Vì thế chúng tôi đã chọn đề tài: “Tham gia TPP: Cơ hội và thách thức trong việc xuất khẩu tôm ở Việt Nam” nhằm làm rõ những cơ hội và thách thức mà Việt Nam gặp phải đối với ngành xuất k
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài: Tham gia TPP - Cơ hội và thách thức trong việc xuất khẩu
tôm ở Việt Nam
Các thành viên:
STT: 81 STT: 84 STT: 90 STT: 101 STT: 112 STT: 137
Trang 2Lời mở đầu
Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) - một hiệp định thúc đẩy tham vọng với tiểu chuẩn cao hơn,với việc
mở rộng một khu vực năng động hơn và toàn diện hơn Với cam kết mở cửa thị trường mạnh và tham gia sâu của các bên, loại bỏ hoàn toàn nhiều dòng thuế nhập khẩu, mở cửa dịch vụ và các yêu cầu cao về môi trường năng động, mở ra nhiều cơ hội mới cho các nước Có thể nói việc hội nhập kinh tế
sẽ tác động trực tiếp đến lĩnh vực thương mại hàng hóa Các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam và ngược lại Như chúng
ta đã biết, thủy sản là một trong những lĩnh vực xuất khẩu mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh nhất và có thể nói một trong những mặt hang chủ lực chính là tôm Tuy nhiên, gia nhập vào “sân chơi thế giới” mới như TPP, các doanh nghiệp cần đáp ứng rất nhiều yêu cầu khắt khe để có thể nhập khẩu tôm sang các nước bạn Bên cạnh nhiều triển vọng mà TPP mang lại,ngành xuất khẩu tôm như thị trường và cơ hội, Việt Nam cũng gặp nhiều thách thức đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi cẩn trọng Vì thế chúng
tôi đã chọn đề tài: “Tham gia TPP: Cơ hội và thách thức trong việc xuất
khẩu tôm ở Việt Nam” nhằm làm rõ những cơ hội và thách thức mà Việt
Nam gặp phải đối với ngành xuất khẩu tôm sang các nước khác sau khi ký kết hiệp định TPP Không những thế chúng tôi cũng đề ra những định hướng
để phát triển mạnh hơn về ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam thong qua việc ký hiệp định TPP Tiểu luận này chỉ trình bày một cách sơ lược nhất những cơ hội và thách thức trong việc xuất khẩu tôm ở Việt Nam sau khi tham gia Hiệp định TPP Tiểu luận được hình thành từ những tài liệu, những thông tin được tìm trên mạng và còn mang nhiều tính chủ quan, rất mong được cô góp ý để chúng tôi rút kinh nghiệm cho các bài sau Bài tiểu luận gồm 5 phần:
Phần I: Vài nét về Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP Phần II: Tình hình xuất khẩu tôm trước khi gia nhập TPP
Phần III: Cơ hội ngành tôm sau khi gia nhập TPP
Phần IV: Thách thức ngành tôm sau khi gia nhập TPP
Phần V : Một số định hướng phát triển
Trang 3I/ Vài nét về Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP
1/ Lịch sử hình thành:
Hiệp định TPP, tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, là Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình
Dương Ban đầu Hiệp định chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4 Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chi-lê, Niu Di-lân và Xinh-ga-po (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 được tổ chức tại Mê-hi-cô Tháng 4 năm 2005, Bru-nei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4 Đây là Hiệp định mang tính "mở" Tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm Xinh-ga-po đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như một công cụ để hiện thực hóa ý tưởng về Khu vực Mậu dịch Tự do Châu Á - Thái Bình Dương của APEC (FTAAP)
2/ Các nội dung chính của Hiệp định TPP – P4:
Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký
2 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 2 năm
kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (từ tháng 3 năm 2008) Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực Về dịch
vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ Theo đó, các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục loại trừ
3/ Hiệp định TPP mở rộng và sự tham gia của Việt Nam:
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP Tiếp theo đó, tháng 11 năm 2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP Tại buổi họp báo công
bố việc tham gia của Úc và Pê-ru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán
để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Xinh-ga-po đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia TPP - P4 Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này
Trang 4Tuy nhiên, đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với
tư cách thành viên liên kết Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP Trước đó, tháng 10 năm 2010, Ma-lai-xia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước
4/
Tóm tắt cam kết về Trợ cấp Thủy sản trong TPP:
Các nội dung về trợ cấp đánh bắt tự nhiên, chống thương mại trái phép hải sản đánh bắt từ tự nhiên là một trong những nội dung quan trọng của Chương Môi trường – Hiệp định TPP Tuy nhiên, do cùng thống nhất một quan điểm chung là hướng tới xây dựng một Hiệp định Thương mại tự
do có trách nhiệm với các mối quan tâm chung và đảm bảo sự phát triển bền vững, đồng thời dỡ bỏ các yếu tố phi công bằng, bóp méo thương mại hải sản trong khu vực và trên thế giới, các nước TPP đã đưa ra các cam kết quan trọng như sau:
1. Xóa bỏ trợ cấp cho hoạt động đánh bắt mà hoạt động đó được xác định là gây ra tác động xấu tới nguồn lợi hải sản đã trong tình trạng bị đánh bắt quá mức; Và xóa bỏ mọi hình thức trợ cấp cho các tàu đánh bắt bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo
2. Cam kết minh bạch hóa mọi chính sách và dữ liệu có liên quan đến các chương trình trợ cấp đánh bắt
3. Cam kết thực hiện các biện pháp quốc gia cảng biển và quốc gia tàu treo cờ cũng như các kế hoạch hành động chống đánh bắt bất hợp pháp của các tổ chức nghề cá khu vực và quốc tế nhằm ứng phó và giải quyết vấn nạn đánh bắt bất hợp pháp và hành vi thương mại các sản phẩm đó Để thực thi các cam kết liên quan đến xóa bỏ trợ cấp như nêu ở mục 1, các nước có thời gian 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với từng Bên để hài hòa hóa mọi chính sách liên quan Riêng Việt Nam sẽ được gia hạn thêm 2 năm nếu có cơ sở thể hiện sự cần thiết phải có thêm thời gian chuyển tiếp Việt Nam tin tưởng rằng với môi trường pháp lý tiến bộ hiện nay, cùng với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết là điều kiện, hoàn cảnh tốt để Việt Nam thực thi các cam kết tiêu chuẩn cao của Hiệp định TPP
Trang 5Phần II: Tình hình xuất khẩu tôm trước khi gia nhập TPP:
1/ Năm 2014:
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), mặt hàng tôm luôn giữ ngôi vị quán quân trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam Đến hết tháng 8, giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái Nhu cầu đặt hàng tôm tăng tại thị trường Mỹ đã đẩy giá tôm tại Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam tăng lên trong nhiều tháng qua
Phó chủ tịch VASEP, ông Nguyễn Hữu Dũng, cho biết hội chứng tôm chết sớm (EMS) trên thế giới vẫn chưa có tín hiệu được kiểm soát tốt, nguồn cung tôm trên thị trường thế giới vẫn chậm được cải thiện Thêm vào đó,việc
Bộ Thương mại Mỹ áp mức thuế chống bán phá giá lên sản phẩm tôm Việt Nam quá cao và bất hợp lý vừa qua, đang gây những khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Vì thế, trong tình hình cân đối cung cầu của tôm trên thế giới đang thuận cho người nuôi và nhà chế biến xuất khẩu thì việc tìm kiếm, mở rộng thị trường là cơ hội cho các doanh nghiệp cần phải làm ngay Do có sự chuyển hướng thị trường nên xuất khẩu tôm sang các thị trường khác đều tăng trưởng vượt bậc trong năm 2014 Xuất khẩu tôm sang Hàn Quốc tăng tới 115% so với cùng kỳ năm 2013, là thị trường nhập tôm lớn thứ năm của Việt Nam Đồng thời, hiện Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp tôm lớn nhất cho Xứ sở Kim chi
2/ Năm 2015:
Xuất khẩu tôm Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay vẫn theo xu hướng giảm do khó khăn từ các thị trường nhập khẩu chính, giá xuất khẩu giảm và cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà cung cấp đối thủ Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tổng xuất khẩu tôm của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay đạt 2,5 tỷ USD; giảm 26,7% so với cùng kỳ năm 2014 Xuất khẩu tôm sang top 3 thị trường chính đều giảm mạnh như sang Mỹ giảm 41%, sang Nhật Bản giảm 20,8%, sang EU giảm 19,7% so với cùng kỳ năm ngoái Trong bức tranh xuất khẩu tôm sang các khối thị trường chính đều giảm, xuất khẩu sang một số thị trường đơn lẻ lại tăng so với cùng kỳ 2014 như Anh (+11,1%), Hồng Kông (+3%), và Malaysia (+17,8%)
