Việt Nam được đánh giá là một trong 4 quốc gia có trái thanh long nhiều nhất thế giới. Hiện nay ở nước ta có hai vùng trồng thanh long xuất khẩu chính của cả nước là Chợ Gạo (Tiền Giang) và Bình Thuận, trong đó Bình Thuận là tỉnh đứng đầu cả nước về trái thanh long cả về sản lượng, diện tích, năng suất và chất lượng. Tổng diện tích trồng thanh long của hai vùng này là 14 nghìn hecta, chiếm trên 90% tổng diện tích cả nước.Những năm gần đây thanh long luôn là loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu ổn định. Thanh long là một trong 40 mặt hàng xuất khẩu lợi thế của quốc gia đã được Chính Phủ phê duyệt. Do đặc điểm khí hậu thuận lợi, thanh long ở Bình Thuận có thể đạt năng suất tới 25 tấnhecta. Chỉ tính riêng Bình Thuận, năm 2006 tổng sản lượng trái thanh long đạt 130 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu đạt 23 nghìn tấn thu về kim ngạch gần 14 triệu USD. Hiện nay, Bình Thuận đã phát triển diện tích thanh long lên đến gần 10 nghìn hecta.Thanh long nước ta được xuất khẩu sang trên 20 thị trường trong đó các thị trường lớn là Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan… và một số nước châu Âu. Thị trường châu Âu dù mới thâm nhập nhưng có triển vọng phát triển, nhất là ở các nước Hà Lan, Pháp, Đức, Anh. Để tăng và mở rộng cũng như xâm nhập vào nhiều thị trường hơn nữa thì Việt Nam đã xây dựng dự án GAP. Dự án thanh long GAP đang hợp tác với các hộ trồng, nhà xuất khẩu và các cơ quan nhà nước nỗ lực đạt chứng nhận EuroGAP và xây dựng chiến lược quảng bá để đẩy mạnh xuất khẩu cũng như củng cố thương hiệu thanh long chất lượng cao của Việt Nam.Nói tóm lại việc trồng cây thanh long, cùng với việc sản xuất các sản phẩm từ thanh long luôn được quan tâm, đẩy mạnh, và nghiên cứu phát triển thương hiệu cũng như đa dạng hóa các loại sản phẩm từ thanh long. Trái lại thì gần thì việc xử lý phế phụ liệu vỏ thanh long,cũng như hạt thanh long từ các quy trình xuất các sản phẩm từ thanh long chưa được quan tâm cao; và chỉ dừng lại ở mức độ với 1 vài bài nghiên cứu về tách chiếc một vài chất từ vỏ và hạt.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCMViện Công Nghệ Sinh Học – Thực Phẩm
XỬ LÝ PHẾ PHỤ LIỆUNỘI DUNG TIỂU LUẬNTẬN DỤNG VÀ XỬ LÝ PHẾ PHỤ LIỆU RƯỢU VANG TỪ THANH
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ quy trình sản xuất rượu thanh long đỏ
Hình 2.2 Các dạng sản phẩm chất màu betacyanin từ củ cải đường
Hình 2.3.: Sự kìm hãm tế bào ung thư melanin B16F10 khi nuôi trong dịch trích
từ thịt và vỏ trái thanh long (a) và betanin(b)
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình sản xuất bột màu bentacyanin từ vỏ thanh long
Hình 3.2: Tủ sấy dụng cụ
Hình 3.3: Bể siêu âm
Hình 3.4: Thiết bị cô quay
Hình 3.4 Quang kế UV-Vis
Hình 3.6:Cấu tạo máy sấy phun
Hình 3.7.Hệ thống sấy phun (A) hai giai đoạn; (B): Có sử dụng băng tải
Trang 3Hình 3.8: Sơ đồ quy trình thu nhận chế phẩm invertase từ bã nấm men
Hình 3.9: Tank chứa bã men
Hình 3.10:Máy ly tâm lọc
Hình 3.11 Sơ đồ quy trình sản xuất men khô và men tinh khiết từ bã nấm men Hình 3.12:Máy sấy thăng hoa
Hình 3.13: Sơ đồ quy trình sản xuất thức ăn gia súc
Hình 3.14.Cân và đóng bao Hình 3.15.Viên thành phẩm
Hình 3.16:Máy nghiền nhỏ giọt
Hình 3.17:Máy đảo trộn nằm ngang
Hình 3.18 :a.Thiết bị tạo viên b Thiết bị làm lạnh
Hình 3.19 Sơ đồ sản xuất dầu thực vật từ hạt thanh long
Hình 3.20: Thiết bị nghiền
Hình 3.21: Thiết bị chưng sấy
Hình 3.22: Thiết bị ép dầu
Hình 3.23: Sơ đồ quy trình sản xuất dầu
Hình 3.24 Mô hình bể thu gom
Hình 3.25 Mô hình bể điều hòa
Hình 3.26 Mô hình bể keo tụ
Hình 3.27 Mô hình bể lắng sơ cấp
Hình 3.28 Mô hình bể Aerotank
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Thành phần của vỏ thanh long
Bảng 2.2: Tính chất hóa lý của vỏ thanh long
Bảng 2 3: Thành phần các poly saccharide trong vỏ thanh long
Bảng 2.4: Thành phần hóa học của nấm men
Bảng 2.5: Thành phần acid béo ( so với tổng acid béo) trong hạt của hai loại
Hylocerreuss polyrhizus và Hylocerreuss undatus
Bảng 2 6: Thành phần tocopherol, acid phenolic và phytosterol của hạt thanh long
Bảng 2 7: Thành phần phân tích của men sấy khô
Bảng 2.8: Thành phần các vitamine trong Yeast extrac
Bảng 2.9:Thành phần chính của Yeast extract
Trang 4Bảng 2.10:Thành phần các amino acid trong Yeast extract
Trang 51 TỔNG QUAN PHẾ PHỤ LIỆU TRONG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT RƯỢU THANH LONG ĐỎ
1.1.Tổng quan về hiện trạng xử lý, khối lượng và xu hướng tận dụng phế phụ liệu
vỏ thanh long và hạt thanh long
1.1.1 Hiện trạng xử lý
Việt Nam được đánh giá là một trong 4 quốc gia có trái thanh long nhiều nhất thếgiới Hiện nay ở nước ta có hai vùng trồng thanh long xuất khẩu chính của cả nước làChợ Gạo (Tiền Giang) và Bình Thuận, trong đó Bình Thuận là tỉnh đứng đầu cả nước
về trái thanh long cả về sản lượng, diện tích, năng suất và chất lượng Tổng diện tíchtrồng thanh long của hai vùng này là 14 nghìn hecta, chiếm trên 90% tổng diện tích cảnước
