1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ kết hợp TĂNG TRƯỞNG KINH tế với THỰC HIỆN TIẾN bộ và CÔNG BẰNG xã hội ở nước TA HIỆN NAY là vấn đề CHIẾN lược

25 361 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 57,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước. Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội, không thể có công bằng, tiến bộ xã hội nếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là động lực, điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững. Mỗi bước tiến của tăng trưởng kinh tế gắn với việc từng bước thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội ở từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hộiluôn là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước.Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng,tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển Tăng trưởng kinh tế là điềukiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội, không thể có công bằng, tiến bộ xã hộinếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế Mặt khác, thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội là động lực, điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy, bảo đảm tăngtrưởng kinh tế cao, bền vững Mỗi bước tiến của tăng trưởng kinh tế gắn với việctừng bước thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội ở từng giai đoạn phát triểncủa đất nước Tại Nghị quyết Đại hội X, Đại hội XI, đảng ta đã chỉ ra một số kinhnghiệm, trong đó khẳng định: “Phải coi trọng kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởngkinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; gắn phát triển kinh tế với pháttriển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thựchiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1 Báo cáo chính trịcủa Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xãhội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”2

Trang 2

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI THỰC HIỆN TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

a Tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc

tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quântrên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Sự tăng trưởng kinh tế là quátrình ổn định mà theo đó năng lực có hiệu quả của nền kinh tế nâng dần theo thờigian dẫn đến mức tăng của sản lượng và thu nhập quốc dân Tăng trưởng kinh tếthể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độbất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người caonhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu ngườihoặc thu nhập bình quân đầu người (PCI)

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sảnphẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùngđược sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định(thường là một năm tài chính)

Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằngtiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nướctrong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằngtổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng

Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân

số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc dân chia cho dân số

Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm

tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi

xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu

Trang 3

vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là mộtquá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môitrường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơnđồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn Như vậy, có thể nói phát triển kinh tế bềnvững bao hàm cả việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ

và công bằng xã hội

Tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội từ thấp đến

cao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình tháikinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn, cả

về cơ sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hìnhthái ý thức xã hội Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo hướngtiến bộ, mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của tiến bộ xã hội

Hồ Chí Minh chủ yếu nói về công bằng xã hội thể hiện tập trung ở chế độ phânphối theo lao động dưới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên hiện nay, khái niêm về côngbằng xã hội đã được mở rộng ra rất nhiều phương diện: giáo dục và đào tạo, y tế,chính trị, pháp quyền, đạo đức, …

Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là tạo điều

kiện để ai cũng được học hành; người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ

Trang 4

có cơ hội học tập; phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em đồngbào dân tộc thiểu số; có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với những học sinh có năngkhiếu nhưng hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở bậc cao.

Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế là bảo đảm cho sức khoẻ mọi

người dân được chăm sóc và bảo vệ, quan tâm chăm sóc sức khoẻ những người cócông với nước; những người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số Công bằng xãhội không có nghĩa là “cào bằng”, thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều cho mọingười các nguồn lực và của cải do xã hội làm ra, bất chấp chất lượng, hiệu quả củasản xuất kinh doanh và sự đóng góp của mỗi người cho sự phát triển chung củacộng đồng

Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệgiữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh đượcnội dung cơ bản này, các nhà kinh tế thường sử dụng hai khái niệm về công bằng:

Công bằng theo chiều ngang: Đối xử như nhau với người đóng góp như nhau Công bằng theo chiều dọc: Đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinh

hoặc có điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau,cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, sự khác nhau về giáodục đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau)

b Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội

Tăng trưởng là điều kiện của phát triển, của tiến bộ, đó là tiền đề về vật chất

- kinh tế để thực hiện công bằng Một xã hội có nền kinh tế phồn vinh, giàu có phải

là một xã hội đạt được và duy trì được sức tăng trưởng kinh tế, cũng như vậy,những dấu hiệu trì trệ và suy thoái, thậm chí khủng hoảng (gắn với lạm phát) phảinhận biết từ mức tăng trưởng chậm lại, giảm sút tăng trưởng Không có một nềnkinh tế tăng trưởng thì không thể có tiềm lực vật chất để tiếp tục đầu tư cho hoạtđộng sản xuất - kinh doanh, không có vốn và các nguồn lực nói chung để có thể táisản xuất mở rộng, càng không thể có điều kiện vật chất để cải thiện, nâng cao mứcsống, chất lượng cuộc sống của dân cư

