Để xây dựng thành công mô hình nền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, nhằm bảo đảm cho nền kinh tế tồn tại và phát triển trên chính cơ sở của nó. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng ta cần phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật – công nghệ tiên tiến hiện đại…
Trang 1MỞ ĐẦU
Để xây dựng thành công mô hình nền nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, nhằm bảo đảm cho nền kinh tế tồn tại
và phát triển trên chính cơ sở của nó Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế vàphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng tacần phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồnnhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật – công nghệ tiên tiến hiện đại… để pháttriển bền vững nền kinh tế nước nhà Trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lựcđóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Mặt khác, chưa lúc nào vấn đề phát triển con người - nguồn nhân lực trởthành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay Đất nước đangbước vào một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có.Nhưng thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhấtnhững cơ hội đang đến, thậm chí, có nguy cơ khó vượt qua những thách thức,kéo dài sự tụt hậu Những vấn đề trên đã thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay” làm nội
dung tiểu luận của môn học kinh tế phát triển Trong phạm vi, yêu cầu của mônhọc, tác giả trình bày vấn đề trên thành những nội dung cơ bản sau:
1 Nguồn nhân lực, chất lượng và vai trò của chất lượng nguồnnhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với pháttriển kinh tế tri thức
Trang 22 Khái quát thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
3 Một số biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức ở nước ta hiện nay
NỘI DUNG
1 Nguồn nhân lực, chất lượng và vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức.
Khái niệm nguồn nhân lực.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực, tùy vàocách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà các tác giả đưa ra các quan niệm củamình về nguồn nhân lực, tác giả liệt kê các quan niệm tiêu biểu về nguồn nhânlực như sau:
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tếhoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người
bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ởđây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vậtchất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…
Trang 3Theo tổ chức lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động .Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực lànguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngườicho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể pháttriển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xãhội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cưtrong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức
là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu
tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Các nhà kinh tế học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực
con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lực lượnglao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổilao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dựtrữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưngkhông có nhu cầu lao động Hoặc là tổng thể các tiềm năng lao động của mộtnước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong
độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiệntrên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làmviệc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từhọ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độlành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ
Trang 4tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việclàm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Nhưvậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại khôngphải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tíchcực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm,những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Quan niệm của tác giả về nguồn nhân lực, từ những quan niệm trên và
tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế phát triển, tác giả hiểu nguồn nhân lực là tổnghoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của mộtquốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo củamột dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinhthần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Như vậy, nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá đượctrong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số,bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy địnhcủa Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55tuổi) Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứngvới yêu cầu của thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trongtrình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động Sự phân loại nguồnnhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịchvụ) đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế trithức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động
sẽ phù hợp hơn Lực lượng lao động được chia ra lao động thông tin và lao đọng
Trang 5phi thông tin Lao động thông tin lại được chia ra 2 loại: lao động tri thức và laođộng dữ liệu Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên ) làm việc chủ yếu vớithông tin đã được mã hoá, trong khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việcsản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin Lao động quản lýnằm giữa hai loại hình này Lao động phi thông tin được chia 'ra lao động sảnxuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ Lao động phi thông tin dễ dàngđược mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ Như vậy, có thể phân loại lựclượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu,lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá Mỗi loại lao động này
có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm Nồng độ tri thức, trí tuệcao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lựclượng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu ở nước ta, tỷ lệlao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng lao động, do đó hànghoá có tỷ lệ trí tuệ thấp Muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế,cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong hàng hoá trong thời gian tới
Chất lượng nguồn nhân lực.
Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực, thực chất là chúng ta đề cập đếnmặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực củabất kỳ quốc gia nào cũng đều được hình thành dựa trên quy mô dân số, màtrước hết là từ lực lượng lao động của quốc gia đó, cụ thể là số lượng ngườiđang trong độ tuổi lao động và có khả năng tham gia lao động sản xuất Cònchất lượng nguồn nhân lực là một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và
Trang 6giá trị cùng tham gia tạo nên Chất lượng nguồn nhân lực gồm ba yếu tố cơbản: thể lực, trí lực và tâm lực.
Thể lực là tình trạng sức khoẻ của con người, biểu hiện ở sự phát triểnbình thường, có khả năng lao động Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thựctiễn của con người, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao độngtrong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo chocon người có khả năng học tập và lao động lâu dài
Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sángtạo thích ứng với xã hội của con người Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinhthần, trình độ văn hoá và học vấn của con người, biểu hiện ở khả năng vận dụngnhững điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt hiệu quảcao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bản thân để đạt đượcmục tiêu Trí lực là yếu tố chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con ngườitrong mọi hoạt động, kể cả trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm pháthuy tác dụng của các yếu tố khác trong cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực Trílực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tốngày càng đóng vai trò quan trọng và quyết định trong chất lượng nguồn nhânlực nói riêng và sự phát triển của nguồn lực con người nói chung
Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sựhoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sảnxuất và sáng tạo cá nhân Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hànhđộng cụ thể của con người, tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực Tâm lực tạo
ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con
Trang 7người Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tốthể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội.
Vai trò của chất lượng nguồn nhân lựcđối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Không phải đến bây giờ chúng ta với thấy được vai trò của nguồn nhânlực trong phát triển nền kinh tế xã hội, mà các nhà tiền bối cách mạng đã xác
định rất rõ trong tư tưởng lý luận của mình V.I.Lênin đã khẳng định: “Lực
lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là công nhân, là người lao động” [V.I.Lênin: Sđd, 1977, t.38, tr.430] Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò
của nguồn nhân lực được biểu hiện qua câu nói nổi tiếng: “Vì lợi ích mười năm
thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [Hồ Chí Minh: Sđd, 1996, t.12, tr.212] Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước tiến hành công
cuộc đổi mới Đảng luôn khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh
phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa…Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo,
có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Đại hội lần thứ X
của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội từ nay đến năm 2010 là “Phát triển mạnh khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức”
Trang 8Ngày nay trước yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, thì nguồnnhân lực luôn giữ vai trò quyết định, đồng thời là vấn đề quan tâm của mọi quốcgia trên thế giới Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển nền kinh tế xãhội nói chung và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng là vấn đề cótính qui luật chung, nhưng việc nhìn nhận vai trò của nguồn nhân lực trong quátrình đó lại có sự khác biệt tương đối và mang tính lịch sử Trong giai đoạn hiệnnay thì vai trò của nguồn nhân lực (đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao)đối với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểnkinh tế tri thức ở nước ta được thể hiện trên các nội dung sau:
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đến sức sống
và khả năng phát triển của nền kinh tế Các nguồn lực khác, xét về mặt số lượng
và trữ lượng, có thể là rất phong phú, dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụngkhông hợp lý thì đến một lúc nào đó, chúng sẽ trở nên cạn kiệt Khi ấy, nền kinh
tế vốn cơ bản dựa vào nguồn lực này sẽ gặp khó khăn, nếu không nói là bị đedoạ Trái lại, nguồn lực con người với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì luôn sinhsôi và phát triển không ngừng Xét trên bình diện xã hội, có thể khẳng địnhnguồn lực con người là vô tận và do vậy, là nguồn lực cơ bản của sự phát triểnbền vững Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lựckhác trong hệ thống nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và phát triển kinh tế tri thức
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực quyết định tốc độ tăng trưởng, khắc
phục tình trạng tụt khậu xa hơn về kinh tế và là điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế Nếu trước đây, mộttrong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh
Trang 9tế của đất nước là do tình trạng nghèo nàn về cơ sở vật chất, sự thiếu hụt vềnguồn vốn… thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạnchế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Để ứng dụng và làm chủ cáccông nghệ tiên tiến hiện trong phát triển kinh tế, đòi hỏi nguồn nhân lực cần phải
có trình độ tương ứng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệđương đại Với nước ta, con đường để trở thành một nước công nghiệp phát triểntheo hướng hiện đại là đi tắt đón đầu, tiến thẳng vào công nghệ hiện đại để rútngắn về thời gian và sự chênh lệch trình độ đối với các nước trong khu vực vàtrên thế giới Điều này chỉ thực hiện được khi chúng ta có một nguồn nhân lực cóchất lượng cao, có chiều sâu và tính chiến lược trong phát triển nguồn nhân lựcnước nhà
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểnkinh tế tri thức Đây chính là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiêntiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất laođộng xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tếthị trường định hướng XHCN
Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắnvới phát triển kinh tế tri thức và tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp công
Trang 10nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức đất nước và phát triểnbền vững Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lựclàm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Mặt khác, nguồn nhânlực là yếu tố cơ bản quyết định đến quá trình ứng dụng các thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại vào cuộc sống Cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại đã tạo sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trong tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội; cùng với đó là quá trình toàn cầu hoá đã tạo điều kiện thuận lợi
và cơ hội cho các nước đang phát triển có thể khắc phục sự yếu kém về trình độkhoa học – kỹ thuật của mình thông qua con đường hợp tác, có thể giải quyết cácvấn đề khó khăn như thiếu hụt nguồn vốn dựa trên quan hệ đầu tư, vay vốn vàbằng nhiều hình thức khác Nhưng, có một vấn đề đặc biệt quan trọng mà đểđảm bảo sự phát triển bền vững, các nước phải nhanh chóng giải quyết một cách
có hiệu quả, đó là xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chấtlượng cao Có thể nói, việc xây dựng và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm pháthuy tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo của con người, trước hết và chủ yếu là nỗlực tự thân thông qua nhiều biện của nhà nước để đưa khoa học công nghệu vàocuộc sống một cách nhanh nhất
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò phối hợp, liên kết và khai
thác tối ưu các nguồn lực khác để tạo nên khả năng phát triển của nền kinh tếnước nhà Nguồn nhân lực là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế- xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyếtđịnh việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Giữa nguồnlực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa họccông nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực