Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật KBTTTN Tây Côn Lĩnh là rất cần thiết để làm cơ sở xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn.. Thế Giới Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -MÔN: ĐA DẠNG SINH HỌC PGS TS Trần Văn Thụy
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài :
“ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN TÂY CÔN LĨNH”
Sinh viên: Nguyễn Thị Nga
Mã sv: 13003704 Lớp: K58KHMT
Trang 2M c l c ụ ụ
Mở đầu
Hàng thập kỷ qua do nhiều nguyên nhân khác nhau như chiến tranh, khai thác tài nguyên rừng quá mức, phá rừng lấy đất làm nương rẫy, khu công nghiệp, cháy rừng đã làm cho diện tích rừng giảm sút nghiêm trọng Năm 1943, theo thống
kê nước ta có diện tích rừng khá lớn (trên 14 triệu ha) chiếm 43% diện tích tự nhiên Sau 50 năm, con số đó chỉ còn lại 28% Mất rừng đã gây ra nhiều hậu quả khôn lường như thiên tai lũ lụt xảy ra ngày càng nhiều và cường độ ngày càng mạnh hơn, tình trạng hạn hán xảy ra nhiều nơi, khí hậu môi trường có nhiều thay đổi đã ảnh hưởng lớn đến đời sống con người cũng như làm thiệt hại cho nền kinh tế Nhận thức rõ tầm quan trọng của thảm thực vật rừng đối với sự phát triển nền kinh tế, an toàn cho hệ thống sinh thái môi trường toàn cầu, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chương trình, dự án khôi phục và phát triển lại rừng, như chương trình 327, dự án 661 với 5 triệu ha rừng Chính nhờ vậy độ che phủ rừng của nước ta đã tăng lên rõ rệt, tính đến năm 2009 tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 39%, nhưng chủ yếu vẫn là rừng non, rừng nghèo kiệt, rừng phục hồi, vì vậy chất lượng rừng còn rất thấp
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tây Côn Lĩnh được thành lập năm 2002 theo quyết định của thủ tướng chính phủ thuộc địa phận huyện Vị Xuyên , tỉnh Hà Giang KBTTTN Tây Côn Lĩnh với mục đích gìn giữ, bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thực vật và bảo vệ môi trường sinh thái Ngoài ra Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh đóng vai trò quan trọng về bảo vệ rừng đầu nguồn cho cộng đồng dân cư địa phương Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật KBTTTN Tây Côn Lĩnh là rất cần thiết để làm cơ sở xây dựng chiến lược quản
lý, bảo tồn
I Tổng quan tài liệu
1 Thế Giới
Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm bằng những công trình phân loại về thực vật và động vật Vấn đề này ngày nay đã trở thành một chiến lược trên thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã
ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu
Trang 3Trong lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật đã có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và có các công trình công bố như:
- Lecomte, H, 1907-1952, Flora generale de I’ Indochine Tom I-VII, Pari
- Phedorov A.A, 1965 Vai trò của tài nguyên thực vật đối với kinh tế quốc dân, Tạp chí Tài nguyên thực vật, tập 1 số 1, Tiếng Nga
- Plant Resources of South - East – Asia -7, 1995 Bamboo – Bogor Indonesia
- IUCN, 1998 The world list of Threatened trees World Conservasion Press
- IUCN, 2001, Red list of Threatened Plants Website: redlist.org
2 Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành từ khá sớm Ngay từ thế kỷ XV, XVII, có các danh y Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác nghiên cứu về thực vật và cây thuốc Từ thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu phương Tây như Loureiro (1790) đã mô tả gần 700 loài thực vật Nam bộ, Pierre (1879) cũng mô tả 800 loài cây gỗ rừng Nam bộ Lecomte (1907-1943), Petelot, Focaud đã nghiên cứu các loài thực vật
