1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ bộ đội địa PHƯƠNG TỈNH LẠNG sơn THAM GIA xóa đói GIẢM NGHÈO TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY

85 234 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 471 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đói, nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là vấn đề chính trị, xã hội, là một trong những nội dung cơ bản cần giải quyết trong phát triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Trong những năm qua, công tác XĐ, GN đã trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và là một nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trư¬ơng, chính sách hỗ trợ ng¬ười nghèo, vùng nghèo vư¬ơn lên trong sản xuất, đời sống, nên tỷ lệ đói, nghèo liên tục giảm, đư¬ợc thế giới công nhận là một trong những n¬ước giảm nghèo tốt nhất trong khu vực và trên thế giới.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỘ

ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LẠNG SƠN THAM GIA

1.1 Một số vấn đề lý luận bộ đội địa phương tỉnh Lạng

1.2 Thực trạng bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia

xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay 33

Chương 2 YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC

HIỆN TỐT HƠN THAM GIA XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LẠNG

2.1 Yêu cầu tham gia xóa đói, giảm nghèo của bộ đội địa

phương tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 562.2 Một số giải pháp cơ bản thực hiện tốt hơn tham gia

xóa đói, giảm nghèo của bộ đội địa phương tỉnh Lạng

Trang 2

giới Trong những năm qua, công tác XĐ, GN đã trở thành một chủ trươnglớn của Đảng và Nhà nước ta và là một nội dung quan trọng của nền kinh tếthị trường định hướng XHCN Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,chính sách hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo vươn lên trong sản xuất, đời sống,nên tỷ lệ đói, nghèo liên tục giảm, được thế giới công nhận là một trongnhững nước giảm nghèo tốt nhất trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân mà tỷ lệ đói, nghèo ở Việt Nam hiện nay vẫn còn cao, đặcbiệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo vùng căn cứ cách mạng cũ, sựnghiệp XĐ, GN chưa thực sự vững chắc Vì vậy, thực hiện XĐ, GN là mộttrong những chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng hàng đầu của toànĐảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn hiện nay.

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, còn

có nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế – xã hội, diện tích đất canh tác ít,chủ yếu là đồi núi, tỷ lệ nghèo hiện nay đang ở mức cao Trong những năm qua,công tác XĐ, GN đã được mọi cấp ban ngành trong Tỉnh chú trọng thực hiện và đãđem lại những kết quả nhất định Kết quả thực hiện các mục tiêu XĐ, GN đã đượcnâng lên một bước đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương trong giai đoạncách mạng mới Tuy nhiên, tỉnh Lạng Sơn còn đứng trước rất nhiều khó khăn vàthử thách, tỷ lệ nghèo đói tuy đã giảm hàng năm nhưng hiện nay vẫn còn ở mứccao Làm thế nào để đưa Lạng Sơn thoát khỏi đói nghèo, thực hiện mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đang là câu hỏi lớn đặt ra choĐảng bộ, chính quyền, LLVT và toàn thể nhân dân Lạng Sơn

BĐĐP tỉnh Lạng Sơn là bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, cán

bộ, chiến sỹ của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn cơ bản là con em của đồng bào các dântộc trong Tỉnh, gắn bó máu thịt với nhân dân Với chức năng là đội quânchiến đấu, lao động sản xuất và là đội quân công tác, trong những năm quaBĐĐP tỉnh Lạng Sơn đã quán triệt và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết củaĐảng, Nhà nước, Quân đội, Nghị quyết của Đảng bộ Tỉnh và Hội đồng nhândân các cấp, của Đảng bộ Quân khu 1; đã tham gia thực hiện có hiệu quả các

Trang 3

chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, góp phần xây dựng địa phương vững mạnh Tuy nhiên so với yêu cầu,nhiệm vụ của thời kỳ mới, hoạt động tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh LạngSơn còn có những hạn chế, bất cập cả về nội dung, phương thức thực hiện,

cơ chế hoạt động, phối hợp cũng như hiệu quả thực tế Kết quả tham gia XĐ,

GN chưa cao; nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện còn lúng túng; thựchiện tham gia chưa tường minh, còn lấn sân sang hoạt động của chínhquyền; cơ chế phối hợp còn chưa rõ ràng… Vì vậy, việc nghiên cứu toàndiện cả lý luận và thực tiễn về tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn,trên cơ sở đó đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốthơn tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn hiện nay là vấn đề mangtính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

Nhiệm vụ xây dựng và phát triển tỉnh Lạng Sơn trong những năm tới đã

và đang đặt ra cho các cấp ban ngành đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội nóichung, BĐĐP tỉnh Lạng Sơn nói riêng những yêu cầu mới cao hơn trong nhiệm

vụ XĐ, GN Đây cũng là một nhiệm vụ chính trị thuộc chức năng công tác của

quân đội ta Với các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay” làm luận

văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

XĐ, GN là một vấn đề nóng bỏng luôn được Đảng, Nhà nước ta quantâm, giải quyết Trong các văn kiện của Đảng, những chủ trương, chính sáchcủa Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, nhiều lần đã nhấn mạnh vấn đề XĐ,

GN Các chủ trương, chính sách đều hướng tới mục tiêu đảm bảo cho đấtnước được phát triển bền vững Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa họccủa nhiều tác giả; nhiều tổ chức khi nghiên cứu về đói, nghèo và XĐ, GN trênthế giới, cũng như ở Việt Nam dưới các góc độ khác nhau

Trang 4

* Nghiên cứu về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo: Từ đầu những năm 90

của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bàiviết liên quan đến vấn đề XĐ, GN được công bố Các công trình khoa họcnghiên cứu về vấn đề đói nghèo và XĐ, GN ở nhiều khía cạch khác nhau, cụ thểgồm một số công trình như:

PGS.TSKH Lê Du Phong, PTS Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Kinh

tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả đã

đánh giá những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềmnăng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta

Năm 2007, Trung tâm thông tin và dự báo quốc gia - Bộ Kế hoạch và

Đầu tư đã xuất bản cuốn sách “Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - Thành tựu, thách thức và giải pháp”, cuốn sách đã đề cập khá rõ tình trạng tăng trưởng kinh tế và thành tựu công cuộc XĐ, GN từ đó đưa ra những

giải pháp cụ thể để đẩy nhanh công cuộc XĐ, GN ở Việt Nam

Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Giảm nghèo ở Việt Nam thành tựu

và thách thức, NXB Thế giới, H.2011 Các tác giả đã phản ánh tổng quan

về tình hình đói, nghèo ở Việt Nam hiện nay; đưa ra các phương phápđánh giá về nghèo đói hiện nay; qua đó đề xuất một số giải pháp chung về

XĐ, GN ở Việt Nam

Vũ Minh Cường (2003), “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang”, Luận văn tốt nghiệp cử nhân

chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Đình Đàn (2002),

“Những giải pháp kinh tế- xã hội chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh”, Luận án tiến sỹ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh; Hoàng Thị Hiền (2005), “Xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít người tỉnh Hòa Bình - thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc

sỹ kinh tế, Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Thái Văn Hoạt (2007),

Trang 5

“Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh Các công trình này đã luận giải khá rõ nhưng vấn đề cơ bản

về đói nghèo và công tác XĐ, GN ở Việt Nam cũng như ở một số địa phương

có tỷ lệ đói nghèo còn cao, đánh giá đúng thực trạng, từ đó đề xuất các giảipháp để XĐ, GN ở các địa phương trong thời gian tới

Các báo cáo có liên quan đến vấn đề nghèo đói và XĐ, GN như: Báo

cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, (2004), “Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”, Nxb Văn hóa - Thông tin; Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 với chủ đề “Nghèo” đã đánh giá những

thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực XĐ, GN, tồn tại và hạn chế trong cáchxách định chuẩn nghèo, tỷ lệ hộ nghèo, các tiêu chí sử dụng để xác định mứcnghèo Báo cáo phát triển Việt Nam hàng năm đều có đánh giá về hoạt độngxóa đói giảm nghèo ở Việt Nam và chỉ ra các thách thức phát triển

Ngoài ra còn nhiều bài báo, tạp chí viết về vấn đề XĐ, GN như: TS.Tạ

Thị Lệ Yên, "Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo", tạp chí Ngân hàng số 11/2005; Trịnh Quang Chinh, "Một số kinh nghiệm từ chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Lào Cai", tạp chí Lao Động và Xã hội số 272 tháng 10/2005; TS Đàm Hữu Đắc, "Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp", tạp chí Lao động và Xã hội số 272 tháng 10/2005; TS.Nguyễn Hải Hữu, “Hướng tới giảm nghèo toàn diện, bền vững, công bằng và hội nhập”, Tạp chí

Cộng sản, số 9, tháng 5/2006 Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa họckhác nghiên cứu vấn đề XĐ, GN ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thểkhẳng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và XĐ, GN ở nước ta

là rất phong phú Thành quả của những công trình đã cung cấp những luận

cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác XĐ, GN trêntoàn quốc và từng địa phương

Trang 6

* Một số công trình khoa học đề cập đến vai trò của bộ đội địa phương, về Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo như:

Đề tài, “Xây dựng cơ sở chính trị ở các khu kinh tế - quốc phòng thuộc địa bàn quân khu 1 hiện nay”, Viện Khoa học xã hội và nhân văn - Học viện

Chính trị quân sự, Hà Nội 2004 Đề tài đã trình bài khái quát đặc điểm kinh

tế - quốc phòng nói chung và khu vực kinh tế - quốc phòng trên địa bàn Quânkhu 1 nói riêng Phân tích làm rõ cơ sở chính trị, cấu trúc của cơ sở chínhtrị, đặc điểm cơ sở chính trị ở khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn Quânkhu 1 Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân củathực trạng, rút ra những bài học kinh nghiệm và những giải pháp cơ bản đểnâng cao chất lượng xây dựng cơ sở chính trị ở khu kinh tế - quốc phòngthuộc địa bàn Quân khu 1 hiện nay

