1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP ở VÙNG ĐÔNG NAM bộ và NHỮNG vấn đề đặt RA TRONG PHÁT TRIỀN NGHÀNH CÔNG NGHIỆP ở THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

16 675 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 48,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đông Nam Bộ là vùng có vị thế địa chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu ở khu vực phía nam Việt Nan, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước; hội tụ phần lớn các điều kiện và lợi thế nổi trội để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đông Nam Bộ là vùng có vị thế địa chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu ở khu vực phía nam Việt Nan, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; hội tụ phần lớn các điều kiện và lợi thế nổi trội để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu ứng dụng và triển khai khoa học- công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực

có trình độ cao

Đây cũng là khu vực phát triển kinh tế năng động với mức tăng trưởng cao, tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp thương mại, dịch vụ, khoa học, kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ; có

hệ thống đô thị phát triển, các khu công nghiệp phát triển mạnh trở thành trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, được gắn kết bởi đường bộ, đường biển, đường hàng không, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội Vùng cũng như mở rộng các quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế

Quá trình phát triển kinh tế nói chung, phát triển ngành công nghiệp nói riêng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lý giải như vì sao đây là vùng có tỷ trọng đống góp của ngành công nghiệp cao nhất cả nước? Sự phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng của vùng đang phải đối mặt với những thách thức gì? Và cần làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn là đơn vị đầu tàu trong vùng nói riêng, cả nước nói chung trong thời gian tới? Vói ý nghĩa đó, tác giả xin đi sâu luận giải một số vấn đề xung quanh việc phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp của vùng Đông Nam Bộ

Trang 2

NỘI DUNG

1 Chúng minh rằng: Đông Nam Bộ là đầu tàu về phát triển công nghiệp ở nước ta hiện nay?

Đông Nam Bộ làvùng điđầu cả nướctrong chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Cơ cấu GDP của vùng đã và đang chuyển đổi mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Theo đó, ngành công nghiệp của vùng trong những năm qua luôn giữ một vị trí quan trọng trong cả nước với một cơ cấu đa dạng và các khu công nghiệp tập trung có ưu tế hơn hẳn so với các vùng khác trong cả nước

a Đông Nam Bộ có cơ cấu c ác ngành công nghiệp rất đa dạng

Hiện nay trong cơ cấu ngành công nghiệp của cả nước, Đông Nam Bộ chiếm tỉ trọng cao nhất, với vị trí nổi bật của các ngành công nghệ cao như luyện kim, công nghiệp điện tử, chế tạo máy, tin học, hóa chất, hóa dược, thực phẩm,… Cụ thể:

- Công nghiệp năng lượng: Đông Nam Bộ là vùng tập trung công

nghiệp dầu - khí của cả nước Năm mỏ dầu lớn trên vùng thềm lục địa (Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng) đã cung cấp 97 - 98% sản lượng khai thác dầu thô của cả nước Hàng năm, Đông Nam Bộ cung cấp cho cả nước khoảng trên 20 triệu tấn dầu/năm Công nghiệp chế biến khí

đã được triển khai từ năm 1995 với Dự án khí đồng hành từ bể Cửu Long

và việc đưa vào vận hành Dự án khí thiên nhiên Nam Côn Sơn từ năm

2002 Nhờ thu hồi được khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ đưa vào b ờ, công nghiệp khí ở Đông Nam Bộ đã phát triển khá mạnh, tập trung ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với sự hiện điện của Nhà máy khí hóa lỏng Dinh Cố, cung cấp mỗi năm hàng trăm nghìn tấn condensat, hàng trăm nghìn tấn butan, hàng trăm nghìn tấn propan, đảm bảo nhu cầu khí hóa lỏng LPG cho cả nước Khí đã được xử lí là nguồn nhiên liệu cho công nghiệp điện

Từ sau khi đưa được khí đồng hành, nhất là khí thiên nhiên từ Nam Côn Sơn vào bờ, các nhà máy điện chạy bẳng khí hỗn hợp (Bà Rịa, Phú Mĩ)

đã dược xây dựng và mở rộng công suất Trung tâm điện lực Phú Mĩ hiện

có 6 nhà máy (trong đó có 2 nhà máy do Tổng công ty Điện lực Việt Nam đầu tư, 2 nhà máy theo dự án BOT) với tổng công suất lắp đặt 8850 MW,

là trung tâm điện lực lớn nhât nước ta.Vùng còn có một số nhà máy nhiệt điện như Thu Đức (165 MW), Hiệp Phước (875 MW), Vedan (60 MW),

Trang 3

Amata (60 MW).

- Công nghiệp luyện kim:Do không có các nguồn quặng tại chỗ nên

chủ yếu là công nghệ cán thép từ phôi thép nhập từ nước ngoài Các cơ s ở cán thép lớn thuộc về Công ty Thép miền Nam (Công ty Thép miền Nam

có các đơn vị thành viên là Nhà máy Thép Biên Hoà, Thép Nhà Bè Thép Thủ Đức, Thép Tân Thuận ), và Công ty thép VinaKyoei (Bà Rịa -Vũng Tàu)

- Công nghiệp chế tạo - điện tử - tin học: Công nghiệp chế tạo tại

Đông Nam Bộ rất đa dạng, từ phân ngành chế tạo máy móc, thiết bị toàn bộ đến công nghiệp sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông, sản xuất thiết

bị điện, cơ khí chính xác, dụng cụ quang học và cơ khí giao thông vận tải

TP Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp chế tạo hàng đầu cả nước TP Biên Hòa, TP Vũng Tàu là những trung tâm công nghiệp chế tạo có tính chất chuyên môn hóa

Công nghiệp hóa chất cũng phát triển hết sức đa dạng:Bà Rịa

-Vùng Tàu là nơi tập trung sản xuất hóa chất cơ bản, chế biến khí hóa lỏng, sản xuất phân bón (phân lân, phân đạm urê, phân DAP, phân hỗn hợp NPK ) TP Hồ Chí Minh nổi tiếng về hóa dược phẩm, hóa mĩ phẩm, hóa thực phẩm, hóa cao su Công nghiệp hóa chất cũng được phân b ốở các trung tâm công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai và Bình Dương

- Công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống:Là hai ngành đóng

vai trò cực kì quan trọng trong cơ cấu công nghiệp của vùng, vì ngành này chiếm tỷ trọng hầu như là lớn nhất ở tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng TP Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp chế biến thực phẩm lớn nhât cả nước Hàng năm, riêng TP Hồ Chí Minh sản xuất và cung cấp bia, rượu cho khoảng 2/3 nhu cầu cả nước…

Công nghiệp hàng tiêu dùng rất đa dạng, tiêu biểu là công nghiệp dệt

may và công nghiệp sản xuất các sản phẩm bằng da Công nghiệp dệt -may tập trung chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai Công nghiệp sản xuất hàng da - giày xuất khẩu chủ yếu ở Bình Dương, TP Hồ Chí Minh Ngoài ra còn phải kể đến công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy ở Đồng Nai, công nghiệp in ở TP Hồ Chí Minh

b Đông Nam Bộ có các khu công nghiệp tập trung

Đông Nam Bộ là vùng tập trung nhiều nhất các khu công nghiệp, khu chế

Trang 4

xuất ở nước ta Các KCN, KCX chủ yếu nằm trong phạm vi của tứ giác: TP Hồ Chí Minh- TX Thủ Dầu Một - Biên Hòa - Vũng Tàu, dọc theo các tuyến quốc lộ

1, 13, 51 và gần các cảng nước sâu

Riêng TP Hồ Chí Minh có KCX Tân Thuận, KCX Linh Trung 1, KCX Linh Trung 2, KCN Hiệp Phước, KCN Bình Chiểu, KCN Tân Tạo, KCN Tân Bình, KCN Vinh Lộc, KCN Tây Bắc Củ Chi, KCN Tân Thới Hiệp, KCN Lê Minh Xuân, KCN 1 1 Cát Lái 2, KCN Cát Lái 4, KCN Phong Phú Các KCN và KCX này thu hút tới 37% lao động đang làm việc trong các KCN, KCX và hơn 20% tổng số vốn đầu tư của toàn quốc vào các KCN, KCX của cả nước

Đồng Nai là tỉnh đứng thứ hai cả nước về phát triển các KCN ỏ Đồng Nai

có KCN là Biên Hòa I, Biên Hòa II,Amata, Loteco, Hố Nai, Sông Mây, Gò Dầu, Nhơn Trạch I, Nhơn Trạch Ri II, Nhơn Trạch III…

Bà Rịa - Vũng Tàu có các khu công nghiệp tập trung: KCN Đông Xuyên, KCN Phú Mĩ 1, KCN Mĩ Xuân A; đang hình thành các KCN mới là KCN Mĩ Xuân A mở rộng, KCN Mĩ Xuân A2, KCN Mĩ Xuân Bl, KCNCái Mép

Tỉnh Bình Dương cũng có KCN Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Việt Hương 1, Việt Hương 2, Đồng An, VSIP (Khu công nghiệp

Việt Nam - Xingapo), Tân Đông HiệpA, Tân Đông Hiệp B, Mĩ Phước, ở

tỉnh Bình Phước có KCN Chơn Thành thành lập cuối năm 2003; ở Tây Ninh có KCN Trảng Bàng Các tỉnh đều có các cụm công nghiệp, chủ yếu

để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực đầu tư trong nước

Các KCN, KCX được xây dựng đã thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, nguồn lao động (nhất là lao động có chuyên môn k ỹ thuật), sử dụng công nghệ cao, nguyên liệu nhập, sản xuất hướng ra xuất khẩu , thực sự đã tạo ra sự thay đổi lớn trong cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ công nghiệp ở Đông Nam Bộ, duy trì sự tăng trưởng công nghiệp cao của vùng

2 Tại sao trong cơ cấu công nghiệp ở Việt Nam, Đông Nam Bộ luôn là vùng chiếm tỷ trọng cao nhất?

Phải khẳng định rằng: Đông Nam Bộ luôn là vùng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu công nghiệp của cả nước (2013 chiếm 44,23%) vì vùng này hội đủ rất nhiều điều kiện cả về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cũng như kinh tế xã hội để phát triển một cơ cấu công nghiệp với

sự đa dạng ngành nghề và luôn đạt chất lượng, hiệu quả cao Cụ thể là:

Trang 5

a - Vị trí địa lý

Đông Nam Bộ Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là: TP Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu Phía bắc- tây bắc giáp Campuchia, phía nam giáp biển Đông, phía tây-tây nam giáp Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long, phía đông - đông nam giáp Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Vùng có diện tích tự nhiên 23.605 km2, chiếm 7,1% diện tích cả nước

Đây là vùng chuyển tiếp giữa vùng kinh tế Tây Nguyên, vùng Duyên Hải Nam Trung Bô với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.Đây là vùng kinh tế phát triển nhất đất nước.Trên địa bàn của Đông Nam Bộ đã hình thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.Vì vậy, nó cố điều kiện thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh hơn các vùng kinh tế khác trong cả nước

Phía Đông Nam của vùng là biển với các nguổn tài nguyên phong phú và

đa dạng, tạo điều kiện cho vùng Đông Nam Bộ tăng giá trị tổng sản phẩm của mình, có cảng Sài Gòn, đầu mối liên hệ kinh tế và thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế

Phía Tây Bắc, vùng giáp ,với Cam-Pu-Chia, có cửa khẩu ở Tây Ninh, tạo mối giao lưu rộng rãi với Căm-Pu-Chia, Thái Lan, Lào và Mianma, thúc đâỷ sự phát biển kinh tế-xã hội của vùng

b Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng tạo điều kiện phát triển nhiều ngành công nghiệp khác nhau

* Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản thế mạnh của vùng là các mỏ dầu, khí trên thềm lục địa(1) Những vùng giàu tiềm năng dầu, khí đã được phát hiện ở nước ta thuộc các bể trầm tích Cửu Long, Nam Côn Sơn đều gắn với Đông Nam Bộ Các mỏ đã và đang khai thác là Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Đại Hùng, Lan Đỏ, Lan Tây Hàng loạt mỏ đang được thẩm lượng và có kế hoạch đưa vào khai thác trong những năm tới

