Các kiến thức về thực vật và một số nhóm sinh vật khác học sinh đượchọc trong chương trình này vừa góp phần làm cho học sinh có được những kiến thức cơbản phổ thông và hoàn chỉnh, vừa gi
Trang 1MỤC LỤC PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giới hạn, phạm vi nội dung nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Thời gian nghiên cứu 4
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG Chương I: Cơ sở lí luận 5
Chương II: Thực trạng của đề tài 6
Chương III: Giải quyết vấn đề 7
I Một số phương tiện trực quan dùng trong phương pháp quan sát 7
II Một số điều cần lưu ý khi sử dụng phương pháp quan sát 8
III Một số kinh nghiệm sử dụng phương pháp quan sát trong giảng dạy 9
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I Kết quả đạt được trong quá trình áp dụng kinh nghiệm 23
II Ý kiến đề xuất 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2PhÇn thø nhÊt:
MỞ ĐẦU
*****
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay chất lượng giáo dục là vấn đề được toàn xã hội quan tâm Vậy làm thế nào
để nâng cao chất lượng giáo dục ? Đó chính là đổi mới chương trình SGK kết hợp với đổi mới phương pháp dạy học với mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nên nhân cách con người
Để đạt được các mục tiêu đó thì khâu đột phá là cần phải đổi mới phương pháp dạy học Từ cách dạy truyền thống thụ động thầy đọc - trò chép sang cách dạy học phát huytính tích cực, chủ động của người học, làm cho người học thấy hứng thú tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức Sau đó biết sử dụng các kiến thức đó để đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai, giúp cho sự phát triển của bản thân và cho
sự phát triển của xã hội
Chương trình sinh học 6 là chương trình mở đầu cho chương trình sinh học ở bậc trung học cơ sở Các kiến thức về thực vật và một số nhóm sinh vật khác học sinh đượchọc trong chương trình này vừa góp phần làm cho học sinh có được những kiến thức cơbản phổ thông và hoàn chỉnh, vừa giúp cho học sinh có cơ sở để tiếp tục học những kiến thức về di truyền, sinh thái ở các cấp học trên, đồng thời còn làm cơ sở cho việc nắm vững các biện pháp kĩ thuật sản xuất nông – lâm nghiệp phục vụ vào cuộc sống sau này
Là giáo viên đứng lớp, tôi nhận thức được trách nhiệm của mình phải không ngừng học tập để nâng cao kiến thức, nâng cao kinh nghiệm giảng dạy Trong quá trình học tập để nâng cao kiến thức, kinh nghiệm đó tôi thấy có một số vấn đề bản thân cần quan tâm đó là:
- Yêu cầu cấp bách của ngành giáo dục cần phải đổi mới phương pháp dạy học
Trang 3- Đặc trưng của môn sinh học 6 đòi hỏi học sinh phải được quan sát là chủ yếu để học sinh có thể chủ động lĩnh hội kiến thức, tự học, sáng tạo, phát triển tư duy.
- Đối tượng học sinh lớp 6 ham hiểu biết nhưng vẫn còn mang nhiều tính trẻ con rất hiếu động
- Tuân theo quy luật bất biến của quá trình nhận thức ((từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng)) phù hợp với quy luật phát triển tư duy ở học sinh và mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
Xuất phát từ những lý do thực tế đó cùng một số kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn sinh học 6 ở trường THCS An Thịnh tôi nhận thấy rằng trong hệ thống các phươngpháp dạy học theo hướng tích cực thì phương pháp quan sát tìm tòi kiến thức là phươngpháp trọng tâm của dạy học môn sinh học nói chung, và môn sinh học 6 nói riêng để đạt được mục tiêu chung của dạy và học Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài (( Kinh nghiệm sử dụng phương pháp quan sát trong dạy học môn sinh học 6 )) để khảo sát, nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm
2 Mục đích nghiên cứu
- Để giáo viên có nhiều kinh nghiệm hơn khi sử dụng phương pháp quan sát trong quá trình giảng dạy môn sinh học 6 nhằm giúp học sinh dễ dàng thu nhận được kiến thức cơbản, tương đối hoàn chỉnh về cấu tạo, hoạt động sống của các sinh vật để từ đó giáo dục cho các em ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, phục vụ lợi ích cho bản thân các em và cho toàn xã hội
3 Đối tượng nghiên cứu
- Một số phương tiện cần thiết dùng cho phương pháp quan sát:
+ Mẫu vật thật: Các loại cây như lúa, ngô, cải, hồng xiêm, các tiêu bản hiển vi: tế bào biểu bì vảy hành, tế bào thịt quả cà chua chín
+ Mẫu vật tượng hình: Mô hình, tranh vẽ, sơ đồ tư duy
- Kinh nghiệm sử dụng phương pháp quan sát khi giảng dạy
- Sách giáo khoa sinh học 6, sách giáo viên sinh học 6, tài liệu tham khảo
- Học sinh khối 6 trường THCS An Thịnh – Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái
4 Giới hạn, phạm vi nội dung nghiên cứu
a, Giới hạn:
Trang 4Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ đề cập đến một vài kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp quan sát trong việc giảng dạy sinh học lớp 6 nhằm phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh ở trường trung học cơ sở.
