Theo đánh giá của PGS.TS Đỗ Hương Lan, trong quan hệ với LB Nga, Việt Nam có lợi thế hơn so với Trung Quốc nhờ quan hệ nồng ấm, liên tục ngay từ khi mới thiết lập Tuy nhiên quan hệ hợp tác về mọi mặt của Việt Nam và LB Nga đều thua kém nhiều so với quan hệ Nga-Trung Năm 2015 kim ngạch xuất nhập khẩu
- K51
Trang 33Nga- Trung đạt 69 tỷ USD, trong khi đó kim ngạch thương mại Việt – Nga mới chỉ đạt một con số khiêm tốn là 2,5 tỷ USD Để đạt được con số ấn tượng như của Trung Quốc, không thể không kể đến một yếu tố có đóng góp quan trọng đó là tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ Trung –Nga Nhờ hợp tác và chuyển giao khoa học công nghệ, những sản phẩm khoa học công nghệ cao được đưa vào ứng dụng sản xuất, tạo ra hàng hóa có hàm lượng khoa học công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn, góp phần tăng kim ngạch thương mại
Theo PGS.TS Đỗ Hương Lan, Việt Nam nên thi hành một số chính sách và
có các biện pháp cụ thể như sau để tăng cường hợp tác tiến tới chuyển giao công nghệ Nga – Việt, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch thương mại giữa hai nước:
- Cần có sự nhất trí cao, sự quyết tâm từ lãnh đạo nhà nước trong việc tiến hành hợp tác khoa học công nghệ với LBNga, coi sự hợp tác này là 1 phần không thể tách rời của quan hệ liên quốc gia – quan hệ hợp tác mang tính chiến lược trong thế kỷ XXI
- Hiện nay hai quốc gia đều xây dựng nền kinh tế thị trường nên sự hợp tác cần dựa trên cơ sở 2 bê cùng có lợi ích về kinh tế
- Việc hợp tác phải được tiến hành trên cơ sở lợi thế so sánh và nhu cầu của từng bên Do đó trước khi hợp tác cần nhận định rõ thế mạnh của mỗi bên để đưa ra lĩnh vực hợp tác và hình thức hợp tác phù hợp, phát huy thế mạnh của mỗi bên
- Xây dựng cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho sự hợp tác trên cơ sở thỏa thuận liên chính phủ Cần có phân ban thuộc ủy ban Liên chính phủ chuyên trách về hợp tác khoa học công nghệ
- Quá trình hợp tác phải được triển khai từ giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm, ứng dụng rộng rãi và thương mại hóa kết quả, trong đó chú trọng về hợp tác đổi mới sáng tạo Song song với hoạt động trao đổi tri thức, kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, cần hợp tác ở chiều sâu – cùng tiến hành các hoạt động nghiên cứu, triển khai và sản xuất ra sản phẩm khoa học công nghệ
- Cần có chính sách ưu đãi nhằm thu hút sự tham gia của Nga vào khu công nghệ cao hoặc cùng Nga thiết lập mới các khu công nghệ cao
- K51
Trang 34- Để có thể hợp tác được thành công, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cần đặt lên hàng đầu, bởi suy cho cùng, sự phát triên về khoa học công nghệ của một quốc gia phụ thuộc vào con người, vào chất lượng nguồn nhân lực
- Có các chính sách đầu tư cho các trường đại học, viện nghiên cứu để thúc đẩy họ tham gia các hoạt động nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng; khuyến khích họ tăng cường gắn kết nghiên cứu với ứng dụng kết quả nghiên cứu mô hình kết hợp vs doanh nghiệp
- Cần có các biện pháp hiệu quả nhằm khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động hợp tác về khoa học công nghệ Doanh nghiệp chính là chủ thể quan trọng của hoạt động đổi mới, sáng tạo
- Đảm bảo thông tin thông suốt giữa hai nước
- K51
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỢP TÁC KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA 2.1 Sự cần thiết của hợp tác KH&CN với Liên Bang Nga trong bối cảnh mới