Trong vùng có trữ lượng bôxit khá lớn.Đây chủ yếu là bôxit latêrit, hỉnh thành trong vỏ phong hóa bazan tuổi Plioxen - Pleixtoxen.Các mỏ bôxit ỏ huyện Phưóc Long (Bình Phước) nằm trong vùng chứa quặng bôxit latêrit lớn nhâ't nước ta là vùng Đắc Nông - Phước Long

Khoáng sản làm vật liêu xây dựng chủ yếu có sét làm gạch ngói (có nhiều

Trang 6

ỏ Bình Dương, Đồng Nai), ngoài ra còn có sét làm gạch chịu lửa (ở Bình Dương), caolanh làm đồ gốm sứ (ỏ Bình Dương, Bình Phước)…

* Đất nông nghiệp là một thế mạnh của vùng Nằm ởsườn Tây Nam

Trường Sơn, với địa hình thoải, độ cao trung bình dưới 200m so với mặt biển.Vùng Đồng Nam Bộ có 2 loại đất chính là đất xám và đất đỏ Bazan, rất thích hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, điều và cây ngắn ngày như lạc mía, đỗ tương cũng như cây lương thực

* Tài Nguyên rừng, còn khoảng 532.600 ha, chiếm 6,8% rừng cả nước, có

ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng hộ cho cây công nghiệp dài ngày, bảo đảm cân bằng sinh thái cho toàn vùng Đặc biệt, vùng có vườn quốc gia Cát Tiên, một

cơ sở nghiên cứu khoa học lâm sinh và thắng cảnh lớn.Rừng cung cấp một phần nguyên liệu cho công nghiệp giấy Đồng Nai

* Biển tuy hẹp hơn các vùng có biển khác, song có ý nghĩa kinh tế rất lớn ,

ngoài nguồn lợi hải sản ngoài khơi và trong lộng, thểm lục địa có nguồn dầu khí với trữ lượng công nghiệp được xác định sơ bộ vào khoảng 1 tỷ tấn (300 triệu tấn dầu, 700 triệu tấn khí (quy dầu ) Đây là loại tài nguyên có ý nghĩa chiến lược đối với cả nước và quổc tế.Bãi biển Vũng Tàu là nơi nghi mát lý tưởng của vùng.Ven bờ có những ruộng muối tập trung ở Bình Thuận, Ninh Thuận

Nguồn lợi thủy sản ở Đông Nam Bộ rất phong phú Vùng biển ở đây có trữ lượng các loại cá khoảng 1,5 triệu tấn, chiếm 39,8% tổng trữ lượng cá của toàn vùng biển nước ta (theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Hải sản năm 1999), trong đó các loài cá nổi nhỏ chiếm 35%, cá đáy chiếm 65%, chủ yếu là các loài

cá đáy ỏ độ sâu trên 30m Với đáy biển bùn cát là chính, đáy biển tương đối nông, ỏ đây có thể phát triển được nhiều loại nghề, từ các loại lưới rê, vây, mành, chụp mực đến các loại lưới kéo đáy, câu, lặn ở vùng nước ven Côn Đảo còn có các loài hải đặc sản như đồi mồi, vích

* Khí hậu của vùng thuộc khí hâu cận xích đạo, nhiệt độ điều hoà, không

khắc nghiệt như Tây Nguyên Độ ẩm tương đối lớn.Có hai mùa mùa khô và mùa mưa.Khí hậu thích hợp với sinh thái của nhiều loại cây trồng, vật nuôi