Trang 6Tôm sú và tôm chân trắng nguyên liệu đông lạnh vẫn là sản phẩm xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng xuất khẩu tôm Việt Nam Tôm biển được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng chế biến khác 10 tháng đầu năm
2015, tỷ trọng tôm chân trắng tương đương với cùng kỳ năm ngoái trong khi
tỷ trọng tôm sú giảm 2,2% Đáng chú ý, tỷ trọng tôm biển tăng 2,3% Có thể thấy, thị trường thế giới vẫn duy trì nhu cầu cao đối với tôm chân trắng
Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu tôm số một của Việt Nam, tuy nhiên trong
cơ cấu thị trường nhập khẩu tôm của Việt Nam 10 tháng đầu năm nay, tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này đã giảm 5,3% so với cùng kỳ năm 2014 xuống còn 21,8% Nhật Bản và EU lần lượt giữ vị trí số 2 và 3 với tỷ trọng đều tăng thêm 1,5% lên 19,8% và 1,7% lên 19% XK tôm của Việt Nam sang Mỹ những tháng cuối năm dự kiến sẽ khởi sắc nhờ những tín hiệu tích cực từ kết quả thuế chống bán phá giá POR9 và việc kết thúc đàm phán hiệp định TPP Theo số liệu của ITC, tổng nhập khẩu tôm của Nhật Bản 9 tháng đầu năm nay đạt gần 1,6 tỷ USD; giảm 15,7% so với cùng kỳ năm
2014 Việt Nam vẫn duy trì vị trí số một về cung cấp tôm cho Nhật Bản với sản phẩm chiếm ưu thế là tôm sú cỡ lớn và các sản phẩm GTGT Giá trị xuất khẩu tôm sang EU trong tháng 10/2015 đạt cao nhất so với các tháng kể từ đầu năm tới nay với trên 63 triệu USD, tăng 12,9% so với tháng 9/2015 Lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 466,5 triệu USD, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm 2014 Nguồn cung tôm của các nhà sản xuất chính trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Ecuador, Trung Quốc có xu hướng giảm do dịch bệnh bùng phát Theo đó, giá tôm thế giới có xu hướng “ấm lên” Bên cạnh đó, giá đồng nội tệ của các nước nhập khẩu lớn như: EUR, USD, yên Nhật… hiện nay đã ổn định hơn nên việc xuất, nhập hàng cũng tốt hơn
Phần III: Cơ hội ngành tôm sau khi gia nhập TPP:
1/ Lợi ích về thuế quan:
Lợi ích này được suy đoán là sẽ có được khi hàng hóa Việt Nam được tiếp cận các thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0 Như vậy lợi ích này chỉ thực tế nếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuế quan cao ở các thị trường này và thuế quan là vấn đề duy nhất cản trở sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường này
Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp như vậy sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, trong đó là xuất khẩu tôm của Việt Nam kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu Lợi ích này có ý nghĩa to lớn với mặt
Trang 7hàng tôm xuất khẩu Tôm là một trong những mặt hàng xuất khẩu đón vai trò quan trọng trong nên kinh tế của Việt Nam Mặt hàng tôm khi xuất khẩu được hưởng lợi ích từ thuế suất là 0% thì sẽ tiết kiệm được chi phí cho nhà sản xuất, thúc đẩy sản xuất Một cách khác, lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năng trong tương lai Sau đây là một số cam kết của các nước trong việc xoá bỏ và miễn giảm thuế trong sản xuất tôm của Việt Nam:
Cam kết của Hoa Kỳ: Thủy sản và tôm: Xóa bỏ ngay hoặc vào năm thứ 3
kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
Cam kết của Nhật Bản: Nhiều mặt hàng ưu tiên của Việt Nam được rút
ngắn đáng kể lộ trình so với cam kết tại Hiệp định FTA Việt Nam – Nhật Bản như đa số mặt hàng thủy sản trong đó có tôm có thế mạnh của VN được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực Trong 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam vẫn giữ vị trí là nước XK tôm lớn nhất vào Nhật Bản với giá trị 252,9 triệu USD
Cam kết của Mexico: Tôm đông lạnh xóa bỏ vào năm thứ 13; Tôm chế
biến xóa bỏ vào năm thứ 12Trên thực tế, năm 2014, giá bình quân của tôm Việt Nam XK sang Nhật Bản là 13,7 USD/kg, trong khi giá tôm của Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia chỉ từ 10,3-13,2 USD/kg 6 tháng đầu năm nay, giá tôm đông lạnh của Việt Nam vẫn cao hơn 1 chút so với Indonesia, còn giá tôm chế biến thì tương đương với Thái Lan Chính vì vậy, khi thuế NK tôm Việt Nam vào Nhật Bản được bãi bỏ theo TPP, chắc chắn giá tôm Việt Nam sẽ trở nên cạnh tranh hơn so với các đối thủ chính nói trên
2/ Lợi ích tiếp cận thị trường:
Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản, Canada kết hợp với các cam kết rõ ràng hơn về cải thiện môi trường đầu tư cho các nhà sản xuất tôm và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chắc chắn sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nhất là các tập đoàn lớn
Trang 8Xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ nhiều hơn nhập khẩu Hơn thế nữa tổng mậu dịch của Việt Nam dự kiến cho đến năm 2020 sẽ tăng mạnh Trong khi đó tôm lại là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nếu biết tận dụng thời cơ này Việt Nam sẽ hưởng lợi lớn từ sóng đầu tư mới Việt nam có cơ hội về biển vậy nên càng có cơ hội lớn trong việc cạnh tranh sản xuất mặt hàng tôm với các nước trong khu vực Qua đó tạo ra nhiều công ăn việc làm hình thành năng lực sản xuất mới để tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu do TPP đem lại Không chỉ tại thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada
mà một số các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với các quốc gia nhập khẩu thủy sản tiềm năng đã được ký kết như Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu sẽ là cơ hội thuận lợi cho xuất khẩu tôm
3/ Các hàng rào tại biên giới:
Đây là các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm SPS, ở các hàng rào
kỹ thuật TBT (yêu cầu về bao gói, ghi nhãn, vận chuyển….) hoặc ở các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp…) Trở ngại lớn nhất đối với XK thủy sản Việt Nam sang Mỹ từ nhiều năm nay không phải là thuế NK mà là thuế chống bán phá giá với tôm và cá tra, vụ kiện chống trợ cấp, chương trình giám sát cá da trơn của Bộ NN Mỹ Nhưng theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, khi TPP có hiệu lực, sẽ
mở ra cơ hội để Việt Nam giải quyết các tranh chấp nói trên với Mỹ một cách bình đẳng hơn Đúng như vậy, đàm phán TPP đã khiến cho Hoa Kỳ có những biểu hiện nhượng bộ rất tích cực trong các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với thủy sản Việt Nam gần đây Đã có những hy vọng rằng thủy sản Việt Nam có thể bỏ gánh lo phòng vệ thương mại cũng như rào cản SPS, TBT ở thị trường Hoa Kỳ khi TPP hoàn thành đàm phán và đi vào thực thi Tuy nhiên để đẩy mạnh xuất khẩu tôm và lợi dụng được hết cơ hội từ TPP thì doanh nghiệp xuất khẩu cần thực hiện nghiêm ngặt quy định
về an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu
Phần IV: Thách thức ngành tôm sau khi gia nhập TPP:
1/ Phải cạnh tranh bằng giá:
Ông Trần Văn Lĩnh, Phó Chủ tịch VASEP cho rằng, thách thức có thể còn nhiều hơn cả cơ hội Trong đó có những khó khăn, thách thức tồn tại lâu nay trong ngành thủy sản mà có thể khiến cho những cơ hội có được từ TPP trở nên không có mấy giá trị
Trang 9Bên cạnh mối lo giá giảm và tác động của TPP, tồn dư lượng thuốc kháng sinh trong sản phẩm cũng là mối quan tâm lớn của nhà xuất khẩu tôm Việt Nam Tại hội chợ quốc tế VietFish ở TPHCM mới đây, nhiều nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho rằng TPP sẽ buộc người nuôi tôm phải từ bỏ việc sử dụng thuốc kháng sinh, tuân thủ quy tắc về nguồn gốc xuất xứ, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và lao động Tất cả những yêu cầu này sẽ làm giá thành sản phẩm bị đội lên cao, trong lúc giá thị trường đang trong xu hướng đi xuống, đặt người nuôi tôm và chế biến xuất khẩu trước một tình huống tiến thoái lưỡng nan Ông Trần Văn Lĩnh còn lo ngại thiếu nguồn tôm nguyên liệu để chế biến xuất khẩu Do sản lượng tôm nuôi của Việt Nam không đủ cung ứng cho các nhà máy nên Việt Nam phải nhập khẩu tôm từ