Tính đến thời điểm hiện nay, theo số liệu của Bộ KH&CN Việt Nam đã có quan hệ hợp tác KH&CN với hơn 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ; đã ký kết và đang thực hiện hơn 80 hiệp định hợp tác KH&CN cấp Chính phủ và cấp Bộ Việt Nam đang là thành viên chính thức và không chính thức của gần 100 tổ chức quốc tế và khu vực về KH&CN Thực tế cho thấy, thời gian qua Việt Nam đã đẩy mạnh hợp tác về KH&CN với nhiều nước và tổ chức có công nghệ tiên tiến như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc hay EU Mặc dù, nhiều chỉ số phát triển khoa học và công nghệ của LB Nga so với Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU vẫn còn thua kém, tuy nhiên việc đẩy mạnh hợp tác KH&CN với Nga vẫn có vai trò quan trọng trong bối cảnh mới như hiện nay Bởi mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh, thế mạnh riêng và nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ của LB Nga vẫn dẫn đầu thế giới
Vậy bối cảnh mới hiện tạo ra những thuận lợi cũng như gây ra những khó khăn gì đối với hợp tác KH&CN giữa nước ta và LB Nga? Thực trạng phát triển khoa học –công nghệ của Nga ra sao, có điểm gì khác và giống Việt Nam? Thế mạnh của Liên Bang Nga là gì, để nước ta có thể học hỏi, áp dụng vào hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam? Ngược lại, kết quả của tình hình phát triển đổi mới KH&CN của Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Việt Nam có thể khai thác những thế mạnh nào để quá trình hợp tác diễn ra “hai chiều”, để Việt Nam không chỉ là nước nhận hỗ trợ? Tại nội dung phần nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung vào phân tích bối cảnh hiện nay của sự hợp tác khoa học – công nghệ giữa Việt Nam và Nga, đánh giá thực trạng phát triển và những thế mạnh khoa học – công nghệ của Nga trong thời gian qua, so sánh với tình hình phát triển khoa học – công nghệ tại Việt Nam, từ đó làm nổi bật lĩnh vực khoa học – công nghệ có triển vọng trong hợp tác
và những hình thức hợp tác mới
2.1.1 Bối cảnh hoạt động hợp tác khoa học công nghệ Việt Nam – Liên Bang Nga
2.1.1.1 Thuận lợi sau khi gia nhập EAEU
Ngày 29/5/2015 Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á –Âu (bao gồm Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan) đã
- K51
Trang 36chính thức được ký kết Sự kiện trên không chỉ có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên thuộc Liên minh Kinh tế Á- Âu, trong đó có LB Nga; mà còn góp phần to lớn trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ
Thuận lợi thứ nhất đến từ những cơ hội về tăng trưởng kim ngạch xuất nhập
khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài mà FTA Việt Nam – EAEU mang lại Kinh tế phát triển, tạo nguồn lực để đầu tư phát triển khoa học công nghệ Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng là động lực cho tăng trưởng kinh tế nói chung, và khoa học công nghệ nói riêng Đầu tư FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc đưa máy móc, trang thiết bị, sáng chế, bí quyết công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý … vào Việt Nam
Thuận lợi thứ hai: tham gia FTA Việt Nam – EAEU, Việt Nam có nhiều ưu
đãi hơn trong việc tham gia các khu công nghệ cao, công viên công nghệ đã được hình thành trước đó trong cộng đồng Liên minh Kinh tế Á- Âu Đẩy mạnh hợp tác