b, Phạm vi:
- Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực
- Nội dung chương trình sinh học lớp 6 do bộ ban hành
- Kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp quan sát
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên sinh học 6
- Nghiên cứu đặc điểm nhận thức, tâm lí lứa tuổi của học sinh trung học cơ sở
- Thực nghiệm trong giảng dạy ở trường , dự giờ đồng nghiệp giảng dạy môn sinh, để rút ra kinh nghiệm khi sử dụng phương pháp quan sát trong giảng dạy môn sinh học 6
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề viết ra đề tài tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra quan sát
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp trắc nghiệm đối chứng so sánh
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
7 Thời gian nghiên cứu
- Từ ngày 15/08/2010 đến ngày 15/09/2010 chọn đề tài và trang bị lí luận
- Từ ngày 20/09/2010 đến ngày 28/04/2011 ; từ ngày 15/08/2011 đến tháng 04/2012 thực nghiệm giảng dạy tại trường THCS An Thịnh
- Từ ngày 15/08/2012 đến ngày 10/11/2012 tiếp tục giảng dạy, phân tích kết quả khảo sát và viết sáng kiến kinh nghiệm
Trang 5PhÇn thø hai :
NỘI DUNG
*****
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I - Mục tiêu giảng dạy môn sinh học 6 ở trường trung học cơ sở:
- Biết quan sát, mô tả, nhận biết các cây thường gặp
- Biết sưu tầm và bảo quản mẫu vật
- Biết sử dụng các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm, đặt và theo dõi một số thí nghiệm đơn giản
- Rèn luyện được năng lực tư duy: phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa các sự kiện, hiện tượng sinh học
3 Thái độ
- Xây dựng ý thức tự giác và thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống
- Có niềm tin khoa học về bản chất vật chất của các hiện tượng sống và khả năng nhận thức của con người
II- Cơ sở lí luận
Dựa trên định hướng đổi mới phương pháp dạy học của NQTW II khoá XIII đã khẳng định :“Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo , khắc phục lối truyền thụ một
Trang 6chiều ,rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học ”.Định hướng trên được pháp chế hóa trong điều 24.2 của Luật giáo dục : “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực , tự giác, chủ động , sáng tạo của học sinh ,phù hợp với đặc điểm của từng lớp học , môn học Bồi dưỡng phương pháp tự học , rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm , đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh ”.
Dựa trên nguyên lý giáo dục : Học đi đôi với hành , lý thuyết gắn liền với thực tiễn ,hình thành kiến thức “ từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng ”
Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo tôi thấy bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng hợp lý nhiều phương pháp dạy học cùng với nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng tạo Nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực tư duy, nâng cao khả năng vận dụng thực tiễn
Môn Sinh học 6 nghiên cứu toàn bộ giới thực vật, từ những kiến thức về tế bào thực vật đến những kiến thức về sinh lí thực vật, về môi trường, về giới nấm Nội dung kiến thức Sinh học 6 thường được diễn đạt qua tranh vẽ, mô hình hoặc các mẫu vật sống động Tranh trong sách Sinh học 6 rõ nét làm sáng tỏ nội dung cần quan sát, tìm tòi Màu sắc của tranh đẹp, được sao chụp từ mẫu vật có thật trong tự nhiên nên sống động lôi cuốn sự quan sát của học sinh
Người giáo viên với vai trò chủ đạo là tổ chức, hướng dẫn học sinh sử dụng các phương pháp quan sát, mô tả thí nghiệm hay thực nghiệm để giúp cho học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức sinh học Còn học sinh phải được tiếp nhận kiến thức theo quy luật của quá trình nhận thức (( từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng ))
Từ đó xác định được phương pháp chủ đạo trong dạy học môn Sinh học 6 là phương pháp quan sát
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trang 7Đặc thù của môn Sinh học nói chung và môn Sinh học 6 nói riêng là học sinh muốn lĩnh hội được kiến thức phải thông qua quan sát Có quan sát các em mới có thể trả lời được các câu hỏi Và câu hỏi lôgíc đưa học sinh đến với những hoạt động học tập liên tiếp có tính hệ thống để đạt được kiến thức cần tìm tòi Các em có thể quan sát qua mẫuvật thật hoặc tranh vẽ Dạng mẫu vật thật dễ kiếm tìm, dễ phân tích, giúp học sinh dễ nhận biết được cấu tạo ngoài của thực vật, môi trường sống và vai trò của thực vật đó đối với đời sống con người.