Ấn Độ về chế biến rồi xuất khẩu Với hiệp định TPP, hoạt động này không còn tiếp tục được nữa vì Ấn Độ không phải là thành viên TPP; chế biến tôm nhập khẩu từ Ấn Độ sẽ khiến nhà xuất khẩu Việt Nam không đáp ứng được quy tắc xuất xứ và do vậy có thể bị mất ưu đãi về thuế quan khi xuất hàng vào Mỹ Còn tăng nhanh sản lượng tôm nuôi của Việt Nam là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và vốn liếng, không thể triển khai ngay được, chưa kể rằng làm ra con tôm với giá thấp hơn giá tôm Ấn Độ - nước xuất khẩu tôm lớn nhất vào thị trường Mỹ - cũng là một bài toán không dễ có lời giải Nhiều người cho rằng lợi thế gia nhập TPP sẽ giúp thủy sản Việt Nam cạnh tranh với các mặt hàng giá rẻ hơn, nhưng rõ ràng nếu không tìm cách hạ giá thành sản phẩm thì các mặt hàng thủy sản Việt Nam cũng khó phát huy được những lợi thế khi TPP được ký kết và thực thi Mặt khác, khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, chắc chắn các nước TPP sẽ dựng lên những hàng rào phi thuế quan nhằm bảo hộ sản xuất thủy sản trong nước như yêu cầu về ATTP ngày càng khắt khe hơn, những rào cản như thuế CBPG, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng sinh đang và sẽ được tăng cường áp dụng, hay kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, Đây chính là những trở ngại lớn nhất đối với xuất khẩu của thủy sản Việt Nam trong những năm qua, nhất là vào những thị trường lớn hiện đã tham gia TPP như
Mỹ, Nhật Bản, Úc
2/ Đề phòng các vụ kiện:
Mặt khác, trở ngại lớn nhất đối với xuất khẩu thủy sản Việt nam sang
Mỹ từ nhiều năm nay không phải là thuế Nhập Khẩu mà là thuế chống bán phá giá với tôm và cá tra, vụ kiện chống trợ cấp, chương trình giám sát cá da trơn của Bộ NN Mỹ Điều này cho thấy việc vào TPP không có nghĩa là thủy sản Việt Nam thoát được những vụ kiện chống bán phá giá và chủ trương bảo hộ sản xuất của các nước
Trang 10Theo các chuyên gia của Trung tâm WTO (Phòng Thương mại và Công nghiẹp Việt Nam), đàm phán TPP hoàn toàn không tác động đến kết quả các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp ở Mỹ đối với thủy sản Việt Nam Nhưng theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư kí VASEP, khi TPP có hiệu lực, sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam giải quyết các tranh chấp nói trên với
Mỹ một cách bình đẳng hơn
Theo tính toán, việc thực hiện TPP sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến ngành đánh bắt nuôi trồng và chế biến thủy sản tại một số nước, đặc biệt là
Mỹ Trước dư luận và những ý kiến lo ngại của nông dân nước này, phát ngôn viên của Đại diện Thương mại Mỹ khẳng định rằng: TPP bao gồm những điều khoản cứng rắn hơn về hải quan, nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, giúp Mỹ nhận diện những nguy cơ an toàn thực phẩm trước khi hàng hóa cập cảng tại Mỹ
Rõ ràng, việc gia nhập TPP giúp ngành thủy sản Việt Nam tránh được hàng rào thuế quan nhập khẩu, nhưng có thể sẽ phải đương đầu với những chính sách bảo hộ thắt chặt hàng hóa nhập khẩu bằng những “hàng rào mềm” như vấn đề thuốc kháng sinh, chất lượng, nguồn gốc và chống bán phá giá ngày càng khắt khe và quyết liệt từ các nước TPP
Phần V: Một số định hướng phát triển cho xuất khẩu tôm Việt Nam khi tham gia TPP:
Gia nhập TPP, Việt Nam có nhiều cơ hội cũng như thử thách Sau khi phân tích, đánh giá các cơ hội và thách thức mà ngành xuất khẩu tôm phải đối mặt khi Việt Nam tham gia TPP , chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp riêng nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức cho ngành xuất khẩu tôm Việt Nam
1/ Không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng tôm xuất khẩu:
Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ mạnh như Ấn Độ, Malaysia, các mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam cần có sự đảm bảo về
cả chất lượng và sản lượng, đáp ứng được yêu cầu của từng thị trường, đặc biệt là các thị trường khó tính như Mỹ và Nhật Bản
• Về nâng cao chất lượng:
Để tránh những chi phí, thiệt hại không đáng có (phát sinh từ việc bị từ chối nhập hàng, việc kiểm tra dư lượng kháng sinh trong tôm) và những ấn tượng xấu về hình ảnh tôm Việt Nam xuất khẩu trong mắt các bạn hàng nước