và cây thuốc ở 3 nước Đông Dương Đặc biệt hiện nay việc nghiên cứu, tìm hiểu
sự đa dạng của các kiểu thảm thực vật, của các loài cây quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng đang rất được quan tâm, nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên phục vụ cho nền kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Điển hình là các công trình của các tác giả sau:
- Thái Văn Trừng, 1970-1978, Thảm thực vật rừng Việt Nam Nxb Khoa học KT,
Hà nội
- Trần Ngũ Phương, 1970, Bước đầu nghiên cứu rừng miền bắc Việt Nam Nxb Khoa học KT, Hà Nội
- Lê Khả Kế và cộng sự, 1969-1973, Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (6 tập) Nxb Khoa học KT, Hà Nội
- Đỗ Tất Lợi, 1986, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Nxb Khoa học KT,
Hà Nội
- Phạm Hoàng Hộ, 1991-1993, Cây cỏ Việt Nam Nxb Khoa học KT, Hà Nội
- Bộ Khoa học và Công nghệ, 1996, Sách Đỏ Việt Nam Nxb Khoa học KT, Hà Nội
Trang 4- Trần Đình Lý, 1997, 1900 loài cây có ích ở Việt Nam Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
- Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2000, Tên cây rừng Việt Nam Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội
- Lê Trọng Cúc, 2002, Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004, Đa dạng sinh học Vườn quốc gia Pù Mát Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
II Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Tây Côn Lĩnh có tọa độ địa lý từ 22°39’-22°50’
vĩ độ bắc và từ 104°39’-104°59’ kinh độ đông, bao gồm 10 xã thuộc 3 huyện thị:
xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Thủy, Phương Tiến, Cao Bồ, Quảng Ngần, Thượng Sơn, huyện Vị Xuyên; xã Phương Độ, thị xã Hà Giang và xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì Tổng diện tích là: 15.044ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 7.406ha, phân khu phục hồi sinh thái là 7.173ha, phần còn lại là khu vực hành chính
b Địa hình
Là vùng núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh tạo nên những tiểu vùng có địa hình, đất đai khá đa dạng
Khu BTTN Tây Côn Lĩnh với dãy núi chạy dài từ tây sang đông, nổi tiếng với đỉnh Tây Côn Lĩnh, có độ cao 2.428,5m, từ đây phát triển thành một dẫy núi lớn khác chạy xuống phía nam Đường phân thủy phía Tây đổ xuống sông Chẩy, phía Đông đổ xuống sông Lô
c Khí hậu
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, lạnh rõ rệt so với vùng thấp và trung
du kế cận Khí hậu duy trì độ ấm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, ấm hơn vùng Đông Bắc nhưng lạnh hơn miền Tây Bắc
Trang 5Nhiệt độ trung bình hàng năm và khoảng 21,6°C - 23,9°C, dao động nhiệt ngày
và đêm ở các thung lũng diễn ra mạnh mẽ hơn vùng đồng bằng, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10°C và trong ngày cũng từ 6 – 7°C
Chế độ mưa khá phong phú, bình quân hàng năm vào khoảng 2.300 – 2.400 mm
Độ ẩm bình quân hàng năm đạt 85% và sự dao động cũng không lớn, đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa mưa và mùa khô cũng không rõ rệt
Lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, tập trung cao nhất là cuối mùa đông lên tới
8 – 9/10 và tương đối ít nắng Cả năm có l.427 giờ nắng, tháng nhiều nhất chỉ đạt
181 giờ, tháng ít nhất 74 giờ
Nơi đây thường xuyên có hiện tượng mưa phùn, sương mù và sương muối
d Các giá trị đa dạng sinh học
Khu bảo tồn có 8.612 ha diện tích rừng tự nhiên, chiếm 40% tổng diện tích toàn khu bảo tồn Phần lớn diện tích còn lại là đất trống cỏ, cây bụi Rừng chỉ bắt đầu
từ độ cao 1.200m, và các loại rừng còn lại ở đây thuộc loại rừng thường xanh ở vùng đồi núi trung bình và núi cao Ở đây đã tìm thấy 236 loài thực vật bậc cao,
46 loài thú, 114 loài chim, 18 loài bò sát và 11 loài ếch nhái
2 Điều kiện kinh tế xã hội
Khu bảo tồn hiện do Chi Cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Hà Giang trực tiếp quản lý
Dân số trong vùng: 919 hộ 5.856 khẩu bao gồm các dân tộc: Dao, Nùng, H Mông, Cao Lan, Hoa, Tày…
Hiện nay khu bảo tồn đang thu hút đầu tư thêm vào hoạt động du lịch nhằm tăng thêm hiệu quả của công tác bảo tồn đồng thời giới thiệu hình ảnh khu bảo tồn đến với nhân dân và du khách
III Đối tượng, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ thực vật trong KBTTN Tây Côn Lĩnh
2 Mục tiêu
− Xác định được số loài, số chi, số họ thực vật bậc cao ở KBTTN Tây Côn Lĩnh
Trang 6− Xác định được các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng ở KBTTN Tây Côn Lĩnh
3 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập xử lý số liệu thứ cấp
− Thu thập các số liệu từ các nghiên cứu đã được công bố là các bài báo khoa học và công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ
− Phân loại, thống kê
− Tập hợp, lên danh lục hệ thực vật
− Đánh giá sự đa dạng trong các taxon
− Đánh giá các loài quý hiếm dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam, Danh lục
Đỏ IUCN và Nghị định số 32/2006/NĐ/CP của Chính phủ và Công ước CITES
IV Kết quả nghiên cứu
1 Hệ thực vật ở khu BTTN Tây Côn Lĩnh
Bước đầu đã xác định Khu BTTN Tây Côn Lĩnh có 162 họ, 501 chi và 796 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 6 ngành:
− Quyết lá thông (Psilotophyta) - 1 họ, 1 chi, 1 loài;
− Thông đất (Lycopodiophyta) - 2 họ, 2 chi, 6 loài;
− Mộc tặc (Equisetophyta) - 1 họ, 1 chi, 2 loài;
− Dương xỉ (Polypodiophyta) - 12 họ, 17 chi, 23 loài;
− Thông (Pinophyta) - 5 họ, 8 chi, 10 loài;
− Mộc lan (Magnoliophyta) - 141 họ, 472 chi, 754 loài (bảng 1)
Bảng 1 Phân bố các taxon trong các ngành thực vật bậc cao có mạch của khu BTTN Tây Côn Lĩnh
Số họ % Số chi % Số loài %
Quyết lá
Trang 7Thông 5 3,1 8 1,5 10 1,2
Số liệu trong bảng 1 cho thấy hệ thực vật Khu BTTN Tây Côn Lĩnh tương đối phong phú và đa dạng, thể hiện ở sự có mặt của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Sự phân bố của các taxon trong ngành rất khác nhau, trong đó ngành Mộc lan có số họ, chi và loài phong phú nhất với 141 họ (chiếm 87,1%), 472 chi (chiếm 94,2%) và 754 loài (chiếm 95%); tiếp đến là ngành Dương xỉ với 12 họ (chiếm 7,4%), 17 chi (chiếm 3,3%) và 23 loài (chiếm 2,8%); ngàng Thông với 5
họ (chiếm 3,1%), 8 chi (chiếm 1,5%) và 10 loài (chiếm 1,2%); ngành Thông đất với 2 họ (chiếm 1,2%), 2 chi (chiếm 0,4%) và 6 loài (chiếm 0,7%); ngành Cỏ tháp bút với 1 họ (chiếm 0,6%), 1 chi (chiếm 0,1%) và 2 loài (chiếm 0,2%); còn lại là ngành Quyết là thông với số họ, chi, và loài thấp nhất (1 họ, 1 chi và 1 loài) Trong ngành Mộc lan thì lớp Hai lá mầm có 115 họ (chiếm 81,5% số họ), 396 chi (chiếm 83,8% số chi) và 629 loài (chiếm 83,4% số loài) lớn hơn rất nhiều so với lớp Một lá mầm: số họ (26), số chi (76) và loài (125) (bảng 2)
Bảng 2 Số lượng họ, chi và loài trong ngành Mộc lan của Khu BTTN Tây Côn Lĩnh
Số họ % Số chi % Số loài %
Mộc lan (Magnoliophyta) 141 87,1 472 94,2 754 95
Lớp Mộc lan
(Magnoliopsida) 115 81,5 396 83,8 629 83,4 Lớp Loa kèn
Số lượng các taxon được ghi nhận tại thời điểm nghiên cứu chưa phản ánh hết được thành phần các taxon tại khu vực Tây Côn Lĩnh, vì chưa thể xác định hết
Trang 8được thành phần loài ở đây theo kết quả nghiên cứu thì tại thời điểm thu mẫu không phải là mùa ra hoa, quả chính nên không đủ căn cứ để phân loại; tại khu vực nghiên cứu có nhiều đỉnh núi cao, đi lại khó khăn, thời gian cho công tác thực địa ngắn nên những nhóm ngành Thông (Pinophyta) và các họ Orchidaceae, Ericaceae chưa được nghiên cứu đầy đủ
Trong số 162 họ thực vật, họ có nhiều loài gồm họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 45 loài, họ Cúc (Asteraceae) 44 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 24 loài, họ Long não (Lauraceae) 22 loài, họ Đậu (Fabaceae) 22 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 19 loài, đây cũng là những họ nằm trong 10 họ thực vật giàu loài nhất của khu hệ thực vật Việt Nam Một số họ thực vật khác cũng có số lượng loài lớn như họ Cói (Cyperaceae) 16 loài, họ Lan (Orchidaceae) 14 loài, họ Cam (Rutaceae) 14 loài,
họ Gừng (Zingiberaceae) 12 loài Đây là những họ thực vật quan trọng trong khu
hệ thực vật KBTTN Tây Côn Lĩnh, nó giữ vai trò tạo nên các kiểu thảm thực vật, đặc biệt ở những đai cao
2 Các loài quí hiếm ở Khu BTTN Tây Côn Lĩnh
Trong tổng số 796 loài đã ghi nhận, có 53 loài quý hiếm; trong số này có 52 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) chiếm khoảng 6,6% tổng số loài đã biết; trong đó: 2 loài thuộc phân hạng rất nguy cấp (CR), 20 loài thuộc nhóm nguy cấp (EN), 30 loài thuộc nhóm sẽ nguy cấp (VU); có 4 loài nằm trong Danh lục Đỏ của IUCN (2007): 3 loài thuộc cấp ít nguy cấp (LR), 1 loài sẽ nguy cấp (VU), chiếm khoảng 0,41% tổng số loài đã biết Có 14 loài nằm trong NĐ32/2006
NĐ-CP chiếm khoảng 1,76% tổng số loài đã biết, trong đó 2 loài nằm ở nhóm IA, 12 loài nằm ở nhóm IIA; 5 loài nằm trong Phụ lục II của Công ước CITES 2008 chiếm khoảng 0,63% tổng số loài
Bảng 3 Danh sách các loài quý hiếm trong khu BTTN Tây Côn Lĩnh
TT Tên Việt
Nam Tên khoa học
SĐVN 2007
IUCN 2007
NĐ 32 2006
CITES 2008
1 Sâm vũ
diệp
Panax bipinnatifidum Seem. EN
2 Ngũ gia
bì gai
Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss. EN
3 Dương kì Achillea millefolium L. VU
Trang 9Altingia chinensis (Champ ex
Benth.) Oliv ex Hance
EN
5 Chò đãi
Annamocarya sinensis (Dode) J.
Leroy
EN
6 Lan kim
tuyến
Anoectochilus
7 Lá khôi
tía Ardisia silvestris Pitard VU
8 Biến hoá
núi cao
Asarum
9 Thổ tế tân Asarum
10 Hoa tiên Asarum glabrum Merr. VU IIA
11 Nấm đất Balanophora
12 Song mật
Calamus platyacanthus Warb ex
D Don
VU
13 Trám đen
Canarium tramdenum Dai &
Yakovl
VU
14 Dẻ gai đỏ Castanopsis hystrix A.
15 Cà ổi
Sapa
Castanopsis lecomtei Hickel & A.
Camus
VU
16 Lát hoa Chukrasia tabularis A.
Trang 1017 Gù hương Cinnamomum
18 Re hương
Cinnamomum parthenoxylon(Jack.)
Meisn
japonicum Fish ex DC. VU
20 Đẳng sâm
Codonopsis javanica (Blume)
Hook.f
21 Hoàng
liên
Coptis
22
Hoàng
liên chân
gà
Coptis quinquesecta W.
23 Sa mộc
dầu
Cunninghamia
24 Đại giác Dendrobium
Chev ex H Lecomte EN
26 Chò nâu Dipterocarpus
27 Hoàng
tinh cách
Disporopsis
28 Cốt toái
bổ
Drynaria fortunei (Kuntze ex
Mett.) J Smith
EN
29 Nghiến
Excentrodendron tonkinense(Gagnep.)
Chang & Miau
Trang 1130 Hà thủ ô
đỏ
Fallopia multiflora (Thunb.)
Haraldson
VU
31 Pơ mu
Fokienia hodginsii (Dunn) A.
Henry & Thomas
32 Trai lý Garcinia
33 Sồi đá lá
mác
Lithocarpus balansae (Drake) A.
Camus
VU
34 Sến mật
Madhuca pasquieri (Dubard) H.
J Lam
EN
36 Vàng tâm
Manglietia dandyi (Gagnep.)
Dandy
VU
37 Đinh
Markhamia stipulata (Wall.)
Seem ex Schum
38 Giổi lông Michelia
balansae (DC.) Dandy VU
39 Thanh
thiên quỳ
Nervilia fordii (Hance)
40 Xà xì bắc
bộ
Ophiopogon
41 Hài xanh
Paphiopedilum malipoense S C Chen
& Z H Tsi
Trang 1242 Hài lông Paphiopedilum
43 Chò chỉ Parashorea
44 Sâm cau Peliosanthes teta Andr. VU
45 Thông tre Podocarpus neriifolius
46 Bát giác
liên
Podophyllum
47 Hoàng
tinh vòng
Polygonatum kingianum Coll ex
Hemsl
48 Sồi đĩa
Quercus platycalyx Hickel & A.
Camus
VU
50 Mã tiền
tán
Strychnos umbellata (Lour.) Merr. VU
51
Thổ hoàng liên
Thalictrum
52 Củ gió
Tinospora sagittata (Oliv.)
Gagnep
VU
53 Giổi lụa Tsoongiodendron
Ghi chú: SĐVN 2007: CR: rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU: sẽ nguy cấp; IUCN 2007: CR: rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; LR: ít nguy cấp; NĐ số 32/2006 NĐ-CP: Nhóm IA nghiêm cấm, khai thác, sử dụng vì mục đích thương
Trang 13mại; Nhóm IIA hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; CITES 2008: Phụ lục II là các loài chưa bị đe doạ tuyệt chủng nhưng việc buôn bán các loài trong phụ lục này phải được kiểm soát để tránh cho chúng khỏi tình trạng bị đe doạ tuyệt chủng
3 Các loài có ích ở Khu BTTN Tây Côn Lĩnh
Trong tổng số 796 loài đã ghi nhận được có tới 669 loài được người dân sử dụng cho các mục đích khác nhau Căn cứ vào giá trị sử dụng, chúng tôi giới thiệu một
số nhóm như sau:
Nhóm cây làm thuốc
Có 390 loài chiếm 48,9%, số loài được sử dụng làm thuốc trong đó họ Euphorbiaceae có 37 loài, Asteraceae có 27 loài, Fabaceae có 18 loài, Lauraceae
có 18 loài, Rubiaceae có 15 loài, Lamiaceae 13 loài, Mimosaceae 12 loài Những loài điển hình là: Bình vôi (Stephania rotunda), Lõi tiền (Stephania longa), Hoàng đằng (Fibraurea resica), Dây ký ninh (Tinospora crispa), Lãnh công (Fissistigma capitatum), Dây sâm nam (Millettia speciosa), Thường sơn (Dichroa febrifuga), Gừng gió (Zingiber zerumbet), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Bổ béo bốn nhị (Gomphandra tetrandra), Lạc tiên (Passiflora foetida), Thổ sâm cao ly (Talinum crassifolium), Lá khôi (Ardisia sylvestris)
Nhóm cây cho gỗ
Rừng trong khu BTTN Tây Côn Lĩnh ít bị tác động nên những loài cây cho gỗ còn khá nhiều Có 91 loài (chiếm 11,4%) là loài cây cho gỗ Một số họ có nhiều loài cho gỗ là Fagaceae có 22 loài, Meliaceae có 9 loài, Magnoliaceae có 7 loài Hiện vẫn còn gặp những loài gỗ quý như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), Nghiến (Excentrodendron tonkinensis), Giổi lông (Michelia balansae), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Trai lý (Garcinia fagraeoides)
Các nhóm cây khác
Ngoài 2 nhóm có thành phần loài lớn là cây thuốc và cây gỗ, còn gặp các nhóm cây có giá trị khác như sau:
− Nhóm cây cảnh có 35 loài
− Nhóm cây cho quả, hạt ăn được có 54 loài
− Nhóm cây làm rau ăn có 31 loài
− Nhóm cây cho tinh dầu có 36 loài