về khoa học công nghệ tiến tới thiết lập một thị trường công nghệ chung trong khối Liên minh Kinh tế Á-Âu là một trong những mục tiêu trọng tâm của các nước thành viên Liên minh Theo Thỏa thuận chung của Liên minh Kinh tế Á- Âu được ký kết ngày 29/5/2014, các nước thành viên nhất trí đẩy mạnh hợp tác khoa học công nghệ trong hàng loạt các lĩnh vực thông qua các việc làm thiết thực như sau:
- Thành lập trung tâm R&D công nghệ cao chung dưới sự hỗ trợ và chỉ đạo của Ủy ban EAEU;
- Thành lập các công ty liên doanh, khu công nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, có tính chất đổi mới sáng tạo và có giá trị gia tăng cao với mục tiêu hợp tác cùng phát triển;
- Hợp tác nghiên cứu triển khai các sáng kiển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và giao thông vận tải
Trước đó, trong khuôn khổ Liên minh Hải quan (tiền thân của Liên minh Kinh tế Á- Âu) đã có nhiều cơ sở hợp tác khoa học công nghệ được thành lập, có thể kể đến, như: Trung tâm công nghệ cao Liên minh Hải quan được thành lập năm
2009 theo quyết định của Hội đồng Liên minh Hải quan, dựa trên sự hợp tác của 3
tổ chức của 3 nước thành viên, đó là: công ty đầu tư mạo hiểm của Nga, quỹ đổi
- K51
Trang 37mới sáng tạo của Belarus và Kazakhstan Trung tâm công nghệ cao Liên minh Hải quan đã thông qua các hội đồng chuyên môn, ban cố vấn, ủy ban bao gồm các tiến
sĩ khoa học, đại diện các viện hàn lâm khoa học, các trường đại học và giới doanh nghiệp Trung tâm cũng đã hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm vào 19/1/2010 – một trong những yếu tố then chốt thúc đẩy nguồn lực tài chính cho các dự án công nghệ cao một cách hiệu quả
Bên cạnh Trung tâm công nghệ cao, theo quyết định số 17 của Ủy ban chính sách về phát triển giao thông vận tải của Liên minh Hải quan ngày 19/1/2009, Trung tâm đổi mới sáng tạo Liên minh Hải quan trong lĩnh vực giao thông đường sắt đã được thành lập
Ngoài ra, trong khuôn khổ Liên minh Kinh tế Á- Âu sàn giao dịch công nghệ thuộc 9 lĩnh vực ưu tiên phát triển cũng được thành lập và đi vào hoạt động, đó là các sàn công nghệ sau: “Công nghệ y học trong tương lai”, “Công nghệ phần mềm”, “Cơ điện tử”, “Công nghệ sinh học”, “Công nghệ môi trường”, “công nghệ đèn LED”, “công nghệ quang điện tử”, “Siêu may tính”, “Công nghiệp nhẹ”
Với những cơ sở khoa học công nghệ chung đã được hình thành trong khuôn khổ Liên minh Kinh tế Á-Âu, sau khi Việt Nam ký kết đã chính thức tham gia ký kết FTA với EAEU, tất cả những yếu tố đó đều góp phần thúc đẩy hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam với LB Nga nói riêng, và các nước thành viên của Liên minh nói chung
2.1.1.2 Vị thế củaLiên Bang Nga trong Liên minh kinh tế Á -Âu
Ngày nay, trong chính sách hợp tác của các quốc gia trên thế giới việc thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ song phương không chỉ nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - thương mại và khoa học công nghệ giữa hai nước đó mà còn là
cơ hội mở ra con đường hợp tác với rất nhiều nước khác thuộc các tổ chức kinh tế
mà nước đối tác là thành viên
Liên Bang Nga được coi là quốc gia đóng vai trò hạt nhân trong tiến trình hội nhập kinh tế ở khu vực nói chung cũng như trong khuôn khổ của Liên minh kinh tế
Á – Âu nói riêng Liên minh Kinh tế Á- Âu (EAEU) là mô hình hội nhâ[j kinh tế mới trong không gian hậu Xô Viết, ra đời ngày 1/1/2015 trên nền tảng của Liên minh Hải quan và Không gian kinh tế thống nhất, bao gồm các nước Nga, Belarus,
- K51
