Theo định hướng phát triển du lịch Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020 của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Đồng Nai là quy hoạch, triển khai, xúc tiến, thu hút đầu tư cho ngành du lịch tỉ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn nghiên cứu sau đây là do bản thân tôi thực hiện
Cơ sở lý luận là tham khảo từ các tài liệu thu thập được từ sách, báo, các nghiên cứu đã được nêu trong phần tài liệu tham khảo Dữ liệu phân tích trong luận văn là thông tin sơ cấp thu thập thông qua khảo thực địa, khảo sát du khách và người dân địa phương tại núi Chứa Chan, Tỉnh Đồng Nai
Tôi cam đoan đề tài này không hề sao chép từ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 2- Ban giám đốc Sở Văn Hóa Thể thao Du lịch tỉnh Đồng Nai, Uỷ Ban Nhân dân Huyện Xuân Lộc và Ban Quản lý di tích lịch sử danh thắng Núi Chứa Chan đã hỗ trợ tinh thần, tạo điều kiện về thời gian, cung cấp số liệu cần thiết cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
- Cảm ơn các bạn bè, học viên, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu để phân tích
- Và cuối cùng, cảm ơn gia đình đã động viên, ủng hộ tinh thần và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn kịp thời hạn quy định
Chân thành cảm ơn tất cả !
Học viên: Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Đồng Nai
Hình 1.2 Bản đồ địa lý huyện Xuân Lộc
Hình 2.1 Toàn cảnh núi Chứa Chan
Hình 2.2 Vườn trà Bảo Đại
Hình 2.3 Chà vá chân đen
Hình 2.4 Cây đa ba gốc
Hình 2.5 Chùa Bửu Quang
Hình 2.6 Chùa Linh Sơn
Hình 2.7 Chùa Lâm Sơn
Hình 2.8.Mật khu Hầm hinh
Hình 2.9 Cáp treo núi Chứa Chan
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Lượt khách đến núi Chứa Chan giai đoạn 2014-2016 Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch núi Chứa Chan giai đoạn 2014-2016
Trang 7MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 11
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 13
3 Mục tiêu nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Phương pháp nghiên cứu 16
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 16
5.2 Phương pháp phân tích số liệu 16
5.3 Phương pháp chọn mẫu 17
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 17
7 Đóng góp của luận văn 18
8 Cấu trúc của đề tài 19
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm liên quan 20
Trang 81.1.1 Khái niệm du lịch 21
1.1.2 Khái niệm khách du lịch 22
1.1.3 Dịch vụ du lịch: 23
1.1.4 Khái niệm du lịch sinh thái 23
1.1.5 Khái niệm du lịch bền vững 24
1.1.6 Khái niệm du lịch cộng đồng 24
1.1.7 Khái niệm du lịch văn hóa tâm linh 25
1.1.8 Khái niệm tài nguyên du lịch 26
1.1.8.1 Tài nguyên thiên nhiên bao gồm 27
1.1.8.2 Tài nguyên nhân văn 28
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 28
1.2.1 Môi trường vĩ mô 28
1.2.1.1 Yếu tố kinh tế 29
1.2.1.2 Yếu tố chính trị và chính phủ 30
1.2.1.3 Yếu tố văn hoá – xã hội 30
1.2.1.4 Yếu tố tự nhiên 30
1.2.1.5 Yếu tố kỹ thuật – công nghệ 30
1.2.2 Môi trường vi mô 31
1.2.2.1 Các đối thủ cạnh tranh 31
1.2.2.2 Khách hàng 31
1.2.2.3 Đối thủ tiềm ẩn 32
1.3 Tổng quan về khu du lịch núi Chứa Chan 34
1.3.1 Tên gọi núi Chứa Chan 34
1.3.2 Vị trí địa lý 35
1.3.2.1 Huyện Xuân Lộc 35
Trang 91.3.2 Điều kiện tự nhiên 37
1.3.3 Điều kiện văn hóa – lịch sử 37
1.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
Chương 2: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ THỰC TRẠNG KINH DOANH DU LỊCH TẠI NÚI CHỨA CHAN 42
2.1 Hoạt động du lịch 42
2.1.1 Du lịch sinh thái 43
2.1.1.1 Địa hình cảnh quan 43
2.1.1.2 Khí hậu 44
2.1.1.3 Thủy văn 45
2.1.1.4 Sinh vật 46
2.1.2 Du lịch văn hóa 47
2.1.2.1 Du lịch tâm linh 47
2.1.2.2 Di tích lịch sử 54
2.1.2.3 Văn hóa tộc người 48
2.1.2.4 Lễ hội 57
2.1.2.5 Nghề truyền thống 58
2.2 Thực trạng kinh doanh du lịch tại núi Chứa Chan 58
2.2.1 Cơ sở vật chất- hạ tầng 59
