MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 5 1.1.1. Các nghiên cứu về mô hình Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước 5 1.1.2. Các nghiên cứu về cơ chế quản l , giám sát tài chính trong Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước 9 1.1.3. Tổng hợp các kết quả chính của các công trình nghiên cứu 17 1.1.4. Khoảng trống nghiên cứu 18 1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG 18 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ L LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 22 2.1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 22 2.1.1. Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn Tài chính 22 2.1.2. Phân loại Tập đoàn Tài chính 26 2.2. CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH .................................................................................................................................. 30 2.2.1. Khái niệm cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 30 2.2.2. Nộidungcủacơchế quản l tài chínhcủa Nhànướcvới Tập đoàn Tài chính 33 2.2.3. Tổ chức quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 57 2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 60 2.3. KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 64 2.3.1. Cơ chế quản l tài chính của Nhà nước đối với Tập đoàn Tài chính ở một số quốc gia 65 2.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 77 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79 CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 80 3.1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 80 3.1.1. Sự hình thành Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 80 3.1.2. Đặc trưng của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 82 3.1.3. Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 86 3.1.4. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 91 3.2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 95 3.2.1. Quá trình xây dựng khung pháp l về quản lý tài chính đối với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 95 3.2.2. Thực trạng tổ chức quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 98 3.2.3. Thực trạng cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 101 3.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 144 3.3.1. Kết quả đạt được 144 3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 146 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 166 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 167 4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 167 4.1.1. Định hướng, mục tiêu phát triển của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 167 4.1.2. Quan điểm hoàn thiện cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 171 4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 173 4.2.1. Hoàn thiện cơ chế quản l huy động vốn của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ....................................................................................................................... 173 4.2.2. Hoàn thiện cơ chế quản l sử dụng vốn của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ....................................................................................................................... 177 4.2.3. Hoàn thiện cơ chế quản l doanh thu, chi phí và phân chia lợi nhuận của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 179 4.2.4. Hoàn thiện cơ chế giámsát tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 181 4.2.5. Hoàn thiện mô hình quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 188 4.2.6. Nhóm giải pháp hỗ trợ 198 4.3. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 208 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 213 KẾT LUẬN 214 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾ N LUÂN Á N DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Agribank Ngân hàng TMCP Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ABC Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc APE Cơ quan quản l phần vốn góp Nhà nước BKS Ban kiểm soát BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BSP Ngân hàng Trung ương Philipines BOC Ngân hàng Trung Quốc CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa CSH Chủ sở hữu CBRC Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Quốc CCB Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc CIECB Ngân hàng tín dụng Xuất nhập khẩu Trung Quốc CIRC Ủy ban điều tiết bảo hiểm Trung Quốc CSRC Ủy ban điều tiết chứng khoán Trung Quốc CITIC Tập đoàn Đầu tư và Tín thác Quốc tế CTCK Công ty chứng khoán DNNN Doanh nghiệp Nhà nước DNBH Doanh nghiệp Bảo hiểm ĐCSTQ Đảng Cộng sản Trung Quốc ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông ĐTCB Đề tài cấp Bộ ĐTCV Đề tài cấp Viện ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu FSA Cơ quan dịch vụ tài chính FSMC Hội đồng quản l hệ thống tài chính FCD Cơ quan lập pháp Châu Âu HĐQT Hội đồng quản trị ICBC Ngân hàng Công thương Trung Quốc KH Kế hoạch KTXH Kinh tế xã hội LATS Luận án tiến sĩ vii MAS Ngân hàng Trung ương Singapore MA Mua bán, sáp nhập NHTM Ngân hàng thương mại NCRC Ủy ban cải cách và phát triển Quốc gia NDRC Ủy ban cải cách NSNN Ngân sách Nhà nước PBC Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc PBOC Ngân hàng Trung ương Trung Quốc PTGĐ Phó Tổng giám đốc QLTC Quản l tài chính QLGSBH Quản l và giám sát bảo hiểm ROA Tỷ suất lợi nhuận Tổng Tài sản ROE Tỷ suất lợi nhuận Vốn chủ sở hữu SXKD Sản xuất kinh doanh SAFE Tổng cục Quản l ngoại hối Nhà nước SASAC Ủy ban quản l , giám sát tài sản Nhà nước Trung Quốc SCIC Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước TĐKT Tập đoàn Kinh tế TĐTC Tập đoàn Tài chính TNHH Trách nhiệm hữu hạn TGĐ Tổng Giám đốc TTCK Thị trường Chứng khoán UBGSTCQG Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia UBCK Ủy ban Chứng khoán Vietinbank Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam VAMC Công ty Quản l tài sản XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 3.1. Các loại hình NHTM và số lượng 92 Bảng 3.2. Kết quả hoạt động kinh doanh bình quân của một số TĐTC 95 Bảng 3.3. mức vốn điều lệ trong các công ty con của TĐTC Bảo hiểm Bảo Việt 111 Bảng3.4.ChỉsốCARcủaTĐTCBảohiểm–BảoViệtsovớicácTĐTC–Ngânhànglớn. 117 Bảng 3.5. Huyđộng vốn vaycủa các TĐTC– BH Bảo Việt so với NHTMCPNhànước. 123 Bảng 3.6. Tình hình quản l , sử dụng tài sản của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt 131 Bảng 3.7. Thù lao của thành viên HĐQT, TGĐ và thành viên Ban Kiểm soát của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt 139 Bảng 3.8. Tình hình tăng vốn Điều lệ của các NHTM Nhà nước 147 Bảng 4.1. Các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN .. 181 Bảng 4.2. Các chỉ tiêu chi tiết hóa cấp 3, cấp 4 182 Bảng 4.3. Chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh quốc tế của DNNN Trung ương 183 DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1. Mô hình của Tập đoàn Tài chính 28 Sơ đồ 2.2. Mô hình một chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần chi phối 52 Sơ đồ 2.3. Mô hình có nhiều chủ sở hữu tham gia đầu tư 53 Sơ đồ 3.1. Mô hình tổ chức của Tập đoàn Tài chính 88 Sơ đồ 3.2. Mô hình tổ chức quản l tài chính tổng thể của Nhà nước đối với Tập đoàn Tài chính 101 Đồ thị 3.1. Tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận, các quỹ của TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt115 Đồ thị 3.2. Mức tăng các khoản phải trả ngắn hạn của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt.. 125 Đồ thị 3.3. Tình hình đầu tư của TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt 129 Đồ thị 3.4. Khả năng thanh toán, Tỷlệ an toàn vốn của TĐTC Bảo hiểm– Bảo Việt .. 133 Hình 3.1. Tình hình áp dụng Basel tại các quốc gia 156 Sơ đồ 4.1. Mô hình quản l tài chính của Nhà nước đối với TĐTC 194 (thành lập một công ty đầu tư riêng trong lĩnh vực tài chính) 194 Sơ đồ 4.2: Mô hình quản l tài chính của Nhà nước đối với TĐTC 195 (mở rộng lĩnh vực đầu tư và vai trò, chức năng của SCIC hiện tại) 195 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ý tưởng hình thành và phát triển Tập đoàn Tài chính (TĐTC) ở Việt Nam được bắt đầu đồng thời với ý tưởng phát triển tổng công ty lớn thành tập đoàn kinh tế (TĐKT) từ Quyết định số 91TTg ngày 731994 của Thủ tướng Chính phủ. Cho đến Nghị quyết Trung ương ba Khóa IX, chủ trương hình thành và phát triển TĐKT đã chính thức được đưa ra “hình thành một số TĐKT mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”. Đây chính là tiền đề cho việc hình thành TĐTC với mô hình thí điểm TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt theo Quyết định số 3102005QĐ TTg ngày 28112005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án cổ phần hóa Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt. Trong giai đoạn tái cơ cấu các Tổ chức tín dụngViệt Nam, các TĐTC trong lĩnh vực ngân hàng cũng đã xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh. Trong đó, tiên phong là các Ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Nhà nước. Để quản l tài chính (QLTC) đối với các TĐKT, Nhà nước đã ban hành cơ chế QLTC. Trong quá trình thực hiện, cơ chế này đã góp phần tách bạch chức năng quản l của chủ sở hữu, quản lý Nhà nước và tăng cường quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), các TĐKT. Đồng thời đảm bảo phần vốn Nhà nước đầu tư vào các TĐKT được bảo toàn và phát triển; nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT theo hướng quản trị doanh nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, cùng với những đổi thay của môi trường kinh doanh, những đổi thay của chính các TĐTC, cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC đang tỏ ra không phù hợp. Để góp phần thúc đẩy các TĐTC phát triển và hướng tới mục tiêu QLTC có hiệu quả của Nhà nước đối với TĐTC, hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC là đòi hỏi tất yếu. Góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, đề tài luận án “Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam. Để hoàn thành mục tiêu trên, những nhiệm vụ sau cần được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Luận án: Hệ thống hóa những vấn đề l thuyết cơ bản về cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC. Tổng hợp kinh nghiệm của một số nước về hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC trong những năm gần đây. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC. 4. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam, chủ yếu nghiên cứu đối với TĐTC do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, trong đó nghiên cứu chủ yếu với trường hợp là TĐTC Bảo hiểm Bảo Việt (có so sánh với một số NHTM cổ phần Nhà nước) để minh họa. Đề tài được nghiên cứu trên phương diện Nhà nước, xem xét các quy định về cơ chế QLTC của Nhà nước với các nội dung quản lý huy động vốn, quản l sử dụng vốn, quản l doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận, giám sát tài chính; mô hình tổ chức quản l của Nhà nước. Cơ chế QLTC trong nội bộ tập đoàn không phải là đối tượng nghiên cứu trong Luận án; các TĐTC khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án. Thời gian: nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 10 năm gần nhất (2006 – 2016), trong đó số liệu lấy tập trung trong giai đoạn 05 năm (2012 – 2016). 5. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phương pháp khái quát hóa, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, để thu thập thông tin, tổng hợp thông tin và đánh giá các nội dung về QLTC của Nhà nước đối với TĐTC ở Việt Nam. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Hệ thống hóa cơ sở l luận về cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC; đặc biệt phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế QLTC của Nhà nước làm phong phú thêm l thuyết về cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC. Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu là sự mở đường để vận dụng thành công, đúng đắn lí luận về cơ chế QLTC vào thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với các TĐTC ở Việt Nam hoạt động và phát triển, đồng thời đảm bảo được các mục tiêu của Nhà nước. 7. Kết cấu của luận án: gồm 04 Chương Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở l luận về cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính. Chương 3: Thực trạng cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 1.1.1. Các nghiên cứu về mô hình Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về TĐTC, trong đó tập trung vào các loại mô hình TĐTC đặc trưng theo từng khu vực như Mỹ, các nước Châu Âu, Châu Á (điển hình như Nhật, Trung Quốc,…): Năm 1990, Richard J. Herring thông qua nghiên cứu The Corporate Structure of Financial Conglomerates 136 đã đi xem xét các vấn đề chính sách của Chính phủ liên quan đến cấu trúc tổ chức thích hợp của một TĐTC cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cùng với các dịch vụ tài chính khác. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cơ chế hoạt động của ngân hàng ở Mỹ phải được đặt trong bối cảnh cạnh tranh với các TĐTC. Năm 1995, Merton trong “A Functional Perspective of Financial Intermediation” 128 đã đưa ra lý thuyết về sự hình thành TĐTC. Ông nói rằng các trung gian tài chính thực hiện chức năng phân bổ và triển khai các nguồn lực kinh tế. Theo thời gian, phương thức và tổ chức thực hiện các chức năng này có thể thay để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong đó, những thay đổi rõ nét nhất là sự phát triển l thuyết tài chính, đổi mới tài chính, đổi mới công nghệ và tự do hóa cả trong và ngoài biên giới (Allen và Santomero, 1999 và Borio and Filosa, 1994). Năm 2000, Skipper đưa ra ba cấu trúc cho các TĐTC trong nghiên cứu “Financial Services Integration Worldwide: Promises and Pitfalls” 137. Đầu tiên là mô hình ngân hàng đa năng sở hữu các công ty con cung cấp dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Ngân hàng toàn cầu đảm nhận cả hoạt động NHTM và hoạt động chứng khoán. Mô hình thứ hai là mô hình công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc ngân hàng và sở hữu các công ty con có vốn hóa riêng biệt hoạt động trong các dịch vụ tài chính khác nhau. Mô hình thứ ba là cấu trúc công ty cổ phần, trong đó hoạt động của một công ty mẹ nắm giữ giới hạn cổ phần. Mô hình ngân hàng đa năng phổ biến ở châu Âu, trong khi mô hình công ty cổ phần phổ biến ở Mỹ và Nhật Bản. Năm 2008, Li Guo trong nghiên cứu “Financial Conglomerates in China: Legality, Model and Concerns” 131 đã đề cập đến khung pháp l và mô hình TĐTC ở Trung Quốc trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước của Trung Quốc. Vấn đề nổi bật trong nghiên cứu này về TĐTC là nguyên tắc quy định trong các Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm và Luật Ngân hàng thương mại của Trung Quốc. Theo đó, các doanh nghiệp kinh doanh một trong ba lĩnh vực tài chính không được phép đầu tư sang hai lĩnh vực còn lại, nhưng lại cho phép các doanh nghiệp phi tài chính có thể đầu tư vào các lĩnh vực này. Bên cạnh khung pháp lý quy định về hoạt động của TĐTC, nghiên cứu cũng làm rõ hai mô hình TĐTC thông dụng là mô hình TĐTC đa năng (Universal Banking) và mô hình TĐTC Holding (The Financial Holding Company), cũng như phân tích các ưu, nhược điểm khi áp dụng hai mô hình này vào các TĐTC ở Trung Quốc. Từ đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị việc áp dụng mô hình phù hợp trong từng giai đoạn: giai đoạn đầu nên áp dụng mô hình holding, dần dần tiến tới áp dụng theo mô hình TĐTC đa năng trong giai đoạn tái cơ cấu và chuyển đổi các NHTM Nhà nước sang hoạt động theo hình thức tư nhân. Năm 2008, Kuhara Masaharu nghiên cứu “US and European Financial Conglomerate Organizations and their Implications for Japan and Other Large Diversified Financial Firms in Asia” 124 đã trình bày về các mô hình TĐTC truyền thống của Châu Âu và Mỹ, theo đó chủ yếu gồm có 3 mô hình chính là mô hình ngân hàng đa năng, mô hình holding mà công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty con và mô hình công ty mẹ kinh doanh một trong những ngành chính là ngân hàng, chứng khoán hoặc bảo hiểm. Nghiên cứu chỉ ra rằng quản l hiệu quả là rất quan trọng đối với một TĐTC do tính chất phức tạp của hoạt động và quy mô lớn. Nghiên cứu cũng cho thấy việc áp dụng một mô hình quản l TĐTC của Mỹ hoặc Châu Âu vào Nhật hay các nước Châu Á khác là không phù hợp mặc dù mô hình đó đang hoạt động tốt ở Mỹ. Điều này là do có sự khác biệt trong môi trường cạnh tranh và các quy định pháp l , khả năng lãnh đạo, quản lý. Do đó cần phải có ứng dụng phù hợp và linh hoạt. Một số nghiên cứu phân tích các xu hướng phát triển trong vài ba thập kỷ gần đây như việc phát triển nhanh các định chế tài chínhngân hàng đa năng, các nước đang phát triển ngày càng mở cửa thị trường tài chính, luồng vốn chuyển dịch ngược từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển …. (chẳng hạn nghiên cứu của Beim David O. Và Charles W. Calomiris (2001); Fabozzi Frank J. Và Franco Modigliani (2003) 105; Eichengreen, Barry (2004),...). Các nghiên cứu trong nước thời gian qua tập trung nhiều vào nghiên cứu về mô hình TĐKT Nhà nước ở Việt Nam nhằm đánh giá lại việc thí điểm thành lập các TĐKT Nhà nước trong giai đoạn trước đó, cũng là thời điểm Việt Nam mới tiếp cận với mô hình hoạt động của TĐKT không lâu nên vẫn còn trong giai đoạn mới mẻ cần nghiên cứu. Mô hình TĐTC ở Việt Nam cũng mới chỉ được nhắc đến thông qua các nghiên cứu cụ thể đối với các NHTM cổ phần theo xu hướng mong muốn chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐTC, hoặc các trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hai trong 3 lĩnh vực tài chính. Cụ thể: Năm 2007, Đề tài luận án “Phân tích mô hình và cấu trúc Tập đoàn Tài chính – ngân hàng, ứng dụng vào ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức” 16 của Hoàng Xuân Thành đã đi phân tích các yêu tố chủ yếu của mô hình TĐTC – ngân hàng và cấu trúc tổ chức của mô hình tập đoàn, để áp dụng cho BIDV trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức. Năm 2008, LATS của Nguyễn Đức Hưởng, Học viện Ngân hàng “Chuyển ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thành tập đoàn tài chính” 29 đã đi nghiên cứu cụ thể việc chuyển đổi mô hình của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản về TĐTC và nghiên cứu mô hình điển hình mang tính phổ biến mà các TĐTC thế giới hiện nay đang áp dụng. Phân tích đánh giá thực trạng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như những điều kiện để chuyển đổi. Trên cơ sở đó, Luận án khẳng định sự cần thiết phải chuyển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành TĐTC trong tương lai, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp chủ yếu để chuyển đổi theo hướng nền kinh tế đổi mới của Việt Nam. Năm 2008, LVThS của Trần Ái Phương “Giải pháp thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng theo định hướng hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng tại Việt Nam”74. Mặc dù luận văn đi vào nghiên cứu về giải pháp MA đối với ngân hàng nhưng cũng đã thể hiện một xu hướng hình thành TĐTC ngân hàng ở Việt Nam từ thời điểm đó, thông qua hình thức MA. Năm 2012, LATS của Ngô Văn Tuấn đề cập đến chuyển đổi các NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sang hoạt động theo mô hình TĐTC trong Luận án “Xây dựng Tập đoàn Tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh”28. Trong đó, nội dung của luận án tập trung vào các vấn đề về cơ cấu tổ chức, nhân sự, năng lực tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin và tính pháp lý để các NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố có thể chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐTC. 1.1.2. Các nghiên cứu về cơ chế quản lý, giám sát tài chính trong Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước Thứ nhất, trên thế giới các vấn đề về QLTC liên quan tới TĐTC đã được nghiên cứu tương đối nhiều dưới các giác độ khác nhau với các mức độ chuyên sâu khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu về giám sát tài chính đối với TĐTC. Năm 1995, “The supervision of financial conglomerates” 139, của Tripartite Group, tập trung nghiên cứu các vấn đề giám sát tài chính đặt ra cho TĐTC hoạt động chủ yếu ít nhất trong hai lĩnh vực tài chính khác nhau mà không nói đến các vấn đề giám sát phát sinh trong trường hợp tập đoàn hỗn hợp, cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính. Báo cáo đưa ra việc giám sát hợp nhất và giám sát đơn lẻ theo ba lĩnh vực chính: giám sát liên quan đến an toàn vốn đối với công ty mẹ; giám sát trách nhiệm của các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn; quyền hạn trong giám sát xét trong cấu trúc tập đoàn nhằm thu thập thông tin về cơ cấu quản l , pháp l , hạn chế sự ảnh hưởng của cấu trúc tập đoàn đến hoạt động giám sát. Báo cáo kết luận cần thiết phải có sự phối hợp sâu trong giám sát giữa ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Cần kết hợp giữa giám sát hợp nhất ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm với giám sát đơn lẻ trong từng lĩnh vực. Năm 1997, Howell E. Jackson 116 cho thấy việc điều tiết của TĐTC dạng Holding rất đa dạng và được quản l bởi một số văn bản pháp l , trong đó tập trung vào 5 vấn đề: 1) đảm bảo khả năng thanh toán; 2) ngăn chặn sự phá vỡ hệ thống; 3) ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ sự cạnh tranh trong tín dụng và thị trường vốn; 4) định mức về tái phân phối; và 5) sử dụng quy chế tài chính thông qua hệ thống pháp lý để nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị, như các quy định hạn chế sở hữu nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước hoặc mở rộng phạm vi của ngân hàng đô thị tại khu vực nông thôn. Nghiên cứu “The Regulation of Financial Holding Companies – Entry for New Palgrave Dictionary of Law and Economics” cũng đưa ra một số quy định đối với TĐTC như quy định về khả năng thanh toán; hạn chế một số hoạt động giữa công ty mẹ trong Tập đoàn và các công ty con; những vấn đề về cạnh tranh. Năm 1998, Christine A. Tate 96 đã trình bày tổng quan tình hình phát triển các doanh nghiệp theo mô hình TĐTC ở Mỹ và thực trạng các quy định pháp l có thể sẽ không theo kịp mức độ phát triển của TĐTC, điều này đã gây ra nhiều tranh luận về hệ thống tài chính hiện đại trong bài viết “Financial Conglomerates: New World, New Challenges for Supervisors”. Theo đó, các TĐTC sẽ cần phải có cách để điều hòa được vấn đề này. Trong đó, bài viết tập trung vào một số vấn đề như: cần định nghĩa vai trò hỗ trợ, nâng đỡ của cơ quan giám sát (Cục dự trữ liên bang); vấn đề về an toàn vốn của TĐTC; vấn đề về áp dụng tiêu chuẩn vốn của ngân hàng cho tất cả các công ty con trong mô hình công ty mẹ công ty con; sự phức tạp trong đánh giá về vốn giữa các ngành; việc quy định chức năng giám sát. Tuy nhiên, bài viết cũng nhấn mạnh hiện đại hóa tài chính cụ thể là giám sát hoạt động của TĐTC là cần thiết và sẽ phải làm sớm. Năm 2002, Half Cameron đã kết luận trong nghiên cứu của mình “Evolving Trends in the Supervision of Financial Conglomerates” 114 rằng thẩm quyền chi phối cấu trúc TĐTC phụ thuộc vào từng quốc gia, bao gồm Luật và khung pháp l hiện hành đối với các định chế tài chính. Năm 2002, Milo Melanie đã nghiên cứu về mô hình giám sát của Philippines trong “Financial Services Intergration and Consolidated Supervision: Some issues to Consider for the Philippines” 129. Các TĐTC chiếm ưu thế trong nước đặc biệt với sự xuất hiện của ngân hàng toàn cầu vào đầu những năm 1980. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp l quy định đối với dịch vụ tài chính trong nước vẫn dựa trên phương pháp tiếp cận truyền thống. Trách nhiệm giám sát được chia sẻ bởi ba cơ quan giám sát được ngân hàng trung ương Philippines ủy thác giám sát đối với các ngân hàng. Phương thức này không giải quyết được triệt để rủi ro của các tập đoàn. Một mặt, có thể có các công ty không được giám sát hiệu quả. Mặt khác, việc chia sẻ trách nhiệm giám sát giữa nhiều cơ quan có thể dẫn đến không phân định được trách nhiệm cuối cùng trong quá trình giám sát. Một số các nghiên cứu khác cũng có cách tiếp cận về giám sát tài chính với mức độ chuyên sâu khác nhau qua kinh nghiệm các nước trong giai đoạn từ 2002 đến 2007, như: Naoyuki Yoshino, Koichi Suzuki, Kazutomo Abe, Masatoshi Kuhara (2007) (các nước Đông Á), Melanie S. Milo (2007), Gruson Michael (2004) (về EU); Cho Yoon Je (2002) (về Hàn Quốc),… Năm 2003, Fabozzi và cộng sự trong cuốn “Foundations of Financial Markets and Institutions” 105 xuất bản lần thứ 4 đã mô tả các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tài trợ và kiểm soát rủi ro tài chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi loại QLTC đều nhằm hạn chế rủi ro cho người đi vay, ngân hàng và nhà đầu tư, cũng như trách nhiệm của nhà nước trong việc quản l tài sản khi liên tục có sự biến động về lãi suất, giá tài sản, các ràng buộc pháp l , tình hình cạnh tranh quốc tế và các cơ hội. Cuốn sách dành một dung lượng lớn để phân tích phương thức QLTC và trách nhiệm của các tổ chức tài chính cũng như các công cụ để hỗ trợ việc quản l . Với cách tiếp cận từ thực trạng các tổ chức tài chính, cuốn sách đưa ra khuyến nghị cần có sự thay đổi về thể chế và môi trường của thị trường tài chính cũng như các định chế tài chính. Năm 2003, nhóm các tác giả Richard J. Herring và Robert E. Litan đã đưa ra nhận định về hoạt động của TĐTC tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Xu hướng giám sát TĐTC ở các quốc gia sẽ tập trung tại một cơ quan duy nhất (thường là Ngân hàng Trung ương) trong khi các doanh nghiệp khác vẫn chịu sự giám sát tài chính theo chuyên ngành trong tác phẩm “Financial Conglomerates: The Future of Finance?”135. Năm 2005, Graeme Thompson and Brian Gray trong nghiên cứu “Supervising Financial Institutions and Conglomerates” 113 đã đi xem xét một số vấn đề gắn với rủi ro và quản l vốn đứng trên quan điểm của người giám sát tài chính, đối với trường hợp các TĐTC thực hiện đầu tư trong các lĩnh vực phi tài chính cũng như rủi ro trong vấn đề quản l vốn. Bài viết cũng đưa ra một số gợi ý và định hướng tập trung vào quản l vốn lưu động; quy định pháp l trong quản l vốn thông qua các công cụ giám sát và kỹ thuật giám sát, do một cơ quan giám sát thực hiện. Năm 2011, trong nghiên cứu về “Regulation of Financial Conglomerates in China: From De Facto to De Jure” 107, Fan Liao đã nghiên cứu chi tiết về TĐTC ở Trung Quốc. Nghiên cứu đã làm rõ những khái niệm về TĐTC, sự phát triển chung của TĐTC ở Trung Quốc, các loại TĐTC, và một số loại TĐTC chính ở Trung Quốc. Bên cạnh phần l luận về TĐTC, nghiên cứu cũng đi vào tìm hiểu về thực trạng khung pháp l và cấu trúc quy chế của TĐTC, đầu tư vốn vào các lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. Trong phần cấu trúc TĐTC, nghiên cứu cho thấy cơ cấu tài chính của TĐTC đang được quản l hoàn toàn độc lập thông qua các văn bản quy phạm chuyên ngành, với các cơ quan quản lý khác nhau. Cơ chế này được thực hiện từ những năm 1990. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Trung Quốc chưa có cơ chế riêng cho TĐTC, đặc biệt trong giám sát TĐTC. Thậm chí, hoạt động theo mô hình TĐTC còn bị cấm trong quy định trong các Luật Ngân hàng Thương mại, Luật Bảo hiểm (1995) và Luật Chứng khoán (1998). Nghiên cứu cũng khẳng định: những hạn chế trong các quy định pháp l cần phải được sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung để có thể quản l , giám sát mọi hoạt động của TĐTC. Năm 2014, “Consolidated Supervision of Banks and Financial Conglomerates: A handbook for Financial Regulators and Supervisors” của Victor Ekpu 143 là cuốn cẩm nang hướng dẫn trong thành lập, quản l , giám sát, điều tiết các ngân hàng và các TĐTC trên cơ sở hợp nhất để quản l . Cẩm nang nhấn mạnh đến vấn đề định lượng về quy chế tài chính quốc tế, giám sát của các ngân hàng và các TĐTC. Cuốn cẩm nang cũng đưa ra một số trường hợp nghiên cứu, một số ví dụ từ các nhóm tài chính và khu vực pháp lý được quy định ở các nước. Năm 2015, trong nghiên cứu “Interconnectedness of Financial Conglomerates”, Gael Hauton và Jean Cyprien Hesam 109 đã xem xét mối liên kết tự nguyện trong hoạt động giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng và sự hình thành các TĐTC, đồng thời đi xem xét sự khác biệt giữa một doanh nghiệp hoạt động chuyên ngành bảo hiểm, ngân hàng thuần túy với doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thuộc TĐTC. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với các rủi ro nhỏ, TĐTC sẽ mang lại mức độ an toàn cao hơn; nhưng với các rủi ro lớn mang tính dây truyền sẽ mang đến sự đổ vỡ nghiêm trọng cho TĐTC. Do đó, việc giám sát và QLTC đối với TĐTC đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới cũng tập trung vào các vấn đề về nguyên tắc, phương pháp, công cụ quản lý, giám sát TĐTC, bao gồm: (1) công cụ giám sát trong các quy định của Liên minh Châu Âu về giám sát an toàn vốn hay sự đủ vốn của Tập đoàn; giám sát việc hạn chế các khoảng trống pháp l ; giám sát giới hạn tín dụng ở cấp độ tập đoàn đối với TĐTC. Một số nghiên cứu tiêu biểu của Andrew Kuritzke và cộng sự (2003), Gruson Maichael (2004), Gortos Christos (2010) và Yoo, Y.Emilie (2010). (2) Với cách tiếp cận ở góc độ quản l , giám sát tập trung vào công ty mẹ các nghiên cứu tập trung phân tích sâu việc quản l các hoạt động đa dạng hóa kinh doanh, tiêu biểu như nghiên cứu của Piero Michel và Cộng sự (2006), Heppelmann và Cộng sự (2008), Erlinda S. Echanis (2009),… Các nguyên tắc, quy định về giám sát tuân thủ của các định chế tài chính theo Hiệp ước Basel (Basel I (1998), Basel II (2004) và Basel III (2010) về chuẩn mực an toàn hoạt động theo CAMELS được các tác giả, các tổ chức như IMF (nghiên cứu năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009), IMF và World Bank (2005) nghiên cứu. Thứ hai, các nghiên cứu trong nước tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu cơ chế QLTC đối với TĐKT, Tổng công ty Nhà nước và những nghiên cứu về cơ chế QLTC đối với các loại hình doanh nghiệp có liên quan trong giai đoạn tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa DNNN. Trong đó, các nghiên cứu đều tập trung vào các nội dung của cơ chế QLTC bao gồm: quản lý huy động vốn, quản l sử dụng vốn, quản l doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận và giám sát. Nghiên cứu đứng trên các góc độ khác nhau, như: Từ góc độ quản l của Nhà nước, tiếp tục thời kỳ đổi mới nền kinh tế hoạt động theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng. Trong giai đoạn 2000 – 2010, đồng thời với cổ phần hóa, sắp xếp đổi mới các DNNN, chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam. Do đó, trong giai đoạn chuyển đổi cải cách, các vấn đề về cơ chế QLTC của Nhà nước cần phải được hoàn thiện và xây dựng cơ chế quản l cho loại hình doanh nghiệp mới, đặc biệt là mô hình TĐKT. Các tác giả Phạm Quang Trung (2000) 55, Bùi Văn Vần (2002) 3, PGS.TS. Thái Bá Cẩn (2003) 66, PGS.TS. Nguyễn Đăng Nam (2004), Trịnh Thanh Huyền (2004) 82, Phùng Thế Tính (2008) 56, Ngô Văn Khoa (2009), Nguyễn Đăng Quế (2009) 39,… đã nghiên cứu vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam đến việc đánh giá thực trạng cơ chế QLTC hiện tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện theo mô hình mới, cũng như đi nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nước đối với mô hình TĐKT khi vận dụng vào Việt Nam. Giai đoạn tái cơ cấu DNNN tập trung vào các TĐKT, Tổng công ty Nhà nước, các nghiên cứu tập trung vào hoàn thiện cơ chế QLTC để nâng cao năng lực cạnh tranh của các TĐKT Nhà nước (nghiên cứu của Vũ Anh Tuấn, 2012), hay nghiên cứu chuyên sâu hơn về vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp theo quan điểm chuyển từ quản l tài sản, theo hình thức mệnh lệnh, tuân thủ sang quản l vốn trên cơ sở nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, tạo tính chủ động trong các quyết định kinh doanh của người quản l doanh nghiệp. Các nghiên cứu theo hướng này có Phạm Thị Thanh Hòa (2012), Trần Xuân Long (2014), PGS.TS. Bùi Văn Vần ThS. Đặng Quyết Tiến (2015) 10,… Một xu hướng nghiên cứu khác về cơ chế QLTC từ phía các doanh nghiệp khi các DNNN lớn, các Tổng công ty Nhà nước chuẩn bị thực hiện chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐKT Nhà nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cơ chế QLTC theo mô hình TĐKT đối với từng doanh nghiệp cụ thể được nghiên cứu trong giai đoạn này, cụ thể như Nguyễn Văn Tấn (2003) 38 nghiên cứu cho Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam; Nguyễn Quốc Trị (2006) nghiên cứu đối với Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam; Vũ Hà Cường (2006) nghiên cứu cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam;… Thứ ba, các nghiên cứu về cơ chế QLTC đối với TĐTC ở trong nước mới chỉ được thực hiện trong một vài năm gần đây, cụ thể: Các nghiên cứu tập trung nhiều vào giám sát tài chính trong hệ thống giám sát và nói riêng cho TĐTC trong thời gian qua như: đi đánh giá thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát của NHNN đối với các NHTM (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2009); tập trung phân tích các vấn đề l luận và thực tiễn về giám sát các TĐTC và gợi chính sách cho Việt Nam (Đỗ Kim Hảo, 2010); phân tích các rủi ro của các định chế tài chính trung gian, đồng thời chỉ ra một số vấn đề đặt ra đối với hệ thống giám sát của Việt Nam (Nguyễn Kim Anh, 2010); Nghiên cứu của Tô Ngọc Hưng và cộng sự (2010) về l luận và thực tiễn trong và ngoài nước đối với hệ thống giám sát tài chính, trong đó mô hình giám sát hệ thống tài chính là trọng tâm. Vấn đề nghiên cứu về giám sát TĐTC cũng được nhắc đến nhưng có giới hạn trong nghiên cứu này. Đứng trên giác độ cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm, năm 2011, ThS. Phạm Đình Trọng nghiên cứu một hình thức của TĐTC kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam trong đề tài cấp Bộ “Phương thức giám sát tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm”51. Đề tài đã đề cập đến khái niệm TĐTC có kinh doanh bảo hiểm với những đặc trưng riêng về vốn, dự phòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán, hoạt động đầu tư, tái bảo hiểm. Từ việc nêu ra phương thức giám sát TĐTC, đề tài cũng nêu được những nguyên tắc cơ bản trong giám sát TĐTC của OECD, Basel. Trong nghiên cứu thực trạng, đề tài đã đề cập đến công tác quản l Nhà nước (ban hành chính sách, cấp phép, quản lý giám sát, thanh tra) đối với thị trường tài chính Việt Nam. Từ đó, chỉ ra một số hạn chế trong hoạt động giám sát thị trường tài chính và dự báo những rủi ro đối với hoạt động đa năng của các tập đoàn nói chung và đối với tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm nói riêng để kiến nghị một số giải pháp như: hoàn thiện phương thức giám sát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường năng lực giám sát của cơ quan quản l Nhà nước nhằm quản l giám sát các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm. Nghiên cứu gần đây nhất về giám sát tổng thể TĐTC trên phương diện kinh nghiệm các nước, năm 2015, Đề tài cấp Bộ của tác giả Hoàng Văn Thành “Giám sát Tập đoàn Tài chính, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” 17 đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý ban đầu cho giám sát các TĐTC ở Việt Nam. Đề tài đã tổng hợp các tiêu chí đánh giá TĐTC theo 3 nhóm: Quản trị; Sự lành mạnh về tài chính (tình trạng đủ vốn, hệ thống quản l rủi ro về tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường,..); và tự tương đương của Giám sát Tập đoàn của các Tổ chức giám sát nước ngoài. Dựa trên kinh nghiệm của các nước và bài học kinh nghiệm rút ra, cùng với thực trạng Việt Nam, tác giả đã đề xuất các kiến nghị về chính sách đối với Nhà nước, giải pháp để cải cách công tác giám sát các TĐTC có hiệu quả. 1.1.3. Tổng hợp các kết quả chính của các công trình nghiên cứu Những công trình nêu trên cho thấy giữa nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ở nước ngoài có sự khác biệt khá rõ rệt về thời gian và đối tượng nghiên cứu. Sự hình thành và phát triển của TĐTC đã được nghiên cứu từ lâu, các tác giả cũng chỉ ra xu hướng hình thành và phát triển TĐTC của các nước đều trải qua một quá trình mà xuất phát từ nhu cầu của các bên cần hợp lại thông qua MA để hình thành TĐTC. Rất ít các quốc gia có sự tồn tại phần vốn Nhà nước trong các TĐTC, do đó vấn đề QLTC của Nhà nước đối với TĐTC chủ yếu là giám sát tài chính theo các nguyên tắc của Basel, và vấn đề quản trị rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam về cơ chế QLTC trong nội bộ TĐKT phi tài chính. Một xu hướng nghiên cứu sâu hơn về cơ chế QLTC của Nhà nước là tập trung vào cơ chế giám sát và mô hình tổ chức bộ máy do Việt Nam đang trong giai đoạn tái cơ cấu DNNN trong đó có các TĐKT, Tổng công ty. Đối với trường hợp TĐTC nói chung, mới chỉ có một nghiên cứu gần nhất (2015) nhưng chủ yếu đi nghiên cứu kinh nghiệm các nước về giám sát tài chính đối với TĐTC. Một nghiên cứu về cơ chế QLTC của Tổng công ty Bảo hiểm khi chuyển sang hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh doanh (2006) và một nghiên cứu có liên quan đến phương thức giám sát các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm (2011). Như vậy có thể nhận thấy một khoảng trống nghiên cứu lớn về cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC. 1.1.4. Khoảng trống nghiên cứu Nghiên cứu toàn diện về mặt l luận và thực tiễn về cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC ở Việt Nam cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào thực hiện. Những vấn đề về đặc trưng của TĐTC ở Việt Nam, cơ chế QLTC của Nhà nước, các chỉ tiêu phản ánh nội dung của cơ chế QLTC,… được hiểu trong bối cảnh của Việt Nam thế nào. Đó là những vấn đề chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến đối với trường hợp TĐTC ở Việt Nam. Để giải làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu cần được giải quyết trong đề tài luận án như sau: 1. Khái niệm và đặc trưng của TĐTC (TĐTC là gì? TĐTC có đặc trưng gì?) 2. Cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC được hiểu như thế nào? Những nội dung chủ yếu của cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC là gì?) 3. Tiêu chí phản ánh mức độ hoàn thiện của cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC là gì? 4. Nhân tố nào tác động tới cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC? 5. Cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam như thế nào? 6. Nguyên nhân nào dẫn đến tính thiếu hoàn thiện của cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam? 1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp so sánh để xây dựng các luận chứng logic; phương pháp quan sát khoa học, phương pháp điều tra để xây dựng các luận chứng ngoài logic. Phương pháp diễn dịch: dựa trên l thuyết, tổng quan nghiên cứu. Mục đích của việc áp dụng phương pháp diễn dịch là xây dựng các giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC thông qua làm rõ cơ sở l luận trong chương 2 và nghiên cứu thực trạng trong chương 3. Phương pháp quy nạp: dựa trên ba bước tư duy gồm quan sát thực trạng cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC; bước tiếp theo là quan sát cụ thể đối với trường hợp TĐTCBảo hiểm Bảo Việt; từ đó đi đến bước thứ 3 là tổng quát hóa các vấn đề thực trạng thông qua đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân. Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh thông tin của các nước, các nghiên cứu trên thế giới với tình hình Việt Nam, so sánh những dữ liệu có tính chất tương đồng, rút ra những kết luận sau khi thực hiện phân tích, so sánh. Phương pháp nghiên cứu tại bàn: sử dụng phương pháp thu thập thông tin trong thu thập thông tin thứ cấp. Nghiên cứu các tài liệu tại bàn; các văn bản quy phạm liên quan đến cơ chế quản l vốn của Nhà nước; kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó; các báo cáo thường niên của TĐTC; số liệu của các Bộ, ngành có liên quan; các thông tin công khai,… Phương pháp điều tra: sử dụng phương pháp chuyên gia trong thu thập thông tin sơ cấp. Trên cơ sở xây dựng một số nội dung để thực hiện phỏng vấn một số chuyên gia, các nhà quản l đã và đang thực hiện các nhiệm vụ quản l về tài chính tại các TĐTC, bao gồm: Trao đổi trực tiếp, qua điện thoại và email (tùy thuộc thời gian và khoản cách về mặt địa l ) với Ông Lê Hải Phong, Nguyên thành viên HĐQT, Kế toán trưởng TĐTCBH Bảo Việt; Email: lehaiphonggmail.com Trao đổi trực tiếp với một số chuyên gia tài chính – ngân hàng trong các cơ quan quản lý Nhà nước của NHNN và Bộ Tài chính, chuyên gia trong một số NHTM cổ phần lớn và chuyên gia kinh tế độc lập, … Một số nội dung được sử dụng để trao đổi, cụ thể như sau: + Mô hình hoạt động hiện nay của doanh nghiệp: Với nội dung này, đa số các chuyên gia đều cho rằng TĐTC lớn của Việt Nam hiện nay đều hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con và theo hai hình thức: công ty mẹ nắm vốn thực hiện đầu tư, công ty mẹ tham gia hoạt động trong ngành nghề kinh doanh chính của Tập đoàn. + Cơ cấu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Với nội dung này, qua trao đổi, các chuyên gia nhận định các TĐTC lớn đều có cơ cấu vốn chủ sở hữu với tỷ lệ vốn chủ sở hữu là Nhà nước nắm quyền chi phối. + Cơ sở pháp l thực hiện cơ chế quản l tài chính của doanh nghiệp hiện tại, thẩm quyền ban hành, phê duyệt quy chế quản trị của doanh nghiệp: Với nội dung này kiến thu nhận được đều cho rằng, phần lớn các TĐTC lớn ở Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty cổ phần và đa số đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do đó, căn cứ trên các văn bản quy định của Nhà nước, Hội đồng quản trị của TĐTC xây dựng điều lệ, quy chế quản l tài chính, quy chế quản trị doanh nghiệp của TĐTC. Trong quá trình xây dựng, có phối hợp với các cơ quan quản l Nhà nước có liên quan để nhận được sự tư vấn và thống nhất các tiêu chí, quy định nhằm đảm bảo tuân thủ đúng các quy định, chính sách của Nhà nước. + Vấn đề về người đại diện vốn: các chuyên gia cho rằng còn nhiều vấn đề về người đại diện vốn, đặc biệt đối với các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đại diện. Các quy định về người đại diện chưa mang lại sự chủ động của người đại diện, đặc biệt về quyền được báo cáo thường xuyên các thông tin hoạt động của TĐTC để phân tích, đánh giá và báo cáo kịp thời cho chủ sở hữu Nhà nước. + Vấn đề về cơ chế huy động vốn, sử dụng vốn: vốn điều lệ, đầu tư của doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp; Cơ chế giám sát; mô hình tổ chức QLTC của Nhà nước (tập trung vào quy định của Nhà nước): Những vấn đề cụ thể liên quan đến cơ chế quản l tài chính của TĐTC được cho rằng không nhiều tác động đến TĐTC, tuy nhiên các quy định về trả cổ tức bằng tiền mặt là vấn đề các TĐTC không mong đợi, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đang cần tăng vốn để đáp ứng các chỉ tiêu về an toàn vốn, khả năng thanh toán khi thực hiện Basel II và tiến đến Basel III. + Những đề xuất, kiến nghị của các chuyên gia trong hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC: Tập trung chủ yếu vào vấn đề giám sát, không chỉ đối với các TĐTC mà Nhà nước nắm quyền chi phối mà cả các TĐTC mà tỷ lệ vốn đầu tư của Nhà nước dưới 50%; các vấn đề về mô hình quản l vốn Nhà nước; Bên cạnh đó là kiến nghị hoàn thiện một số các quy định trong hệ thống chính sách về cơ chế quản l tài chính hiện hành.. .. CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 2.1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 2.1.1. Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn Tài chính Khái niệm về Tập đoàn Tài chính TĐTC được hình thành từ một nhóm các doanh nghiệp, kết hợp lại với nhau, có sự quản l chung và hoạt động trong lĩnh vực tài chính. TĐTC ra đời từ hệ quả của quá trình phát triển kinh tế toàn cầu do tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ, toàn cầu hóa và tự do hóa quy trình xây dựng các quy định, chính sách. Trên thực tế, nhiều tổ chức quốc tế đã nỗ lực để đưa ra khái niệm về TĐTC, trong đó khái niệm của Diễn đàn chung của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán IOSCO và Hiệp hội quốc tế của các nhà quản l bảo hiểm IAIS được thừa nhận rộng rãi: “TĐTC là một nhóm các doanh nghiệp có sự quản l chung, hoạt động chính và chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, và phải cung cấp ít nhất hai trong ba nghiệp vụ ngành tài chính là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm” 130. Nhóm G10 (gồm: Bỉ, Canada, Pháp, , Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Mỹ, Đức và Thụy Sĩ) đưa ra định nghĩa: “TĐTC là một nhóm các công ty dưới sự kiểm soát chung, các hoạt động đặc quyền hay các hoạt động chiếm ưu thế của nhóm cung cấp ít nhất hai lĩnh vực tài chính khác nhau là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm” 112. Theo hướng dẫn của Nghị viện và Hội đồng châu Âu, TĐTC được hiểu một cách cụ thể và chi tiết. Một nhóm công ty được coi là TĐTC phải đáp ứng 3 điều kiện: Đại diện của nhóm công ty phải là một doanh nghiệp thành viên hoạt động trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm); Hoạt động tài chính là chủ đạo (gồm một lĩnh vực tài chính theo quy định và một trong hai lĩnh vực tài chính còn lại. Ví dụ: TĐTC có hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm, mặt khác phải có hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng hoặc chứng khoán); Trong trường hợp đại diện của tập đoàn không thuộc lĩnh vực tài chính thì các hoạt động của đại diện phải chiếm phần lớn trong các hoạt động tài chính (chiếm ít nhất 40% tổng tài sản của tập đoàn) 99. Ủy ban Châu Âu đề xuất một định nghĩa cụ thể hơn bao gồm 2 bước: Một nhóm các công ty có trên 50% hoạt động của nhóm là hoạt động tài chính; Tỷ lệ của lĩnh vực ngân hàng (bao gồm cả hoạt động chứng khoán) và của lĩnh vực bảo hiểm chiếm 10% 90% trên tổng số các hoạt động tài chính. Thêm vào đó, trong trường hợp nhóm các công ty hoạt động phi tài chính nhưng tỷ lệ vốn cho hoạt động tài chính trên 6 tỷ Euro thì cũng được coi là TĐTC. Định nghĩa này bao hàm một phạm vi khá linh hoạt 117. Ở Hà Lan, quan niệm về TĐTC đơn thuần là sự kết hợp của các ngân hàng và bảo hiểm mà không cần có các điều kiện, quy định cụ thể. Ở Mỹ, quan niệm TĐTC là “Financial holding company”, đơn thuần chỉ là một tổ chức trong đó một công ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính. TĐTC ở Mỹ không quy định bắt buộc phải hoạt động theo mô hình công ty mẹ con mà còn là công ty thực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Luật Tài chính của Nhật quy định về TĐTC cũng tương đối giống với quy định về TĐTC ở Mỹ. Luật Tập đoàn Tài chính của Áo quy định : TĐTC có các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Trong đó, ít nhất một công ty hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm. Công ty mẹ hoặc công ty nắm vốn là công ty đứng đầu tập đoàn. Ở Việt Nam chưa có một khái niệm hay quy định cụ thể nào về TĐTC, mặc dù hiện tại đã có nhiều NHTM, công ty bảo hiểm hoạt động theo mô hình TĐTC nếu căn cứ theo khái niệm của các nước về TĐTC. Do đó, qua nghiên cứu quan niệm của các tổ chức, các quốc gia về TĐTC, chúng tôi đồng thuận với các quan điểm chung về khái niệm TĐTC: là một nhóm các công ty hoạt động chính và chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, tham gia ít nhất hai trong ba lĩnh vực tài chính là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Trong đó, phải có ít nhất một nghiệp vụ tài chính đóng vai trò chính trong hoạt động kinh doanh của TĐTC. TĐTC ra đời là tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế nhân loại theo xu hướng ngày càng hiện đại. TĐTC được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng, làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của Tập đoàn và công ty thành viên. Thông qua sức mạnh tài chính, TĐTC là giải pháp chiến lược để bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự thâm nhập của các công ty khổng lồ trên thế giới. TĐTC còn là một trong những công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh tế quốc gia, mang lại nguồn lợi nhuận cho Nhà nước, góp phần tăng thu NSNN. Đặc điểm Tập đoàn Tài chính Dựa trên khái niệm về TĐTC được nêu ở trên, theo chúng tôi TĐTC có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, TĐTC hình thành trên phương thức tự nguyện hoặc bắt buộc, thông qua sáp nhập, hợp nhất, theo nhu cầu đổi mới hoặc mở rộng về công nghệ, vốn, thị trường dịch vụ,… nhằm tăng năng lực cạnh tranh theo xu hướng phát triển của kinh tế thị trường trong bối cảnh mới. TĐTC không có tư cách pháp nhân, công ty mẹ và công ty thành viên bình đẳng với nhau trước pháp luật, được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật. Thứ hai, TĐTC có cấu trúc dạng tổ hợp nhiều công ty. Các công ty thành viên chịu sự chi phối của một công ty lớn nhất, đó là công ty mẹ. Công ty mẹ nắm cổ phần của các công ty thành viên và tạo thành một cấu trúc giống như các vệ tinh xoay quanh hạt nhân. Thứ ba, TĐTC có các hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, tuy nhiên lĩnh vực tài chính bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán là lĩnh vực hoạt động chủ yếu. Công ty đại diện của TĐTC hoạt động chính ở một trong ba ngành thuộc lĩnh vực tài chính, tên của Tập đoàn thường gắn với hoạt động của công ty đại diện và thể hiện ngành nghề kinh doanh chính của Tập đoàn. Ngoài ra, các TĐKT phi tài chính nhưng có hoạt động trong lĩnh vực tài chính và hoạt động tài chính chiếm phần lớn hoặc tạo ra nguồn thu lớn cho tập đoàn cũng có thể được coi là một TĐTC. Hiện nay, TĐTC không chỉ bó hẹp phạm vi hoạt động trong một quốc gia, mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, hình thành các TĐTC đa quốc gia. Thứ tư, TĐTC cũng là một thực thể đa sở hữu, nhiều chủ sở hữu hoặc sở hữu gia đình, hoặc cũng có thể chỉ là một chủ ở công ty mẹ. Vốn sở hữu được hình thành từ nhiều nguồn, nhiều phương thức, có thể từ Nhà nước, từ cá nhân, từ một gia đình và hình thành nên các cách thức quản trị doanh nghiệp khác nhau. Thứ năm, TĐTC thường được tổ chức theo 3 mô hình bao gồm: TĐTC đa năng; mô hình công ty mẹ công ty con, công ty mẹ kinh doanh chính và mô hình công ty mẹ công ty con, công ty mẹ nắm vốn. Việc áp dụng các mô hình tùy thuộc vào điều kiện của từng nước, từng khu vực. Thứ sáu, liên kết trong TĐTC chủ yếu là liên kết vốn, thường có xu hướng đầu tư chéo trong nội bộ Tập đoàn. Vốn của công ty này được huy động đầu tư vào công ty khác và ngược lại, giúp cho các công ty liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Tuy nhiên ở nhiều nước, tỷ lệ cổ phần nắm giữ của các cổ đông cá nhân thường nhỏ, cổ đông pháp nhân chiếm tỷ lệ cổ phần lớn. Bên cạnh đó, do quá trình quốc tế hóa và cạnh tranh gay gắt, các TĐTC đã và đang phải cải tổ cơ cấu của tập đoàn và tăng cường kiểm soát nội bộ. Xu hướng tăng cường liên kết và thống nhất về chiến lược diễn ra phổ biến ở TĐTC. Các TĐTC tập trung vào (1) tăng cường vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ; (2) phối hợp chiến lược kinh doanh trên tất cả các mặt, các chức năng, và ở mọi phương diện. Phối hợp chiến lược khu vực hóa với toàn cầu hóa, chiến lược mũi nhọn với đa dạng hóa. Thứ bảy, TĐTC thường có nguy cơ rủi ro cao, mang tính dây truyền, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và người dân. Rủi ro được hiểu là những bất trắc ngoài muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đối với TĐTC, sự kết hợp trong kinh doanh giữa các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm với các rủi ro riêng của từng ngành sẽ cộng g
Trang 2DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 5 1.1.1 Các nghiên cứu về mô hình Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước 5
1.1.2 Các nghiên cứu về cơ chế quản l , giám sát tài chính trong Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước 9
1.1.3 Tổng hợp các kết quả chính của các công trình nghiên cứu 17
1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu 18
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG 18
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ L LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 22
2.1.TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 22
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn Tài chính 22
2.1.2 Phân loại Tập đoàn Tài chính 26
2.2.CƠ CHẾ QUẢN LTÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
30
2.2.1 Khái niệm cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 30
2.2.2 Nộidungcủacơchế quản l tài chínhcủa Nhànướcvới Tập đoàn Tài chính 33 2.2.3 Tổ chức quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 57
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 60
Trang 32.3 KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 64
2.3.1 Cơ chế quản l tài chính của Nhà nước đối với Tập đoàn Tài chính ở một số quốc gia 65
2.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 80
3.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 80
3.1.1 Sự hình thành Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 80
3.1.2 Đặc trưng của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 82
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 86
3.1.4 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 91
3.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
95 3.2.1 Quá trình xây dựng khung pháp l về quản lý tài chính đối với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 95
3.2.2 Thực trạng tổ chức quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 98
3.2.3 Thực trạng cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 101
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
144 3.3.1 Kết quả đạt được 144
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 146
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 166
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 167
Trang 44.1.QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L .TÀI CHÍNH CỦA NHÀ
NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
167 4.1.1 Định hướng, mục tiêu phát triển của Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 167
4.1.2 Quan điểm hoàn thiện cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam 171
4.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
173 4.2.1 Hoàn thiện cơ chế quản l huy động vốn của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 173
4.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản l sử dụng vốn của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 177
4.2.3 Hoàn thiện cơ chế quản l doanh thu, chi phí và phân chia lợi nhuận của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính 179
4.2.4.Hoàn thiện cơ chế giámsát tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính .181
4.2.5.Hoàn thiện mô hình quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính .188
4.2.6 Nhóm giải pháp hỗ trợ 198
4.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 208
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 213
KẾT LUẬN 214 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾ N
LUÂN
Á N DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng TMCP Nông nghiệp và Phát triển Nông thônABC Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc
APE Cơ quan quản l phần vốn góp Nhà nước
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BSP Ngân hàng Trung ương Philipines
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CBRC Ủy ban điều tiết ngân hàng Trung Quốc
CCB Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc
CIECB Ngân hàng tín dụng Xuất nhập khẩu Trung Quốc
CIRC Ủy ban điều tiết bảo hiểm Trung Quốc
CSRC Ủy ban điều tiết chứng khoán Trung Quốc
CITIC Tập đoàn Đầu tư và Tín thác Quốc tế
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNBH Doanh nghiệp Bảo hiểm
ĐCSTQ Đảng Cộng sản Trung Quốc
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu
FSA Cơ quan dịch vụ tài chính
FSMC Hội đồng quản l hệ thống tài chính
FCD Cơ quan lập pháp Châu Âu
Trang 6MAS Ngân hàng Trung ương Singapore
M&A Mua bán, sáp nhập
NCRC Ủy ban cải cách và phát triển Quốc gia
PBC Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
PBOC Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
QL&GSBH Quản l và giám sát bảo hiểm
ROA Tỷ suất lợi nhuận/ Tổng Tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu
SXKD Sản xuất kinh doanh
SAFE Tổng cục Quản l ngoại hối Nhà nước
SASAC Ủy ban quản l , giám sát tài sản Nhà nước Trung QuốcSCIC Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
UBGSTCQG Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Vietinbank Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
VAMC Công ty Quản l tài sản
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1 Các loại hình NHTM và số lượng 92Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh bình quân của một số TĐTC 95Bảng 3.3 mức vốn điều lệ trong các công ty con của TĐTC Bảo hiểm - Bảo Việt 111 Bảng3.4.ChỉsốCARcủaTĐTCBảohiểm–BảoViệtsovớicácTĐTC–Ngânhànglớn 117
Bảng 3.5 Huyđộng vốn vaycủa các TĐTC– BH Bảo Việt so với NHTMCPNhànước
123 Bảng 3.6 Tình hình quản l , sử dụng tài sản của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt 131
Bảng 3.7 Thù lao của thành viên HĐQT, TGĐ và thành viên Ban Kiểm soát của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt 139Bảng 3.8 Tình hình tăng vốn Điều lệ của các NHTM Nhà nước 147Bảng 4.1 Các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN
181 Bảng 4.2 Các chỉ tiêu chi tiết hóa cấp 3, cấp 4 182Bảng 4.3 Chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh quốc tế của DNNN Trung ương 183
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình của Tập đoàn Tài chính 28
Sơ đồ 2.2 Mô hình một chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần chi phối 52
Sơ đồ 2.3 Mô hình có nhiều chủ sở hữu tham gia đầu tư 53
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức của Tập đoàn Tài chính 88
Sơ đồ 3.2 Mô hình tổ chức quản l tài chính tổng thể của Nhà nước đối với Tập đoàn Tài chính 101
Đồ thị 3.1 Tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận, các quỹ của TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt115 Đồ thị 3.2 Mức tăng các khoản phải trả ngắn hạn của TĐTC Bảo hiểm – Bảo Việt 125 Đồ thị 3.3 Tình hình đầu tư của TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt 129
Đồ thị 3.4 Khả năng thanh toán, Tỷlệ an toàn vốn của TĐTC Bảo hiểm– Bảo Việt
133 Hình 3.1 Tình hình áp dụng Basel tại các quốc gia 156
Sơ đồ 4.1 Mô hình quản l tài chính của Nhà nước đối với TĐTC 194
(thành lập một công ty đầu tư riêng trong lĩnh vực tài chính) 194
Sơ đồ 4.2: Mô hình quản l tài chính của Nhà nước đối với TĐTC 195
(mở rộng lĩnh vực đầu tư và vai trò, chức năng của SCIC hiện tại) 195
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý tưởng hình thành và phát triển Tập đoàn Tài chính (TĐTC) ở ViệtNam được bắt đầu đồng thời với ý tưởng phát triển tổng công ty lớn thành tậpđoàn kinh tế (TĐKT) từ Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướngChính phủ Cho đến Nghị quyết Trung ương ba Khóa IX, chủ trươnghình thành và phát triển TĐKT đã chính thức được đưa ra “hình thànhmột số TĐKT mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước, có sự tham giacủa các thành phần kinh tế” Đây chính là tiền đề cho việc hình thành TĐTCvới mô hình thí điểm TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt theo Quyết định số310/2005/QĐ- TTg ngày 28/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Đề án cổ phần hóa Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thànhlập TĐTC – Bảo hiểm Bảo Việt
Trong giai đoạn tái cơ cấu các Tổ chức tín dụngViệt Nam, các TĐTCtrong lĩnh vực ngân hàng cũng đã xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh.Trong đó, tiên phong là các Ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Nhànước
Để quản l tài chính (QLTC) đối với các TĐKT, Nhà nước đã ban hành
cơ chế QLTC Trong quá trình thực hiện, cơ chế này đã góp phần tách bạchchức năng quản l của chủ sở hữu, quản lý Nhà nước và tăng cường quyền tựchủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN),các TĐKT Đồng thời đảm bảo phần vốn Nhà nước đầu tư vào các TĐKTđược bảo toàn và phát triển; nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT theohướng quản trị doanh nghiệp hiện đại Tuy nhiên, cùng với những đổi thaycủa môi trường kinh doanh, những đổi thay của chính các TĐTC, cơ chếQLTC của Nhà nước đối với TĐTC đang tỏ ra không phù hợp
Trang 10Để góp phần thúc đẩy các TĐTC phát triển và hướng tới mục tiêuQLTC có hiệu quả của Nhà nước đối với TĐTC, hoàn thiện cơ chế QLTC củaNhà nước với TĐTC là đòi hỏi tất yếu.
Góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, đề tài luận án “Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam”
được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ởViệt Nam
Để hoàn thành mục tiêu trên, những nhiệm vụ sau cần được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Luận án:
- Hệ thống hóa những vấn đề l thuyết cơ bản về cơ chế QLTC củaNhà nước với TĐTC
- Tổng hợp kinh nghiệm của một số nước về hoàn thiện cơ chế QLTCcủa Nhà nước và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTCtrong những năm gần đây
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC của Nhà nước vớiTĐTC ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ởViệt Nam, chủ yếu nghiên cứu đối với TĐTC do Nhà nước nắm giữ cổ phầnchi phối, trong đó nghiên cứu chủ yếu với trường hợp là TĐTC Bảo hiểm -Bảo Việt (có so sánh với một số NHTM cổ phần Nhà nước) để minh họa
- Đề tài được nghiên cứu trên phương diện Nhà nước, xem xét các quyđịnh về cơ chế QLTC của Nhà nước với các nội dung quản lý huy động vốn,
Trang 11quản l sử dụng vốn, quản l doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận, giámsát tài chính; mô hình tổ chức quản l của Nhà nước Cơ chế QLTC trong nội
bộ tập đoàn không phải là đối tượng nghiên cứu trong Luận án; các TĐTCkhác không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Thời gian: nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 10 năm gầnnhất (2006 – 2016), trong đó số liệu lấy tập trung trong giai đoạn 05 năm(2012 – 2016)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duyvật lịch sử trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên cứuđược sử dụng: phương pháp khái quát hóa, phương pháp so sánh, phươngpháp chuyên gia, để thu thập thông tin, tổng hợp thông tin và đánh giá các nộidung về QLTC của Nhà nước đối với TĐTC ở Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hệ thống hóa cơ sở l luận về cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC;đặc biệt phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế QLTC của Nhànước làm phong phú thêm l thuyết về cơ chế QLTC của Nhà nướcvới TĐTC Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu là sự mở đường để vận dụngthành công, đúng đắn lí luận về cơ chế QLTC vào thực tiễn nhằm hoàn thiện
cơ chế QLTC của Nhà nước với các TĐTC ở Việt Nam hoạt động và pháttriển, đồng thời đảm bảo được các mục tiêu của Nhà nước
7 Kết cấu của luận án: gồm 04 Chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở l luận về cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với
Tập đoàn Tài chính
Chương 3: Thực trạng cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tậpđoàn Tài chính ở Việt Nam
Trang 12Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản l tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾQUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
1.1.1 Các nghiên cứu về mô hình Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về TĐTC, trong đó tậptrung vào các loại mô hình TĐTC đặc trưng theo từng khu vực như Mỹ, cácnước Châu Âu, Châu Á (điển hình như Nhật, Trung Quốc,…):
- Năm 1990, Richard J Herring thông qua nghiên cứu The Corporate
Structure of Financial Conglomerates [136] đã đi xem xét các vấn đề chính
sách của Chính phủ liên quan đến cấu trúc tổ chức thích hợp của một TĐTCcung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cùng với các dịch vụ tài chính khác.Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cơ chế hoạt động của ngân hàng ở
Mỹ phải được đặt trong bối cảnh cạnh tranh với các TĐTC
- Năm 1995, Merton trong “A Functional Perspective of Financial Intermediation” [128] đã đưa ra lý thuyết về sự hình thành TĐTC Ông nói
rằng các trung gian tài chính thực hiện chức năng phân bổ và triển khai cácnguồn lực kinh tế Theo thời gian, phương thức và tổ chức thực hiện các chứcnăng này có thể thay để nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong đó, những thayđổi rõ nét nhất là sự phát triển l thuyết tài chính, đổi mới tài chính, đổi mớicông nghệ và tự do hóa cả trong và ngoài biên giới (Allen và Santomero,
1999 và Borio and Filosa, 1994)
- Năm 2000, Skipper đưa ra ba cấu trúc cho các TĐTC trong nghiên
cứu “Financial Services Integration Worldwide: Promises and Pitfalls”
[137] Đầu tiên là mô hình ngân hàng đa năng sở hữu các công ty con cungcấp dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác Ngân hàng toàn cầu đảmnhận cả hoạt động NHTM và hoạt động chứng khoán Mô hình thứ hai là mô
Trang 14hình công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc ngân hàng và sở hữucác công ty con có vốn hóa riêng biệt hoạt động trong các dịch vụ tài chínhkhác nhau Mô hình thứ ba là cấu trúc công ty cổ phần, trong đó hoạt độngcủa một công ty mẹ nắm giữ giới hạn cổ phần Mô hình ngân hàng đa năngphổ biến ở châu Âu, trong khi mô hình công ty cổ phần phổ biến ở Mỹ vàNhật Bản.
- Năm 2008, Li Guo trong nghiên cứu “Financial Conglomerates in China: Legality, Model and Concerns” [131] đã đề cập đến khung pháp l và
mô hình TĐTC ở Trung Quốc trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước của Trung Quốc Vấn đề nổi bật trong nghiên cứu này về TĐTC là nguyên tắc quy định trong các Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm và Luật Ngân hàng thương mại của Trung Quốc Theo đó, các doanh nghiệp kinh doanh một trong ba lĩnh vực tài chính không được phép đầu tư sang hai lĩnh vực còn lại, nhưng lại cho phép các doanh nghiệp phi tài chính có thể đầu tư vào các lĩnh vực này Bên cạnh khung pháp lý quy định vềhoạt động của TĐTC, nghiên cứu cũng làm rõ hai mô hình TĐTC thông dụng
là mô hình TĐTC đa năng (Universal Banking) và mô hình TĐTC Holding (The Financial Holding Company), cũng như phân tích các ưu, nhược điểm khi áp dụng hai mô hình này vào các TĐTC ở Trung Quốc Từ đó, nghiên cứuđưa ra khuyến nghị việc áp dụng mô hình phù hợp trong từng giai đoạn: giai đoạn đầu nên áp dụng mô hình holding, dần dần tiến tới áp dụng theo mô hìnhTĐTC đa năng trong giai đoạn tái cơ cấu và chuyển đổi các NHTM Nhà nướcsang hoạt động theo hình thức tư nhân
- Năm 2008, Kuhara Masaharu nghiên cứu “US and European Financial Conglomerate Organizations and their Implications for Japan and Other Large Diversified Financial Firms in Asia” [124] đã trình bày
về các mô hình TĐTC truyền thống của Châu Âu và Mỹ, theo đó chủyếu gồm có 3 mô hình chính là mô hình ngân hàng đa năng, mô hình holdingmà
Trang 15công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty con và mô hình công ty mẹ kinh doanhmột trong những ngành chính là ngân hàng, chứng khoán hoặc bảohiểm Nghiên cứu chỉ ra rằng quản l hiệu quả là rất quan trọng đối với mộtTĐTC do tính chất phức tạp của hoạt động và quy mô lớn Nghiên cứu cũngcho thấy việc áp dụng một mô hình quản l TĐTC của Mỹ hoặc Châu Âuvào Nhật hay các nước Châu Á khác là không phù hợp mặc dù mô hình đóđang hoạt động tốt ở Mỹ Điều này là do có sự khác biệt trong môi trườngcạnh tranh và các quy định pháp l , khả năng lãnh đạo, quản lý Do đó cầnphải có ứng dụng phù hợp và linh hoạt.
Một số nghiên cứu phân tích các xu hướng phát triển trong vài ba thập
kỷ gần đây như việc phát triển nhanh các định chế tài chính/ngân hàng đanăng, các nước đang phát triển ngày càng mở cửa thị trường tài chính, luồngvốn chuyển dịch ngược từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển
… (chẳng hạn nghiên cứu của Beim David O Và Charles W Calomiris(2001); Fabozzi Frank J Và Franco Modigliani (2003) [105]; Eichengreen,Barry (2004), )
Các nghiên cứu trong nước thời gian qua tập trung nhiều vào nghiêncứu về mô hình TĐKT Nhà nước ở Việt Nam nhằm đánh giá lại việc thí điểmthành lập các TĐKT Nhà nước trong giai đoạn trước đó, cũng là thời điểmViệt Nam mới tiếp cận với mô hình hoạt động của TĐKT không lâu nên vẫncòn trong giai đoạn mới mẻ cần nghiên cứu Mô hình TĐTC ở Việt Nam cũngmới chỉ được nhắc đến thông qua các nghiên cứu cụ thể đối với các NHTM cổphần theo xu hướng mong muốn chuyển đổi sang hoạt động theo mô hìnhTĐTC, hoặc các trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hai trong 3 lĩnh vực tàichính Cụ thể:
- Năm 2007, Đề tài luận án “Phân tích mô hình và cấu trúc Tập đoàn Tài chính – ngân hàng, ứng dụng vào ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức” [16] của Hoàng
Trang 16Xuân Thành đã đi phân tích các yêu tố chủ yếu của mô hình TĐTC – ngânhàng và cấu trúc tổ chức của mô hình tập đoàn, để áp dụng cho BIDV trongquá trình chuyển đổi mô hình tổ chức.
- Năm 2008, LATS của Nguyễn Đức Hưởng, Học viện Ngân
hàng “Chuyển ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thành tập đoàn tài chính” [29] đã đi nghiên cứu cụ thể việc chuyển
đổi mô hình của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản về TĐTC và nghiên cứu môhình điển hình mang tính phổ biến mà các TĐTC thế giới hiện nay đang ápdụng Phân tích đánh giá thực trạng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn cũng như những điều kiện để chuyển đổi Trên cơ sở đó, Luận ánkhẳng định sự cần thiết phải chuyển Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn thành TĐTC trong tương lai, đồng thời đưa ra hệ thống giảipháp chủ yếu để chuyển đổi theo hướng nền kinh tế đổi mới của Việt Nam
- Năm 2008, LVThS của Trần Ái Phương “Giải pháp thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng theo định hướng hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng tại Việt Nam”[74] Mặc dù luận văn đi vào
nghiên cứu về giải pháp M&A đối với ngân hàng nhưng cũng đã thể hiện một
xu hướng hình thành TĐTC ngân hàng ở Việt Nam từ thời điểm đó, thôngqua hình thức M&A
- Năm 2012, LATS của Ngô Văn Tuấn đề cập đến chuyển đổi cácNHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sang hoạt động theo mô
hình TĐTC trong Luận án “Xây dựng Tập đoàn Tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh”[28] Trong
đó, nội dung của luận án tập trung vào các vấn đề về cơ cấu tổ chức, nhân sự,năng lực tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin và tính pháp lý đểcác NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố có thể chuyển đổi sang hoạt độngtheo mô hình TĐTC
Trang 171.1.2 Các nghiên cứu về cơ chế quản lý, giám sát tài chính trong Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước
Thứ nhất, trên thế giới các vấn đề về QLTC liên quan tới TĐTC đã được nghiên cứu tương đối nhiều dưới các giác độ khác nhau với các mức độ chuyên sâu khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu về giám sát tài chính đối với TĐTC.
- Năm 1995, “The supervision of financial conglomerates” [139], của
Tripartite Group, tập trung nghiên cứu các vấn đề giám sát tài chính đặt ra choTĐTC hoạt động chủ yếu ít nhất trong hai lĩnh vực tài chính khác nhau màkhông nói đến các vấn đề giám sát phát sinh trong trường hợp tập đoàn hỗnhợp, cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính Báo cáo đưa ra việc giámsát hợp nhất và giám sát đơn lẻ theo ba lĩnh vực chính: giám sát liên quan đến
an toàn vốn đối với công ty mẹ; giám sát trách nhiệm của các doanh nghiệptrong cùng một tập đoàn; quyền hạn trong giám sát xét trong cấu trúc tập đoànnhằm thu thập thông tin về cơ cấu quản l , pháp l , hạn chế sự ảnh hưởng củacấu trúc tập đoàn đến hoạt động giám sát Báo cáo kết luận cần thiết phải có
sự phối hợp sâu trong giám sát giữa ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán Cầnkết hợp giữa giám sát hợp nhất ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm với giámsát đơn lẻ trong từng lĩnh vực
- Năm 1997, Howell E Jackson [116] cho thấy việc điều tiết của TĐTCdạng Holding rất đa dạng và được quản l bởi một số văn bản pháp l , trong
đó tập trung vào 5 vấn đề: 1) đảm bảo khả năng thanh toán; 2) ngăn chặn sựphá vỡ hệ thống; 3) ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ sựcạnh tranh trong tín dụng và thị trường vốn; 4) định mức về tái phân phối; và
5) sử dụng quy chế tài chính thông qua hệ thống pháp lý để nhằm thực hiện
các mục tiêu chính trị, như các quy định hạn chế sở hữu nước ngoài đối vớidoanh nghiệp trong nước hoặc mở rộng phạm vi của ngân hàng đô thị tại khu
vực nông thôn Nghiên cứu “The Regulation of Financial Holding
Trang 18Companies – Entry for New Palgrave Dictionary of Law and Economics”
cũng đưa ra một số quy định đối với TĐTC như quy định về khả năng thanhtoán; hạn chế một số hoạt động giữa công ty mẹ trong Tập đoàn và các công
ty con; những vấn đề về cạnh tranh
- Năm 1998, Christine A Tate [96] đã trình bày tổng quan tình hìnhphát triển các doanh nghiệp theo mô hình TĐTC ở Mỹ và thực trạng các quyđịnh pháp l có thể sẽ không theo kịp mức độ phát triển của TĐTC, điều này
đã gây ra nhiều tranh luận về hệ thống tài chính hiện đại trong bài viết
“Financial Conglomerates: New World, New Challenges for Supervisors” Theo đó, các TĐTC sẽ cần phải có cách để điều hòa được vấn
đề này Trong đó, bài viết tập trung vào một số vấn đề như: cần định nghĩa vaitrò hỗ trợ, nâng đỡ của cơ quan giám sát (Cục dự trữ liên bang); vấn đề về antoàn vốn của TĐTC; vấn đề về áp dụng tiêu chuẩn vốn của ngân hàng cho tất
cả các công ty con trong mô hình công ty mẹ - công ty con; sự phức tạp trongđánh giá về vốn giữa các ngành; việc quy định chức năng giám sát Tuynhiên, bài viết cũng nhấn mạnh hiện đại hóa tài chính - cụ thể là giám sát hoạtđộng của TĐTC là cần thiết và sẽ phải làm sớm
- Năm 2002, Half Cameron đã kết luận trong nghiên cứu của mình
“Evolving Trends in the Supervision of Financial Conglomerates” [114]
rằng thẩm quyền chi phối cấu trúc TĐTC phụ thuộc vào từng quốc gia, baogồm Luật và khung pháp l hiện hành đối với các định chế tài chính
- Năm 2002, Milo Melanie đã nghiên cứu về mô hình giám sát
của Philippines trong “Financial Services Intergration and Consolidated Supervision: Some issues to Consider for the Philippines”
[129] Các TĐTC chiếm ưu thế trong nước đặc biệt với sự xuất hiện của ngânhàng toàn cầu vào đầu những năm 1980 Tuy nhiên, khuôn khổ pháp l quyđịnh đối với dịch vụ tài chính trong nước vẫn dựa trên phương pháp tiếp cậntruyền thống Trách nhiệm giám sát được chia sẻ bởi ba cơ quan giám sátđược ngân hàng
Trang 19trung ương Philippines ủy thác giám sát đối với các ngân hàng Phương thứcnày không giải quyết được triệt để rủi ro của các tập đoàn Một mặt, có thể cócác công ty không được giám sát hiệu quả Mặt khác, việc chia sẻ trách nhiệmgiám sát giữa nhiều cơ quan có thể dẫn đến không phân định được tráchnhiệm cuối cùng trong quá trình giám sát.