Trang 38Kazakhstan, Armenia và Kyrgystan Hiện nay, Nga chiếm 80% dân số và 87,9% GDP của toàn Liên minh, trong khi GDP của Kazakhstan chỉ chiếm khoảng 9,2%
và Belarus là 2,9% LB Nga là đối tác thương mại chính của các nước trong Liên minh khi chiếm tới 37% xuất khẩu của Belarus và 34% xuất khẩu của Kazakhstan vào năm 2014
2.1.1.3 Vai trò của Việt Nam trong chính sách “hướng Đông” của Nga
Liên Bang Nga ngày nay đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng, trước hết là xuất phát từ tư cách của một nước lớn trên thế giới, yêu cầu của chính
sự phát triển nội dung tại nền kinh tế quốc gia – trước hết là vùng Xibiri và Viễn Đông Theo nhận định của nhiều chuyên gia, xét về lợi ích kinh tế, khu vực châu Á – Thái Bình Dương có vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển kinh tế của Nga nói chung và vùng lãnh thổ Châu Á của Nga nói riêng Là nước nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đầy triển vọng trong thế kỷ XXI, Liên Bang Nga không thể đứng ngoài việc tham gia vào sự phát triển dẫn đến phồn vinh và hưởng lợi từ tiến trình phát triển này Đông Nam Á là khu vực có đường biển và vùng biển rộng lớn, nằm ở ngã tư nối giữa châu Á và châu Đại Dương Nơi đây có nhiều nguồn lợi về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên biển, các nguồn khoáng sản từ thềm lục địa; riêng giao thông trên đường biển cũng là nguồn tài nguyên to lớn của các nước trong khu vực Các loại khoáng sản trên đất liền, sản phẩm nông nghiệp cũng
là nguồn tài nguyên quý giá của Đông Nam Á, chúng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nước đó và các nước bạn hàng
Bên cạnh lợi ích về kinh tế, xuất phát từ lợi ích về an ninh chính trị, từ các mối quan hệ quốc tế, sự điều chỉnh của Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ trong quan hệ với Đông Nam Á Trong bối cảnh quan hệ căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng các nước
EU, khi các lệnh cấm vận và trừng phạt đang vẫn đang được duy trì, tác động lớn đến nền kinh tế LB Nga, việc mở rộng quan hệ và tăng cường hợp tác với châu Á nói chung, ASEAN nói riêng là một xu hướng tất yếu
Liên Bang Nga coi ASEAN là động lực chính trong các tiến trình hội nhập ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Văn kiện đánh dấu mốc quan trọng cho sự hợp tác sâu rộng giữa LB Nga và ASEAN là Hiệp định Hợp tác kinh tế và phát triển
- K51
Trang 39được ký kết thành 12 năm 2005 tại Kuala Lumpua và văn bản kèm theo “Chương trình hành động toàn diện xúc tiến hợp tác giữa ASEAN và LB Nga cho thời kỳ 2005-2015” Chương trình đề cập đầy đủ các quan hệ thương mại đầu tư, các lĩnh vực nông nghiệp, năng lượng vận tải, khoa học – công nghệ… Theo đó, LB Nga bày tỏ mong muốn hợp tác liên doanh với ASEAN trong các dự án đầu tư sử dụng
ưu thế của Nga về khoa học hoặc trong lĩnh vực năng lượng Nga cho rằng khả thi
là các dự án sử dụng công nghệ của Nga trong quan sát động đất núi lửa, kiểm soát môi trường, dập tắt cháy rừng
Trong mục tiêu phát triển quan hệ với ASEAN LB Nga vẫn theo quan điểm truyền thống, luôn xem trọng vai trò “cầu nối” của Việt Nam Việt Nam luôn được coi là đối tác chiến lược quan trọng giúp Nga cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực Lợi thế của Việt Nam và Nga là đã xây dựng được mối quan hệ nhiều mặt mang tính lịch sử Bên cạnh đó, Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng và hiệu quả vào hoạt động tổ chức, diễn đàn của khu vực Quan hệ của Việt Nam với từng nước thành viên của ASEAN tiếp tục được tăng cường thể hiện qua việc triển khai nhiều