Nguyễn Trọng Xuân (2005): “Quân đội tham gia xoá đói, giảm nghèo

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sỹ Kinh tế chính trị, Học

viện Chính trị quân sự, Hà Nội Luận án đã trình bày những vấn đề cơ bản lýluận và thực tiễn về XĐ, GN, vai trò thực trạng của Quân đội tham gia XĐ,

GN cũng như đề ra những yêu cầu, giải pháp nâng cao vai trò của Quân độitham gia XĐ, GN hiện nay Để nâng cao hơn nữa hiệu quả tham gia XĐ, GNcủa Quân đội, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho,góp phần hạ tỷ lệ đói, nghèo nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinhthần cho nhân dân, củng cố mối quan hệ đoàn kết “máu thịt” quân dân

Nguyễn Tiến Dũng (2005), “ Bộ đội địa phương tỉnh Lâm Đồng tham gia xây dựng cơ sở chính trị xã, phường vững mạnh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội; Đặng Thanh Nam (2010), “Bộ đội địa phương tỉnh Cà Mau tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở hiện nay”, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện

Chính trị, Hà Nội Các tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản về BĐĐP vàhoạt động tham gia xây dựng cơ sở chính trị xã, phường, xây dựng hệ thống

Trang 7

chính trị của BĐĐP Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, những nguyênnhân, rút ra một số kinh nghiệm tham gia xây dựng cơ sở chính trị, xã,phường của BĐĐP Từ đó xác định phương hướng, yêu cầu và những giảipháp cơ bản nâng cao chất lượng tham gia xây dựng cơ sở chính trị, xã,phường, hệ thống chính trị vững mạnh của BĐĐP trong giai đoạn hiện nay.

* Ở Lạng Sơn có các công trình nghiên cứu, các tư liệu, bài viết như:

Tạ Đức Thanh (2010), “Nâng cao vai trò Nhà nước trong xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân

cũng đã đề cập những vấn đề cơ bản của XĐ, GN, vai trò của Nhà nước trongthực hiện các mục tiêu chương trình về XĐ, GN ở địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Nông Đức Vinh (2011): “Công tác xóa đói giảm nghèo thực trạng và giải pháp ở tỉnh Lạng Sơn”, Tạp chí Dân tộc online, ngày 21/7/2011.

Ngoài ra còn có các báo cáo của Ban chỉ đạo XĐ, GN về tổng kết 10

năm thực hiện công tác XĐ, GN 2001-2011 và mục tiêu XĐ, GN giai đoạn

2011 – 2015 ; Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủyLạng Sơn về đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005

Như vậy, cho đến nay đó có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiêncứu, lý giải về XĐ, GN ở các góc độ khác nhau; các nhân tố tác động đếncông tác XĐ, GN; về vai trò của Quân đội trong tham gia XĐ, GN Tuynhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống cơ sở lý luận, thựctiễn cũng như đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thamgia XĐ, GN của bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

Vì vậy, đề tài: "Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay" mà tác giả chọn làm luận văn tốt nghiệp là

công trình độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học và các luậnvăn, luận án đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Trang 8

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn BĐĐP tỉnh LạngSơn tham gia XĐ, GN hiện nay, xác định yêu cầu và đề xuất một số giải phápchủ yếu thực hiện tốt hơn việc tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơntrong thời gian tới.

* Nhiệm vụ

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về BĐĐP tỉnh Lạng Sơn tham gia XĐ, GN

- Đánh giá đúng thực trạng, rút ra nguyên nhân việc tham gia XĐ, GNcủa BĐĐP tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp thực hiện tốt hơn tham gia XĐ,

GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng

Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia XĐ, GN trong giai đoạnhiện nay

* Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động tham gia XĐ, GN của các đơn vị thuộc Bộ chỉ huy Quân

sự tỉnh Lạng Sơn trên địa bàn tỉnh (gồm: Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh, các cơquan quân sự huyện, thành phố, Trường quân sự Tỉnh và các tiểu đoàn, đạiđội trực thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn) số liệu điều tra khảo sát

từ năm 2006 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác

-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về bản chất, vai trò, chức năng của Quânđội nhân dân Việt Nam, về XĐ, GN; các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trungương, Bộ Quốc phòng, Đảng bộ Quân khu 1, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về cácvấn đề liên quan đến đề tài Thực tiễn tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh LạngSơn (từ năm 2006 đến nay) Các báo cáo tổng kết và các số liệu điều tra khảo

Trang 9

sát về công tác XĐ, GN của các cơ quan Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị

xã hội và kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả

* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hoá khoa học; phân tíchtổng hợp, thống kê so sánh, lôgíc, lịch sử, điều tra xã hội học; tổng kết thựctiễn và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần khẳng định vai trò quan trọng của BĐĐP tỉnh LạngSơn tham gia XĐ, GN trong thời gian qua cũng như hiện nay Kết quả nghiêncứu của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học về tham gia XĐ, GN củaBĐĐP tỉnh Lạng Sơn; giúp cho lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị tham khảo, nghiêncứu, vận dụng trong quá trình tiến hành tham gia XĐ, GN, góp phần xây dựngđịa phương vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy các vấn đề liên quan ở các học viện, nhà trường trong Quân đội, làm tàiliệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG

TỈNH LẠNG SƠN THAM GIA XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

1.1 Một số vấn đề lý luận bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo

1.1.1 Quan niệm về đói, nghèo và xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay

* Quan niệm về đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo:

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo.

Đói, nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội đã được nhiều nhà khoahọc, nhiều học giả, nhiều trường phái trong lịch sử cũng như hiện tại quan tâmnghiên cứu Tuy nhiên, mỗi thời đại khác nhau người ta có cách lý giải khácnhau về hiện tượng, nguyên nhân và cách giải quyết đói, nghèo Điều đó phụthuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi người, mỗi trường phái

Về nguồn gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói, phân tích xã hội

tư bản C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập khá toàn diện và sâu sắc tình cảnhnghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của giai cấp vô sản và những người làmthuê trong chủ nghĩa tư bản Trong các tác phẩm của mình, C.Mác vàPh.Ăngghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tình cảnh nghèo đói của những người

vô sản phải bán sức lao động cho chủ tư bản để kiếm sống Phụ nữ và trẻ emphải làm việc đến kiệt sức trong các xưởng thợ; nông dân bị cưỡng đoạt ruộngđất, mất hết tư liệu sản xuất Họ trở thành nạn nhân của tình trạng bị bóc lộtgiá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư tuyệt đối của các chủ tư bảntrong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ cạnh tranh tự do của CNTB.Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nguồn gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèođói ở đây là phương thức phân phối giá trị thặng dư trong xã hội một cách bấtcông giữa nhà tư bản và người lao động Tiếp tục những nghiên cứu phân tích

Trang 11

về CNTB, VI.Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắttrong thời kỳ CNTB độc quyền, lũng đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Qua đó ông nhận thấy nghèo khổ không chỉ trong các nước tư bản mà còn ởtrong các nước thuộc địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức

Để xóa bỏ tình trạng nghèo đói, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, chỉ có xóa

bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và quần chúnglao động khỏi cảnh nghèo đói lầm than, làm cho họ trở thành người lao động tự

do và làm chủ, tiến tới một xã hội công bằng, văn minh VI.Lênin cho rằng,muốn giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi áchthống trị của CNTB phải tiến hành cách mạng vô sản do Đảng của giai cấpcông nhân lãnh đạo

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước cứu dân, Hồ Chí Minh đã tiếpthu những tinh hoa của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào điều

kiện của nước ta Người chủ trương: làm cách mạng để giành độc lập tự do cho tổ quốc; để "đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [20, tr 161] Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm ngay đến nhiệm vụ chống đói nghèo Ngườicoi đói và dốt cũng là giặc, thứ giặc này nguy hiểm không kém giặc ngoạixâm, giành được độc lập rồi mà nhân dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, lạchậu thì độc lập cũng có nghĩa lý gì Vì vậy, trong phiên họp đầu tiên củaChính phủ lâm thời, Người đã nêu 6 vấn đề cấp bách của Chính phủ, trong đóviệc cấp bách hàng đầu là phải cứu dân khỏi chết đói Người kêu gọi toàn dân

ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, quyên góp gạo để cứu đói, vàNgười gương mẫu thực hiện Người nói: " Tôi xin đề nghị đồng bào cả nước

và tôi xin thực hiện trước Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo" [20, tr 89]

Trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc nước ta, Hồ Chí Minhquan niệm rằng CNXH là xa lạ với nghèo đói, bần cùng và lạc hậu Theo

Trang 12

Người, CNXH phải chứng minh được bản chất ưu việt của mình ở chỗ đemlại ngày càng nhiều, ngày càng tốt hơn những lợi ích thiết thân hàng ngày chonhân dân như ăn no, mặc ấm, có nhà ở, được học hành Người đã từng căndặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đờisống nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng vàChính phủ có lỗi" và "dân đủ ăn đủ mặc thì chính sách của Đảng và Chínhphủ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù

có hay mấy thì cũng không thực hiện được” [22, tr 572] Đồng thời, Ngườicòn chủ trương "Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu,người khá giàu thì giàu thêm" [21, tr 65] Theo Người xóa đói phải tiến tớigiảm nghèo và tăng giàu, đói nghèo là một cửa ải cần vượt qua, phải tiến tới

giàu có, vì "Dân có giàu thì nước mới mạnh" Những tư tưởng này của Hồ

Chí Minh đã được Đảng ta quán triệt trong suốt quá trình xây dựng CNXH,nhất là trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước

Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước tarất quan tâm đến công tác XĐ, GN Từ khi hòa bình được lập lại ở miềnBắc(1954) và đất nước hoàn toàn thống nhất (1975), Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều quyết sách để xóa dần nghèo đói như: Cải cách ruộng đất; xây dựngcác công trình thủy lợi; miễn giảm thuế Làm cho dân bớt nghèo, vươn lêngiàu không phải là chính sách nhất thời có tính chất đối phó, mà là chủ trươngchiến lược, là mục tiêu hoạt động của Đảng và Nhà nước ta Từ Đại hội ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ VI đến nay, đất nước ta bước vào công cuộc đổimới toàn diện, đời sống của đại đa số nhân dân từng bước được cải thiện.Nhưng do điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, lại chịu hậu quả to lớn củathiên tai và chiến tranh, kèm theo tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường,nên sự phân hóa thu nhập, đời sống giữa nông thôn, thành thị, giữa các vùngngày càng tăng nhanh Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển, bộphận dân nghèo kể cả những gia đình có công với cách mạng, chịu nhiều

Trang 13

thua thiệt Vì vậy, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu, nghèo và trợ giúpngười nghèo đã trở thành nhu cầu bức thiết, và là một trong những biểu hiệnbản chất XHCN

Từ thực tiễn phong trào XĐ, GN, Nghị quyết TW5 khóa VII đã nêu lên

một nhiệm vụ có ý nghĩa kinh tế - chính trị, xã hội to lớn: "Tăng thêm diện

giàu và đủ ăn, XĐ, GN, nhất là ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,

vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng" [13, tr 103] Thực hiện chủ

trương của Đảng và Chính phủ, phong trào XĐ, GN đã trở thành cuộc vậnđộng lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ đói nghèo, giúp chocác hộ còn nghèo, đói giảm bớt khó khăn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII của Đảng đề ra mục tiêu "Giảm tỷ lệ hộ nghèo đói trong tổng số hộ của

cả nước từ 20-25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bìnhquân giảm 300 nghìn hộ/năm Trong 2 đến 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm tậptrung xóa cơ bản nạn đói kinh niên" [14, tr 120]

Đại hội lần thứ IX Đảng ta khẳng định "Khuyến khích làm giàu hợp

pháp, đồng thời ra sức xóa đói, giảm nghèo" [15, tr 163] Mục tiêu chiến lược

XĐ, GN thời kỳ 2001-2010 do Đại Hội IX đề ra là "Nhà nước tạo môi trường

thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp

đỡ người nghèo phấn đấu đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ nghèo,

thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo" [15, tr 211] Tới Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ X một lần nữa Đảng ta lại khẳng định: “Khuyếnkhích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chínhsách xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng cácnguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoátnghèo vững chắc ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo Khắc phục

tư tưởng bao cấp, ỷ lại”[16, tr 101] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI củaĐảng khẳng định: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhândân Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từngthời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo

Trang 14

bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn.Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trungbình khá trở lên Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phânhoá giàu nghèo…” [ 17, tr.124-125] Có thể nói chủ trương XĐ, GN củaĐảng ta ngày càng thể hiện rõ quan điểm XĐ, GN gắn với phát triển bền vững,gắn với phương châm tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, góp phần thực

hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" [17, tr 153].

Để cụ thể hóa hơn định hướng của Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục tiêucần đạt được trong giảm nghèo từ 2011 đến 2020 đó là: Giảm nghèo bền vữngđược xác định là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điềukiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dântộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thuhẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, cácdân tộc và các nhóm dân cư Cụ thể cần đạt được: Thu nhập của hộ nghèotăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyệnnghèo, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn [26, tr 18];Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là vấn đề y tế,giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càngthuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở cáchuyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tưđồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giaothông, điện, nước sinh hoạt

Để thực hiện được các mục tiêu trên, trong thời gian tới sẽ tiếp tục thựchiện những chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo đã và đang thực hiệnnhư: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, thực hiện Chương trình

135 giai đoạn 3, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ và cácchương trình phát triển kinh tế xã hôi khác Nguồn lực để thực hiện công tác

Trang 15

giảm nghèo sẽ được huy động tối đa, không chỉ bằng ngân sách Nhà nước màcòn huy động được sự tham gia với tinh thần trách nhiệm cao của các tậpđoàn kinh tế, các Tổng Công ty nhà nước, Ngân hàng thương mại…và đặcbiệt là từ chính bản thân người nghèo Phối hợp nhiều phương thức hỗ trợngười nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ vềnhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trì với các loại dịch vụ, hỗ trợgiao đất, giao rừng; về đào tạo nguồn nhân lực… Đồng thời khắc phục nhữnghạn chế như: Các chương trình giảm nghèo triển khai chưa toàn diện, nhiềuchính sách, chương trình giảm nghèo được ban hành nhưng còn mang tìnhngắn hạn, chồng chéo, nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại

bị phân tán, dàn trải, thiếu giải pháp cụ thể gắn kết việc thực hiện chính sáchgiảm nghèo với chính sách an sinh xã hội, việc phối hợp chỉ đạo thực hiệngiữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả…[8, tr 29]

Như vậy, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta

về XĐ, GN có thể thấy rằng: XĐ, GN vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa lànhiệm vụ trọng tâm trước mắt; tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc

XĐ, GN, nhưng đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đối và không phải

là một Bên cạnh đó, XĐ, GN và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa

là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng, và XĐ, GN làcông việc của toàn xã hội Từ cách tiếp cận như trên, có thể rút ra một số quanniệm về đói nghèo và XĐ, GN như sau:

Quan niệm tổng thể về đói, nghèo:

Đói, nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc, đây

là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian Đến nay,nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khácnhau Căn cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lượctoàn diện về tăng trưởng và XĐ, GN đến năm 2020, Việt Nam thừa nhận địnhnghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á -

Trang 16

Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993

các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: "Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế

xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương" [39, tr 9] Đây là khái

niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng,trong đó có Việt Nam Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành

hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ

phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để

duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục ) Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của

cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định

Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và đồngthời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khácnhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng nên bên cạnh khái niệm nghèo

đói, ở nước ta còn có một số khái niệm như: Đói là tình trạng của một bộ

phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủđảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cưhàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng

đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng; Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo

không đủ mặc, con cái không được học hành đẩy đủ, ốm đau không có tiền

chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát ; Hộ nghèo là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết

yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ

cao; Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn hiểm

trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao

Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, vừa là vấn đề của lịch sử

để lại, vừa là vấn đề của phát triển mà quốc gia nào cũng vấp phải Chính vì

Trang 17

vậy, để giải quyết vấn đề XĐ, GN chúng ta cần phải xác định đúng nhữngnguyên nhân dẫn tới đói nghèo Có thể khái quát những nguyên nhân chínhgây ra nghèo đói ở nước ta trong thời gian qua như: Nhóm nguyên nhân dođiều kiện tự nhiên - xã hội và nguồn lực hạn chế đó là khí hậu khắc nghiệt,thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp và hậu quả củachiến tranh; nhóm nguyên nhân chủ quan thuộc về người nghèo: Như thiếukiến thức sản xuất, không có việc làm, đông con, thiếu lao động, mắc tệ nạn

xã hội, lười lao động, tập quán lạc hậu, tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ củaNhà nước ; nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách: Đây là nhómnguyên nhân có ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến tình trạng nghèo của cả nướcnói chung, của các địa phương nói riêng Nhóm nguyên nhân này được thểhiện qua: Các chủ trương, chính sách còn thiếu, không đồng bộ, nhất quánhoặc việc thực hiện các chủ trương chính sách còn yếu kém, dàn trải

Như vậy, đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tưcách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển,đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp Vì vậy, khinghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thứcgiải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân tốchính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Có như vậy mới đề ra đượccác giải pháp đồng bộ cho công tác XĐ, GN ở nước ta, đặc biệt là ở vùngmiền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc ít người

Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo:

Như đã phân tích, do có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc dẫnđến đói, nghèo nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về XĐ, GN Hiệnnay, XĐ, GN không chỉ riêng có ở Việt Nam mà còn là vấn đề mang tính toàncầu, kể cả ở các nước tư bản phát triển Và đói, nghèo có quan hệ mật thiếtvới nhau, do đó XĐ, GN cũng có quan hệ với nhau, nói đến giảm nghèo đã

bao hàm xoá đói Từ cách tiếp cận như trên thì: xóa đói, giảm nghèo chính là

Trang 18

quá trình Nhà nước, cộng đồng hỗ trợ, tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng đói, nghèo vươn lên trong sản xuất, cuộc sống từ đó mà thoát khỏi đói, nghèo Nói một cách khác, XĐ, GN chính là quá trình chuyển một bộ phận dân cư đói, nghèo lên một mức sống cao hơn.