* Về năng lượng, ngoài giờ nắng cao, đáng kể là nguồn thuỷ năng của hệ

thống Sông Đồng Nai-Sài Gòn (chiếm 20% dự trữ điện năng cả nước) Tuy vậy nếu khai thác hết nguồn thuỷ năng đó, thì cũng không đáp ứng đủ nhu cầu về điện cho vùng và đồng bàng sông Cửu Long Trong vùng đang xây dựng các cơ

sở điện năng chạy bằng khí tự nhiên ở Bà Rịa, Phú Mỹ

Trang 7

* Thủy văn: Gần như toàn bộ Đông Nam Bộ là thuộc về lưu vực hệ

thống sông Đồng Nai - Vàm cỏ, chỉ trừ lãnh thổ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc về lưu vực của các sông nhỏ ven biển cực Nam Trung Bộ Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (nam Tây Nguyên), có các phụ lưu

là sông Bé, sông Sài Gòn, sông La Ngà) Sông Vàm cỏ chỉ gặp sông Đồng Nai ỏ cửa Soài Rạp và hai sông này nổi với nhau bằng những kênh nhân tạo.Một phần thượng nguồn của sông Vàm cỏ nằm trên đất Campuchia Sông Đồng Nai có chế độ lũ khá đơn giản: mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11, mùa cạn từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau Tháng kiệt nhất là tháng 3 hoặc tháng 4.Lũ không đột ngột nên ỏ đây ta không gặp các hệ thống đê như ở ĐBSH Sông Đồng Nai sau khi tiếp nhận sông Sài Gòn, đổ ra biển bằng cạc chi lưu

là Soài Rạp, Lòng Tàu và Đồng Tranh, nhưng chỉ có sông Lòng Tàu có cửa sông dạng cửa vịnh (estuary), sâu tới 18m, thuận lợi cho tàu biển hàng vạn tấn ra vào cảng Sài Gòn được dễ dàng Trên các sông thuộc hệ thống Đồng Nai có các hồ thủy điện (trên sông chính Đồng Nai có Đa Nhim, Đồng Nai

3, Đồng Nai 4, Đại Ninh, Trị An; trên sông Bé có Thác Mơ, cần Đơn; trên sông La Ngà có HàmThuận - Đa Mi) và các hồ thủy lợi (lớn nhất là hồ Dầu Tiếng trên sông gèi Gòn) Sự hoạt động của các hồ thủy điện và thủy lợi một mặt điều hồa dòng chảy sông ngòi, mặt khác làm thay đổi không nhỏ thủy chế của vùng hạ du, nơi tập trung đông dân cư, các thành phô" lớn và các hoạt động kinh tế

c Tài Nguyên nhân văn rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp

* Quá trình đô thị hoá trong vùng đang diễn ra mạnh mẽ Ba Trung tâm công nghiệp là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình dương, Vũng tàu tạo thành một

tam giác tăng trưởng cùng với thị xã Tây Ninh, Bình dương, Bỉnh Phước và 26

thị trấn khác phát triển sẽ tạo ra sức hút kinh tế đối với vùng tiếp cận hình thành nên một vùng động lực mạnh nhất trong cả nước

* Mật độ dân số của vùng khoảng trên 594 người/km2 số lao động đủ đế cung cấp cho các ngành kinh tế quốc dân Quá trình đô thị hoá đã tạo ra phân hoá nhanh lao động theo nghề nghiệp và thu nhập của dân cư Hiện nay (tỷ lệ dân thành thị đạt (tới trên 60% dân số, tập trung chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình dương và Vũng tàu)

Ở Đông Nam Bộ nét nổi bật là các dòng di dân vào đô thị chiếm ưu thế

Di dân ngoại tỉnh đến các đô thị là gần 554 nghìn người, chiếm 68,1% tổng số

Trang 8

người di chuyển Nhưng chỉ tính người di dân ngoại vùng đến các đô thị đã là

467 nghìn người (70,1% tổng số di dân ngoại vùng) Trong số này chủ yếu lại là dòng di chuyển nông thôn - đô thị, chiếm 52,2% tổng số di dân ngoại vùng Đây

là một trong những nguồnquan trọng làm tăng nhanh dân số đô thị ở Đông Nam Bộ, nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều vấn đề xã hội cho các đô thị của vùng, trước hết là TP Hồ Chí Minh Những người nhập cư vào TP Hồ Chí Minh chủ yếu là lao động trong độ tuổi sung sức, những người đến học tập và sau đó chọn

cơ hội tìm việc làm ở thành phố lớn nhất và đang phát triển năng động nhất cả nưổc này Điều này có ảnh hưỏng rất lớn đến cơ cấu dân số cũng như chất lượng lao động của thành phố Quá trình phái triển kinh tế - xã hội của vùng đã tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng máy móc và thiết bị hiện đại, có tính năng động cao, nhạy bén với khoa học và công nghệ mới, với sản xuất hàng hoá và thị trường

Quá trình phát triển kinh tế đã tạo cho vùng một cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng tốt nhất trong cả nước

Về đường bộ: Các tuyến quốc lộ quan trọng chạy qua lãnh thổ của

vùng là: QL 1A, QL 13, QL 51, QL 22(1) Ngoài ra phải kể đến QL 20 từ ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) đi Đà Lạt, một đoạn QL 14 (con đưòng chiến lược xuyên Tây Nguyên, gặp đường 13 ỏ thị trấn Chơn Thành (Bình Phước), QL 55 (từ TX Bà Rịa đên Hàm Tân, Bình Thuận), QL 56 (từ ngã

ba Tân Phong, gần Long Khánh (Đồng Nai) đến TX Bà Rịa (tinh Bà Rịa -Vũng Tàu) Hầu hết các tuyên đường tỏa ra theo hình nan quạt từ cửa ngõ

TP Hồ Chí Minh

Đường sắt: Tuyến đưòng sắt Thông Nhất qua vùng Đông Nam Bộ có 12

ga (từ ga Giá Ray đến ga Sài Gòn), trong đó các ga lớn là ga Biên Hòa, ga Sóng Thần và ga Sài Gòn Ga Sóng Thần có 21 đưòng, là ga hàng hóa lớn nhất nên rất thuận lợi cho việc hình thành ồ khu vực Sóng Thần những khu công nghiệp lớn với các ngành công nghiệp cần nhiều nguyên liệu

Đường sông, cảng biển:Có các tuyến đưòng sông thuận tiện từ TP

Hồ Chí Minh đi TP Mì Tho - Mĩ Thuận - Sa Đéc - Rạch sỏi; TP Hồ Chí Minh đi TP Cà Mau, qua kênh Phụng Hiệp, TP Hồ Chí Minh đi Long An ; Các cảng biển: Theo Danh bạ cảng biển Việt Nam năm 2000 thì các cảng biển ở Đông Nam Bộ thuộc nhóm cảng biển khu vực TP Hồ Chí minh, Vũng Tàu, Thị Vải Có 28 cảng biển, gồm các cảng tổng hợp và

Trang 9

chuyên dùng.

Đường hàng không:Sân bay Tân Sơn Nhất (TP Hồ Chí Minh) là sân bay

quốc tê lớn nhất nước ta có các đường bay đến 14 sân bay trong nước là Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Plâycu, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Huế, Đà Nẵng, Chu Lai Quy Nhơn, Tuy Hoà, Nha Trang,Cam Ranh, Rạch Giá, Phú Quốc Các đường bay quốc tế nối TP Hồ Chí Minh vổi 23 điểm đến trên các ehâu lục, đặc biệt là đến các đầu mối hàng không quốc tế lớn như Pari, Los Angiơles, Băng Cốc, Xingapo, Hồng Kông, Tôkyô, giúp cho nước ta có thể giao lưu bằng đường hàng không với tất cả các nước trên thế giới.Ngoài ra, còn có sân bay Vũng Tàu (phục

vụ dầu khí), sân bay cỏ ống (Côn Đảo) phục vụ dầu khí và du lịch

Đường Ống:Đây là vùng tập trung chủ yếu nhất mạng lưới đường ống của

nước ta phục vụ cho công nghiệp khai thác, thu gom và vận chuyển dầu, khí Hệ thông ồng dẫn khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy Dinh Cô, sau đó có các nhánh về Bà Rịa, Phú Mĩ, Thủ Đức, kho cảng Thị vải có tòng chiều dài hơn 170km Dự án đường ống Nam Côn Sơn chuyển khí đôt từ mỏ Lan Đỏ và Lan Tây

về cung cấp cho Trung, tâm nhiệt điện Phú Mì có tổng chiều dài 398km

Như vậy, so với các vùng khác trong cả nước, Đông Nam Bộ là vùng có nhiều lợi thế vượt trội hơn để phát triển công nghiệp.Do vậy, trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của vùng này luôn chiếm ưu thế tuyệt đối trong cả nước.Sự phân

tích trên đây cho phép tác giải khái quát Các lợi thế của Vùng so với các vùng kháccụ thể như sau:

- Thế mạnh về vị trí: Đông Nam Bộ có cửa ngõ phía tây liên hệ với Campuchia và các nước Thái Lan, Malaysia thông qua mạng đường bộ xuyên

Á, cửa ngõ phía đông liên hệ với các nước trên thế giới thông qua hệ thống cảng biển Sài Gòn, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thị Vải Việc hình thành cửa ngõ phía đông và phía tây đã tạo lập hành lang kinh tế đông–tây, nơi diễn ra nhiều hoạtđộng kinh tế sôi động trong Vùng, đồng thời tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào Vùng Ngoài ra, vùng này nằm kề đồng bằng sông Cửu Long–vùng lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước

-Thế mạnh về giao thông: Trước hết, đó là hệ thống các trục giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không khá tốt; ngoài ra còn

có đầu mối giao thông và các tuyến giao thông quan trọng mang ý nghĩa cả nước và quốc tế như: sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (tương lai cả sân bay Long

Trang 10

Thành, tỉnh Đồng Nai), hệ thống cảng Sài Gòn, Vũng Tàu-Thị Vải, đường xuyên Á nối liền các nước Đông Nam Á, đường sắt Bắc–Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 51, QL 13, QL 14 nối với Tây Nguyên Hệ thống hạ tầng giao thông này tạo điều kiện thuận lợi cho vùng có thể mở rộng quan hệ kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Miền Trung trong việc cung cấp đầu vào

và tiêu thụ sản phẩm

- Thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên: Đông Nam Bộ có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhất và rất quan trọng đối với cả nước là dầu mỏ và khí đốt, tập trung ở vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu; trữ lượng dầu mỏ chiếm khoảng 93,3% trữ lượng dầu đã xác minh của cả nước; trữ lượng khí chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước Dầu mỏ và khí đốt là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng hiện nay và là nguồn nguyên, nhiên liệu cho công nghiệp hóa dầu, công nghiệp điện trong tương lai

Các vùng đất bazalt khá màu mỡ chiếm tới 40% diện tích của Vùng, nối tiếp với miền đất bazalt của Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ Đất xám bạc màu (phù sa cổ) chiếm tỉ lệ nhỏ hơn chút ít, phân bố thành vùng lớn

ở các tỉnh Tây Ninh và Bình Dương Đất phù sa cổ tuy nghèo dinh dưỡng hơn đất basalt, nhưng thoát nước tốt Nhờ có khí hậu cận xích đạo, đất đai màu mỡ

và mạng lưới thủy lợi được cải thiện, Đông Nam Bộ có tiềm năng to lớn để phát triển các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều, hồ tiêu), cây ăn quả và cả cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía, thuốc lá,…) trên quy mô lớn

- Thế mạnh về nhân lực: Đông Nam Bộ có lực lượng lao động dồi dào, lao động có trình độ chuyên môn cao so với các vùng khác, có khả năng nắm bắt và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhanh, được đào tạo và nâng cao tay nghề trong quá trình phát triển các khu công nghiệp Đội ngũ này được sàng lọc, tuyển chọn không chỉ từ nguồn lao động trong Vùng mà còn từ các tỉnh lân cận Lợi thế về nguồn lao động của Vùng cũng là một điều kiện hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Trình độ phân công lao động theo lãnh thổ phát triển tương đối cao, trong vùng đã hình thành tương đối rõ các ngành, các Vùng sản xuất chuyên môn hóa

Vùng Đông Nam Bộ có sự tích tụ lớn về vốn và kỹ thuật, lại đang tiếp tục thu hút đầu tư trong nước và quốc tế Cơ sở hạ tầng ở đây phát triển tốt, đặc biệt là giao thông vận tải và thông tin liên lạc Tất cả các điều kiện trên tạo ra lợi thế cho Vùng

Ngày đăng: 26/08/2017, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w