1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vi Phạm Hành Chính và Trách Nhiệm Hành Chính trong pháp luật Việt Nam hiện nay

14 478 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 680,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến và thường xuyên trong đời sống xã hội, là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm nhưng vi phạm hành chính gây thiệt hại và đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời. Nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều bộ luật liên quan đến xử lý vi phạm hành chính để xử lý những hành vi vi phạm như : Luật xử lý vi phạm hành chính (2012), Nghị Định 812013 quy định chi tiết về một số điều và biện pháp thi hành xử lý luật hành chính…. Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, đặc biệt là xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm chúng ta cùng đi tìm hiểu rõ hơn về vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính trong pháp luật vi phạm hành chính trong pháp luật Việt Nam hiện nay.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHÂN HIỆU TẠI KON TUM

- -BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài: Vi Phạm Hành Chính và Trách Nhiệm Hành Chính

trong pháp luật Việt Nam hiện nay

Môn: Luật Hành Chính Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Hồng Nhung Sinh viên: Phạm Thị Yến Nhi

Lớp : K915LK2

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

I VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2

1 Khái niệm 2

2 Đặc điểm 2

3 Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính 3

a Mặt khách quan 3

b Mặt chủ quan 3

c Chủ thể 3

d Khách thể 4

4 Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm 4

II TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH 5

1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính 5

a Khái niệm: 5

b Đặc điểm: 5

2 Xử phạt vi phạm hành chính 6

a Khái niệm: 6

b Đặc điểm 6

c Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính : 7

d Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác áp dụng trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính 7

e Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 7

f Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử phạt vi phạm hành chính và những điều có liên quan 10

III THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 10 1 Thực trạng 10

2 Kiến nghị 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

MỞ ĐẦU

Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến và thường xuyên trong đời sống xã hội, là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm nhưng vi phạm hành chính gây thiệt hại và đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời Nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa

lý luận và thực tiễn của vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều bộ luật liên quan đến xử lý vi phạm hành chính để xử lý những hành vi vi phạm như : Luật xử lý vi phạm hành chính (2012), Nghị Định 81/2013 quy định chi tiết

về một số điều và biện pháp thi hành xử lý luật hành chính… Để xác định

rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, đặc biệt

là xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm chúng ta cùng đi tìm hiểu rõ hơn về vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính trong pháp luật vi phạm hành chính trong pháp luật Việt Nam hiện nay

I VI PHẠM HÀNH CHÍNH

1 Khái niệm

Theo quy định tại khoản 1 điều 2 luật xử lý vi phạm hành chính thì vi phạm hành chính được hiểu là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy đinh của pháp luật về quản lý nhà nước

mà không phải là tội phạm và theo quy đinh của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

2 Đặc điểm

- Là loại vi phạm pháp luật hành chính chủ yếu xảy ra trong các lĩnh vực của quản lý nhà nước

- Có tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm hình sự

- Chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính

Trang 4

3 Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính

Như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, vi phạm hành chính được cấu thành bởi bốn yếu tố bao gồm mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

a Mặt khách quan

- Là những hành vi vi phạm pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động

- Không được áp dụng “nguyên tắc suy đoán vi phạm” hoặc “áp dụng pháp luật tương tự” trong việc xác định vi phạm hành chính

- Đa phần mặt khách quan của vi phạm pháp luật hành chính không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả có hại của hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi- hậu quả Nghĩa là chỉ cần tính đến dấu hiệu " hình thức" ( hành động hoặc không hành động" làm căn cứ để áp dụng sử phạt hành chính -Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác Thông thường những yếu tố này có thể là: Thời gian thực hiện hành vi vi phạm, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm, công cụ phương tiện

vi phạm, Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

- Đối với nhiều vi phạm hành chính khác thì hậu quả có hại là dấu hiệu bắt buộc chẳng hạn như: hành vi phá hoại các công trình lịch sử, văn hóa đây là căn cứ giúp cho việc lựa chọn biện pháp tác động thích hợp, đặc biệt trong trường hợp phải bồi thường thiệt hại gây ra

b Mặt chủ quan

- Mặt chủ quan thể hiện ở tính chất có lỗi: đó là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả do hành vi đó gây ra

- Lỗi có 2 dạng:

+ Lỗi cố ý: người vi phạm nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm, mong muốn hay để mặc cho hậu quả xảy ra

+ Lỗi vô ý: người vi phạm không biết hoặc không nhận thức được hậu quả mà đáng lẽ ra phải biết hoặc nhận thức được Hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra nên vẫn vi phạm

c Chủ thể

- Chủ thể là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính

Trang 5

+ Cá nhân chịu trách nhiệm hành chính phải là người có năng lực hành

vi pháp lý hành chính

+ Những người hành động trong tình thế khẩn cấp, phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình sẽ không phải chịu trách nhiệm hành chính

d Khách thể

- Khách thể ở đây là những quan hệ xã hội được PLHC bảo vệ và bị xâm phạm

- Khách thể là yếu tố quan trọng trong việc quyết định tính chất, mức

độ nguy hiểm của hành vi trái PL

- Một số khách thể như: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lí hành chính nhà nước

4 Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm

-Vi phạm hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự

- Trong nhiều trường hợp trên thực tế, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó xác định Vì vậy, nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề này rất dễ xảy ra tình trạng "để lọt tội phạm" hoặc " xử lý oan người vi phạm chưa đến mức phạm tội" Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu

tố này thường được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Căn cứ vào các quy định hiện hành, việc đánh giá mức

độ nguy hiểm của tội phạm và vi phạm hành chính thường dựa vào những căn cứ dưới dây:

+ Mức độ gây thiệt hại cho xã hội : có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa phạm pháp

+ Mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần : Dấu hiệu này cũng có thể giúp chúng ta xác định được ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính Trong Bộ Luật hình sự, nhiều loại tội phạm được nhà làm luật mô tả là “đã

bị xử phạt hành chính” Trong những trường hợp này, nếu chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định được đó là tội phạm hay vi phạm hành chính

mà phải căn cứ vào dấu hiệu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần

+Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm

Trang 6

Ngoài mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vi phạm hành chính

và tội phạm còn phân biệt với nhau ở một số dấu hiệu pháp lý khác:

- Tội phạm là loại vi phạm được quy định trong Bộ Luật hình sự và chỉ có Quốc hội mới có quyền đặt ra các quy định về tội phạm và hình phạt

- Vi phạm hành chính được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như luật, pháp lệnh hoặc nghị định

- Hai loại vi phạm này cũng khác nhau ở yếu tố chủ thể Trong khi chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức, chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự nước ta chỉ có thể là cá nhân

II TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH

1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính

a Khái niệm:

- Trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu Trách nhiệm hành chính còn là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính Để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân nào đó thì cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý để làm căn cứ cho việc truy cứu Về cơ sở thực tiễn thì trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Về cơ sở pháp lý, đó

là những quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến vi phạm pháp luật đó về vấn đề quyền, thủ tục, trình tự để giải quyết các vụ việc đó

- Khái quát chung thì trách nhiệm hành chính chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc các tổ chức cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu

b Đặc điểm:

- Trách nhiệm hành chính là hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính:

+ trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể thực hiện hành

vi vi phạm pháp luật, để tiền hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với một cá nhân tổ chức cần xác định cá nhân tổ chức có vi phạm hành chính hay không, trách nhiệm hành chính không đặt ra đối với các tổ chức cá nhân không vi phạm hành chính

Trang 7

+ Chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài hành chính do người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính quyết định

+ qua đó ta cũng thấy rằng vi phạm hành chính đặt ra trách nhiệm hành chính cho cá nhân và tổ chức còn trách nhiệm hành sự chỉ đặt ra đổi với cá nhân phạm tội mà thôi

- Trách nhiệm hành chính và trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân

vi phạm hành chính nhà nước:

+ Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính do Nhà nước thiết lập nên cá nhân, tổ chức phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Việc thực hiện các biện pháp chế tài của tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính là trách nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải một cá nhân hay một tổ chức nào trong xã hội

- Việc truy cứu trách nhiệm hành chính được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính

+ Khi tiến hành việc truy cứu trách nhiệm hành chính các chủ thể có thẩm quyền bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục do pháp luật đặt

ra, chẳng hạn : người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính phải thực hiện các công việc theo đúng trình tự về thời gian, không gian của sự việc Như vậy mới đảm bảo việc có đầy đủ căn cứ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính với chủ thể vi phạm một cách nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn pháp luật quy định nhưng cẫn đạt hiệu quả cao

2 Xử phạt vi phạm hành chính

a Khái niệm:

- Theo quy định tại khoản 2 điều 2 luật xử lý vi phạm hành chính thì xử

lý vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính

b Đặc điểm

- Xử lý vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của luật

- Xử lý vi phạm hành được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Trang 8

- Xử lý vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về xử lý vi phạm hành chính do các cơ quan có thẩm quyền ban hành

- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhân các hình thức, biện pháp xử phạt đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính

c Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính :

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật

- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định

- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiên kịp thời và bị đình chỉ ngay khi phát hiện Việc tiến hành xử lý phải được tiến hành nhanh chóng, triệt để, mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục theo đúng luật

- Việc xử phạt phải căn cứ vào mức độ tính chất vi phạm , nhân thân người vi phạm những hình thức giảm nhẹ hoặc tăng nặng để đưa ra biện pháp xử lý thích hợp

- Không xử phạt hành chính trong các trường hợp cấp thiết, phòng vệ chính đáng hoặc các chủ thể mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

d Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác áp dụng trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính

- Theo Điều 21 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 , các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

+ Cảnh cáo

+ Phạt tiền;

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+ Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để

vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

+ Trục xuất

e Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Trang 9

- Trong thực tế có nhiều trường hợp một hành vi vi phạm hành chính nhưng có nhiều chức danh cùng có thẩm quyền xử phạt hoặc một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực khác nhau…dẫn đến tình trạng khó xác định được cơ quan nào có thẩm quyền xử phạt Do vậy, pháp luật đã có những quy định điều chỉnh vấn đề này

- Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

“1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định tại các điều từ 38 đến 51 của Luật này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật này đối với chức danh đó Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành thuộc các lĩnh vực quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 23 của Luật này, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành

2 Thẩm quyền phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể

3 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều

từ 39 đến 51 của Luật này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý

Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện

4 Trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:

a) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

Trang 10

b) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt; c) Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”

Điều 5 Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính quy định:

“1 Thẩm quyền phạt tiền của mỗi chức danh phải được quy định cụ thể trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính Đối với nghị định có nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, thì thẩm quyền này phải quy định cụ thể đối với từng lĩnh vực

Trường hợp thẩm quyền phạt tiền của các chức danh quy định tại Điều

38, Điều 39, Điều 40, Điều 41 và Điều 46 Luật xử lý vi phạm hành chính được tính theo tỷ lệ phần trăm mức phạt tiền tối đa của lĩnh vực tương ứng quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thẩm quyền phạt tiền phải được tính thành mức tiền cụ thể để quy định trong nghị định

2 Đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính có hành vi vi phạm hành chính mà mức phạt được xác định theo số lần, giá trị tang vật vi phạm, hàng hóa vi phạm, thì thẩm quyền xử phạt của các chức danh quy định tại Điều 38, Điều 39, Điều

40, Điều 41 và Điều 46 Luật xử lý vi phạm hành chính được xác định theo tỷ

lệ phần trăm mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực đó và phải được tính thành mức tiền cụ thể để quy định trong nghị định

3 Trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính có quy định nhiều chức danh tham gia xử phạt thuộc nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau, thì phải quy định rõ thẩm quyền xử phạt của các chức danh đó đối với từng điều khoản cụ thể

Trong trường hợp nghị định quy định hành vi vi phạm hành chính đặc thù theo quy định tại Khoản 5 Điều 2 của Nghị định này, thì chức danh có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành cũng được xử phạt đối với hành vi có tính chất đặc thù quy định trong nghị định

xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác

4 Văn bản giao quyền quy định tại Điều 54, Khoản 2 Điều 87 và Khoản 2 Điều 123 Luật xử lý vi phạm hành chính phải xác định rõ phạm vi,

Ngày đăng: 26/08/2017, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w