Trang 5

Trong quan hệ với tiến bộ và phát triển, nếu tăng trưởng kinh tế là điều kiện

và tiền đề thì tiến bộ và phát triển là kết quả và công bằng xã hội là động lực vàmục tiêu của quá trình tăng trưởng, tiến bộ và phát triển Nói một cách khác, côngbằng xã hội đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, lànhân tố bảo đảm ổn định và lành mạnh xã hội, kể cả xác lập ổn định tích cực củachính trị, là động lực đồng thời là mục tiêu của đổi mới để phát triển đi đúng địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Công bằng xã hội, trên thực tế, vừa là điều kiện quan trọng để tạo ra ổn định

xã hội, vừa là một động lực để tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, cần phải dựa vàocông bằng xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời phải kết hợp tốt tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ xã hội Có như thế mới vừa đảm bảo được mục tiêu tăngtrưởng kinh tế, vừa thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triểnkinh tế thị trường ở Việt Nam Để thấy rõ mối tương quan ấy, chúng ta cần nghiêncứu, xem xét những biến đổi trong cấu trúc xã hội và phân tầng xã hội Chuyểnsang kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá - đó là những tácnhân quan trọng thúc đẩy những biến đổi trong cấu trúc xã hội được thể hiện mộtcách điển hình trong hiện tượng phân tầng xã hội theo mức sống của các nhóm dân

cư Hơn nữa, trong hiện trạng này còn chứa đựng và phản ánh rất nhiều biến đổi xãhội khác

Tăng trưởng là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cải thiện mức sống: Từnhững năm 70 trở lại đây Hầu hết các nước đang phát triển đều ưu tiên hàng đầu

từ tăng trưởng nhanh kinh tế sang các vấn đề khác rộng hơn là xóa đói giảm nghèo,giảm bất bình đẳng Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhưng mức sống ngườidân không được cải thiện, phần lợi ích tăng lên chủ yếu rơi vào tay người giàu, dẫnđến bất bình đẳng ngày càng tăng Nguyên nhân xuất phát từ việc phân phối thunhập Hình thức phân phối thu nhập được sử dụng hầu hết các nước đang phát triển

là phân phối theo chức năng yếu tố đóng góp (sở hữu nhiều tư bản sẽ có thu nhậpcàng lớn) Phân phối thu nhập bất bình đẳng thì tổng cầu trong nền kinh tế bị ngườigiàu có thu nhập chi phối, xã hội có xu hướng tập trung sản xuất hàng hóa xa xỉ

Trang 6

phục vụ người giàu mà bỏ qua hàng hóa khác Ngược lại phân phối thu nhập phânphối, xã hội sẽ hướng sản xuất các hàng hóa thiết yếu nhiều hơn phục vụ nhu cầuđại bộ phận dân chúng.

Do đó tăng trưởng chỉ tạo điều kiện vật chất để giảm nghèo về tài sản, trítuệ, bệnh tật chứ chưa đủ để cải thiện mức sống người dân Muốn cải thiện thìtăng trưởng phải đi đôi với vấn đề công bằng được thực hiện thông qua phân phốilại dưới hình thức thuế và trợ cấp xã hội…

1.2 Quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Nhìn lại thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu là donhững chủ trương, chính sách mang nặng tính chủ quan, duy ý chí của Đảng vàNhà nước trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một

mô hình cũ đã lỗi thời, cho nên nước ta - chỉ mấy năm sau khi đạt đến đỉnh caovinh quang của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc - đã dần dần lâmvào trì trệ, suy thoái rồi khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng

Để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, Đại hội VI của Đảng Cộng sản ViệtNam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có chủ trương mangtính đột phá là: Chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêubao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ trươngnày được Đảng ta tiếp tục khẳng định lại trong các kỳ Đại hội tiếp theo Đại hội XIcủa Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là một hình tháikinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên

cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xãhội”3 Theo mô hình này, chúng ta sử dụng cơ chế thị trường với tư cách là thànhquả của nền văn minh nhân loại làm phương tiện để năng động hóa và đẩy nhanh

3 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011,

tr 204-205

Trang 7

nhịp độ tăng trưởng kinh tế, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân Chúng takhông rập khuôn theo mô hình kinh tế thị trường tự do - dù là dựa vào lý thuyếtcủa chủ nghĩa tự do cổ điển hay lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới Bởi thực tế đãcho thấy, bản thân nền kinh tế thị trường tự do không tự động dẫn đến tiến bộ vàcông bằng xã hội, trái lại có khi nó còn cản trở việc thực hiện các mục tiêu trên,làm nẩy sinh nhiều vấn đề kinh tế, xã hội nan giải Chúng ta chú ý tham khảo vàtiếp thu có lựa chọn những kinh nghiệm hay của mô hình kinh tế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước phúc lợi xã hội, nhưng cũng không sao chép mô hình này.

Vì tình hình kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của mỗi nước đều có đặc thùriêng, cho nên không thể áp dụng máy móc một mô hình nào đó từ bên ngoài

Xuất phát từ đặc điểm của đất nước sau nhiều thập kỷ tiến hành cách mạngdưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta chủ trương sử dụngđúng đắn các công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởngkinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh

thần của nhân dân, hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Cùng với việc xác định mô hình kinh tế tổng quát và mục tiêu chung củacông cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta, quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội kể từ sau Đại hội VI đến nay còntiếp tục đạt được những thành tựu rất quan trọng, thể hiện ở sự hình thành một hệthống các chủ trương và quan điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn nổi bật sauđây:

Một là: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội

ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Đây chính là chủ trương vàquan điểm có ý nghĩa bao trùm

Hai là: Tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động và các chủ thể

thuộc mọi thành phần kinh tế; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao

Trang 8

động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và cácnguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.

Ba là: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con

người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng

và yêu cầu chính đáng của nhân dân

Bốn là: Khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa

đói giảm nghèo Coi một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển.Đồng thời có chính sách hướng dẫn, hỗ trợ người nghèo vươn lên làm đủ sống vàphấn đấu trở thành khá giả

Năm là: Xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân

trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạođiều kiện để ai cũng được học hành

Sáu là: Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ cũng là quốc

sách hàng đầu, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từngbước phát triển kinh tế tri thức

Bảy là: Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân

dân, phấn đấu giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triểngiống nòi Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe đối với các tầnglớp dân cư, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo

Tám là: Mục tiêu của chiến lược kinh tế - xã hội là đặt con người với tư cách

là mỗi cá nhân và cả cộng đồng vào vị trí trung tâm, tạo điều kiện cho mọi ngườiđều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình

II THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GẮN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI THỰC HIỆN TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG THỜI GIAN TỚI

2.1 Thực tiễn kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng

xã hội ở nước ta qua 30 năm đổi mới

a Thành tựu

Trang 9

* Về tăng trưởng kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liền

Tỷ lệ tăng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 1986-1990 là 4,4%, thời kỳ

1991-2000 là 7,5%, thời kỳ 2001-2005 là trên 7,5%; năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007 đạt8,46%; mấy năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, GDPnăm 2008 tăng 6,18%, năm 2009 tăng hơn 5% Tổng sản phẩm trong nước (GDP)năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013, trong đó quý I tăng 5,06%; quý IItăng 5,34%; quý III tăng 6,07%; quý IV tăng 6,96% Mức tăng trưởng năm 2014 caohơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấuhiệu tích cực của nền kinh tế Trong mức tăng 5,98% của toàn nền kinh tế, khu vựcnông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%, cao hơn mức 2,64% của năm 2013, đónggóp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựngtăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của năm trước, đóng góp 2,75 điểmphần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,96%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm Với tốc độtăng trưởng như vậy, năm 2014 Việt Nam trở thành nước có tốc độ tăng trưởngGDP cao thứ 2 trên thế giới (sau Trung Quốc)

* Về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Trong lĩnh vực lao động và việc làm: Từ năm 1991 đến năm 2000, trung

bình hàng năm cả nước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động cócông ăn việc làm; những năm 2001-2005, mức giải quyết việc làm trung bình hàngnăm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; những năm 2006-2010, con số đó lại tăng lênđến 1,6 triệu người Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đếnthời điểm 01/01/2015 là 54,48 triệu người, tăng 782 nghìn người so với cùng thờiđiểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7%.Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến thời điểm trên là 47,75triệu người, tăng 333,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó namchiếm 53,7%; nữ chiếm 46,3%

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2014ước tính 53,0 triệu người, tăng 1,56% so với năm 2013 Lao động từ 15 tuổi trở lên

Trang 10

đang làm việc năm 2014 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,6%tổng số (Năm 2012 là 47,4%; năm 2013 là 46,8%); khu vực công nghiệp và xâydựng chiếm 21,4% (Năm 2012 và 2013 cùng ở mức 21,2%); khu vực dịch vụ

chiếm 32,0% (năm 2012 là 31,4%; năm 2013 là 32%).

Số người có việc làm trong quý I năm 2014 ước tính là 52526,2 nghìn người,tăng 616,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 52838,4 nghìn người,tăng 436,1 nghìn người; quý III là 53258,4 nghìn người, tăng 520,7 nghìn người;quý IV là 53471,1 nghìn người, tăng 678 nghìn người

Công tác đào tạo nghề tiếp tục được các cấp, các ngành và địa phương quantâm đầu tư Tính đến thời điểm cuối năm 2014, cả nước có 1340 cơ sở dạy nghề,bao gồm 165 trường cao đẳng nghề; 301 trường trung cấp nghề; 874 trung tâm dạynghề

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn

quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm

2010 Còn theo chuẩn do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Tổng cục Thống kêtính toán, thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm 2002

và còn khoảng 17% năm 2008 Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 ước tính khoảng 8,2%,giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2013 Như vậy, Việt Nam đã "hoàn thànhsớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015", mà

Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp quốc đã đề ra.

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại

hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học Tại thời điểm cuốinăm học 2013 - 2014, cả nước có 13867 trường mầm non; 15337 trường tiểu học;

10882 trường trung học cơ sở và phổ thông cơ sở; 2758 trường trung học phổthông; 242 trường phổ thông dân tộc nội trú; 687 trường phổ thông dân tộc bán trú

và 715 trung tâm giáo dục thường xuyên (73 trung tâm cấp tỉnh và 642 trung tâmcấp huyện) Năm học 2013 - 2014, cả nước có thêm 658 trường mầm non; 449trường tiểu học; 416 trường trung học cơ sở và 98 trường trung học phổ thôngđược công nhận đạt chuẩn quốc gia

Trang 11

Theo báo cáo sơ bộ, cả nước có 910,8 nghìn thí sinh tham dự thi kỳ thi tốtnghiệp phổ thông năm học 2013 - 2014 Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt99,02% (tăng 1,04 điểm phần trăm so với năm học trước), trong đó tỷ lệ tốt nghiệploại khá, giỏi đạt 23,33% Tỷ lệ tốt nghiệp hệ bổ túc trung học đạt 89,01% (tăng10,93 điểm phần trăm), trong đó tỷ lệ tốt nghiệp loại khá, giỏi chiếm 3,9%.

Tính đến tháng 12/2014, cả nước có 21/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó

08 tỉnh/thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độtuổi mức độ 2

Theo kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm

2014, số trẻ em trong độ tuổi đi học mầm non tham gia chương trình giáo dục mầmnon đạt tỷ lệ 71,3%, trong đó số trẻ em 5 tuổi đi học đạt 96,8%; số trẻ em nhập họclớp 1 theo học đến lớp 5 đạt 98,6%; tỷ lệ đi học đúng tuổi của cấp tiểu học là96,2%; cấp trung học cơ sở là 90,4% và cấp trung học phổ thông là 70,7% Tỷ lệtrẻ em hoàn thành cấp tiểu học tiếp tục học cấp trung học cơ sở đạt 98,6%; tỷ lệchuyển cấp từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông giảm xuống còn 89,5%

Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận Đội ngũ cán

bộ khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học

kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối,chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; tiếp thu, làm chủ và ứngdụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vựcthông tin - truyền thông, lai tạo một số giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao,thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng cầu, đóng tàu biển có trọng tải lớn, sảnxuất vắc-xin phòng dịch và bước đầu có một số sáng tạo về công nghệ tin học

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Tính đến năm 2014, sau 5

năm Luật Bảo hiểm y tế được thực thi, số người có bảo hiểm y tế tăng nhanh,quyền lợi người tham gia được mở rộng Năm 2012, cả nước có gần 60 triệu ngườitham gia, bao phủ gần 67% dân số, đặc biệt là tại khu vực trung du và miền núi

Trang 12

phía Bắc có tỷ lệ bao phủ khá cao Việc tiếp cận các cơ sở y tế của người có thẻbảo hiểm y tế trở nên thuận lợi khi số lượng cơ sở y tế ký hợp đồng bảo hiểm y tếtrong khám, chữa bệnh ngày càng nhiều, kể cả các cơ sở y tế tư nhân Năm 2012,

có 2.453 cơ sở khám chữa, bệnh nhà nước và 471 cơ sở tư nhân, không kể các trạm

y tế xã và tương đương Công tác tổ chức đăng ký khám, chữa bệnh bảo hiểm y tếban đầu và chuyển tuyến theo tuyến chuyên môn kỹ thuật được thực hiện đúng quyđịnh, phù hợp với thực tế hệ thống tổ chức y tế, đáp ứng yêu cầu về khám, chữabệnh và bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế (ngay cả các trườnghợp khám, chữa bệnh vượt tuyến, trái tuyến) Những năm gần đây, số lượt người

có thẻ bảo hiểm y tế đi khám, chữa bệnh tăng nhanh về cả số lượng và tần suất tạitất cả các tuyến y tế Năm 2012, có khoảng 121 triệu lượt người có thẻ bảo hiểm y

tế đi khám, chữa bệnh, tăng gần 2,6 triệu lượt so với năm 2011; quyền lợi củangười tham gia bảo hiểm y tế được bảo đảm và ngày càng mở rộng theo đúng quyđịnh; mặc dù nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng tăng, khoa học - công nghệ ứngdụng trong chẩn đoán, điều trị và sản xuất thuốc luôn phát triển không ngừng, giádịch vụ y tế có sự điều chỉnh tăng lên, trong khi mức đóng bảo hiểm y tế vẫnkhông thay đổi Hầu hết các dịch vụ kỹ thuật đang thực hiện tại các bệnh viện ởViệt Nam đều thuộc danh mục được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả, trong đó có cả dịch

vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn như can thiệp tim mạch, thay ổ khớp nhân tạo, phẫuthuật bằng dao gamma, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân…; hoặcmột số loại thuốc, đặc biệt là thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép sauphẫu thuật với giá thành cao, chi phí điều trị lớn, thể hiện tính ưu việt của chế độbảo hiểm y tế ở nước ta, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với côngtác chăm sóc sức khỏe nhân dân Đồng thời, cho thấy khả năng quản lý và kiểmsoát tốt việc sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế Từ năm 2010 đến nay, Quỹ bảo hiểm y tế

đã kết dư trên 12 nghìn tỷ đồng Nguồn thu từ bảo hiểm y tế đã đóng góp khoảng80% tổng chi phí phục vụ khám, chữa bệnh tại các bệnh viện, góp phần nâng chấtlượng khám, chữa bệnh cho người dân

Ngày đăng: 26/08/2017, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w