Mặt khác ở lứa tuổi học sinh lớp 6, kinh nghiệm sống còn ít, vốn hiểu biết còn nghèonàn, khả năng tư duy, trừu tượng còn hạn chế thì việc cho các em quan sát sẽ làm tăngnguồn tri thức, giúp các em tiếp thu kiến thức được nhanh hơn, chính xác hơn, từ đó các em sẽ nhớ lâu và hiểu kĩ, ngoài ra tranh ảnh mẫu vật còn gây hứng thú nhận thức cho học sinh, tạo yếu tố tâm lí ban đầu tác dụng tới toàn bộ quá trình nhận thức của các
em Nó góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, tập dượt cho các em làm quanvới phương pháp nghiên cứu, giáo dục cho các em tính đồng đội, sự tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập để cùng lĩnh hội tri thức mới
CHƯƠNG III: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Một số phương tiện trực quan dùng trong phương pháp quan sát.
Một số loại phương tiện trực quan thường sử dụng trong giờ dạy sinh học đó là:
- Các vật thật bao gồm các mẫu tươi, mẫu ngâm, các tiêu bản hiển vi
- Các vật tượng hình như mô hình, tranh vẽ, các hình chụp, các sơ đồ cấu tạo, hình vẽ trên bảng
Trong các phương tiện trực quan trên thì mẫu tươi có nhiều ưu điểm hơn cả Nó cho phép học sinh hiểu rõ hình dạng, màu sắc và kích thước thực của các đối tượng quan sát, đôi khi còn cho các em thấy rõ qua cảm giác, xúc giác( sờ, nắn) về tính chất của đốitượng nghiên cứu như độ cứng, mềm, trơn, nhẵn hay gồ ghề nhằm gây hứng thú lòng yêu thích môn học Ví dụ như khi dạy bài 39: Quyết – Cây Dương xỉ; nếu học sinh được sử dụng mẫu tươi thì các em sẽ cảm nhận được túi bào tử, được quan sát cụ thể về
Trang 8hình dạng cấu tạo qua kính hiển vi sẽ gây hứng thú yêu thích môn học hơn là quan sát qua tranh vẽ trong sách giáo khoa.
Tuy nhiên có những vật thật quá nhỏ, rất khó quan sát Muốn cho học sinh có được kiến thức về cấu tạo phức tạp, tinh vi về kích thước thực của vật thì phải kết hợp với việc sử dụng mô hình Ví dụ như khi dạy bài 20: Cấu tạo trong của phiến lá, học sinh được quan sát qua mô hình sẽ tiếp thu bài học đạt hiệu quả hơn là quan sát qua hình vẽ hay qua mô tả của giáo viên
Nhiều khi vật thật và mô hình không cho phép đi sâu vào cấu tạo chi tiết, cấu trúc hiển vi của các tế bào, cơ quan, lúc này tranh vẽ sẽ bổ sung cho những hạn chế trên, tạođiều kiện cho việc tìm hiểu cấu tạo và chức năng được thuận lợi Ví dụ khi dạy bài 10: Cấu tạo miền hút của rễ; nhờ vào hình vẽ 10.1 Lát cắt ngang qua miền hút của rễ cây sẽgiúp học sinh nắm được cụ thể về hình dạng, vị trí cụ thể các bộ phận bên trong như mạch rây, mạch gỗ, ruột
Ngoài ra hình vẽ trên bảng của giáo viên cũng là một phương tiện trực quan có giá trị
sư phạm cao, được sử dụng kết hợp với giảng giải, giúp học sinh theo dõi một cách dễ dàng Chính vì vậy người giáo viên cần chú ý thường xuyên rèn luyện, học hỏi, nâng cao kĩ năng vẽ hình
II Một số điều cần lưu ý khi sử dụng phương pháp quan sát.