Những năm gần đây thanh long luôn là loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu ổnđịnh Thanh long là một trong 40 mặt hàng xuất khẩu lợi thế của quốc gia đã đượcChính Phủ phê duyệt Do đặc điểm khí hậu thuận lợi, thanh long ở Bình Thuận có thểđạt năng suất tới 25 tấn/hecta Chỉ tính riêng Bình Thuận, năm 2006 tổng sản lượngtrái thanh long đạt 130 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu đạt 23 nghìn tấn thu về kimngạch gần 14 triệu USD Hiện nay, Bình Thuận đã phát triển diện tích thanh long lênđến gần 10 nghìn hecta
Thanh long nước ta được xuất khẩu sang trên 20 thị trường trong đó các thị trườnglớn là Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan… và một
số nước châu Âu Thị trường châu Âu dù mới thâm nhập nhưng có triển vọng pháttriển, nhất là ở các nước Hà Lan, Pháp, Đức, Anh Để tăng và mở rộng cũng như xâmnhập vào nhiều thị trường hơn nữa thì Việt Nam đã xây dựng dự án GAP Dự án thanhlong GAP đang hợp tác với các hộ trồng, nhà xuất khẩu và các cơ quan nhà nước nỗlực đạt chứng nhận EuroGAP và xây dựng chiến lược quảng bá để đẩy mạnh xuấtkhẩu cũng như củng cố thương hiệu thanh long chất lượng cao của Việt Nam
Nói tóm lại việc trồng cây thanh long, cùng với việc sản xuất các sản phẩm từthanh long luôn được quan tâm, đẩy mạnh, và nghiên cứu phát triển thương hiệu cũngnhư đa dạng hóa các loại sản phẩm từ thanh long Trái lại thì gần thì việc xử lý phếphụ liệu vỏ thanh long,cũng như hạt thanh long từ các quy trình xuất các sản phẩm từthanh long chưa được quan tâm cao; và chỉ dừng lại ở mức độ với 1 vài bài nghiêncứu về tách chiếc một vài chất từ vỏ và hạt
Trang 61.1.2 Khối lượng vỏ thanh long
Từ trái thanh long có thể thu được từ 70÷80% phần có thể ăn được Như vậy chỉtính riêng Bình Thuận, năm 2006 tổng sản lượng trái thanh long đạt 130 nghìntấn,điều này cũng tương đương với nghĩa sẽ có từ 26÷ 39 nghìn tấn vỏ được thải bỏ
ra từ trái thanh long trong năm này Sản lượng Thanh Long của Bình Thuận đến2015-2020 khoảng 390.000-400.000 tấn, việc cung cấp nguyên liệu cho chế biếnthuận lợi, như vậy sẽ có trung bình từ 79÷ 118.5 tấn vỏ (chưa tính những vùng khác
có trồng thanh long)
1.1.3 Xu hướng tận dụng phế phụ liệu
Hiện nay song song với việc phát triển các sản phẩm chế biến từ thanh long, vấn đềnghiên cứu thu hồi chất màu betacyanin có trong vỏ thanh long nhằm ứng dụng trongcông nghiệp thực phẩm là rất cần thiết; cũng như nghiên cứu trích ly đàu từ hạt thanhlong và nhiên cứu tách chiếc chất chống oxy hóa từ vỏ thanh long
1.2.Tổng quan về hiện trạng xử lý, khối lượng và xu hướng tận dụng phế phụ liệu
từ quá trình lên men
Nấm men bia thuộc loài Saccharomyces cerevisiae, có hoạt tính enzyme invertasenày thường tập trung chủ yếu trong lớp không gian chu chất của tế bào nấm men.Ngành công nghiệp sản xuất bia hàng năm thải ra một lượng rất lớn bã nấm men bia.Trung bình sản xuất 100 lít bia sẽ thu được 2 lít bã nấm men với độẩm 88% Hiện nay,
bã nấm men bia được sử dụng để sản xuất bột chiết nấm men (yeast extract) hoặc làmthức ăn gia súc Sản xuất chế phẩm invertase từ bã nấm men bia là một hướng nghiêncứu mới tại Việt Nam Trong công nghiệp thực phẩm như sản xuất nước giải khát,kẹo chế phẩm invertase thường được sử dụng để thủy phân đường sucrose tạo sảnphẩm đường nghịch đảo Dung dịch đường nghịch đảo có độ ngọt cao hơn và ít bịhiện tượng tái kết tinh đường hơn so với dịch đường sucrose
Nấm men sử dụng trong sản xuất rượu thanh long đỏ thường dùng là nấm mensaccharomyces và thường xử dụng khoảng 20g/ L dịch [14] Sau quá trình lên menchính bã nấm men và bã thanh long sẽ được tách bỏ khỏi dịch lên men Những bã mennày giàu protein , do vậy có thể nghiên cứu thu nhận chế phẩm invertase từ bã nấmmen này; hoặc có thể sản xuất men khô và men tinh khiết Hiện hiên người đangngiên cưu để thu nhận chế phẩm invertase để làm nước chấm
1.3.Tổng quan về hiện trạng xử lý, khối lượng và xu hướng tận dụng nước thải từ các nơi sản xuất bia rượu
Bia được sản xuất tại Việt Nam cách đây trên 100 năm tại nhà máy Bia Sài Gòn và nhàmáy Bia Hà Nội Hiện nay do nhu cầu của thị trường, chỉ trong một thời gian ngắn,
Trang 7rộng các nhà máy bia có từ trước và xây dựng các nhà máy bia mới thuộc Trung ương
và địa phương, các nhà máy liên doanh với các hãng bia nước ngoài
Hiện nay, cả nước có khoảng trên 320 nhà máy bia và các cơ sở sản xuất bia với tổng năng lực sản xuất đạt trên 800 triệu lít/năm Trong số đó, bia địa phương sản xuất ở
311 cơ sở (chiếm 97,18% số cơ sở) nhưng sản lượng chỉ chiếm 37,41% sản lượng bia