cơ chế, khuôn khổ hợp tác có hiệu quả như cơ chế tham khảo chính trị cấp cao, Hiệp định khung về kết nối hai nền kinh tế Việt Nam – Singapore, cơ chế họp nội các chung hằng năm Việt Nam – Thái Lan và nhiều cơ chế hợp tác khác Vị thế và
uy tín của Việt Nam trong khu vực ngày càng được nâng cao Đây cũng chính là cơ
sở và thuận lợi căn bản để đẩy mạnh quan hệ hợp tác của hai nước Việt Nam, LB Nga với khu vực ASEAN
Tóm lại, hiện nay Nga đang phải trải qua thời kỳ khủng hoảng trong quan hệ với các quốc gia phương Tây, mặt khác phải đối đầu với cấm vận về kinh tế khiến cho nền kinh tế Nga gặp nhiều khó khăn Điều đó thôi thúc Nga phải nỗ lực tìm kiếm những nguồn lực mới để phát triển đất nước, những hướng hợp tác chính trị và kinh tế mới Để làm được điều đó, Nga đang tập trung sự quan tâm của mình sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các quốc gia ASEAN Trong số các quốc gia ASEAN thì Nga có mối quan hệ chính trị truyền thống và phát triển nhất với Việt Nam Có thể coi đây là một trong những cơ sở thuận lợi cho việc đẩy mạnh hợp tác về khoa học công nghệ giữa hai nước
- K51
Trang 402.1.2 So sánh khả năng phát triển KH&CN của Nga và Việt Nam
Để đánh giá khả năng phát triển KH&CN và quan hệ hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực này, một điều quan trọng cần làm, chính là phân tích một
số yếu tố tác động đến mối quan hệ: tình hình kinh tế, chính trị, hiện trạng phát triển khoa học và công nghệ của hai nước, nguồn nhân lực, chính sách chiến lược phát triển…
Trong lịch sử, Liên Xô từng là siêu cường thế giới về khoa học công nghệ, trong hơn 70 năm tồn tại của mình đã tạo ra tiềm lực kinh tế, quân sự khổng lồ mà hiện nay Liên Bang Nga là người thừa kế chủ yếu Liên Bang Nga thừa hưởng cơ sở vật chất kỹ thuật hùng hậu và nền khoa học kỹ thuật công nghệ cao, đặc biệt là khoa học cơ bản Chi phí trong nước cho nghiên cứu và phát triển của Liên Xô cao hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 5% GDP Liên Xô xếp vị trí thứ 6 thế giới thời đó về số lượng giải thưởng Nobel
Trong số 7.973 cơ quan nghiên cứu, thiết kế cùng với số lượng cán bộ khoa học có trình độ cao -1,47 triệu người, Liên Bang Nga được thừa hưởng 60 -70% với 4.646 cơ quan và 993.000 cán bộ khoa học kỹ thuật Những trung tâm khoa học lớn nhất trước đây thuộc Liên Xô đều nằm trên lãnh thổ Liên Bang Nga
Tuy nhiên sau khi Liên Xô tan rã, do khủng hoảng kinh tế- xã hội nên nền khoa học của Nga đã phải chịu nhiều tác động nặng nề Nguồn tài chính đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ suy giảm nghiêm trọng Cho đến nay, mặc dù nền khoa học công nghệ của Nga vẫn thấp hơn các nước Mỹ, Nhật Bản, hay một số nước EU
Vậy một câu hỏi đặt ra, tại sao cần hợp tác với Nga trong khi Mỹ, Nhật Bản, Đức hay Hàn Quốc đang là những nước có nền khoa học công nghệ được đánh giá
là phát triển hơn?
Câu trả lời là, mỗi quốc gia đều có thế mạnh của riêng nước đó Nếu biết phát hiện và tận dụng được lợi thế so sánh đó thì Việt Nam sẽ thực sự nâng cao được tiềm lực khoa học trong nhiều lĩnh vực Thêm nữa, việc tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ ngoài ý nghĩa trực tiếp là phát triển khoa học công nghệ nước nhà, còn góp phần thắt chặt hơn quan hệ chiến lược toàn diện giữa hai nước, từ đó
- K51