Tuy nhiên, nếu tách riêng ra từng phạm trù thì xoá đói và giảm nghèo

có nội hàm khác nhau Xoá đói, là làm cho bộ phận dân cư đói nâng cao thu

nhập, nâng cao mức sống từ đó mà vượt qua tiêu chí đói Biểu hiện ở tỷ lệphần trăm và số lượng người đói giảm xuống bằng không trong một khoảng

thời gian xác định Còn giảm nghèo, là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng

cao thu nhập, nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống theo thờigian Đối với nghèo, trong điều kiện hiện nay chúng ta không thể xoá hếtđược mà chỉ có thể từng bước giảm nghèo Bởi vì, nghèo ở đây bao gồm cảnghèo tương đối và nghèo tuyệt đối; đối tượng giảm nghèo không chỉ là cánhân, hộ mà còn bao gồm cả vùng nghèo, xã nghèo

Mục đích của xóa đói, giảm nghèo:

Mục đích của XĐ, GN là làm cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ởnước ta vươn lên thoát nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống; là giảm bớt khoảngcách giàu - nghèo trong xã hội, nhằm mục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước

vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Với nội dung đó, chính XĐ, GN phải được kế hoạch hoá bằng cácchương trình dự án, hình thành các quỹ, các cơ sở và các tổ chức xã hội Xétmột cách tổng thể XĐ, GN có những mục đích cơ bản đó là: Tái tạo tiềmnăng nhân lực thông qua các chính sách ưu tiên về dân số, giáo dục, bảo vệ

sức khoẻ con người…đối với những đối tượng thuộc chính XĐ, GN; phát triển

tổng hợp các nguồn lực; góp phần vào sự nghiệp xây dựng vững chắc xã hộibằng việc thực hiện những ưu tiên về xã hội cần thiết để XĐ, GN ở các vùng cókhó khăn, những vùng sâu, vùng xa và những cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt; tạo

Trang 19

điều kiện cho một bộ phận dân cư có nhiều khả năng hoà nhập với xã hội, cóđiều kiện tiêu thụ những sản phẩm vật chất và tinh thần một cách đúng đắn,tiết kiệm, phù hợp với trình độ phát triển sức sản xuất của đất nước và

những chuẩn mực đạo đức, pháp lý của chế độ xã hội chủ nghĩa; tạo được

một mô hình lối sống xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm chủ yếu là sựphát triển toàn diện của cá nhân kết hợp hài hoà với sự phát triển hài hoàcủa cộng đồng trên cơ sở kế thừa giá trị truyền thông đạo lý tốt đẹp của dântộc

Hiện nay, tại một số khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng đồngbao dân tộc thiểu số ngoài những khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế, đờisống vật chất tinh thần thấp kém, bên cạnh đó tình hình chính trị - xã hội cònphức tạp như tệ nạn xã hội và âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lựcthù địch Thực trạng này nếu gắn với đói nghèo thường xuyên sẽ có nguy cơgây nên mất ổn định chính trị xã hội Mặc dù trong thời gian qua đã có một sốchương trình, dự án được triển khai ở các khu vực này, nhưng chưa đáp ứngđược yêu cầu thực tiễn Vì vậy, cần tiếp tục có những chính sách phát triểnkinh tế và XĐ, GN cho những người dân ở đây, nhằm nâng cao đời sống, ổnđịnh an ninh chính trị xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ

xã hội XHCN Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chương trình, dự án nhằm giúp

đỡ các xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa vùngđồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng nhu cầu thiết thực của đồng bào các vùngtrên Điều đó có nghĩa là chương trình XĐ, GN ở nước ta không chỉ đơnthuần là một chương trình kinh tế, mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổnđịnh chính trị, xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ ta, vàmang cả ý nghĩa quốc phòng – an ninh

*Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay.

Vài nét cơ bản về tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội tỉnh Lạng Sơn:

Trang 20

Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Lạng Sơn là một tỉnh miền núinằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía ĐôngNam giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), và giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Namgiáp Bắc Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Tây giáp BắcCạn Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.187 km2, diện tích đất nông nghiệp đang

sử dụng chiếm 8,3%; diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có rừng chiếm36,8%; diện tích đất chưa sử dụng, núi đá chiếm 56,3% [36, tr 2]

Về kinh tế: Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng chiếm tớihơn 80% kinh tế của tỉnh, nghề trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, khoai,sắn… Bên cạnh đó, nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng khá phát triển.Cách làm ăn cũ, quảng canh, manh mún, cá thể, sản xuất nhỏ đã và đangchuyển sang lối làm ăn mới, thâm canh tập trung và chuyên canh Các biệnpháp khoa học kỹ thuật đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi, công tácthuỷ lợi được phát triển khá mạnh

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng đang được mở rộng Mỏ than

Na Dương, phốt phát Vĩnh Thịnh, các xí nghiệp tinh dầu hồi, cơ khí, chế biếnlâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gốm, nhà máy xi măng đã và đangphục vụ đắc lực cho sản xuất nông lâm nghiệp

Mạng lưới giao thông khá thuận tiện, trong tỉnh có 87 km đường sắt,gần 400km đường quốc lộ nằm trên các tuyến Quốc lộ1A, 1B, 4A, 4B, có 253

km đường biên giới với Trung Quốc trải dài qua 20 xã và một thị trấn thuộc 5huyện (Tràng Định, Văn Lãng, Lộc Bình, Cao Lộc và Đình Lập); có 2 cửakhẩu quốc tế (cửa khẩu đường sắt ga Đồng Đăng và cửa khẩu đường bộ HữuNghị), hai cửa khẩu quốc gia là cửa khẩu Chi Ma huyện Lộc Bình và cửakhẩu Tân Thanh huyện Văn Lãng Số xã có đường ôtô đi được 4 mùa là 206

xã chiếm 91,2%, số xã chưa có đường ôtô đi được 4 mùa là 20 xã chiếm8,8%; có 226/226 xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ sử dụngđiện đạt 94,5%; thôn, bản, khối phố có nhà văn hóa đạt 65% [35, tr 2]

Trang 21

Về tình hình chính trị - xã hội: Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính gồm

10 huyện và 01 thành phố, có 226 xã, phường, thị trấn, trong đó có 106 xã đặcbiệt khó khăn thụ hưởng chương trình 135 Dân số Lạng Sơn hiện nay có hơn

700 nghìn người, với mật độ bình quân 90 người/km2 Lạng Sơn là một địa bànquần cư, thống nhất của nhiều dân tộc bao gồm anh em như Nùng (42,91%), Tày(35,43%), Kinh (16,99%), Dao (3,5%), Hoa (0,29%); dân tộc Sán Chay (0,60%);dân tộc Mông (0,17%) và các dân tộc anh em khác chiếm 0,11% [Phụ lục 8]

Những điều kiện trên cho phép Lạng Sơn có nhiều nguồn lực để pháttriển toàn diện (vừa phát triển kinh tế – xã hội với các tỉnh bạn vừa có cơ hộibuôn bán với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) Nếu được đầu tư đúng mức sẽrất thuận lợi để đáp ứng một nền sản xuất đa dạng và các hoạt động kinh tếnăng động mà trước mắt là đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp làm động lực phát triển cho tỉnh Lạng Sơn Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XV (2010-2015) đã đánh giá tổng quát: “Nềnkinh tế tiếp tục phát triển khá tốt so với mức tăng trưởng chung của cả nước,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, nhất là cơ cấu sản xuất trongnông nghiệp và nông thôn; các lĩnh vực văn hoá, xã hội đều có những chuyểnbiến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cảithiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố và giữ vững Côngtác xoá đói, giảm nghèo cũng đang được chú trọng thực hiện và cũng đã manglại nhiều kết quả tốt”[12, tr 8]

Tình hình đói, nghèo ở Lạng Sơn hiện nay:

Mặc dù tỉnh Lạng Sơn đã có những bước tiến đáng kể về kinh tế – xã hộitrong những năm qua, song trên thực tế đời sống nhân dân còn gặp nhiều khókhăn, đặc biệt là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa Vấn đề đói nghèo

và phân hoá giàu nghèo vẫn tồn tại và diễn ra phức tạp, tình trạng đói nghèovẫn còn cao, việc xoá nghèo chưa thực sự bền vững Hiện nay, theo Quyếtđịnh của Thủ tướng chính phủ Số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm

Trang 22

2005 Về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 đốivới khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [37,tr.35] Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Theo đó thì tỷ lệ đói nghèo của Lạng Sơn còn cao, theo kết quả điều tra năm

2006 tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh theo tiêu chí mới là 44.001 hộ, chiếm 29,07%trong đó tỷ lệ hộ đói là 4.026% tương đương với 5.530 hộ so với tổng số hộdân Các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 là 22.058 hộ, chiếm45,18% Năm 2011 kết quả điều tra hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí mớitoàn tỉnh có 43.540 hộ nghèo chiếm 24,06% so với tổng số hộ dân; hộ cậnnghèo: 18.054 hộ chiếm 9,98% trong đó các xã 135 số hộ thực tế là 27.913 hộchiếm 49,9% [Phụ lục 7]

Tình trạng nghèo đói trong toàn tỉnh phần lớn là rơi vào vùng sâu, vùng

xa, các nhóm hộ gia đình thuần nông, độc canh cây lúa và tự cung tự cấp, ít

có tư liệu sản xuất, đông con, thiếu lao động, thu nhập thấp, ngay tái sản xuấtcũng không có điều kiện Ở đây tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm dẫnđến hiện tượng người dân nông thôn ra thành thị đi làm thuê, bốc vác, đặc biệt

là hiện nay phần lớn họ đi làm “cửu vạn” ở biên giới cửa khẩu, đây đang làvấn đề nhức nhối đối với tỉnh Lạng Sơn, cuộc sống của họ luôn bấp bênhnguy cơ đói nghèo luôn cao, số người này có cả trẻ em, phụ nữ Đây là vấn đềđáng lưu tâm đòi hỏi sự quan tâm chặt chẽ của cấp uỷ, các cấp chính quyềncủa Tỉnh bởi chính điều này góp phần không nhỏ đối với việc mất trật tự xãhội, an ninh quốc phòng, gia tăng các tệ nạn xã hội

Công tác xóa đói, giảm nghèo ở Lạng Sơn hiện nay:

Trang 23

Tổ chức Đảng, chính quyền nhân dân các cấp rất quan tâm đến đẩymạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là công tác XĐ, GN Nhận thức rõtầm quan trọng của chương trình, mục tiêu XĐ, GN, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhândân tỉnh đã ra những Nghị quyết chuyên đề và những kế hoạch cụ thể vềchương trình XĐ, GN Một số chủ trương, biện pháp đã được triển khai thựchiện như: Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng pháttriển sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế thay thế giống cây trồngvật nuôi phù hợp; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm; xây dựng các

dự án chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho các hộ nghèo Tăngcường đầu tư cơ sở hạ tầng đặc biệt là đường giao thông nông thôn cho các xãvùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các xã biên giới Tăng cường

sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và vai trò quản lý của chính quyền các cấpđối với công tác XĐ, GN, kiện toàn lại Ban Chỉ đạo công tác XĐ, GN cáccấp, đặc biệt là cấp xã Chủ động phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việcthực hiện lồng ghép các chương trình, dự án có hiệu quả

Về kết quả, đến nay chương trình XĐ, GN của tỉnh Lạng Sơn đã đạtđược kết quả bước đầu: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 29,07% tương đương 44.001

hộ nghèo (năm 2006), xuống còn 17,85% (năm 2011) [Phụ lục 5] Cụ thể: đãthực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người nghèo về vốn để phát triển sảnxuất Công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ phát triển sản xuất được trútrọng đã làm thay đổi dần tập quán canh tác và nhận thức của người dân vùngđồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Cấp uỷ đảng, chính quyền cáccấp luôn tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận các dịch vụ xã hội Cácchính sách trợ giúp miễn giảm học phí, trợ giúp học bổng, cấp sách giáo khoa,

đồ dùng học tập được các cấp học thực hiện nghiêm túc theo sự chỉ đạo củatỉnh Chương trình hỗ trợ nhà dột nát cho hộ nghèo theo Quyết định số34/2004/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục nhận được sự quan tâmcủa Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và nhân

Trang 24

dân Đến hết năm 2012 toàn tỉnh đã hỗ trợ được 1.229 hộ, với tổng kinh phí là12,29 tỷ đồng [36, tr 4] Năng lực nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp,các ngành, các tổ chức và người dân đối với công tác XĐ, GN luôn được chútrọng nâng cao Trong đó, đã chú trọng công tác tập huấn nâng cao năng lựccho cán bộ làm XĐ, GN; đến nay đã đào tạo, bồi dưỡng được 6.989 lượt cán

bộ trực tiếp làm công tác XĐ, GN [31, tr 5] Công tác truyền thông XĐ, GNđược chú trọng; Sở Lao động Thương binh và xã hội ký hợp đồng với các cơquan truyền thông biên soạn và cung cấp miễn phí các phụ san về XĐ, GNnhư: báo, tạp chí và cuốn cẩm nang cho cán bộ làm công tác xoá đói giảmnghèo các cấp Đây là cách làm phù hợp với điều kiện của tỉnh miền núi trình

độ dân trí thấp nhằm đưa tin, bài điển hình trong công tác XĐ, GN để nhândân học tập, là cẩm nang cho cán bộ làm công tác XĐ, GN các cấp sử dụng.Công tác trợ giúp pháp lý cho các xã nghèo bước đầu trở thành cầu nối giữapháp luật với nhân dân, tác động tích cực đến đời sống pháp luật của xã hội,thực sự là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ở cơ sở.Việc xã hội hoá các nguồn lực để đẩy mạnh thực hiện chương trình XĐ, GNđược chú trọng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chứcchính trị xã hội, đoàn thể nhân dân, các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoàitỉnh, các tổ chức quốc tế đã ủng hộ, quyên góp với nhiều hình thức phongphú, đa dạng làm cho nguồn lực đầu tư cho đối tượng, địa bàn hưởng lợi ngàycàng nhiều, góp phần đẩy nhanh mục tiêu XĐ, GN của Tỉnh Công tác kiểmtra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện chương trình XĐ, GN ngày càng được

chỉ đạo chặt chẽ Ban Chỉ đạo công tác XĐ, GN các cấp đều xây dựng Quy

chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên có trách nhiệmtheo dõi, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện công tác XĐ, GN trên từng địabàn, cơ sở và định kỳ báo cáo theo các tiêu chí và thời gian quy định Một sốthành viên Ban Chỉ đạo tỉnh như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Tỉnh đoàn, Hội Nôngdân tỉnh, Hội Cựu chiến binh… luôn thể hiện được vai trò và trách nhiệm của

Trang 25

mình, phân công lãnh đạo, cán bộ theo dõi và báo cáo đánh giá kết quả thựchiện theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng.

Để có được những kết quả như trên là do chương trình XĐ, GN tiếp tụcđược sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương; sự lãnh đạo, chỉđạo có hiệu quả của các cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp; sự cố gắng nỗ lựcvươn lên của chính bản thân người nghèo trên địa bàn toàn Tỉnh Chươngtrình được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở với nhiều nội dung, giải phápthiết thực đã mang lại hiệu quả Luôn nhận được sự tham gia của mọi lựclượng, sự đồng thuận của mọi cấp, mọi ngành trong quá trình thực hiện.Trong đó chú trọng thực hiện tốt công tác đánh giá, giám sát theo chươngtrình, mục tiêu XĐ, GN ở các cấp; chế độ thông tin, báo cáo được thực hiệnnghiêm túc, đúng tiến độ, đáp ứng các yêu cầu về thông tin theo quy định

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác XĐ, GN tỉnh

Lạng Sơn vẫn còn bộc lộ hạn chế, yếu kém: Một số cơ sở chưa tích cực pháthuy vai trò, trách nhiệm trong công tác XĐ, GN; nhận thức về vai trò, tráchnhiệm XĐ, GN còn chưa tốt; một số cấp uỷ đảng, chính quyền thiếu kiểm trađôn đốc Việc bình xét hộ nghèo tại thôn, bản, khối phố nhiều nơi khôngnghiêm túc, chưa theo đúng quy trình quy định, thiếu khách quan, không côngkhai dân chủ, có nơi còn nặng bệnh thành tích; nhiều hộ không muốn thoátnghèo để được hưởng chính sách ưu đãi hộ nghèo Đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho các xã nghèo chưa có quyhoạch tổng thể và chưa được đầu tư đúng mức Công tác tuyên truyền chỉ đếnđược với cán bộ thôn, bản, khối phố nhiều nơi còn chưa đến được với ngườinghèo, hộ nghèo

XĐ, GN chưa bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo, phát sinh nghèo còn quálớn, trong 3 năm (2006-2008) toàn tỉnh có 17.302 hộ thoát nghèo, đồng thờiđến năm 2009, có 6.162 hộ tái nghèo hoặc phát sinh nghèo [31, tr 7] Đâychính là vấn đề cần quan tâm của mọi cấp, mọi ban ngành đoàn thể trong tỉnh

Trang 26

Để góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói, nâng cao chất lượng đời sống vật chất vàtinh thần cho nhân dân trong Tỉnh cần sự chung tay, góp sức của các lựclượng trên địa bàn, trong đó sự tham gia của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn đối vớicông tác XĐ, GN có vị trí, ý nghĩa hết sức quan trọng.

1.1.2 Quan niệm nội dung, hình thức bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo

* Quan niệm bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo

Khái quát một vài đặc điểm của bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn:

BĐĐP tỉnh Lạng Sơn là bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam,phần lớn cán bộ, chiến sĩ là con em của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.Trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành đã không ngừng kế thừa,giữ vững và phát huy truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của quêhương, bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam

Tổ chức lực lượng của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn gồm: Bộ chỉ huy Tỉnh;các Ban chỉ huy Quân sự huyện, Thành phố, Trường Quân sự Tỉnh, các tiểuđoàn, đại đội và kho trực thuộc các Phòng của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh LạngSơn

Hoạt động của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn dưới sự lãnh đạo trực tiếp củaTỉnh ủy, Đảng ủy quân sự địa phương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy

Bộ Tư lệnh Quân khu 1 về các mặt xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu,công tác và sản xuất

Nhiệm vụ trọng tâm của BĐĐP Lạng Sơn là sẵn sàng chiến đấu vàchiến đấu thắng lợi bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổnđịnh chính trị, quốc phòng, an ninh của địa phương, đồng thời thực hiện tốtchức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; tham gia xây dựngphát triển kinh tế - xã hội, XĐ, GN trên địa bàn; tham gia xây dựng cơ sởchính trị vững mạnh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng

Trang 27

toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủvững chắc Thế mạnh của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn là từng đơn vị, từng conngười gắn chặt với địa bàn công tác, tình hình mọi mặt ở xã, phường, thônbản; có nhiều kinh nghiệm trong vận động quần chúng bảo vệ biên giới, giúpdân XĐ, GN, định canh định cư

Quan niệm về bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo.

Từ chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, từ đặc điểm tình hình địa bàn và đặc

điểm hoạt động của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn có thể quan niệm: Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo là hoạt động có tổ chức, theo chức năng nhiệm vụ, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương mà trực tiếp là Đảng

uỷ, Ban chỉ huy quân sự các cấp, bao gồm tổng thể các chủ trương, biện pháp, cách thức để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm góp phần giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó hướng đến xây dựng tỉnh Lạng Sơn giàu đẹp, vững mạnh, dân chủ, văn minh.

Quan niệm trên phản ánh bản chất, chức năng, nhiệm vụ của chủ thểtiến hành tham gia XĐ, GN với những nội dung, biện pháp, hình thức cụ thểđược thể hiện trên một số vấn đề sau:

Bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo là hoạt động tham gia có tổ chức góp phần xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân trên địa bàn Tỉnh.

Mọi hoạt động của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉđạo chặt chẽ của cấp ủy, chỉ huy các cấp Trong đó, hoạt động tham gia XĐ,

GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn cũng vậy, là hoạt động tham gia có tổ chức,góp phần XĐ, GN cho nhân dân trên địa bàn

Tại quyết định 135/1998/QĐ ngày 31 tháng 07 năm 1998 của Thủ tướng

Chính phủ về việc “Phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa”, Quân đội đã được chính

thức giao nhiệm vụ tham gia XĐ, GN BĐĐP tỉnh Lạng Sơn là một bộ phận

Trang 28

của Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt nhiệm

vụ tham gia XĐ, GN mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho, vì BĐĐP tỉnhLạng Sơn có nhân lực, có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhiều điều kiện thuận lợikhác Vì vậy, BĐĐP tỉnh Lạng Sơn trực tiếp tham gia XĐ, GN cho các hộ đói,nghèo trên địa bàn là một nhiệm vụ rất quan trọng Tuy nhiên, không phải đảmnhiệm toàn bộ công cuộc XĐ, GN, không phải là “đội quân XĐ, GN” như một

số người hiểu sai, đồng thời cũng không được hiểu “vì chỉ là lực lượng thamgia nên làm được chăng hay chớ”, mà tham gia với tinh thần tích cực, chủđộng, tự giác, với ý thức trách nhiệm chính trị cao nhất, hiệu quả nhất

Tham gia xóa đói, giảm nghèo của bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn là một nhiệm vụ quan trọng thể hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác trong điều kiện mới.

XĐ, GN là trách nhiệm của Đảng, chính quyền, của nhân dân địaphương BĐĐP tỉnh Lạng Sơn là lực lượng thực hiện XĐ, GN nhưng với tưcách là tham gia Sự tham gia này xuất phát từ bản chất, chức năng, nhiệm vụcủa Quân đội, của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn Đó là việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của Quân đội trong một nhiệm vụ cụ thể Điều đó tuyệt nhiên khôngphải là làm thay chính quyền địa phương Tuy nhiên, sự tham gia đó cũng gópphần quan trọng giúp địa phương thực hiện chính sách XĐ, GN trên địa bàn

Tham gia XĐ, GN không ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng Quânđội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, mà trái lại còn cótác động tích cực đến quá trình này Bởi vì, tham gia XĐ, GN sẽ góp phầnxây dựng bản lĩnh giai cấp công nhân, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật,tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, năng lực vận động quần chúng, khảnăng tổ chức, hiệp đồng… cho cán bộ, chiên sĩ BĐĐP tỉnh Lạng Sơn Qua đógóp phần xây dựng BĐĐP tỉnh Lạng Sơn vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêucầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới

Mục đích hoạt động tham gia xóa đói, giảm nghèo của bộ đội địa

Trang 29

phương tỉnh Lạng Sơn là góp phần xóa đói, giảm nghèo; phát triển kinh tế –

xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trên địa bàn Tỉnh; củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện.

BĐĐP tỉnh Lạng Sơn tham gia XĐ, GN trước hết là nhằm mục đích

XĐ, GN, kết quả từ hoạt động tham gia XĐ, GN sẽ góp phần thực hiện mụctiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thầncho nhân dân trên địa bàn nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới khókhăn Song bên cạnh đó, từ kết quả hoạt động tham gia XĐ, GN còn góp phầnquan trọng vào việc củng cố an ninh - quốc phòng, xây dựng thế trận lòngdân vững mạnh, đập tan mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng mốiquan hệ đoàn kết quân dân, khẳng định bản chất, truyền thống tốt đẹp của

“Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Đảm bảo cho BĐĐP tỉnh Lạng Sơnluôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng tỉnhLạng Sơn văn minh, giàu mạnh

* Nội dung, hình thức, biện pháp tham gia xóa đói, giảm nghèo của

bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn

Thực chất nội dung là nhằm vào góp phần giải quyết các vấn đề của đói,nghèo, được thể hiện thông qua việc thực hiện các nội dung, hình thức Nội dung vừa

là hình thức để thể hiện nội dung, vừa bao gồm cả những vấn đề của nội dung Vì thế,việc tách ra đâu là nội dung, đâu là hình thức, biện pháp là chỉ có tính chất tương đối.Trên cơ sở cách tiếp cận đói nghèo và từ đặc điểm việc XĐ, GN trên địa bàn, có thểkhái quát một số nội dung, hình thức, biện pháp BĐĐP tỉnh Lạng Sơn tham gia XĐ,

Trang 30

định phương hướng, nhiệm vụ, nội dung tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnhLạng Sơn BĐĐP tỉnh Lạng Sơn với chức năng là đội quân công tác để thựchiện tốt nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay thì công tác tuyên truyền, vậnđộng nhân dân thực hiện tốt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có chủtrương, chính sách XĐ, GN là hình thức biện pháp quan trọng hàng đầu Mọiđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước chỉ trở thành sức mạnh vật chấtkhi thẩm thấu, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân Nhân dân hiểu đượcquyền lợi, nghĩa vụ chính đáng của mình thì sẽ tích cực tham gia lao động sảnxuất, phát triển kinh tế xã hội, XĐ, GN, nâng cao chất lượng cuộc sống; cótrách nhiệm cao trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương tạonên sự đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư.

Hai là, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ nhân dân địa phương thực hiện xóa đói, giảm nghèo.

Đây là hình thức, biện pháp quan trọng trực tiếp góp phần XĐ, GN chonhân dân địa phương Vì để thoát nghèo, người dân ở các vùng sâu, vùng xa,vùng khó khăn cần được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ của mọi cấp, mọingành, mọi lực lượng BĐĐP tỉnh Lạng Sơn với tư cách là một lực lượngquan trọng trong tham gia XĐ, GN, lại đứng chân trên địa bàn chiến lược,biên giới, vùng sâu, vùng xa, có điều kiện tham gia cùng địa phương pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội, giúp đỡ nhân dân XĐ, GN Để tham gia XĐ,

GN, các đơn vị BĐĐP tỉnh Lạng Sơn căn cứ vào điều kiện và khả năng củamình mà cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương, tập trung giải quyếtnhững vấn đề cấp bách trong hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện, hỗtrợ mọi mặt để giúp nhân dân phát triển sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội,nâng cao đời sống Với bản chất và truyền thống tốt đẹp của mình, với khả năng

và điều kiện cho phép, BĐĐP tỉnh Lạng Sơn hoàn toàn có thể đảm nhiệm vai trò

là lực lượng nòng cốt trong tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, XĐ, GNtrên các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới của Tỉnh

Trang 31

Ba là, trực tiếp tổ chức các lực lượng, các đơn vị thuộc bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn tham gia xóa đói, giảm nghèo.

Đây là biện pháp rất quan trọng, quyết định trực tiếp đến kết quả thamgia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn Hình thức, biện pháp này thể hiện rõ trênnhững nội dung hoạt động cụ thể là:

Tổ chức dã ngoại tham gia các hoạt động của địa phương Hành quân

dã ngoại, huấn luyện kết hợp làm công tác dân vận là hình thức cơ bản củahọat động tham gia XĐ, GN Khi hành quân dã ngoại các đơn vị xây dựng kếhoạch giúp nhân dân địa phương XĐ, GN, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy,chính quyền địa phương tạo sự thống nhất cao về chủ trương kế hoạch và hoạtđộng cụ thể về tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,

XĐ, GN, phát triển kinh tế, xã hội

Tổ chức kết nghĩa giữa đơn vị với địa phương Đây là hình thức các

đơn vị thuộc BĐĐP tỉnh Lạng Sơn kết nghĩa với các xã, phường, thôn, bảnnơi có đồng bào các dân tộc sinh sống và trực tiếp tham gia XĐ, GN Tổ chứckết nghĩa thường được vận dụng trong trường hợp các đơn vị của BĐĐP tỉnhLạng Sơn kết nghĩa với địa phương trên cơ sở từng chiến đấu, công tác trênđịa bàn quen thuộc tiếp nối truyền thống quan hệ quân dân, đồng thời trên cơ

sở phối hợp chỉ đạo thống nhất của Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh

Cử các đội công tác tham gia cùng địa phương nắm địa bàn, phát triển kinh tế xã hội, giúp các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương hoạt động Chỉ

thị 123/ CT-BQP về “Củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ độicông tác tăng cường cơ sở” xác định thành lập các tổ, đội công tác tăng cườngcho từng thôn, xã, hoạt động dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy đơn vị cửđến; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng chươngtrình hoạt động phù hợp với từng địa phương… góp phần thực hiện cácchương trình, mục tiêu về XĐ, GN cho nhân dân ở các địa bàn

Tăng cường cán bộ xuống cơ sở Là hình thức lựa chọn một số cán bộ

Trang 32

sĩ quan đã từng chiến đấu, công tác gắn bó với các địa phương, đưa xuống bổnhiệm làm cán bộ chủ chốt như Bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch xã, Xã độitrưởng… Đội ngũ cán bộ này là một lực lượng nòng cốt góp phần thiết thực xâydựng củng cố cơ sở và giúp nhân dân địa phương XĐ, GN.

Ngoài các hình thức, biện pháp cơ bản trên còn có một số hình thức,

biện pháp khác như: hình thức kết hợp quân dân y; hình thức đào tạo cán bộ cho các xã nghèo, vùng nghèo; hình thức đào tạo nghề và giới thiệu việc

làm; thông qua tuyển quân mà bồi dưỡng, giáo dục rèn luyện thanh niên làmnghĩa vụ quân sự trở thành những cốt cán ở cơ sở sau khi hoàn thành nghĩa vụquân sự trở về địa phương; thông qua việc xây dựng lực lượng dự bị độngviên, dân quân tự vệ; bồi dưỡng kiến thức quân sự quốc phòng cho cán bộlãnh đạo, quản lý Tham gia XĐ, GN là sự vận dụng tổng hợp của nhiềuhình thức, biện pháp, tùy vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể để sử dụng nộidung, hình thức cho phù hợp mà nâng cao chất lượng tham gia XĐ, GN củaBĐĐP tỉnh Lạng Sơn

Bốn là, tham mưu, phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức, lực lượng trên địa bàn Tỉnh thực hiện xóa đói, giảm nghèo.

Đây là hình thức, biện pháp không kém phần quan trọng quyết định đếnchất lượng, hiệu quả hoạt động tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn

Tham gia XĐ, GN là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệthống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; là nhiệm vụ với sự tham gia của nhiều lựclượng Do vậy, sự phối hợp, điều hành thống nhất đúng chức năng, nguyên tắc giữacác lực lượng tham gia, xác định rõ quyền hạn, vai trò, nhiệm vụ, phương pháp màcác lực lượng tham gia là nội dung, biện pháp rất quan trọng Phát huy sức mạnhtổng hợp của hệ thống chính trị ở địa phương, cơ sở trong XĐ, GN là vấn đề có tínhnguyên tắc Sức mạnh tổng hợp đó là sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy địa phương; sựquản lý, điều hành của chính quyền, thông qua vai trò tham mưu với cấp ủy đảng,chính quyền địa phương mà BĐĐP tỉnh Lạng Sơn góp phần vào kết quả thực hiện

Trang 33

các mục tiêu chương trình XĐ, GN trong Tỉnh Bên cạnh đó, sự phối hợp hiệp đồnggiữa các đơn vị BĐĐP, cơ quan quân sự với các ban, ngành, cơ quan chức năngtrong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế - xã hội trong quá trình tham gia XĐ, GN

sẽ góp phần nâng cao kết quả, chất lượng XĐ, GN của địa phương

1.2 Thực trạng tham gia xóa đói, giảm nghèo của bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Những ưu điểm của bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn trong tham gia xóa đói, giảm nghèo hiện nay và nguyên nhân của những ưu điểm đó

*Những ưu điểm

Một là, bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn đã chú trọng tuyên truyền, giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ta và các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Về nội dung tuyên truyền, giáo dục: Nhận thức rõ, tham gia XĐ, GN

trước hết là xây dựng về chính trị tư tưởng Những năm qua, lãnh đạo, chỉ huycác đơn vị thuộc BĐĐP tỉnh Lạng Sơn đã quán triệt sâu sắc quan điểm, chínhsách về XĐ, GN của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết, nghị định, chỉ thị,hướng dẫn của cấp trên về công tác XĐ, GN, công tác dân vận để lãnh đạo,chỉ đạo đơn vị thực hiện tốt công tác vận động nhân dân theo phạm vi chứcnăng, nhiệm vụ của đơn vị mình Tập trung giáo dục quan điểm chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của công tác XĐ, GN, pháttriển kinh tế - xã hội Nghị quyết 24 – NQ/TW, Nghị quyết số 30a, 80/CP,Nghị quyết số 18-NQ/ĐƯ của Đảng ủy Quân sự Tỉnh “về tiếp tục đổi mớicông tác dân vận của LLVT địa phương trong thời kỳ mới”; Hướng dẫn số144/HD-PCT “Về quân đội thực hiện công tác dân tộc trong tình hình mới”;

về phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”… Tổchức quán triệt chặt chẽ, chu đáo trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên về cácchủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đó; xác

Trang 34

định rõ phương hướng, nhiệm vụ tiến hành tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnhLạng Sơn cũng như của Quân đội ta hiện nay

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ tham gia XĐ, GN mà các nghị quyết, chỉthị của Đảng, Nhà nước đã xác định, Đảng ủy, Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh,Đảng ủy, Ban chỉ huy Quân sự các huyện, Trường Quân sự tỉnh Lạng Sơnthường xuyên làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức quántriệt, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác

XĐ, GN cho cán bộ, chiến sĩ Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ, nắm chắcchính sách đại đoàn kết toàn dân, chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, văn hóa của tỉnh Lạng Sơn, truyền thống Quân đội, truyền thống LLVTđịa phương, của nhân dân các dân tộc trong Tỉnh trong đấu tranh giải phóngdân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giáo dục nhiệm vụ cụ thể của từng đơn

vị, từng bộ phận với nhiệm vụ tham gia XĐ, GN Các cấp đã thực sự coi trọngcông tác tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân hiểu rõ, tin tưởng và thựchiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất lànhững chủ trương, chính sách về XĐ, GN Trên cơ sở đó củng cố niềm tin củanhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, tích cực tham gia cùng bộ đội để XĐ, GN Nội dungtuyên truyền, giáo dục nhân dân được tập trung vào việc phổ biến đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách có liên quan đến cácmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết của Đảng các cấp; các chínhsách dân tộc, tôn giáo, XĐ, GN, văn hóa giáo dục, dân số, lao động, việc làm,bảo trợ xã hội, đường lối quốc phòng, an ninh Đối tượng tuyên truyền, giáodục là hết thảy các tầng lớp nhân dân và các tổ chức lực lượng, chú trọng vàođội ngũ cán bộ chủ chốt, các tổ chức Đoàn Thanh niên, hội Phụ nữ, hội Cựuchiến binh, hội Nông dân, các trưởng thôn, bản ở các xã vùng sâu, vùng xa cóđồng bào dân tộc thiểu số

Các nội dung tuyên truyền, giáo dục được bộ đội địa phương tỉnh Lạng

Trang 35

Sơn thực hiện thông qua nhiều biện pháp như: cử các tổ đội công tác luân

phiên xuống vận động đồng bào; thông qua các chương trình, dự án giúp địaphương thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, XĐ, GN; thông qua công tácgiáo dục quốc phòng, xây dựng lực lượng dự bị động viên, huấn luyện dânquân tự vệ, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh nhân dân ở cơ sở, các đợttuyển quân v.v… Thông qua hội thi, kiểm tra chính trị hàng năm để bồidưỡng kiến thức cho cán bộ, chiến sĩ Kết hợp chặt chẽ với địa phương tổchức các hội nghị rút kinh nghiệm, tọa đàm, trao đổi công tác tham gia XĐ,

GN Bên cạnh đó, các đơn vị BĐĐP tỉnh Lạng Sơn còn tuyên truyền giáo dụcnhân dân bằng nhiều hình thức, phương pháp khác rất phong phú, đa dạng,hiệu quả ngày càng cao như gặp gỡ trưởng thôn, bản; tổ chức chiếu phim,giao lưu văn hoá - thể thao, trực tiếp thông tin về những chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước, chủ trương của địa phương về phát triển kinh tế -

xã hội XĐ, GN, vận động giúp nhân dân vươn lên thoát nghèo Nhận thức vaitrò quan trọng cũng như những mục tiêu, nhiệm vụ của công tác XĐ, GN vàthấm nhuần sâu sắc lời Bác dạy: “Dân vận là vận động tất cả các lực lượngcủa mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàndân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ vàĐoàn thể đã giao cho”[22, tr 698] Trong những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉhuy Quân sự Tỉnh đã mở được 12 lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an

ninh cho 1.063 trưởng, phó các ban nghành đoàn thể trong tỉnh; đã tuyên

tuyền được hơn 600 buổi, đến gần 40 nghìn lượt nhân dân [4, tr 3] Trong đó,

đã chú ý làm rõ đường lối phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - anninh của Đảng và Nhà nước; những quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh

về XĐ, GN

Kết quả tuyên truyền giáo dục: bằng những hoạt động trên, các lực

lượng BĐĐP tỉnh Lạng Sơn đã tích cực góp phần nâng cao nhận thức của

Trang 36

nhân dân địa phương về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về pháttriển kinh tế - xã hội, về XĐ, GN, về nông nghiệp, nông thôn, về chính sáchđối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các xã vùng sâu, vùng xa Cùng vớinhững thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương, niềm tin củanhân dân các dân tộc ở xã, phường tỉnh Lạng Sơn đối với Đảng, chế độXHCN được nâng lên Nhân dân đã tích cực tham gia nhiều hoạt động xâydựng, bảo vệ quê hương, đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn, ngày càng gắn bóvới chính quyền, vận động nhau tham gia các hoạt động phát triển sản xuất,

XĐ, GN, các hoạt động văn hóa, xã hội, xây dựng đời sống mới

Thông qua nội dung tuyên truyền, giáo dục đã góp phần tích cực nângcao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về đường lối, quan điểm của Đảng, Nhànước về mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và XĐ, GN; góp phần to lớn vàonâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin đối với Đảng và chế độ xã hộichủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XV (Nhiệm kỳ 2010 – 2015) đã

đề ra Nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về nội dung cốt lõi trong tham gia XĐ,

GN cơ bản tốt: 100% cán bộ, chiến sỹ được học tập, quán triệt các văn bản,chỉ thị, chủ trương chính sách có liên quan đến nhiệm vụ XĐ, GN Có hơn80% người được điều tra xác định gắn bó chặt chẽ giữa XĐ, GN với ổn địnhchính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh; có 80%người được hỏi cho rằng, họ cần tham gia XĐ, GN, 90% cho rằng sự tham gia

XĐ, GN là một trong những chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong tìnhhình mới Các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ và các tổ chứcquần chúng có nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc vai trò chính sách XĐ,

GN và trách nhiệm của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn đối với nhiệm vụ XĐ, GN ngàycàng được nâng cao [Phụ lục 1]

Hai là, bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn đã tích cực tạo điều kiện giúp

đỡ, hỗ trợ nhân dân địa phương xóa đói, giảm nghèo.

Trang 37

Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy: “Những người phụ trách dân vận cần phải

óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không phải chỉ

nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”

[22, tr 699], Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh, vừa chăm lo giáo dục đảngviên, cán bộ, chiến sĩ, nắm vững quan điểm, các chủ trương của Đảng vàphương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo công tác dân vận củaLLVT trong thời kỳ mới, vừa có kế hoạch cụ thể phân công lực lượng thamgia XĐ, GN một cách phù hợp, thiết thực Các đơn vị đã vận dụng sáng tạocác hình thức tiến hành tham gia XĐ, GN đạt hiệu quả cao, như: thăm hỏi,tặng quà (máy cày, con giống, cây giống cho nông dân; bàn ghế, sách vở chohọc sinh ), hỗ trợ các dự án trồng rừng, tặng Nhà tình nghĩa, khám bệnh, cấpphát thuốc miễn phí cho các đối tượng chính sách, tổ chức chiếu phim, giaolưu văn nghệ, sửa đường giao thông nông thôn, đào mới và sửa mương máng,đào đắp đất đá, làm cầu; hỗ trợ xây dựng hệ thống nước sạch nông thôn BộChỉ huy Quân sự Tỉnh đã huy động hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ đóng góphàng ngàn ngày công giúp đỡ các địa phương xây dựng công trình phúc lợi xãhội Đặc biệt, hằng năm Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh đã tổ chức các đơn vị hànhquân dã ngoại và cử các đội công tác xây dựng cơ sở về vùng sâu, vùng xa để

“cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với nhân dân, để lại tình cảm tốt đẹp trong nhândân Bên cạnh đó, thực hiện Chương trình 12 quân dân y kết hợp nhằm nângcao năng lực chuyên môn và hỗ trợ một phần cơ sở vật chất cho hệ thống y tế

cơ sở, Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh đã cử các đoàn cán bộ đi cơ sở, tổ chứckhám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho bà con các xã vùng sâu, vùng xa,vùng đặc biệt khó khăn được 7.493 lượt người, trị giá tiền thuốc173.375.000đ Bên cạnh đó, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh củatrạm y tế xã, Ban Quân y thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh chủ động thammưu, phối hợp với nghành y tế tỉnh chỉ đạo hỗ trợ, đầu tư cho 2 trạm y tế cơ

Trang 38

sở là trạm y tế xã Nam La – Văn Lãng và trạm y tế xã Bắc Sơn – Bắc Sơn vớitổng kinh phí hơn174 triệu đồng [3, tr 2].

Thời gian qua, BĐĐP tỉnh Lạng Sơn cùng với chính quyền địa phươngtích cực tham gia xây dựng các công trình điện, đường, trường, trạm và nhiềucông trình phục vụ dân sinh khác có giá trị hàng chục tỷ đồng, góp phần chăm

lo, nâng cao đời sống vật chất, XĐ, GN bền vững cho nhân dân Cán bộ,chiến sỹ của Bộ chỉ huy Quân sự Lạng Sơn đã hăng hái tham gia các phong

trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, nhất là cuộc vận động lớn “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa”, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, huyện Cao Lộc có phong trào “Đỡ đầu hộ nghèo”, huyện Hữu Lũng, thành phố Lạng Sơn có phong trào “Vườn cây tình nghĩa”, huyện Đình Lập với phong trào “Trồng rừng bảo vệ biên giới, giúp dân định cư trên quê cũ” Hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách được

12.105 ngày công để sửa chữa nhà ở, thu hoạch hoa màu, góp công xây dựngnhà tình nghĩa, đỡ đầu hộ nghèo [4, tr 4] Những hoạt động này đã góp phầnthiết thực giúp nhân dân ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa vươn lênthoát nghèo, đời sống vật chất, tinh thần được nâng lên rõ rệt

Ba là, bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện nhiều nội dung, hình thức và biện pháp tổ chức lực lượng tham gia xóa đói, giảm nghèo.

Hoạt động tham gia XĐ, GN của BĐĐP tỉnh Lạng Sơn chỉ mang lại kếtquả thực tế khi phát huy được vai trò của các lực lượng và có những hìnhthực, biện pháp phù hợp với đặc điểm từng đối tượng và từng địa phương.Trong thời gian qua, BĐĐP Lạng Sơn đã kết hợp nhiều hình thức, biện pháp

để nâng cao kết quả tham gia XĐ, GN như tổ chức giao lưu kết nghĩa, tổ chức

dã ngoại tham gia các hoạt động của địa phương, cử các tổ, đội công tác, tăngcường cán bộ xuống cơ sở tham gia XĐ, GN, những hình thức, biện pháp đó

đã mang lại nhiều kết quả khá tốt

Trang 39

Thực hiện Chỉ thị 133 của Bộ Quốc phòng và chỉ thị 73/CT-TU củaTỉnh ủy Lạng Sơn, Thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy,

Ủy ban nhân dân và Đảng ủy Quân khu, Đảng ủy, Chỉ huy các đơn vị cơ quanquân sự huyện tập trung đổi mới sự lãnh đạo đối với nhiệm vụ giúp nhân dân

XĐ, GN Sau khi có nghị quyết lãnh đạo, người chỉ huy các cấp đã đề caotrách nhiệm cá nhân, phát huy tính chủ động sáng tạo chỉ đạo các cơ quantrong đơn vị chủ động phối hợp với địa phương xây dựng kế hoạch tổ chứcthực hiện Trong công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức quản lý điều hành,người chỉ huy trưởng quân sự các cấp thực hiện ngày càng tốt hơn việc gắnkết chặt chẽ giữa tham gia XĐ, GN với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòngtoàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; gắncông tác XĐ, GN với công tác giáo dục quốc phòng, xây dựng và huy độnglực lượng dự bị động viên, huấn luyện và hoạt động của dân quân tự vệ, thựchiện nhiệm vụ tuyển quân, thực hiện chính sách hậu phương quân đội… Cán

bộ lãnh đạo, chỉ huy ở các ban chỉ huy Quân sự huyện đã thường xuyên đi sâu,

đi sát nắm vững tình hình cơ sở ở từng xã, phường, thôn, bản, khu phố, vì thế đã

đề xuất với cấp ủy, chính quyền những chủ trương và biện pháp lãnh đạo, chỉđạo nhiệm vụ XĐ, GN có hiệu quả Trong quá trình tổ chức thực hiện, đội ngũcán bộ chỉ huy đã chủ động, nhạy bén, phát hiện, đề xuất, phối hợp chặt chẽ vớicác ban ngành, đoàn thể để cùng tham mưu và triển khai thực hiện

Trong thời gian qua (2006 – 2010), BĐĐP Tỉnh đã tổ chức được 84 đợt

hành quân dã ngoại, với trên 3.500 lượt cán bộ, chiên sĩ tham gia Các đợthành quân dã ngoại được tổ chức chặt chẽ, chu đáo, đảm bảo an toàn tuyệtđối, mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là đã kết hợp hành quân dã ngoại vớikết hợp huấn luyện với làm công tác dân vận trên các địa bàn trong Tỉnh,đóng góp hơn 3.311 ngày công giúp đỡ địa phương tu sửa các công trình côngcộng Hoạt động hành quân dã ngoại đã thực sự mang lại ý nghĩa và kết quảtích cực, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, vừa kết hợp làm công

Trang 40

tác dân vận, tham gia giúp đỡ nhân dân địa phương XĐ, GN [Phụ lục 3]

Hoạt động kết nghĩa giữa BĐĐP tỉnh Lạng Sơn với các địa phương đãđược lãnh đạo, chỉ huy các cấp thực sự coi trọng, trong thời gian qua các đơn

vị BĐĐP tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức kết nghĩa với 96 đơn vị cơ sở, 11/ 11huyện, thị, thành ký kết liên tịch phối hợp hoạt động với 6 tổ chức chính trị -

xã hội [Phụ lục 2, 3] Qua kết nghĩa với các địa phương, các đơn vị BĐĐPtỉnh Lạng Sơn đã nắm chắc tình hình địa bàn, đặc điểm kinh tế - xã hội, nhữngkhó khăn trong phát triển sản xuất, từ đó đề ra nội dung biện pháp phù hợp đểcùng với địa phương kết nghĩa thực hiện các chương trình, mục tiêu XĐ, GN.Phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội, đoàn kết quân – dân, tô thắm thêmhình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân

Tổ chức các đội liên ngành và chuyên ngành đến các xã vùng sâu, vùng

xa, vùng có nhiều khó khăn tham gia tuyên truyền đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời phát động nhân dân đẩymạnh phát triển sản xuất, làm ăn kinh tế Thực hiện phương châm: “Nghe dânnói, nói dân hiểu, làm dân tin”, cán bộ, chiến sĩ đã luôn chủ động tiếp xúc vớitừng đối tượng, từng người trong từng hộ gia đình thực hiện “bốn cùng”, nhất

là các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn Tổ chức chiếu phim, liên hoan vănnghệ, giao lưu với đoàn thanh niên ở địa phương để tuyên truyền đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, hỗ trợ, hướng dẫn bà con pháttriển sản xuất, XĐ, GN, nâng cao chất lượng cuộc sống

BĐĐP Tỉnh đã cử 2 đội công tác cơ sở hoạt động trên 12 xã vùng biên giới(Việt - Trung) [3, tr 5], các đội công tác đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm độngviên nhân dân phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh toàndiện, nhất là các cơ sở ở vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm, vùng đồng bào dântộc thiểu số dọc tuyến biên giới như: huyện Cao Lộc, huyện Văn Lãng, huyệnLộc Bình, huyện Đình Lập, huyện Bắc Sơn và thành phố Lạng Sơn

Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh đã giao cho Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần

cử những cán bộ có kinh nghiệm về các địa phương từ huyện đến xã, phường

Ngày đăng: 26/08/2017, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w