Một số các nghiên cứu khác cũng có cách tiếp cận về giám sát tài chínhvới mức độ chuyên sâu khác nhau qua kinh nghiệm các nước trong giai đoạn
từ 2002 đến 2007, như: Naoyuki Yoshino, Koichi Suzuki, Kazutomo Abe,Masatoshi Kuhara (2007) (các nước Đông Á), Melanie S Milo (2007),Gruson Michael (2004) (về EU); Cho Yoon Je (2002) (về Hàn Quốc),…
- Năm 2003, Fabozzi và cộng sự trong cuốn “Foundations of Financial Markets and Institutions” [105] xuất bản lần thứ 4 đã mô tả các
hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tài trợ và kiểm soát rủi ro tài chính.Nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi loại QLTC đều nhằm hạn chế rủi ro cho người đivay, ngân hàng và nhà đầu tư, cũng như trách nhiệm của nhà nước trong việcquản l tài sản khi liên tục có sự biến động về lãi suất, giá tài sản, các ràngbuộc pháp l , tình hình cạnh tranh quốc tế và các cơ hội Cuốn sách dành mộtdung lượng lớn để phân tích phương thức QLTC và trách nhiệm của các tổchức tài chính cũng như các công cụ để hỗ trợ việc quản l Với cách tiếp cận
từ thực trạng các tổ chức tài chính, cuốn sách đưa ra khuyến nghị cần có sựthay đổi về thể chế và môi trường của thị trường tài chính cũng như các địnhchế tài chính
- Năm 2003, nhóm các tác giả Richard J Herring và Robert E Litan đãđưa ra nhận định về hoạt động của TĐTC tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Xu hướnggiám sát TĐTC ở các quốc gia sẽ tập trung tại một cơ quan duy nhất (thường
là Ngân hàng Trung ương) trong khi các doanh nghiệp khác vẫn chịu sự giám
sát tài chính theo chuyên ngành trong tác phẩm “Financial Conglomerates: The Future of Finance?”[135].
Trang 20- Năm 2005, Graeme Thompson and Brian Gray trong nghiên cứu
“Supervising Financial Institutions and Conglomerates” [113] đã đi xem
xét một số vấn đề gắn với rủi ro và quản l vốn đứng trên quan điểmcủa người giám sát tài chính, đối với trường hợp các TĐTC thực hiện đầu tưtrong các lĩnh vực phi tài chính cũng như rủi ro trong vấn đề quản l vốn Bàiviết cũng đưa ra một số gợi ý và định hướng tập trung vào quản l vốn lưuđộng; quy định pháp l trong quản l vốn thông qua các công cụ giám sát
và kỹ thuật giám sát, do một cơ quan giám sát thực hiện
- Năm 2011, trong nghiên cứu về “Regulation of Financial Conglomerates in China: From De Facto to De Jure” [107], Fan Liao đã
nghiên cứu chi tiết về TĐTC ở Trung Quốc Nghiên cứu đã làm rõnhững khái niệm về TĐTC, sự phát triển chung của TĐTC ở Trung Quốc, cácloại TĐTC, và một số loại TĐTC chính ở Trung Quốc Bên cạnh phần l luận
về TĐTC, nghiên cứu cũng đi vào tìm hiểu về thực trạng khung pháp l vàcấu trúc quy chế của TĐTC, đầu tư vốn vào các lĩnh vực chứng khoán
và bảo hiểm Trong phần cấu trúc TĐTC, nghiên cứu cho thấy cơ cấu tàichính của TĐTC đang được quản l hoàn toàn độc lập thông qua các văn bảnquy phạm chuyên ngành, với các cơ quan quản lý khác nhau Cơ chế nàyđược thực hiện từ những năm 1990 Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Trung Quốcchưa có cơ chế riêng cho TĐTC, đặc biệt trong giám sát TĐTC Thậm chí,hoạt động theo mô hình TĐTC còn bị cấm trong quy định trong cácLuật Ngân hàng Thương mại, Luật Bảo hiểm (1995) và Luật Chứng khoán(1998) Nghiên cứu cũng khẳng định: những hạn chế trong các quy định pháp
l cần phải được sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung để có thể quản l , giám sát mọihoạt động của TĐTC
- Năm 2014, “Consolidated Supervision of Banks and Financial Conglomerates: A handbook for Financial Regulators and Supervisors”
của Victor Ekpu [143] là cuốn cẩm nang hướng dẫn trong thành lập, quản l ,giám sát, điều tiết các ngân hàng và các TĐTC trên cơ sở hợp nhất để quản l
Trang 21Cẩm nang nhấn mạnh đến vấn đề định lượng về quy chế tài chính quốc tế,giám sát của các ngân hàng và các TĐTC Cuốn cẩm nang cũng đưa ra một sốtrường hợp nghiên cứu, một số ví dụ từ các nhóm tài chính và khu vực pháp
lý được quy định ở các nước
- Năm 2015, trong nghiên cứu “Interconnectedness of Financial Conglomerates”, Gael Hauton và Jean Cyprien Hesam [109] đã xem xét mối
liên kết tự nguyện trong hoạt động giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, ngânhàng và sự hình thành các TĐTC, đồng thời đi xem xét sự khác biệt giữa mộtdoanh nghiệp hoạt động chuyên ngành bảo hiểm, ngân hàng thuần túy vớidoanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thuộc TĐTC Nghiên cứu chỉ ra rằng, đốivới các rủi ro nhỏ, TĐTC sẽ mang lại mức độ an toàn cao hơn; nhưng với cácrủi ro lớn mang tính dây truyền sẽ mang đến sự đổ vỡ nghiêm trọngcho TĐTC Do đó, việc giám sát và QLTC đối với TĐTC đóng một vai tròđặc biệt quan trọng
Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới cũng tập trung vào các vấn đề vềnguyên tắc, phương pháp, công cụ quản lý, giám sát TĐTC, bao gồm: (1)công cụ giám sát trong các quy định của Liên minh Châu Âu về giám sát antoàn vốn hay sự đủ vốn của Tập đoàn; giám sát việc hạn chế các khoảng trốngpháp l ; giám sát giới hạn tín dụng ở cấp độ tập đoàn đối với TĐTC Một sốnghiên cứu tiêu biểu của Andrew Kuritzke và cộng sự (2003), GrusonMaichael (2004), Gortos Christos (2010) và Yoo, Y.Emilie (2010) (2) Vớicách tiếp cận ở góc độ quản l , giám sát tập trung vào công ty mẹ các nghiêncứu tập trung phân tích sâu việc quản l các hoạt động đa dạng hóakinh doanh, tiêu biểu như nghiên cứu của Piero Michel và Cộng sự(2006), Heppelmann và Cộng sự (2008), Erlinda S Echanis (2009),…
Các nguyên tắc, quy định về giám sát tuân thủ của các định chế tàichính theo Hiệp ước Basel (Basel I (1998), Basel II (2004) và Basel III (2010)
về chuẩn mực an toàn hoạt động theo CAMELS được các tác giả, các tổ chức
Trang 22như IMF (nghiên cứu năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009), IMF vàWorld Bank (2005) nghiên cứu.
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu cơ chế QLTC đối với TĐKT, Tổng công ty Nhà nước và những nghiên cứu về cơ chế QLTC đối với các loại hình doanh nghiệp có liên quan trong giai đoạn tái cơ cấu, sắp xếp, cổ phần hóa DNNN Trong đó, các nghiên cứu
đều tập trung vào các nội dung của cơ chế QLTC bao gồm: quản lý huy độngvốn, quản l sử dụng vốn, quản l doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận
và giám sát Nghiên cứu đứng trên các góc độ khác nhau, như:
- Từ góc độ quản l của Nhà nước, tiếp tục thời kỳ đổi mới nền kinh tếhoạt động theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển nền kinh tếnhiều thành phần theo chủ trương của Đảng Trong giai đoạn 2000 – 2010,đồng thời với cổ phần hóa, sắp xếp đổi mới các DNNN, chuyển đổi DNNNsang hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam Do đó,trong giai đoạn chuyển đổi cải cách, các vấn đề về cơ chế QLTC củaNhà nước cần phải được hoàn thiện và xây dựng cơ chế quản l choloại hình doanh nghiệp mới, đặc biệt là mô hình TĐKT Các tác giảPhạm Quang Trung (2000) [55], Bùi Văn Vần (2002) [3], PGS.TS Thái
Bá Cẩn (2003)
[66], PGS.TS Nguyễn Đăng Nam (2004), Trịnh Thanh Huyền (2004) [82],Phùng Thế Tính (2008) [56], Ngô Văn Khoa (2009), Nguyễn Đăng Quế(2009) [39],… đã nghiên cứu vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau,
từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam đến việcđánh giá thực trạng cơ chế QLTC hiện tại và đề xuất giải pháp hoàn thiệntheo mô hình mới, cũng như đi nghiên cứu cơ chế QLTC của Nhà nước đốivới mô hình TĐKT khi vận dụng vào Việt Nam
- Giai đoạn tái cơ cấu DNNN tập trung vào các TĐKT, Tổng công tyNhà nước, các nghiên cứu tập trung vào hoàn thiện cơ chế QLTC để nâng caonăng lực cạnh tranh của các TĐKT Nhà nước (nghiên cứu của Vũ Anh Tuấn,
Trang 232012), hay nghiên cứu chuyên sâu hơn về vốn của Nhà nước trong các doanhnghiệp theo quan điểm chuyển từ quản l tài sản, theo hình thức mệnh lệnh,tuân thủ sang quản l vốn trên cơ sở nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp,tạo tính chủ động trong các quyết định kinh doanh của người quản l doanhnghiệp Các nghiên cứu theo hướng này có Phạm Thị Thanh Hòa (2012), TrầnXuân Long (2014), PGS.TS Bùi Văn Vần & ThS Đặng Quyết Tiến (2015)[10],…
- Một xu hướng nghiên cứu khác về cơ chế QLTC từ phía các doanhnghiệp khi các DNNN lớn, các Tổng công ty Nhà nước chuẩn bị thực hiệnchuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐKT Nhà nước theo chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước Cơ chế QLTC theo mô hình TĐKT đối vớitừng doanh nghiệp cụ thể được nghiên cứu trong giai đoạn này, cụ thể nhưNguyễn Văn Tấn (2003) [38] nghiên cứu cho Tổng công ty Bưu chínhViễn thông Việt Nam; Nguyễn Quốc Trị (2006) nghiên cứu đối vớiTổng công ty Bảo hiểm Việt Nam; Vũ Hà Cường (2006) nghiên cứu choTổng công ty Hàng không Việt Nam;…
Thứ ba, các nghiên cứu về cơ chế QLTC đối với TĐTC ở trong nước mới chỉ được thực hiện trong một vài năm gần đây, cụ thể:
- Các nghiên cứu tập trung nhiều vào giám sát tài chính trong hệ thốnggiám sát và nói riêng cho TĐTC trong thời gian qua như: đi đánh giá thànhtựu, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát của NHNNđối với các NHTM (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2009); tập trung phân tích cácvấn đề l luận và thực tiễn về giám sát các TĐTC và gợi chính sách choViệt Nam (Đỗ Kim Hảo, 2010); phân tích các rủi ro của các định chế tài chínhtrung gian, đồng thời chỉ ra một số vấn đề đặt ra đối với hệ thống giám sát củaViệt Nam (Nguyễn Kim Anh, 2010); Nghiên cứu của Tô Ngọc Hưng và cộng
sự (2010) về l luận và thực tiễn trong và ngoài nước đối với hệ thống giám sáttài chính, trong đó mô hình giám sát hệ thống tài chính là trọng tâm Vấn
Trang 24đề nghiên cứu về giám sát TĐTC cũng được nhắc đến nhưng có giới hạn trong nghiên cứu này.
- Đứng trên giác độ cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm,năm 2011, ThS Phạm Đình Trọng nghiên cứu một hình thức của TĐTC kinh
doanh bảo hiểm ở Việt Nam trong đề tài cấp Bộ “Phương thức giám sát tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm”[51] Đề tài đã đề cập đến khái niệm TĐTC có kinh doanh bảo hiểm với
những đặc trưng riêng về vốn, dự phòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán, hoạtđộng đầu tư, tái bảo hiểm Từ việc nêu ra phương thức giám sát TĐTC, đề tàicũng nêu được những nguyên tắc cơ bản trong giám sát TĐTC của OECD,Basel Trong nghiên cứu thực trạng, đề tài đã đề cập đến công tác quản l Nhànước (ban hành chính sách, cấp phép, quản lý giám sát, thanh tra) đối với thịtrường tài chính Việt Nam Từ đó, chỉ ra một số hạn chế trong hoạt động giámsát thị trường tài chính và dự báo những rủi ro đối với hoạt động đa năng củacác tập đoàn nói chung và đối với tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tàichính có kinh doanh bảo hiểm nói riêng để kiến nghị một số giải pháp như:hoàn thiện phương thức giám sát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăngcường năng lực giám sát của cơ quan quản l Nhà nước nhằm quản l giám sátcác tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảohiểm
- Nghiên cứu gần đây nhất về giám sát tổng thể TĐTC trênphương diện kinh nghiệm các nước, năm 2015, Đề tài cấp Bộ của tác giả
Hoàng Văn Thành “Giám sát Tập đoàn Tài chính, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” [17] đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý ban đầu
cho giám sát các TĐTC ở Việt Nam Đề tài đã tổng hợp các tiêu chí đánh giáTĐTC theo 3 nhóm: Quản trị; Sự lành mạnh về tài chính (tình trạng đủ vốn,
hệ thống quản l rủi ro về tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thịtrường, ); và tự tương đương của Giám sát Tập đoàn của các Tổ chức giámsát nước ngoài Dựa trên
Trang 25kinh nghiệm của các nước và bài học kinh nghiệm rút ra, cùng với thực trạngViệt Nam, tác giả đã đề xuất các kiến nghị về chính sách đối với Nhà nước,giải pháp để cải cách công tác giám sát các TĐTC có hiệu quả.
1.1.3 Tổng hợp các kết quả chính của các công trình nghiên cứu
Những công trình nêu trên cho thấy giữa nghiên cứu trong nước vànghiên cứu ở nước ngoài có sự khác biệt khá rõ rệt về thời gian và đối tượngnghiên cứu
- Sự hình thành và phát triển của TĐTC đã được nghiên cứu từ lâu, cáctác giả cũng chỉ ra xu hướng hình thành và phát triển TĐTC của các nước đềutrải qua một quá trình mà xuất phát từ nhu cầu của các bên cần hợp lại thôngqua M&A để hình thành TĐTC Rất ít các quốc gia có sự tồn tại phần vốnNhà nước trong các TĐTC, do đó vấn đề QLTC của Nhà nước đối với TĐTCchủ yếu là giám sát tài chính theo các nguyên tắc của Basel, và vấn đề quản trịrủi ro trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
- Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam về cơ chế QLTC trong nội bộTĐKT phi tài chính Một xu hướng nghiên cứu sâu hơn về cơ chế QLTC củaNhà nước là tập trung vào cơ chế giám sát và mô hình tổ chức bộ máy do ViệtNam đang trong giai đoạn tái cơ cấu DNNN trong đó có các TĐKT, Tổngcông ty Đối với trường hợp TĐTC nói chung, mới chỉ có một nghiên cứu gầnnhất (2015) nhưng chủ yếu đi nghiên cứu kinh nghiệm các nước về giám sáttài chính đối với TĐTC Một nghiên cứu về cơ chế QLTC của Tổng công tyBảo hiểm khi chuyển sang hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinhdoanh (2006) và một nghiên cứu có liên quan đến phương thức giám sát cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm (2011)
Như vậy có thể nhận thấy một khoảng trống nghiên cứu lớn về cơ chếQLTC của Nhà nước đối với TĐTC
Trang 261.1.4 Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện về mặt l luận và thực tiễn về cơ chế QLTC củaNhà nước đối với TĐTC ở Việt Nam cho đến nay chưa có một nghiên cứunào thực hiện Những vấn đề về đặc trưng của TĐTC ở Việt Nam, cơ chếQLTC của Nhà nước, các chỉ tiêu phản ánh nội dung của cơ chế QLTC,…được hiểu trong bối cảnh của Việt Nam thế nào Đó là những vấn đề chưa cómột nghiên cứu nào đề cập đến đối với trường hợp TĐTC ở Việt Nam
Để giải làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu, một số câu hỏi nghiêncứu cần được giải quyết trong đề tài luận án như sau:
1 Khái niệm và đặc trưng của TĐTC (TĐTC là gì? TĐTC có đặc trưnggì?)
2 Cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC được hiểu như thế nào?Những nội dung chủ yếu của cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC là gì?)
3 Tiêu chí phản ánh mức độ hoàn thiện của cơ chế QLTC của Nhànước với TĐTC là gì?
4 Nhân tố nào tác động tới cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC?
5 Cơ chế QLTC của Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam như thế nào?
6 Nguyên nhân nào dẫn đến tính thiếu hoàn thiện của cơ chế QLTCcủa Nhà nước với TĐTC ở Việt Nam?
1.2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐƯỢC SỬ DỤNG
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duyvật lịch sử, trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên cứuđược sử dụng: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp sosánh để xây dựng các luận chứng logic; phương pháp quan sát khoa học,phương pháp điều tra để xây dựng các luận chứng ngoài logic
Phương pháp diễn dịch: dựa trên l thuyết, tổng quan nghiên cứu Mụcđích của việc áp dụng phương pháp diễn dịch là xây dựng các giải pháp hoàn
Trang 27thiện cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC thông qua làm rõ cơ sở l luận trong chương 2 và nghiên cứu thực trạng trong chương 3.
Phương pháp quy nạp: dựa trên ba bước tư duy gồm quan sát thực trạng
cơ chế QLTC của Nhà nước đối với TĐTC; bước tiếp theo là quan sát cụ thểđối với trường hợp TĐTC-Bảo hiểm Bảo Việt; từ đó đi đến bước thứ 3 là tổngquát hóa các vấn đề thực trạng thông qua đánh giá những kết quả đạt được,những tồn tại và nguyên nhân
Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh thông tin của các nước, cácnghiên cứu trên thế giới với tình hình Việt Nam, so sánh những dữ liệu cótính chất tương đồng, rút ra những kết luận sau khi thực hiện phân tích, sosánh
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: sử dụng phương pháp thu thập thôngtin trong thu thập thông tin thứ cấp Nghiên cứu các tài liệu tại bàn; các vănbản quy phạm liên quan đến cơ chế quản l vốn của Nhà nước; kế thừa cáckết quả nghiên cứu trước đó; các báo cáo thường niên của TĐTC; số liệu củacác Bộ, ngành có liên quan; các thông tin công khai,…
Phương pháp điều tra: sử dụng phương pháp chuyên gia trong thu thậpthông tin sơ cấp Trên cơ sở xây dựng một số nội dung để thực hiện phỏngvấn một số chuyên gia, các nhà quản l đã và đang thực hiện các nhiệm vụquản l về tài chính tại các TĐTC, bao gồm:
- Trao đổi trực tiếp, qua điện thoại và email (tùy thuộc thời gian
và khoản cách về mặt địa l ) với Ông Lê Hải Phong, Nguyên thành viênHĐQT, Kế toán trưởng TĐTC-BH Bảo Việt; Email: lehaiphong@gmail.com
- Trao đổi trực tiếp với một số chuyên gia tài chính – ngân hàng trongcác cơ quan quản lý Nhà nước của NHNN và Bộ Tài chính, chuyên gia trongmột số NHTM cổ phần lớn và chuyên gia kinh tế độc lập, …
- Một số nội dung được sử dụng để trao đổi, cụ thể như sau:
Trang 28+ Mô hình hoạt động hiện nay của doanh nghiệp: Với nội dung này, đa
số các chuyên gia đều cho rằng TĐTC lớn của Việt Nam hiện nay đều hoạtđộng theo mô hình công ty mẹ - công ty con và theo hai hình thức: công ty mẹnắm vốn thực hiện đầu tư, công ty mẹ tham gia hoạt động trong ngành nghềkinh doanh chính của Tập đoàn
+ Cơ cấu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Với nội dung này, qua traođổi, các chuyên gia nhận định các TĐTC lớn đều có cơ cấu vốn chủ sở hữuvới tỷ lệ vốn chủ sở hữu là Nhà nước nắm quyền chi phối
+ Cơ sở pháp l thực hiện cơ chế quản l tài chính của doanh nghiệphiện tại, thẩm quyền ban hành, phê duyệt quy chế quản trị của doanh nghiệp:Với nội dung này kiến thu nhận được đều cho rằng, phần lớn các TĐTC lớn ởViệt Nam hoạt động theo mô hình công ty cổ phần và đa số đã thực hiệnniêm yết trên thị trường chứng khoán Do đó, căn cứ trên các văn bản quyđịnh của Nhà nước, Hội đồng quản trị của TĐTC xây dựng điều lệ, quy chếquản l tài chính, quy chế quản trị doanh nghiệp của TĐTC Trong quá trìnhxây dựng, có phối hợp với các cơ quan quản l Nhà nước có liên quan đểnhận được sự tư vấn và thống nhất các tiêu chí, quy định nhằm đảm bảo tuânthủ đúng các quy định, chính sách của Nhà nước
+ Vấn đề về người đại diện vốn: các chuyên gia cho rằng còn nhiều vấn
đề về người đại diện vốn, đặc biệt đối với các quy định về thẩm quyền, tráchnhiệm của người đại diện Các quy định về người đại diện chưa mang lại sựchủ động của người đại diện, đặc biệt về quyền được báo cáo thường xuyêncác thông tin hoạt động của TĐTC để phân tích, đánh giá và báo cáo kịp thờicho chủ sở hữu Nhà nước
+ Vấn đề về cơ chế huy động vốn, sử dụng vốn: vốn điều lệ, đầu tư củadoanh nghiệp, phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp; Cơ chế giám sát; môhình tổ chức QLTC của Nhà nước (tập trung vào quy định của Nhà nước):Những vấn đề cụ thể liên quan đến cơ chế quản l tài chính của TĐTC được
Trang 29cho rằng không nhiều tác động đến TĐTC, tuy nhiên các quy định về trả cổtức bằng tiền mặt là vấn đề các TĐTC không mong đợi, đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay đang cần tăng vốn để đáp ứng các chỉ tiêu về an toàn vốn, khảnăng thanh toán khi thực hiện Basel II và tiến đến Basel III.
+ Những đề xuất, kiến nghị của các chuyên gia trong hoàn thiện cơ chếQLTC của Nhà nước với TĐTC: Tập trung chủ yếu vào vấn đề giámsát, không chỉ đối với các TĐTC mà Nhà nước nắm quyền chi phối mà cả cácTĐTC mà tỷ lệ vốn đầu tư của Nhà nước dưới 50%; các vấn đề về mô hìnhquản l vốn Nhà nước; Bên cạnh đó là kiến nghị hoàn thiện một số các quyđịnh trong hệ thống chính sách về cơ chế quản l tài chính hiện hành /
Trang 30CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
2.1.TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn Tài chính
Khái niệm về Tập đoàn Tài chính
TĐTC được hình thành từ một nhóm các doanh nghiệp, kết hợp lại vớinhau, có sự quản l chung và hoạt động trong lĩnh vực tài chính TĐTC ra đời
từ hệ quả của quá trình phát triển kinh tế toàn cầu do tốc độ phát triển nhanhchóng của công nghệ, toàn cầu hóa và tự do hóa quy trình xây dựng các quyđịnh, chính sách
Trên thực tế, nhiều tổ chức quốc tế đã nỗ lực để đưa ra khái niệm vềTĐTC, trong đó khái niệm của Diễn đàn chung của Ủy ban Basel về giám sátngân hàng, Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán IOSCO và Hiệp hộiquốc tế của các nhà quản l bảo hiểm IAIS được thừa nhận rộng rãi: “TĐTC
là một nhóm các doanh nghiệp có sự quản l chung, hoạt động chính và chủyếu trong lĩnh vực tài chính, và phải cung cấp ít nhất hai trong ba nghiệp vụngành tài chính là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm” [130]
Nhóm G10 (gồm: Bỉ, Canada, Pháp, , Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Mỹ,Đức và Thụy Sĩ) đưa ra định nghĩa: “TĐTC là một nhóm các công ty dưới sựkiểm soát chung, các hoạt động đặc quyền hay các hoạt động chiếm ưu thếcủa nhóm cung cấp ít nhất hai lĩnh vực tài chính khác nhau là ngânhàng, chứng khoán, bảo hiểm” [112]
Theo hướng dẫn của Nghị viện và Hội đồng châu Âu, TĐTC được hiểumột cách cụ thể và chi tiết Một nhóm công ty được coi là TĐTC phải đápứng 3 điều kiện:
- Đại diện của nhóm công ty phải là một doanh nghiệp thành viên hoạtđộng trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm);
Trang 31- Hoạt động tài chính là chủ đạo (gồm một lĩnh vực tài chính theo quyđịnh và một trong hai lĩnh vực tài chính còn lại Ví dụ: TĐTC có hoạt độngchủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm, mặt khác phải có hoạt động trong lĩnh vựcngân hàng hoặc chứng khoán);
- Trong trường hợp đại diện của tập đoàn không thuộc lĩnh vựctài chính thì các hoạt động của đại diện phải chiếm phần lớn trong các hoạtđộng tài chính (chiếm ít nhất 40% tổng tài sản của tập đoàn) [99]
Ủy ban Châu Âu đề xuất một định nghĩa cụ thể hơn bao gồm 2 bước:
- Một nhóm các công ty có trên 50% hoạt động của nhóm là hoạt độngtài chính;
- Tỷ lệ của lĩnh vực ngân hàng (bao gồm cả hoạt động chứng khoán) vàcủa lĩnh vực bảo hiểm chiếm 10% - 90% trên tổng số các hoạt động tài chính
Thêm vào đó, trong trường hợp nhóm các công ty hoạt động phitài chính nhưng tỷ lệ vốn cho hoạt động tài chính trên 6 tỷ Euro thì cũngđược coi là TĐTC Định nghĩa này bao hàm một phạm vi khá linh hoạt [117]
Ở Hà Lan, quan niệm về TĐTC đơn thuần là sự kết hợp của các ngânhàng và bảo hiểm mà không cần có các điều kiện, quy định cụ thể
Ở Mỹ, quan niệm TĐTC là “Financial holding company”, đơnthuần chỉ là một tổ chức trong đó một công ty được nắm giữ những công tykhác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính TĐTC ở Mỹ không quy địnhbắt buộc phải hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con mà còn là công tythực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán,bảo hiểm
Luật Tài chính của Nhật quy định về TĐTC cũng tương đối giống với quy định về TĐTC ở Mỹ
Luật Tập đoàn Tài chính của Áo quy định : TĐTC có các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính Trong đó, ít nhất một công ty hoạt động trong
Trang 32lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm Công ty mẹ hoặc công ty nắm vốn là công ty đứng đầu tập đoàn.
Ở Việt Nam chưa có một khái niệm hay quy định cụ thể nào về TĐTC,mặc dù hiện tại đã có nhiều NHTM, công ty bảo hiểm hoạt động theo mô hìnhTĐTC nếu căn cứ theo khái niệm của các nước về TĐTC Do đó, qua nghiêncứu quan niệm của các tổ chức, các quốc gia về TĐTC, chúng tôi đồng thuận
với các quan điểm chung về khái niệm TĐTC: là một nhóm các công ty hoạt động chính và chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, tham gia ít nhất hai trong ba lĩnh vực tài chính là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Trong đó, phải có ít nhất một nghiệp vụ tài chính đóng vai trò chính trong hoạt động kinh doanh của TĐTC.