cả nước (đạt 231 triệu lít) và đạt 60,73% công suất thiết kế Công nghiệp sản xuất bia đang là ngành tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước và có hiệu quả kinh tế, vì vậy trong mấy năm qua sản xuất bia đã có những bước phát triển khá nhanh Do mức sống tăng, mức tiêu dùng bia ngày càng cao Năm 2000 có khoảng 81 triệu người và đến năm 2005 có thể là 89 triệu người dùng bia Do vậy mức tiêu thụ bình quân theo đầu người vào năm 2005 dự kiến đạt 17 lít/người/năm (sản lượng bia đạt khoảng 1.500triệu lít, tăng gấp 2 lần so với năm 2000) Bình quân lượng bia tăng 20% mỗi năm Công nghiệp sản xuất bia tạo nên một lượng lớn nước thải xả vào môi trường Hiện nay tiêu chuẩn nước thải tạo thành trong quá trình sản xuất bia là 8-14 l nước thải/lít bia, phụ thuộc vào công nghệ và các loại bia sản xuất Các loại nước thải này chứa hàm lượng lớn các chất lơ lửng, COD và BOD dễ gây ô nhiễm môi trường Vì vậy các loại nước thải này cần phải xử lý trước khi xả ra nguồn nước tiếp nhận
Trang 82 CÁC PHẾ PHỤ LIỆU TRONG QUY TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU VANG THANH LONG ĐỎ
2.1 Quy trình sản xuất rượu vag thanh long đỏ
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình sản xuất rượu thanh long đỏ
Thanh long
Vỏ
Xử lý sơ bộ
BãÉp
Lên men chínhNấm men
BãTách cặn
Lên men phụ
BãTách cặn
Tàng trữ, lắng
Sản phẩmĐóng chai
Trang 92.2 Các thành phần phế phụ liệu – Phân loại – Tính chất các phế phụ liệu
2.2.1 Các phế phụ liệu trong sản xuất rượu thanh long đỏ
Các phế phụ liệu trong sản xuất rượu thanh long đỏ gồm có như sau:
Vỏ thanh long trong quá trình xử lý sơ bộ
Trong quá trình tách cặn của lên men chính và lên men phụ có các phế phụ liệunhư: bã nấm men, bã trái thanh long ( thịt và hạt)
Nước thải trong sản xuất , như ở các công đoạn lên men chính và lên men phụ,công đoạn thành phẩm và các công đoạn khác…
2.2.2 Phân loại- Tính chất của các phế phụ liệu
2.2.2.1Vỏ thanh long
Nghiên cứu trên thành phần tính chất hóa lý của vỏ thanh long (Hylocerreuss
polyrhizus) của các tác giả: Jamilah, B.Shu, C.E, Kharidah, M., Dzulkifly, M.A và
Noranizan, A (2011) Kết quả là vỏ chiếm khoảng 22% so với khối lượng toàn bộ trái,được bỏ đi trong quá trình chế biến Hàm ẩm khoảng 92.7% và chứa các chất rắn hòatan, protein, tro, chất béo
Vỏ chứa hàm lượng cao sắc tố bentacyanin (150.46 mg/100g) và pectin (10.8%),phát hiện có đường glucose, maltose và fructose nhưng không phát hiện sucrose vàgalactose Vỏ chứa nhiều chất sơ hòa tan và không tan, với tỷ lệ của chất xơ không hòatan so với chất sơ hòa tan là 3.8: 1.0
Bảng 2.1 Thành phần của vỏ thanh long
Trang 10Fumaric
Total acid
0.190.011.72
Bảng 2 3: Thành phần các poly saccharide trong vỏ thanh long
Bảng 2.4: Thành phần hóa học của nấm men
Trang 11Tính chất của nấm men: Trong sản xuất rượu thanh long đỏ thường xử dụng nấmmen Saccharomyces Nấm men này thường có hai loại với tính chất như sau:
Nấm men nổi ( Saccharomyces cerevisies) Nấm men chìm (Saccharomyces
carlbergensis)
Tế bào nấm men mẹ và con sau nảy chồi
thường dính lại với nhau tạo thành như
chuỗi các tế bào nấm men còn hình dạng
chủ yếu hình cầu hoặc ovan với kích thước
7 – 10 μ
Hầu hết các tế bào khi quan sát thì nảy chồiđứng riêng lẻ hoặc cặp đôi Hình dạng chủyếu là hình cầu
Quá trình trao đổi chất của nấm men nổi
xảy ra mạnh trong quá trình hô hấp sinh
khối thu được nhiều hơn nấm men chìm
Quá trình trao đổi chất của nấm men chìmchủ yếu xảy ra trong quá trình lên men
chỉ sử dụng được 1/3 đường raffinoza có thể sử dụng hoàn toàn đường raffinoza
Khả năng tạo bào tử của nấm men chìm lâuhơn và hạn chế hơn nấm men nổi
Nấm men nổi nổi lên bề mặt dịch trong và
cuối quá trình lên men chính Nấm men chìm lắng xuống đáy thiết bị khikết thúc lên men chính
Có 2 loại tuỳ thuộc khả năng kết lắng của
nó là nấm men bụi và nấm men kết bông.Nấm men nổi lên men ở 14 - 250C Nấm men chìm có thể lên men 4 - 120C
S cerevisiae không chứa gen MEL do đó
không chuyển hoá được đường melibioza
Cả hai loại thanh long (Hylocerreuss polyrhizus và Hylocerreuss undatus) chứa
khoảng 50% acid béo không thay thế ( C18:2 (48%) và C18:3 (1.5%)) trong dầu trích
ly từ hạt trái thanh long Acid linoleic, acid oleic và acid panmitic là 3 thành phần chủyếu trong hạt của hai loại thanh long
Trang 12Bảng 2.5: Thành phần acid béo ( so với tổng acid béo) trong hạt của hai loại
Hylocerreuss polyrhizus và Hylocerreuss undatus
Một kết quả nghiên cứu trên hạt trái thanh long của hai loài này năm 2010 sau đócủa Abdul Aziz Ariffin và cộng sự công bố thành phần của phytosterol và phenolic.Trong nhóm tocopherol -tocopherol chiếm khoảng 73% trong hạt thanh long ruột
đỏ, và khoảng 65% trong thanh long ruột trắng -tocopherol là tocopherol chính là dầuolive (~93%) Dầu hướng dương (~96%), trong khi -tcoopherol chiếm ưu thế trongdầu nành (~63%), và dầu cây cải dầu (~63%) (Degreyt, 1998) Nói chung, -tocopherolchứa hơn 60% hàm lượng vitamin E với phần lớn dầu thực vật, trừ vài ngoại lệ nhưdầu cọ
Bảng 2 6: Thành phần tocopherol, acid phenolic và phytosterol của hạt thanh
long
Trang 132.2.2.3Nước thải
Nước thải trong quy trình sản xuất rượu thanh long đỏ có thể được chia ra theo cáccông đoạn như sau:
- Ở công đoạn lên men chính và lên men, nước thải ở đây sẽ chứa nhiều bã
men-giàu protein và các chất khoáng ,vitamin, cũng như sắc tố màu đỏ của bã thanh long.
- Ở công đoạn thành phẩm: nước thải sẽ được thải ra từ các công đoạn như là lọc,chiết block, rửa chai, thanh trùng chai…Nước thải này sẽ chứa các bột trợ lọc lẫn bãmen, lẫn rượu bị chảy ra ngoài
- Ở các công đoạn khác, nước thải được thải ra từ các công đoạn phục vụ cho nhàmáy như là nước rửa bã, rửa thiết bị…
2.2.3 Hướng phát triển các sản phẩm mới tận dụng từ các phế phụ liệu trong sản xuất rượu thanh long đỏ
2.2.3.1 Đối với phế phụ liệu vỏ thanh long
Trong vỏ thanh long có hàm lượng cao sắc tố bentacyanin: 150.46 mg/100g Nó lànhóm sắc tố betalain có màu đỏ - đỏ tím
Betacyanin đơn giản nhất là betanidin được cấu tạo từ một đơn vị phân tử acidbetalamic liên kết với một phân tử cyclo-DOPA (Wyler và Dreiding, 1961)
Tính chất vật lý và hóa học của betacyanin:
Sự tồn tại của hệ thống 6 nối đôi liên hợp trong betacyanin dẫn đến những tínhchất lý – hóa đặc trưng của hợp chất này
Sự hấp thụ ánh sáng và màu sắc: Các phân tử betacyanin có khả năng hấp thụ bức
xạ khả kiến trong vùng từ 534 - 554 nm, tạo nên màu đỏ đến đỏ-tím
Trang 14Phản sẫm
Tính tan: Do phân tử chứa nhiều nhóm chức phân cực (- OH, - COOH, - NH) , các
sắc tố betacyanin đều dễ tan trong nước hay dung dịch etanol-nước,
tục
Trang 15pH < 3,5: màu tím-xanh lơ (λmax = 535 nm ở pH = 2)
pH > 7: màu tím-lơ đậm (λmax = 544 nm ở pH = 9).
Môi trường kiềm mạnh có thể làm betcyanin bị thủy phân thành betanidin (màu đỏ)hay thành betaxanthin (màu vàng) Tuy nhiên, phản ứng thủy phân betacynin có tínhthuận nghịch Khi thêm acid ascorbic, isoascorbic, metaphosphoric hoặc acidgluconic vào dung dịch betanin bị thủy phân thì betcyanin được tái tạo trở lại và dungdịch sẽ có màu sắc như ban đầu (Elbe và ctv., 1981; Bilyk và Howard, 1982)
Ảnh hưởng của ánh sáng, nhiệt, oxy không khí, độ ẩm:
Betacyanin bị phân hủy dưới tác dụng của ánh sáng Nhiệt độ càng cao thì tốc độphân hủy càng mạnh Do đó, betacyanin thường chỉ dùng để tạo màu cho các thựcphẩm bảo quản lạnh như kem, sữa chua, thức uống từ sữa,…(Pasch và ctv., 1975).Betcyanin cũng rất dễ bị oxy hóa khi có mặt trong các sàn phẩm có hàm lượngnước cao hoặc chứa các ion kim loại (Ví dụ: Fe hay Cu) Các chất chống oxy hóa nhưacid ascorbic và việc bao gói các sản phẩm có chứa betacyanin một cách thích hợp cóthể làm chậm quá trình lại Tuy nhiên, betacynin không bị biến đổi khi thanh trùng sảnphẩm có chứa hàm lượng đường cao
Hướng phát triển sản phẩm mới tận dụng từ vỏ thanh long
Làm chất màu:
Như đã biết, các betalain/betacyanin mang lại sự đa dạng, phong phú về màu sắccho hoa của nhiều loài thực vật Nhờ vậy, tạo nên sức hấp dẫn đối với các loải côntrùng, giúp cho quá trình thụ phấn và phát tán hạt của thực vật được dễ dàng (Clement
và Mabry, 1996)
Nhờ có màu rất đẹp, các betalain được dụng làm chất màu trong công nghiệpthực phẩm Ở vùng Trung và Nam Mỹ từ lâu người dân địa phương từ lâu đã sử dụng
dịch chiết từ quả thanh long màu tím đỏ (Hylocereus polyrhizus) làm chất tạo màu
cho thực phẩm (Stintzing và ctv., 2002) Đặc biệt, betcyanin (chất màu có mã sốE162) được ứng dụng để tạo màu cho nhiều loại thực phẩm khác nhau như thịt, xúc
Trang 16xích, thịt muối, kem lạnh, yaourt, các loại nước giải khát, các loại mứt, kẹo, các sảnphẩm từ cà chua,…
Trong quá trình bảo quản, thành phần betalain/betacyanin trong các dịch chiết sẽdần dần bị phân hủy do ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và hoạt độ nước Do đó, các thựcphẩm chứa chất màu betalain dần dần bị phai màu hay mất màu tùy theo điều kiệnbảo quản Do đó, các betalain/betacyanin có thể được thêm vào thực phẩm hay dượcphẩm để làm chỉ thị màu cho biết độ tươi hay độ mới của các sản phẩm này Khi màucủa betalain bị chuyển thành màu nâu hay mất màu có nghĩa là các sản phẩm trênđược bảo quản không đúng cách và chất lượng đã bị biến đổi