Muốn sử dụng phương pháp quan sát khi giảng dạy môn sinh học 6 đạt hiệu quả cao thì việc chuẩn bị cho tiết dạy trên lớp là rất quan trọng và cần thiết Đối với giáo viên phải chuẩn bị bài dạy trước đó vài ngày, có khi một tuần, vài tuần hay hơn 1 tháng Dạytiết này phải biết rõ tiết sau là bài gì, gồm những nội dung nào và cần chuẩn bị phương tiện trực quan nào để giáo viên chủ động chuẩn bị, lựa chọn cho thích hợp và có hiệuquả cao
Ngoài sự chuẩn bị chu đáo, cẩn thận đồ dùng dạy học của giáo viên thì học sinh cũngphải được hướng dẫn chuẩn bị vật mẫu cho giờ học Giáo viên cần phân công rõ ràng,
cụ thể đến từng bàn, từng nhóm cần chuẩn bị những vật mẫu nào cho tiết học tới Giáo viên cần lứu ý học sinh khi lấy vật mẫu chủ yếu lấy cây dại hoặc cây không sử dụng của gia đình, số lượng cây phù hợp, tránh phá hoại cây cối gây tác hại xấu cho môi trường, cảnh quan
Trang 9Khi sử dụng đồ dùng( phương tiện) trực quan, giáo viên phải chọn lọc và sử dụng chính xác từng đồ dùng trực quan cho từng nội dung bài học, khi cho học sinh quan sát cần xác định rõ nội dung, yêu cầu, phải hướng dẫn tổ chức trình tự quan sát và đề ra câu hỏi có tính chất định hướng học sinh nhận xét và rút ra kết luận về vấn đề cần giải quyết, tránh để học sinh quan sát tràn lan, không đúng trọng tâm , khi quan sát trong từng phần, giáo viên phải che kín phần đã quan sát hoặc cất đi để học sinh tập trung vàonội dung cần quan sát.Mặt khác khi cho học sinh quan sát bất cứ đồ dùng nào giáo viên phải để cho cả lớp nhìn thấy, khi treo tranh nên tránh hiện tượng treo lệch, khi đứng hướng dẫn học sinh quan sát tranh giáo viên cần chú ý không che mất tranh sẽ làm giảm hiệu quả giờ dạy.
Với những nội dung quan sát phức tạp cần kết hợp với phương pháp đàm thoại gợi
mở hoặc phương pháp hợp tác để gợi ý, hỗ trợ cho học sinh
III Một số kinh nghiệm sử dụng phương pháp quan sát trong giảng dạy
1 Sử dụng phương pháp quan sát khi dạy những bài có nội dung kiến thức về sự phân chia các nhóm cây theo đặc điểm hình thái của các cơ quan.
Ví dụ khi dạy bài (( Lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm )) Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh quan sát các đặc điểm hình thái của rễ, gân lá, số cánh hoa để phân chia chúng vào hai lớp Một lá mầm và Hai lá mầm Ngoài vật mẫu thật cần kết hợp với tranh vẽ thì học sinh mới tự tìm ra được kiến thức mới về đặc điểm của lớp Hai lá mầm
và lớp Một lá mầm Ở bài này giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh củng cố lại nội dung bài học qua sơ đồ tư duy sẽ giúp cho các em dễ dàng nhìn thấy nội dung tổng thể,
từ đó các em sẽ ghi nhớ tốt hơn
Tiết: 52 Bài 42 : LỚP HAI LÁ MẦM VÀ LỚP MỘT LÁ MẦM
Trang 10- Căn cứ vào các đặc điểm phân biệt để có thể nhận dạng nhanh một cây thuộc lớp Hai
- Phương pháp thảo luận nhóm
III PHƯƠNG TIỆN
+ Xem lại kiến thức về các loại rễ, các kiểu gân lá, các kiểu hạt
+ Kẻ sẵn bảng trang 137 trong sách giáo khoa
+ Mỗi nhóm chuẩn bị mẫu vật(mỗi loại 2 cây): Cây rẻ quạt; Cây dừa cạn: Lúa;
Ngô; Hoa dâm bụt.;Hoa mẫu đơn; Hoa hồng
IV TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1/ Ổn định lớp
- Kiểm tra sĩ số HS:
2/ Kiểm tra bài cũ:
H: Trình bày đặc điểm chung của thực vật hạt kín ? Lấy ví dụ về cây hạt kín ?