2.2.2 Quản lý hoạt động du lịch tại núi Chứa Chan 63
2.2.2.1 Nguồn nhân lực phục vụ cho ngành du lịch 63
2.2.2.2 Khách du lịch 64
2.2.2.3 Doanh thu du lịch 65
2.2.3 Sự tham gia của cộng đồng địa phương 67
2.2.3.1 Cộng đồng địa phương đối với du lịch 67
Trang 102.2.3.2 Du khách đối với cộng đồng địa phương 68
2.3 Phân tích hoạt động du lịch tại núi Chứa Chan thông qua khảo sát 69
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH NÚI CHỨA CHAN 71
3.1 Nhận diện điểm mạnh điểm yếu, thách thức và cơ hội trong hoạt động du lịch núi Chứa Chan 71
3.2 Dự báo sự phát triển 73
3.3 Giải pháp nhằm phát triển du lịch núi Chứa Chan 76
3.3.1 Phát huy vai trò của cơ quan quản lý trong việc xây dựng văn hóa du lịch 76
3.3.2 Trùng tu, tôn tạo di tích, chống lấn chiếm di tích 77
3.3.3 Kêu gọi sự tham gia của cộng đồng địa phương nâng cao chuỗi giá trị cho việc phát triển du lịch 79
3.3.4 Quản lý các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo trong phạm vi di tích 80
3.3.5 Đầu tư qui hoạch xây dựng, sữa chữa về hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng 82
3.3.6 Quản lý và phát triển các hoạt động du lịch bền vững tại di tích 83
3.3.7 Bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững 84
3.3.8 Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch 85
3.3.9 Khôi phục và hình thành làng nghề thủ công truyền thống dân tộc 86
3.3.10 Xây dựng Nhà trưng bày bổ sung di tích 87
3.3.11 Tuyên truyền phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của di tích 87
3.3.12 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 88
3.3.13 Giải pháp về vốn và đầu tư 90
3.4 Một số kiến nghị 91
3.4.1 Kiến nghị với sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Đồng Nai 91
3.4.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 92
Trang 113.4.3 Kiến nghị với những người làm du lịch 93 KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Toàn cầu hóa kinh tế là xu hướng tất yếu đang diễn ra trên thế giới, chi phối tất cả các nền kinh tế của các quốc gia Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã đặt các doanh nghiệp trong nước đứng trước rất nhiều cơ hội và cả những thách thức lớn lao Về phương diện du lịch, nhân tố này có ý nghĩa là sẽ làm tăng lượng du khách vào Việt Nam Ngành
du lịch Việt Nam đang và sẽ là một ngành kinh tế mũi nhọn và tạo nền tảng vững chắc cho các ngành kinh tế khác và góp phần phát triển đất nước
Xu hướng quốc tế hóa giữa các dân tộc trên thế giới dẫn đến việc giao lưu văn hóa, tìm kiếm tri thức về các nền văn minh trên các miền đất lạ đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người Du lịch không chỉ là việc nghỉ ngơi, vui chơi giải trí đơn thuần mà thông qua du lịch con người còn bổ sung thêm tri thức, làm phong phú thêm đời sống tinh thần Vì vậy việc khai thái những tiềm năng, thế mạnh các giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên của một vùng đất để phục vụ việc phát triển du lịch là điều vô cùng quan trọng và là một việc làm cần thiết
Du lịch Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng và cần được đầu tư, khai thác cách triệt để Tuy nhiên, theo báo cáo tại Đại hội Hiệp hội lữ hành Việt Nam diễn ra tại Hà Nội ngày 14/4/2016 cho thấy, thực tiễn hoạt động du lịch ở nước ta còn kém so với nhiều nước trong khu vực chứ chưa nói đến việc so sánh với mặt bằng du lịch quốc tế, tiềm năng du lịch đất nước vẫn chưa được khai thác hết và đầu tư một cách hiệu quả Theo như định hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2016- 2020 được đại hội nêu rõ
“Phối hợp với các địa phương tích cực tổ chức khảo sát, xây dựng và phát triển các loại hình du lịch, có kế hoạch cụ thể khai thác tiềm năng du lịch mới tại các địa phương” Đại
hội cũng nêu ra một số điểm du lịch tiềm năng của đất nước cần được đầu tư và khai thác, trong đó có địa điểm “ Núi Chứa Chan,Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai”