Nguồn betacyanin tự nhiên chủ yếu được khai thác thương mại hiện nay là củ
cải đường (Beta vulgaris) Dịch chiết betacyanin từ nguồn nguyên liêu này chứa
khoảng 95% betacyanin Ngoài ra, cũng có một hàm lượng nhỏ sắc tố betaxanthin(màu vàng), tuy nhiên màu này bị màu tím đỏ của betacyanin lấn át Ngoài chất màubetacyanin, dịch chiết củ cải đường còn có chứa các đường, muối hoặc các protein tựnhiên Do vậy, sau khi cô đặc, sản phẩm thô được tinh chế để loại bỏ các tạp chất này.Ngoài ra, các acid thực phẩm (ví dụ: acid citric, lactic, L-ascorbic) có thể được thêmvào làm tác nhân khống chế pH và chất ổn định Sản phẩm betacyanin thương mại cóthể ở dưới dạng dịch chiết cô đặc hay ở dạng bột khô (bằng cách trộn chất mang thíchhợp với dịch chiết cô đặc rồi sấy phun) Các sản phẩm betacyanin thô và tinh chế đã
và đang được sử dụng rộng rãi làm phụ gia tạo màu với sản lượng hàng năm ở EU cólúc lên đến gần 4000 tấn và đang có xu hướng ngày càng gia tăng
Hình 2.2 Các dạng sản phẩm chất màu betacyanin từ củ cải đường
Hiện nay cũng có một số nghiên cứu sinh tổng hợp betacyanin bằng phươngpháp nuôi cấy mô sẹo tế bào củ cải đường (Mukundan và ctv., 1998, 2001; Akita vàctv., 2002) Tuy vậy, sản phẩm chất màu thu được có giá thành quá cao nên không thểứng dụng thương mại
Do dịch chiết củ cải đường có mùi đất và nồng độ nitrite và nitrate cao nên
Trang 17không hấp dẫn người tiêu dùngnên gần đây đã xuất hiện xu hướng nghiên cứu chiếtbetacyanin từ vỏ thanh long thay thế cho củ cải đường Kết quả nghiên cứu cho thấyđây cũng là nguồn betacyanin tiềm năng, có thể khai thác ứng dụng làm chất màuthực phẩm.
Làm thực phẩm chức năng ngăn ngừa ung thư, chống xơ vữa động mạch; và chất chống oxy hóa dùng cho thực phẩm.
Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy củ cải đường là một trong 10 loại rau quả
có tác dụng oxy hóa mạnh nhất (Hanvorsen và ctv., 2002; Ou và ctv., 2002) và dịch
chiết củ cải đường có thể được sử dụng như là một phương thuốc ngăn ngừa ung thư
và chống xơ vữa động mạch Điều này được giải thích là do củ cải đường chứa một
hàm lượng khá lớn betacyanin (300-600 mg/kg) Betacyanin có tác dụng như là một
chất chống oxy hóa nhờ khả năng bắt giữ các gốc tự do có thể làm đột biến tế bào vàgây ra những rối loạn trong sự trao đổi chất Tác dụng chống oxy hóa rất tốt củabetacyanin cũng được giải thích bởi khả năng hấp thụ tốt betacyanin bởi thành ruộtnon và sự gắn kết dễ dàng của betacyanin với màng tế bào do sự có mặt của nhómđịnh chức cationic (-N+H)
Thanh long còn được chú ý đến với hàm lượng các chất chống oxy hóa và có tínhkháng sinh Kết quả nghiên cứu của Wu và cộng sự (2006) trên trái thanh long ruột đỏ
(H.polyrhizus) cho thấy:
Ở ruột và vỏ của thanh long có chứa một lượng đáng kể hợp chất phenolic, vớihàm lượng tương đương nhau Kết quả đo bằng phép thử Folin-Ciocalteu cho thấytổng hàm lượng phenolic trong thịt trái là 42.4±0.04mg đương lượng acid galic/100gkhối lượng thịt trái, và trong vỏ trái là 39.7±5.39mg đương lượng acid galic(GAE)/100g khối lượng vỏ Hàm lượng flanoid trong thịt trái và vỏ không khác nhaunhiều
Quan hệ giữa hà lượng phenolic và khả năng chống oxy hóa của chúng trong vỏ
và thịt là quan hệ tuyến tính Cơ chế chống oxy hóa của phenolic là bằng cách phảnứng với góc tự do, tạo phức với xúc tác kim loại và lấy đi đi oxi Betanin có nhómimino và nhóm hydroxyl góp phần tạo nên hoạt tính chống oxy hóa, có thể giải thíchmột phần rằng vỏ có tính chất chống oxy hóa cao hơn là vì hàm lượng mức độbetanin trong vỏ cao hơn Hơn thế betanin cũng sẽ có ảnh hưởng lên hiệu quả khángsinh
Trang 18Hình 2.3.: Sự kìm hãm tế bào ung thư melanin B16F10 khi nuôi trong dịch trích
từ thịt và vỏ trái thanh long (a) và betanin(b)
Nghiên cứu sử dụng vỏ quả thanh long sản xuất mứt nhuyễn
Nhóm nghiên cứu: Võ Thanh Tòng, Ngụy Lệ Hồng, Đàm Sao Mai, Viện Côngnghệ sinh học và thực phẩm đã nghiên cứu tìm ra ứng dụng mới của vỏ quả thanhlong, vốn là phế phẩm bị loại bỏ sau khi sử dụng Nghiên cứu này sử dụng vỏ thanhlong làm nguyên liệu chính sản xuất mứt nhuyễn, vì vậy mang tính kinh tế cao Mứtquả sử dụng 0,3% enzyme pectinase, bổ sung 0,2% pectin cho kết quả cảm quan thịhiếu cao Sản phẩm hoàn toàn có thể phát triển theo quy mô công nghiệp
Nghiên cứu ứng dụng vỏ quả thanh long để sản xuất mứt nhuyễn vừa làm tănggiá trị thương phẩm của quả, vừa tạo ra một sản phẩm mới Mứt nhuyễn là sản phẩmđược nhiều người ưa chuộng Nó được chế biến từ quả tươi hoặc quả bán chế phẩmnấu với đường đến độ khô 65-70% Vỏ thanh long có hàm lượng pectin và betacyanincao rất phù hợp cho việc sản xuất mứt nhuyễn Kết quả nghiên cứu đưa ra tỉ lệ thànhphần tối ưu cho việc chế biến mứt nhuyễn từ vỏ thanh long như sau: Ezyme pectinase(0,3%) với thời gian xử lý 60 phút, nồng độ chất khô ban đầu của nguyên liệu (50-55%), thời gian cô đặc (15-20 phút), hàm lượng pectin bổ sung (0,2%) Nhìn chung,sản phẩm mứt nhuyễn vỏ thanh long chế biến theo quy trình trên đã đạt được một sốgiá trình cảm quan về màu sắc, vị và cấu trúc Điểm cảm quan thị hiếu sản phẩm nằm
ở mức tương đối thích
2.2.3.2 Đối với phế phụ liệu bã nấm men
Sản xuất men khô
Mục đích của việc sấy khô men tươi
Để giữ men không bị biến dạng hoặc lỏng
Giữ gìn và duy trì các thành phần của men
Trang 19Giúp men đặc tính có thể bảo quản lâu dài
Giúp men có thêm đặc tính dễ sử dụng
Tăng cường tính chất có thể bảo quản lâu dài và tiêu diệt các vi khuẩn có hại
Ứng dụng của men khô
Tại Nhật Bản, khoảng 1000 tấn men khô được sử dụng để làm thuốc dạng viên hoặcbột, và người ta tính ra rằng giá trị cuối cùng của 1000 tấn men khô đó là vào khoảng
từ 3 đến 4 tỷ yên Ngoài ra, men khô còn được sử dụng để làm nguyên liệu nuôi trồng, nguyên liệu chế biến thực phẩm bổ dưỡng, hay là nguyên liệu chế biến thức ăn động vật trên cạn và dưới nước
Ngoài các tác dụng về thuốc hay dinh dưỡng nói trên,màng tế bào men được cấu tạo
từ gluagon và mannan, có tác dụng như sợi thực vật, tác dụng rất hữu hiệu, và người ta
đã từng công bố trong một thí nghiệp lên động vật rằng, nhờ vào khả năng tăng cường miễn dịch , nó còn có tác dụng ngăn chặn bệnh ung thư
Do xuất hiện thông tin, khi hòa lẫn sữa chua với men của rượu này, không những không hề làm giảm lượng dinh dưỡng, người phát triển báo tốt, mà còn có tác dụng ăn kiêng Do vậy mà lượng tiêu thụ tăng hết sưc nhanh Trong năm tài chính 2001, thực phẩm dinh dưỡng là có doanh thu tăng nhanh nhất
Bảng 2 7: Thành phần phân tích của men sấy khô
(Willian Bio- Products)
Sản xuất men chiết xuất
Men chiết xuất ngoài việc được ứng dụng làm chất dinh dưỡng, làm thuốc, chất kích thích lên men các thành tố như acid amin, giấm ăn…, thuốc chữa các loại bệnh động vật, nó còn được dùng làm gia vị tự nhiên để tăng thêm vị ngon của các món ăn Bản chất của quá trình sản xuất men chiết xuất chính là quá trình thủy phân nấm men bánh mì hay phế liệu nấm men trong rượu này thành một hỗn hợp các chất như amino
Trang 20acid, nucleotide, chuỗi peptide, protein, đường vitamin và các hợp chất có vị thơm ngon.
Giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình sản xuất men chiết xuất là quá trình phá
vỡ vách tế bào nấm men Có nhiều phương pháp để thực hiên như phương pháp hóa học, phương pháp sử dụng enzyme hay cho nấm men tự nhiên phân trong môi trường nước Tuy nhiên người ta nhận thấy khi kết hợp nhiều phương pháp lại với nhau thì thấy cho kết quả tốt hơn
Một số sản phẩm tiêu biểu của men chiết xuất
Yeast extract được sản xuất bằng phương pháp tự phân hủy hay hóa giải của tế bào nấm men trong rượu thanh long , tế bào nấm men bánh mì Tuy nhiên, người ta thườngsản xuất nó từ nấm men bia ( hay men trong rượu thanh long đỏ) hơn, vì nấm men bia được coi là nguyên liệu rẻ tiền hơn và có thể sản xuất với số lượng lớn Yeast extract được sản xuất từ nấm men bánh mì thường có hàm lượng carbohydrate cao hơn yeast extract từ nấm men bia, nhưng hàm lượng protein lại thấp hơn Yeast extra bao gồm các hợp chất hòa tan của tế bào nấm men như : amino acid, nucleotide, peptide,
carbonhydrate, vitamin và đặc biệt là nguồn giàu vitamine và đặc biệt là nguồn giàu vitamin B
Bảng 2.8: Thành phần các vitamine trong Yeast extrac
Trang 212.2.3.3 Đối với phế phụ liệu hạt thanh long 2.2.3.4 Đối với phế phụ liệu nước thải
Trang 22Vỏ thanh long phế thải
Xử lý thích hợpDung môi: etanol 40% (v/v) + vitamin C 0,01% (w/v)Dmôi/N.Liệu: 20/1 (v/w)
Phương pháp chiết:
Siêu âm: 35 min/lần chiết; 450C ( hay: Ngâm chiết, t0phòng; 6 h/lần)Chiết 3 lần (trong tối)Chiết
3 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN PHẨM TỪ CÁC PHẾ PHỤ LIỆU CỦA
QUY TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU THANH LONG ĐỎ
3.1 Quy trình sản xuất chất màu betacyanin từ vỏ thanh long
3.1.1.Quy trình sản xuất chất màu betacyanin từ vỏ thanh long
Trộn với dung dịch maltodextrin
Trang 23Hình 3.1: Sơ đồ quy trình sản xuất bột màu bentacyanin từ vỏ thanh long
3.1.2.Thuyết minh quy trình- Thông số kỹ thuật
Xử lý sơ bộ:
Vỏ thanh long đem cắt bỏ các phần không có màu đỏ (cuống, đầu, tai) và nạo bỏphần không màu bên trong Sau đó, cắt thành miếng nhỏ, bảo quản lạnh (- 200C) đếnkhi chiết
Thông số kỹ thuật:
- Đường kính miếng vỏ thah long: 2-3mm
- Nhiệt độ bảo quản: - 200C
Giai đoạn chiết
Khi chiết cứ 1 kg vỏ thanh long tươi thì thêm vào 20 lít etanol 40% (v/v) chứa0,01% (w/v) vitamin C Tiến hành chiết betacyanin bằng cách siêu âm trong 35 phút
ở 450C (hay ngâm ở nhiệt độ phòng trong 6 h) Sau thời gian trên, gạn lấy dịch chiết
và lặp lại quá trình trên thêm 2 lần nữa với phần bã còn lại Tất cả các thao tác trênđều thực hiện trong bóng tối
Các dịch chiết betacyanin sau đó được gộp lại, lọc hút chân không để loại bỏ các tạpchất lơ lửng
- Chiết 3 lần (trong tối)
Giai đoạn cô đặc betacyanin
Dịch chiết sau đó được đem cô đuổi dung môi bằng thiết bị cô quay dưới áp suấtthấp (tốc độ quay: 150 vòng/phút, nhiệt độ không quá 400C) để tránh sự phân hủybetacyanin Khi cô đặc chú ý giảm áp suất từ từ xuống 100 mbar, sau đó tiếp tụcgiảm dần xuống 40 mbar để tránh sự sôi trào quá mạnh của dịch chiết gây thất thoátchất màu
Sau khi đuổi dung môi, thu được dịch chiết thô chứa betacyanin cô đặc
Thông số kỹ thuật:
- Tốc độ quay: 150 vòng/phút
Trang 24- Nhiệt độ không quá 400C.
- Áp suất : 100 mbar
Giai đoạn tinh chế betacyanin
Dịch chiết beacyanin cô đặc có thể được tinh chế bằng cách chiết betacyanin sangcloroform Sau đó, kết tinh betacyanin bằng cách thêm etanol 3/1 (v/v) và để ở 40Cqua đêm Gạn và rửa tinh thể betacyanin bằng etanol lạnh
Hòa tan betacyanin tinh thể trong nước và bổ sung maltodextrin (tỷ lệ thích hợp).Thông số kỹ thuật:
- Tỷ lệ thêm etanol 3/1 (v/v)
- Nhiệt độ: ở 40C, thời gian: để qua đêm
Công đoạn sấy phun
Sấy phun hỗn hợp betacyanin-maltodextrin để thu bột màu betacyanin
Tất cả các thao tác trên nên thực hiện trong bóng tối
Ứng dụng:
Trang 25Cân phân tích điện tử có khả năng cân thường rất nhỏ vì vậy nó được sử dụng để
cân phân tích các mẫu có khối lượng nhỏ, độ phân giải và chính xác cao, giá trị lớn, rấtthích hợp sử dụng trong các phòng thí nghiệm , các viện nghiên cứu, cơ sở y tế, thú ý, viện nghiên cứu… cân khối lượng nhỏ độ chính xác cao
Phân loại theo độ chính xác của cân
Cân phân tích dao động tuần hoàn: nhược điểm là sự tắt dần dao động của đòn dây xảy ra rất chậm Vì vậy, cân trên loại này hay mất nhiều thười gian và rất mệt
Cân phân tích dao động tuần hoàn: hiện đại hơn, dao động không điều hòa, cân nhanh, bời vì nó có bộ phận hãm đòn cân và kim cân bằng từ
Sau này, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, loại cân dao động tuần hoàn bị loại
bỏ hoàn toàn, chỉ sử dụng cân dao động không tuần hoàn Đồng thời có một loại cân mới xuất hiện đó là cân phân tích điện tử với loại cân này có teher cân nhanh, chính xác, ít bịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài hơn các loại cân trên
Hướng dân sử dụng :Kỹ thuật cân trên cân phân tích điện tử gọi là kỹ thuật cân gián tiếp để tránh đưa mẫu trực tiếp lên bàn cân làm tăng tuổi thọ cho cân
Nguyên tắc cân các dạng hóa chất khác nhau:
- Kiểm tra tên hóa chất, nguyên liệu có đúng công thức cần pha chế, định lượng
- Nếu cân nhiều hóa chất trong công thức, cần có nhãn đánh dấu và ghi rõ tên,khối lượng chất đã cân để tránh nhầm lẫn
- Khi cầm các chai hóa chất, xoay nhãn vào long bàn tay(nếu chai có 1 nhãn),xoay nhãn sang 2 bên (nếu chai có 2 nhãn)
- Lấy hóa chất rắn bằng vảy mica, carton…
- Lấy hóa chất lỏng bằng đũa thủy tinh, hoặc pipet, hoặc becher
- Các hóa chất dễ chảy lỏng ( KI, phenol ), chất oxy hóa manh (iod), hoặc chấtdẻo (vaselin, lanolin ) phải cân trên mặt kính đồng hồ
- Các chất rắn cần nghiền, rây thì phải nghiền, ray trước khi cân
- Thêm bớt hóa chất nhẹ nhàng trước khi cân
Trang 26Cách cân:
- Kiểm tra tình trạng cân: nguồn điện, vệ sinh
- Cắm điện kiểm tra hiển thị đơn vị khối lượng, khởi động trước 10 phút để cân ởchế độ làm việc ổn định
- Lót đĩa cân bằng giấy cân
- Bấm nút để cân trở về trạng thái zero
- Cho mẫu vào giấy cân nhẹn nhàng tránh rơi mẫu
- Kiểm tra đúng với khối lượng cần cân
- Ghi khối lượng chén cân (có thể dùng nút zero để trừ)
- Cân lần lượt các mẫu cần cân, sau mỗi lần cân đều đưa cân về trạng thái zero
- Đọc kết quả
- Đưa chén ra khỏi cân và tắt cân
Lưu ý nên vệ sinh cân và xung quanh chỗ đặt cân sau mỗi lần sử dụng cân
Tủ sấy dụng cụ
Hình 3.2: Tủ sấy dụng cụ
Bể siêu âm Elmasonic S300H
Hình 3.3: Bể siêu âm
Trang 27Các bước sử dụng bể siêu âm:
Bước thứ nhất: Trộn đúng tỉ lệ dung dịch tẩy rửa (dung môi) vào bể rửa siêu âm
Bước thứ hai: Bật nguồn, đến các phím điều khiển chọn đặt chế độ tần số, đặt nhiệt độ và thời gian tẩy rửa siêu âm
Bước thứ ba: Cho thiết bị cần tẩy rửa vào trong bể (Dùng giỏ bằng thép không rỉ, hoặc khay tùy chọn) và nhấn nút bắt đầu (Như nút Start hay Play)
Bước thứ tư: Đợi kết thúc thời gian, tắt máy và lấy vật tẩy rửa ra khỏi bể rửa siêu âm
Thiết bị cô quay
Trang 28Hình 3.4: Thiết bị cô quay
Ứng dụng: Máy cô quay chân không, thiết bị tạo môi trường phản ứng chân
không, cô đặc dung dịch, tách chiết dung môi, sấy khô vật liệu nhạy với nhiệt độ (thường là thuốc bột) Máy cô quay chân không được sử dụng phổ biến trong công nghệ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, nghiên cứu khoa học và thực nghiệm
Quang kế UV-Vis Genesys 20
Hình 3.4 Quang kế UV-Vis
Máy sấy phun
Hệ thống sấy phun là hệ thống chuyên dùng để sấy các dạng dung dịch huyền phù Trong công nghiệp thường sử dụng hệ thống sấy phun hai giai đoạn hoặc hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải Hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải là phổ biến nhất hiệnnay
Trang 29Hình 3.6:Cấu tạo máy sấy phun
1:Tháp sấy; 2: Hệ thống phun mù; 3: Bộ phận phân phối không khí nóng; 4:Quạt hút không khí; 5:Bộ lọc khí; 6: Calorife; 7: Quạt hút không khí sau khi sấy; 8: Cyclon thu hồi bụi sản phẩm sau khi sấy; 9: Bộ phận thu hồi sản phẩm
A B
Hình 3.7.Hệ thống sấy phun (A) hai giai đoạn; (B): Có sử dụng băng tải
Trang 303.2 Thu nhận chế phẩm Invertase từ bã nấm men
Trước khi thực hiện quá trình tự phân, bã nấm men dạng sệt được thu từ nhà máy đêm phối trộn với nước vô khuẩn theo tỉ lệ nấm men/nước là 1/3 (w/w), rồi để lắng trong 1 giờ và gạn bỏ phần nước bên trên
Tiếp tục trộn sinh khối nấm men với dung dịch nước muối NaCl (0,5%) theo tỉ lệ 1/3 (w/w)
Sau 1 giờ, gạn nước và tiến hành ly tâm (3000 vòng /phút) để thu nhận sinh khối nấm men Tiếp theo, sinh khối nấm men được phối trộn với dung dịch đệm với tỉ lệ nấm mem/dung môi: 1/6 (w/w), nhiệt độ tự phân 450C, pH ban đầu 5,5 và thời gian tự phân là 50 giờ để thực hiện quá trình tự phân
Sau quá trình tự phân, mẫu được ly tâm (7000 vòng/ phút) để tách bỏ phần không tan, phần dịch lỏng thu được là chế phẩm invertase thô
Bã nấm men
Tách cặn
Chế phẩm invertase thô
Trang 313.2.3.Thông số kỹ thuật
Phương pháp thu nhận chế phẩm invertase
Dịch chiết invertase thu nhận từ nấm men S.cerevisiae bằng phương pháp nghiền.Kết tủa enzyme bằng ethanol 96% lạnh với tỉ lệ dung dịch enzyme/ethanol là 1/3
Ly tâm, thu nhận kết tủa enzyme, pha với thể tích nước (V) nhất định và ta có dung dịch invertase (CPInver)
Lượng protein hòa tan được xác định bằng phương pháp Lowry
Phương pháp xác định hoạt tính invertase cho vào erlen 4 ml dung dịch đệm acetate
pH 4.5, 4,6ml nước cất và 0,4ml dịch chứa enzyme Thêm vào 1ml dung dịch đường sucrose nồng độ 20g/l Cho phản ứng enzyme xảy ra chính xác trong 15 phút Sau đó xác định lượng đường khử tạo thành bằng phương pháp DNS, từ đó suy ra số mol sucrose đã bị thủy phân
Một đơn vị hoạt tính invertase là lượng enzyme cần thiết để thủy phân 1 micromol đường sucrose trong 1 phút ở điều kiện pH 4.5 và ở nhiệt độ 300C
3.2.4.Ứng dụng của chế phẩm invertase
Trong công nghệ sản xuất nước giải khát, bánh, kẹo chế phẩm invertase thường được sử dụng để thủy phân đường sucrose tạo sản phẩm đường nghịch đảo (dung dịchđường nghịch đảo có độ ngọt cao và ít bị hiện tượng tái kết tinh đường hơn so với dịchđường sucrose)
3.2.5.Thiết bị sử dụng
Các tank chứa bã men
Hình 3.9: Tank chứa bã men