3/ Bài mới:
Vào bài: Các cây hạt kín rất khác nhau cả về cơ quan sinh dưỡng lẫn cơ quan sinh sản.
Để phân biệt các cây hạt kín với nhau, các nhà khoa học đã chia chúng thành các nhóm
Trang 11nhỏ hơn, đó là lớp, họ…Thực vật hạt kín gồm 2 lớp: Lớp Hai lá mầm và lớp Một lámầm.
GV: Ghi tên bài lên bảng
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
Hoạt động 1: Cho HS nhắc lại kiến thức
-GV: Giới thiệu tranh vẽ hình 42.1
Yêu cầu HS: Quan sát tranh và mẫu vật cây
dừa cạn và cây rẻ quạt; Thảo luận nhóm,
hoàn thành bảng (sgk/ T:137)
-HS: Quan sát tranh, hoạt động theo nhóm
nhỏ, điền bảng
-GV: Sau khi HS quan sát, thảo luận, gọi đại
diện nhóm lên bảng trình bày
-GV: Cho HS nhóm khác nhận xét, bổ sung
trên tranh Đưa bảng chuẩn, nhận xét kết quả
thảo luận của các nhóm
-HS: Bổ sung điền vào vở (phần nội dung)
-HS: Đọc phần thông tin sgk
H: Nêu đặc điểm cây Hai lá mầm và cây Một
lá mầm ?
-HS: Dựa vào bảng trên, trả lời…
-GV: Nhận xét, bổ sung (một vài loại cây Hai lá
1 Cây Một lá mầm và cây Hai lá mầm.
Hình 42.1
A Cây Hai lá mầm(cây dừa cạn)
B Cây Một lá mầm(cây rẻ quạt)Đặc điểm Cây Hai
lá mầm
Cây Một
lá mầm
Kiểu rễ Rễ cọc Rễ chùmKiểu gân
lá
Hìnhmạng
Song songhoặc hìnhcung
Số cánh hoa
5 cánh(4) 6 cánh(3)
Dạng thân Thân đa
dạng
Thân cỏ, cột
Trang 12mầm khác hoa có thể 4 cánh, còn vài loại
cây Một lá mầm khác hoa chỉ có 3 cánh)
Hoạt động 3: Tìm hiểu đặc điểm phân biệt
giữa lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm.
GV: Nhấn mạnh cho HS thấy được cây Hai
lá mầm thuộc lớp Hai lá mầm, còn cây Một lá
mầm thuộc lớp Một lá mầm
-GV: Yêu cầu HS trả lời:
H: Đặc điểm phân biệt giữa hai lớp Hai lá
mầm và lớp Một lá mầm ?
-HS: Trả lời
-GV: Chiếu hình 42.2:Yêu cầu HS kiểm tra
lại nhận xét qua hình vẽ và mẫu vật một vài
cây sau đó xếp chúng vào một trong hai lớp
HS: Quan sát H: 42.2, hoàn thành bài tập:
Số lá mầm của phôi
2 Đặc điểm phân biệt giữa lớp Hai
lá mầm và lớp Một lá mầm:
- Hai lớp này phân biệt với nhau chủyếu ở số lá mầm của phôi, ngoài racòn một vài dấu hiệu phân biệt khácnhư kiểu rễ, kiểu gân lá, số cánh hoa,dạng thân
+ Trên hình vẽ:
Trang 13GV: Cho HS quan sát bông hoa hồng, để HS
thấy được có những trường hợp ngoại lệ
( hoa nhiều cánh), muốn nhận biết cây thuộc
lớp nào cần phải dựa vào nhiều đặc điểm
4/Củng cố:
- HS: + Đọc phần ghi nhớ sgk
+ Làm bài tập: Vẽ sơ đồ tư duy phân biệt lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm