Khi có TALTMC, làm tăng kháng lực trên TMC, làm chuyển hướng dòng máu từ hệ cửa vào hệ chủ mà không qua gan... Hình 1: Giải phẫu tĩnh mạch cửaCƠ CHẾ SINH LÝ BỆNH Theo định luật Ohm, độ c
Trang 1HỘI CHỨNG TĂNG ÁP LỰC TĨNH MẠCH CỬA
MỤC TIÊU
ĐẠI CƯƠNG
Áp lực tĩnh mạch cửa bình thường là 10-15 cm nước, khoảng 7-10 mmHg Áp lực này giảm khi đi vào trong xoang (p=10 cm nước) và sau xoang (p=5 cm nước) Áp lực TMC còn được tính bằng độ chênh áp giữa TMC và TM chủ dưới (portal pressure gradient, PPG) Độ chênh áp này là áp lực mà TMC tưới máu cho gan, bình thường là 1-5 mmHg
TALTMC định nghĩa là khi áp lực TMC lớn hơn 30 cm nước (hơn 15mmHg) hoặc khi PPG ≥ 5mmHg Chỉ khi độ chênh áp lớn hơn 10mmHg mới xảy ra triệu chứng lâm sàng TALTCM dưới lâm sàng khi PPG từ 6-10mmHg
Trên thực hành, áp lực TMC được xác định bằng đo độ chênh áp tĩnh mạch gan (hepatic venous pressure gradient, HVPG) thông qua thông tĩnh mạch gan Bình thường, HVPG = 5 – 6 mmHg TALTMC biểu hiện rõ khi HVPG ≥ 12 mmHg Tuy nhiên khi có tăng áp lực máu trước xoang, HVPG sẽ không phản ánh đúng PPG
SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU
TMC được hợp thành bởi tĩnh mạch mạc treo tràng trên và thân tĩnh mạch lách-mạc treo tràng TMC chia là hai nhánh phải và trái, từng nhánh lại chia thành nhiều nhánh nhỏ, tận cùng là những tiểu tĩnh mạch ở khoảng cửa gian tiểu thùy
Máu của TMC chứa những chất dinh dưỡng hấp thu từ ruột, cùng với máu động mạch gan đổ chung vào một hệ thống mao mạch gọi là xoang Máu từ xoang mang các chất biến dưỡng từ gan, theo tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy đến tĩnh mạch trên gan và cuối cùng đổ vào TM chủ dưới Lưu lượng máu bình thường qua TMC là 1-1,5L/p Khi
có TALTMC, làm tăng kháng lực trên TMC, làm chuyển hướng dòng máu từ hệ cửa vào
hệ chủ mà không qua gan
Trang 2Hình 1: Giải phẫu tĩnh mạch cửa
CƠ CHẾ SINH LÝ BỆNH
Theo định luật Ohm, độ chênh áp giữa TMC và tĩnh mạch chủ dưới(PPG) chịu ảnh hưởng của lưu lượng dòng máu và kháng lực mạch máu trong toàn bộ hệ thống TMC Hệ thống TMC lại thông nối với các TM đường tiêu hóa (như TM mạc treo tràng trên, TM lách, TM mạc treo tràng dưới) và TM chủ dưới Do đó, bất kỳ nguyên nhân nào gây tăng lưu lượng máu đến TMC hoặc tăng kháng lực mạch máu TMC hay cả hai sẽ gây TALTMC
Tăng kháng lực mạch máu hệ TMC
Thường gặp trong những bệnh mạn tính như xơ gan, gây thay đổi cấu trúc mô học của gan (xơ hóa, sẹo, huyết khối, suy cơ trơn mạch máu và suy giảm yếu tố giãn mạch) Ngoài ra, bất cứ nguyên nhân gì gây tăng cản trở dòng máu hệ TMC (huyết khối TMC, huyết khối TM chủ dưới) đều tăng kháng lực mạch máu hệ cửa gây TALTMC
Tăng lưu lượng máu đến TMC
Thường gặp trong lách to, cường lách, dò động-tĩnh mạch có liên quan đến hệ cửa
Trang 3Dù do cơ chế nào đi chăng nữa, khi vòng tuần hoàn hệ TMC bị rối loạn, bất kỳ trong hay ngoài gan đều dẫn đến tuần hoàn bàng hệ nhằm phục hồi dòng máu từ hệ cửa
về hệ chủ Các tuần hoàn này tạo sự thông nối giữa hệ cửa và hệ chủ nên gọi là tuần hoàn bàng hệ cửa-chủ hay shunt cửa – chủ Đây là cơ chế chính dẫn đến các biến chứng về sau của xơ gan
Cơ chế sinh lý bệnh của TALTMC trong xơ gan
Trong xơ gan, ngoài sự thay đổi về hình thái và chức năng của gan dẫn đến tăng kháng lực mạch máu trong gan, còn có các yếu tố khác góp phần
NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân TALTMC chia làm 3 nhóm: trước gan (những nguyên nhân liên quan đến TM lách, mạc treo tràng, TMC), trong gan (bệnh lý gan cấp hay mãn tính), sau gan (liên quan đến dòng máu ra khỏi gan) Xơ gan là nguyên nhân thường gặp nhất của TALTMC Những nguyên nhân còn lại chỉ chiếm khoảng 10%
Trước gan
Lách
Lách to nhiệt đới vô căn, lách to do sốt rét
Tĩnh mạch lách
Tĩnh mạch cửa
Dò động – tĩnh mạch
Lách, ĐM cửa-mạc treo tràng, ĐM cửa – TM cửa, ĐM gan – TM cửa
Trong gan
Trước xoang và tại xoang
Trang 4- Sán gan
- Bệnh lý tăng sinh tủy: xơ tủy, bệnh BC, ung thư hạch
- Ngộ độc (arsenic, đồng, vinyl choride, vitamin A, mercaptopurine, busulfan, chorambucil…)
Sau xoang
Sau gan
TM gan
TM chủ dưới
Tim
LÂM SÀNG
Triệu chứng lâm sàng có khi lặng lẽ hay phát hiện tình cờ khi đi khám do một bệnh gan mãn tính Nhiều khi phát hiện TALTMC khi xảy ra các biến chứng của tình trạng này như xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TM thực quản, mệt mỏi, xanh xao, thiếu máu do cường lách, báng bụng, bệnh não gan… Sau đây là những triệu chứng lâm sàng của TALTMC có thể có
Trang 5Tuần hoàn bàng hệ
Thường thấy ở bụng: là những mạch tĩnh mạch dưới da thành bụng, xuất phát từ rốn, tỏa như hình nan hoa, gọi là tuần hoàn bàng hệ cửa chủ Cần phân biệt với tuần hoàn bàng hệ kiểu chủ dưới hay kiểu chủ trên sẽ xuất hiện khi có sự tắc nghẽn ở TM chủ nhưng vị trí hai bên hông
Hội chứng Cruveilhier-Baumgarten
Khi áp lực quá cao, tĩnh mạch vùng quanh rốn nổi to tạo hình đầu sứa (carput medusa), đôi khi nghe có âm thổi hay sờ thấy rung miêu ở vùng rốn hay quanh rốn Đôi khi chỉ phát hiện dấu hiệu này khi BN ngồi làm căng cơ thành bụng Nếu không có tuần hoàn bàng hệ cũng không loại TALTMC
Trang 6Giãn tĩnh mạch thực quản và tâm-phình vị
Dù có bị giãn nhiều, các TM thực quản dãn không bao giờ gây khó nuốt, chỉ được phát hiện khi soi thực quản bằng ống mềm hay chụp X quang thực quản có cản quang (nay ít làm)
Biến chứng nguy hiểm nhất là gây vỡ gây xuất huyết tiêu hóa, biểu hiện là nôn ra máu tươi ồ ạt hay đi cầu phân đen lượng nhiều Tiên lượng nặng và dễ tái phát
Trang 7Hình: Phân độ dãn TMTQ theo kích thước
Trang 8Hình: Dãn TM phình vị
Hình: Dãn TM trĩ
Bệnh dạ dày do TALTMC
TALTMC gây ứ huyết dạ dày Tương tự ở niêm mạc đại tràng cũng có hình ảnh thay đổi do tăng áp cửa giống hình ảnh sao mạch trên da Tổn thương niêm mạc gây xuất huyết ồ ạt, rỉ rả hay chỉ có máu ẩn trong phân
Trang 9Hình: Bệnh dạ dày do TALTMC các mức độ từ (a) nhẹ, (b) trung bình đến (c) nặng
Hình: Bệnh đại tràng do TALTMC
Trĩ
Các TM trĩ là sự thông nối sinh lý giữa hệ cửa- chủ Các TM trĩ thường gặp trong TALTMC nhưng rất ít khi gây xuất huyết Cần thăm trực tràng hoặc nội soi hậu môn để phát hiện Khi không có trĩ cũng không thể loại trừ TALTMC
Giãn TM nơi khác
Rất hiếm khi không có giãn TM ở thực quản và tâm phình vị mà không bị dãn TM
ở đại-trực tràng hoặc ở phúc mạc Ngoài ra, còn có các giãn tĩnh mạch ở vùng quanh thực quản, có thể biểu hiện trên X quang ngực như một hình cản quang ở trung thất hay hình ảnh giả u
Trang 10Báng bụng
Dịch báng thường là dịch thấm Trong hội chứng Budd-Chiari, dịch báng lại có nhiều protein như dịch tiết Trong TALTMC do tắc nghẽn trước xoang và ngoài gan sẽ không có báng bụng
Lách to
Diển tiến từ từ Lách to, bờ hình răng cưa, mật độ chắc Kích thước lách không tương ứng với ALTMC
Là triệu chứng quan trọng trong chẩn đoán TALTMC, nếu không sờ thấy lách trên lâm sàng thì có thể phát hiện trên siêu âm, chứ chưa kết luận vội là lách không to Sau khi
bị xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, lách có thể nhỏ lại tạm thời Lách
to thường kèm theo hội chứng cường lách: thiếu máu, giảm bạch cầu và tiểu cầu Trường hợp lách to nguyên phát, TALTMC là do tăng lưu lượng máu qua TMC
Trang 11Có thể to, nhỏ hay bình thường Kích thước gan cũng không tương ứng với mức
độ tăng áp cửa Gan to, mật độ mềm gợi ý đến nguyên nhân tắc nghẽn sau gan như hội chứng Budd-Chiari Mật độ gan chắc cứng gợi ý xơ gan Gan bình thường trong TALTMC do tắc nghẽn trước gan
CẬN LÂM SÀNG
Hình ảnh học
X quang thực quản
Muốn thấy hình ảnh giãn tĩnh mạch phải chụp thực quản với lớp baryt dày, thấy nhiều hình khuyết tròn nối tiếp nhay, tập trung 1/3 dưới thực quản Hiện nay ít dùng phương pháp này đển chẩn đoán dãn tĩnh mạch thực quản
Nội soi thực quản – dạ dày
Rất thông dụng trong chẩn đoán dãn tĩnh mạch thực quản Khi nội soi, các TM dãn rất dễ phát hiện, trông giống như những sợi thừng màu xanh tím, niêm mạc thực quản trớn láng, thành thực quản mềm mại Người ta chia dãn TM thực quản làm 3 độ:
xen kẽ giữa các TM dãn Các TM này không xẹp khi bơm hơi
thực quản bình thường
Nếu trên thực quản có những dấu son, chứng tỏ có thể sắp chảy máu
Siêu âm qua nội soi
Giúp khảo sát các giãn TM thực quản và đánh giá áp lực của TM giãn, đồng thời khảo sát tốt các vùng đuôi tụy, hậu cung mạc nối
Siêu âm
Khi đường kính của TMC lớn hơn 12mm là dấu hiệu gián tiếp có TALTMC Ngoài
ra có thể thấy được TM rốn, TM mạc treo tràng trên, TM lách, các tuần hoàn bàng hệ hay phát hiện các thương tổn gây tắc nghẽn TMC như huyết khối, u vùng lân cận chèn ép TMC Siêu âm còn giúp đánh giá tình trạng gan, lách và báng bụng…
Trang 12Siêu âm Doppler
Chẩn đoán tắc nghẽn TMC tương đương với chụp mạch máu
CT scan
CT có thể tái lập cấu trúc mạch máu khá chính xác
MRI: mô tả hình ảnh mạch máu chính xác
Nội soi ổ bụng
Từ khi có siêu âm, nội soi ổ bụng ít được thực hiện
Chụp mạch máu tạng và chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA)
Với nhưng catheter ngày càng hiện đại, thủ thuật chụp mạch máu ngày càng an toàn hơn và được sử dụng rộng rãi
Đo áp lực TMC
Phương pháp đo trực tiếp
Hiện nay ít được sử dụng do không an toàn và xâm lấn cao
Phương pháp đo gián tiếp bằng thông TM trên gan
Thường được dùng để khảo sát TALTMC Đưa một catheter vào TM ngoại biên , rồi đẩy đến TM chủ trên, vào buồng tim phải, TM chủ dưới, sau đó là TM trên gan Các thông số đo được là
Đo lưu lượng máu qua gan
Bằng phương pháp thanh thải hay pha loãng chất đánh dấu
Đo lưu lượng máu TM đơn
Đo áp lực giãn TM
Thông qua nội soi thực quản