TĐTC ra đời là tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế nhân loạitheo xu hướng ngày càng hiện đại TĐTC được kỳ vọng đóng vai trò quantrọng, làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của Tập đoàn vàcông ty thành viên Thông qua sức mạnh tài chính, TĐTC là giải pháp chiếnlược để bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự thâm nhập của các công tykhổng lồ trên thế giới TĐTC còn là một trong những công cụ hữu hiệu điềutiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh tế quốc gia, mang lại nguồn lợinhuận cho Nhà nước, góp phần tăng thu NSNN
Đặc điểm Tập đoàn Tài chính
Dựa trên khái niệm về TĐTC được nêu ở trên, theo chúng tôi TĐTC cónhững đặc điểm như sau:
Thứ nhất, TĐTC hình thành trên phương thức tự nguyện hoặc bắt buộc,
thông qua sáp nhập, hợp nhất, theo nhu cầu đổi mới hoặc mở rộng về côngnghệ, vốn, thị trường dịch vụ,… nhằm tăng năng lực cạnh tranh theo
xu hướng phát triển của kinh tế thị trường trong bối cảnh mới TĐTC không
có tư cách pháp nhân, công ty mẹ và công ty thành viên bình đẳng vớinhau trước pháp luật, được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật
Trang 33Thứ hai, TĐTC có cấu trúc dạng tổ hợp nhiều công ty Các công ty
thành viên chịu sự chi phối của một công ty lớn nhất, đó là công ty mẹ Công
ty mẹ nắm cổ phần của các công ty thành viên và tạo thành một cấu trúcgiống như các vệ tinh xoay quanh hạt nhân
Thứ ba, TĐTC có các hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, tuy nhiên lĩnh vực tài chính bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán
là lĩnh vực hoạt động chủ yếu Công ty đại diện của TĐTC hoạt động chính ở
một trong ba ngành thuộc lĩnh vực tài chính, tên của Tập đoàn thường gắn vớihoạt động của công ty đại diện và thể hiện ngành nghề kinh doanh chính củaTập đoàn Ngoài ra, các TĐKT phi tài chính nhưng có hoạt động trong lĩnhvực tài chính và hoạt động tài chính chiếm phần lớn hoặc tạo ra nguồn thu lớncho tập đoàn cũng có thể được coi là một TĐTC Hiện nay, TĐTC không chỉ
bó hẹp phạm vi hoạt động trong một quốc gia, mà còn mở rộng ra phạm viquốc tế, hình thành các TĐTC đa quốc gia
Thứ tư, TĐTC cũng là một thực thể đa sở hữu, nhiều chủ sở hữu hoặc
sở hữu gia đình, hoặc cũng có thể chỉ là một chủ ở công ty mẹ Vốn sở hữu
được hình thành từ nhiều nguồn, nhiều phương thức, có thể từ Nhà nước, từ
cá nhân, từ một gia đình và hình thành nên các cách thức quản trịdoanh nghiệp khác nhau
Thứ năm, TĐTC thường được tổ chức theo 3 mô hình bao gồm: TĐTC
đa năng; mô hình công ty mẹ - công ty con, công ty mẹ kinh doanh chính và
mô hình công ty mẹ - công ty con, công ty mẹ nắm vốn Việc áp dụng các mô
hình tùy thuộc vào điều kiện của từng nước, từng khu vực
Thứ sáu, liên kết trong TĐTC chủ yếu là liên kết vốn, thường có xu
hướng đầu tư chéo trong nội bộ Tập đoàn Vốn của công ty này đượchuy động đầu tư vào công ty khác và ngược lại, giúp cho các công ty liên kếtvới nhau chặt chẽ hơn Tuy nhiên ở nhiều nước, tỷ lệ cổ phần nắm giữ của các
cổ đông cá nhân thường nhỏ, cổ đông pháp nhân chiếm tỷ lệ cổ phần lớn
Trang 34Bên cạnh đó, do quá trình quốc tế hóa và cạnh tranh gay gắt, các TĐTC
đã và đang phải cải tổ cơ cấu của tập đoàn và tăng cường kiểm soát nội bộ
Xu hướng tăng cường liên kết và thống nhất về chiến lược diễn ra phổ biến ởTĐTC Các TĐTC tập trung vào (1) tăng cường vai trò của hệ thống kiểmsoát nội bộ; (2) phối hợp chiến lược kinh doanh trên tất cả các mặt, các chứcnăng, và ở mọi phương diện Phối hợp chiến lược khu vực hóa với toàn cầuhóa, chiến lược mũi nhọn với đa dạng hóa
Thứ bảy, TĐTC thường có nguy cơ rủi ro cao, mang tính dây truyền, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và người dân Rủi ro được hiểu là những bất
trắc ngoài muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, tácđộng xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đối với TĐTC, sự kếthợp trong kinh doanh giữa các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểmvới các rủi ro riêng của từng ngành sẽ cộng gộp mức độ rủi ro cho cả hệ thốngtập đoàn, tạo ra nhiều thách thức trong quản l Cơ chế QLTC của Nhà nướcvới TĐTC vừa đảm bảo khung pháp lý, các điều kiện kinh doanh của TĐTCđồng thời vừa đảm bảo an toàn về tài chính cho TĐTC cũng như an toàn, ổnđịnh cho thị trường tài chính Do vậy, lĩnh vực kinh doanh của TĐTC là kinhdoanh có điều kiện, phải có cơ chế quản lý, giám sát riêng mang tính đặc thù
2.1.2 Phân loại Tập đoàn Tài chính
Có nhiều cách để phân loại các TĐTC như phân loại ngang, dọc, phânloại theo tính chất, phân loại theo lĩnh vực kinh doanh, phân loại theo sở hữu,
và phân loại theo phạm vi lãnh thổ,…
Thứ nhất, theo lĩnh vực kinh doanh chính, TĐTC chia làm 3 loại:
TĐTC – Ngân hàng; TĐTC – Bảo hiểm và TĐTC – Chứng khoán Trong đó, TĐTC – Ngân hàng sẽ có một NHTM hoặc một công ty là công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty thành viên được thành lập dưới các hình thức pháp l khác nhau, hoạt động trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
và một số lĩnh vực khác có liên quan chặt chẽ và phục vụ trực tiếp cho hoạt động
Trang 35ngân hàng TĐTC – Bảo hiểm, TĐTC – Chứng khoán cũng có các quan hệtương tự như TĐTC – Ngân hàng Phổ biến hiện nay có hai loại TĐTC
là TĐTC – Ngân hàng và TĐTC – Bảo hiểm
Thứ hai, theo cấu trúc, TĐTC thường được tổ chức ở 3 mô hình chính như sau [115]:
- Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking) thường là những
TĐTC lớn hoạt động trực tiếp trên cả ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán,bảo hiểm Mô hình này được đánh giá là có nhiều rủi ro do không có sự quản
l tách biệt ở mức cần thiết đối với các hoạt động ngân hàng, chứng khoán vàbảo hiểm Vì vậy, rủi ro từ hoạt động của lĩnh vực này có ảnh hưởng trực tiếpđến hoạt động của ngân hàng trong các lĩnh vực khác Loại hình ngân hàng đanăng phổ biến nhiều ở châu Âu
- Mô hình nhóm công ty mẹ – con vận hành (operational holding company) Một thể chế tài chính (ngân hàng, chứng khoán hay bảo
hiểm) đóng vai trò là công ty mẹ trực tiếp sở hữu các công ty con, công tythành viên hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của thị trường tài chính
Mô hình này được đánh giá là ít rủi ro hơn so với mô hình ngân hàng đa năng
vì ít nhiều đã có sự phân định tương đối giữa các hoạt động ngânhàng, chứng khoán và bảo hiểm Tuy vậy, công ty mẹ vẫn có tác động nhấtđịnh đến hoạt động của các công ty con và nguy cơ xung đột lợi ích là cao
Mô hình này được thừa nhận tại Mỹ và Nhật Bản
Mô hình nhóm công ty mẹ – con đầu tư (financial holding company FHC) Công ty mẹ không trực tiếp kinh doanh mà chỉ nắm giữ vốn của các
-công ty con hoạt động trong các lĩnh vực tài chính Công ty mẹ không canthiệp quá sâu vào hoạt động của các công ty con mà chỉ thực hiện điềuchuyển, phân bổ vốn một cách hiệu quả nhất trong tập đoàn, xây dựngthương hiệu, xây dựng chiến lược phát triển chung Mô hình này là dạng phổbiến tại Mỹ và Nhật Bản (Sơ đồ 2.1)
Trang 36Các hoạt động NHTM và các hoạt động Ngân hàng đầu tƣ
Công ty mẹ- con vận hành
Hoạt động NHĐT Hoạt động bảo hiểm Dịch vụ tài chính khác
Thứ ba, theo phương thức thành lập, TĐTC được hình thành thông qua bốn phương thức:
- TĐTC phát triển tự thân: Doanh nghiệp phát triển tuần tự, tự pháttriển, tập trung tích lũy vốn và đầu tư chi phối các doanh nghiệp khác thôngqua các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, thôn tính, mua cổ phần, góp vốn
- Liên kết tự phát giữa các doanh nghiệp để hình thành các TĐTC: cácdoanh nghiệp độc lập tự nguyện liên kết với nhau để tạo thành tập đoàn cótiềm lực kinh tế, tài chính đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Trongquá trình hoạt động, các doanh nghiệp này tiếp tục sử dụng tiềm lực đó để mởrộng quy mô, lĩnh vực hoạt động, thôn tính các doanh nghiệp khác để pháttriển tập đoàn, hoặc có thể thành lập mới từ những bộ phận của công ty mẹtrên cơ sở mở rộng, đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh
Hoạt động bảo hiểm Dịch vụ tài chính khác
Trang 37- Nhà nước đứng ra thành lập các TĐTC thông qua việc Nhà nước cấpvốn ban đầu dưới dạng đầu tư trực tiếp xây dựng hoặc góp cổ phần lớn nhất,hoặc tái cấu trúc các DNNN.
- Kết hợp giữa liên kết tự phát và tác động của Nhà nước để hình thànhcác TĐTC bằng cách tạo cơ chế để doanh nghiệp tự tích lũy vốn: không đánhthuế thu nhập cho phần lợi nhuận hoạt động, cho phép phát hành trái phiếu, cổphiếu, sáp nhập, hợp nhất hình thành các tập đoàn lớn,…
Thứ tư, theo tính chất sở hữu tại công ty mẹ, TĐTC bao gồm 2 loại:
- Sở hữu một chủ: TĐTC thường được hình thành từ một công ty giađình, từ một cá nhân, qua quá trình tích lũy, đầu tư, phát triển đã hình thànhnên TĐTC; hoặc là một tổ chức như trường hợp Nhà nước đầu tư 100% vốnvào công ty mẹ hình thành TĐTC Tên gọi của TĐTC có thể gắn với sở hữumột chủ: TĐTC tư nhân; TĐTC Nhà nước;…
- Sở hữu nhiều chủ: TĐTC được hình thành bởi nhiều chủ sở hữu cùngđầu tư mà thành, hình thức hoạt động chủ yếu dưới dạng công ty cổ phần.Chủ sở hữu có thể gồm các cá nhân, tổ chức, nhà nước cùng tham gia đầu tư,góp vốn vào công ty mẹ
Thứ năm, theo phạm vi lãnh thổ hoạt động, TĐTC trong nước (bao
gồm các TĐTC có các nhà đầu tư trong nước thành lập nên), TĐTC nướcngoài (gồm các TĐTC do các nhà đầu tư nước ngoài đăng ký thành lập vàhoạt động tại lãnh thổ của một quốc gia khác) và TĐTC đa quốc gia (cácTĐTC có quy mô lớn, hoạt động mạnh và đầu tư ở nhiều quốc gia trênthế giới, mạng lưới và phạm vi hoạt động rất rộng)
Tóm lại, mặc dù hình thức tổ chức và bản chất liên kết của các TĐTCrất đa dạng, nhưng các TĐTC đều dựa vào mối quan hệ cốt lõi là quan hệcông ty mẹ - công ty con Cụ thể như sau:
- Công ty mẹ là công ty có quyền kiểm soát công ty khác thông qua sởhữu toàn bộ vốn tự có hoặc nắm giữ cổ phần chi phối
Trang 38- Công ty con là công ty do công ty mẹ đầu tư toàn bộ vốn hoặc nắmgiữ cổ phần chi phối.
- Công ty liên kết là công ty do công ty mẹ nắm giữ cổ phần chưa đạtmức chi phối
Trong nội bộ TĐTC, công ty mẹ và các công ty con có mối liên kếtchặt chẽ, phụ thuộc, hỗ trợ lẫn nhau về mặt chiến lược tài chính, tín dụng;giữa các công ty con có những quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau và phụthuộc vào công ty mẹ nhằm phục vụ mục tiêu chung của TĐTC
2.2.CƠ CHẾ QUẢN L TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀICHÍNH
2.2.1.Khái niệm cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước với Tập đoàn Tài chính
Để hiểu về cơ chế QLTC, trước hết cần xem xét từ "cơ chế" “Cơ chế”gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là cấu tạo và nguyên lí hoạt động của máy móc[77] Theo từ điển Tiếng Việt, cơ chế là cách thức sắp xếp, tổ chức để làmđường hướng cơ sở theo đó mà thực hiện [36] Trong Tiếng Pháp, Từ điển LePetit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động củamột tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Trong Tiếng Anh “Mechanism”nghĩa là “a method or procedure”, “method” được hiểu là phương pháp haycách thức làm, “procedure” nghĩa là qui trình Như vậy, “Cơ chế được dùng
để chỉ một kết cấu chặt chẽ về mặt tổ chức của nhiều bộ phận khác nhau, cóqui trình, qui tắc để vận hành toàn bộ kết cấu ấy- đó là tổng thể các phươngthức, cách thức và công cụ mà qua đó người ta thực hiện được các hoạt độngcủa mình nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định” [52]
Trong hệ thống quản l nói chung, khái niệm “cơ chế quản l ” đượcxem là “tổng thể các hình thức và phương pháp tác động lên một hệ thốngquản l ; đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại và hoạt động phù hợp với các quiluật có liên quan, nhằm thực hiện những lợi ích của con người” [15]
Xem xét trong phạm vi các vấn đề về kinh tế, “Cơ chế kinh tếdưới dạng chung nhất có thể coi như một phương thức tổ chức nền sản xuất
xã hội
Trang 39với tất cả các hình thức và phương pháp vốn có với các kích thích kinh tế vàcác tiêu chuẩn pháp luật”[130] “Cơ chế kinh tế là những chính sách vàphương pháp quản l , những hình thức cụ thể của quan hệ sản xuất như hệthống kế hoạch, hệ thống đòn bẩy kinh tế (hạch toán kinh tế, giá cả, lợi nhuận,tiền lương, tín dụng…) và những hình thức cụ thể về tổ chức (hệ thống sảnxuất, hệ thống tổ chức bộ máy quản l .)” [87].
Kết hợp giữa các yếu tố cơ chế, quản l và kinh tế sẽ tạo ra một kháiniệm về cơ chế quản l kinh tế “là toàn bộ các công cụ và phương pháp quản
l được Nhà nước sử dụng kết hợp với nhau một cách đồng bộ trên cơ sở vậndụng các quy luật kinh tế để tác động tới nền KTQD, hướng các hoạt độngkinh tế vào những mục tiêu đã được xác định trong đường lối kinh tế”[13]
Qua xem xét các khái niệm, cơ chế quản l kinh tế chính bao hàm cácnội dung là sự cấu thành của các quan hệ kinh tế - tổ chức kinh doanh – một
bộ phận của hệ thống quan hệ sản xuất xã hội; có cơ sở hình thành từ
hệ thống các quy luật kinh tế Cơ chế quản l kinh tế phối hợp các lợi ích kinh
tế mà trong đó Nhà nước là chủ thể đặt ra các hình thức, phương pháp, công
cụ, đòn bẩy và các nhân tố kích thích, trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh
tế Cơ chế quản l kinh tế phải đáp ứng được yêu cầu xử l thông tin giữa haitầng quản lý vi mô và vĩ mô, do đó nó phải luôn được hoàn thiện nhằm nângcao hiệu quả của công tác quản l
Nếu cơ chế quản l kinh tế được xem là vấn đề quan trọng hàng đầu vàluôn luôn đổi mới cho phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của nềnkinh tế trong từng giai đoạn, thì cơ chế QLTC là bộ phận không thể tách rời,
có quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ đối với các yếu tố cấu thành, cũngnhư đối với toàn bộ cơ chế quản l kinh tế [90] Với ý nghĩa là những vấn đề tổchức bên trong của tài chính, cơ chế QLTC có quan hệ hữu cơ và tác độngmột cách tích cực tới việc thực hiện có kết quả chính sách tài chính
Trang 40Như vậy, có thể hiểu cơ chế QLTC là cách thức tổ chức, điều hòa, phốihợp, vận hành các quan hệ tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng các nguồn tài chính nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Hoạt
động tài chính có thể diễn ra ở phạm vi quốc gia hoặc diễn ra trong một thựcthể nào đó, đồng thời cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động tài chính cũng
có thể được tiến hành từ phía nhà nước hoặc từ một thực thể (doanh nghiệp).Nhưng dù ở cấp độ nào thì cơ chế QLTC trong các TĐTC là sự thể hiện cáchthức tổ chức điều hành hoạt động tài chính do nhà nước thực hiện hoặc doTĐTC thực hiện Cho dù việc tổ chức điều hành hoạt động tài chính do TĐTCthực hiện thì cũng không thể thoát ly được sự can thiệp của Nhà nước
Do vậy, chúng tôi quan niệm cơ chế QLTC của nhà nước đối với
TĐTC là một hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp và tổ chức quản lý của Nhà nước đối với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Tài chính trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Cơ chế QLTC là sản phẩm của sự vận dụng có thức của con ngườitrong việc sử dụng các chức năng của tài chính Do vậy, cơ chế QLTC khôngphải là một đại lượng bất biến mà nó luôn được bổ sung, hoàn thiện cho phùhợp với những thay đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể trongmỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, cũng như những thay đổi trongchính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nóichung và TĐTC nói riêng Cơ chế QLTC có những đặc trưng cơ bản sau:
- Tính hệ thống: Cơ chế QLTC không phải là tập hợp rời rạc, thực hiện
riêng biệt các phương pháp, biện pháp quản l (gọi chung là công cụ quản l );
mà là sự phối hợp chặt chẽ các công cụ này trong một chỉnh thể thống nhấtmang tính hệ thống Trong đó, có công cụ phát huy tác dụng trong việc điềutiết, điều chỉnh; có công cụ đóng vai trò đòn bẩy trong việc khuyến khích đốitượng đi theo định hướng của chủ thể quản l