Trang 13Đồng Nai được xem là vùng “đất lành chim đậu”, ngoài bốn tộc người bản địa là
người Mạ, Chro, X’tiêng, K’ho, nơi đây còn là vùng đất lưu chân của nhiều tộc người qua các thời kỳ như: Người Việt, Hoa, Chăm, Tày…, nơi tích tụ các giá trị văn hóa mang tính đặc trưng, xuyên suốt Bên cạnh đó, vùng đất này còn được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều các giá trị về thắng cảnh, môi trường sinh thái, vị trí địa lý thuận lợi, với địa hình đa dạng…Đồng Nai còn được biết đến với những trang sử hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm nên “Hào khí Đồng Nai” rất đỗi tự hào Các giá trị văn hóa vô cùng phong phú đa dạng biểu hiện ở các giá trị vật thể hiện tồn trong những di tích văn hóa, lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích danh thắng…các giá trị văn hóa phi vật thể: lễ hội, tín ngưỡng, giá trị văn háo ở các làng nghề, phong tục tập quán, ẩm thực…Các giá trị di sản có vị trí quan trọng là nguồn tài nguyên hữu ích cho phát triển
du lịch nói riêng và quy hoạch kinh tế văn hóa xã hội nói chung
Theo quyết định số 1204/QĐ BVHTTDL ngày 29/3/2012 của Bộ văn hóa, Thể thao
và Du lịch về xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp Quốc Gia thì núi Chứa Chan, Xuân Lộc - Đồng Nai với độ cao 839m là ngọn núi cao thứ hai khu vực Nam Bộ sau núi
Bà Đen là điểm đến du lịch đầy hứa hẹn trong tương lai
Bên cạnh vị thế địa lý thuận lợi, nền văn hóa đặc thù cùng với những cảnh quan thiên nhiên trên núi hùng vĩ, và còn có nhiều chùa, am, miếu, một không gian tín ngưỡng mang sắc thái nhuyền bí qua những câu chuyện truyền miệng, tục thờ Thần núi Chứa Chan hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi cho việc khai thác và phát triển du lịch nơi đây
Theo định hướng phát triển du lịch Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020 của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Đồng Nai là quy hoạch, triển khai, xúc tiến, thu hút đầu tư cho ngành du lịch tỉnh, thúc đẩy tiến độ thực hiện các dự án du lịch như: Dự án KDL và đô thị Sơn Tiên (Biên Hòa), Dự án du lịch sinh thái tại xá Long Tân (Nhơn Trạch), du lịch núi Chứa Chan (Xuân Lộc)…Như vậy, có thể thấy phát triển du lịch núi Chứa Chan được sự quan tâm từ các cấp chính quyền
Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện trong việc khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tài nguyên du lịch cũng như xác định đúng đắn du lịch núi Chứa Chan nên
Trang 14phát triển theo hướng nào để tạo nét riêng biệt, tạo ưu thế so với điểm du lịch khác? Đầu
tư ra sao? Lộ trình thế nào? Đó là cả một quá trình nỗ lực của các cấp chính quyền và người dân địa phương
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn đó, tôi quyết định thực hiện đề tài “ Hoạt động du lịch
núi Chứa Chan – Xuân lộc – Đồng Nai ” làm luận văn cao học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Xét về khía cạnh nghiên cứu về du lịch có thể nói khá đa dạng với nhiều công trình nghiên cứu phải kể đến như: Tổng quan du lịch của Trần Văn Thông, Địa lý du lịch của Nguyễn Minh Tuệ, Du lịch và kinh doanh của Trần Nhạn, Văn hóa du lịch ở Việt Nam của Quế Hương, giáo trình văn hóa du lịch của Hoàng Văn Thành…những công trình này, các tác giả đã nêu cơ sở lý luận về du lịch cùng với việc nhìn nhận, đánh giá các tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như tài nguyên du lịch nhân văn ở nước ta
Nhóm các công trình nghiên cứu văn hóa, lịch sử Có những tác phẩm như “ Gia Định thành thông chí (1820) của Trịnh Hoài Đức ghi chép tương đối đầy đủ các sự kiện diễn ra
trong thời kỳ mở đầu thế kỷ XIX tại miền Nam, trong đó có Xuân Lộc
Trong cuốn: “Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai” của tác giả Huỳnh Văn Tới xuất
bản năm 1998 cũng đã đề cập đến văn hóa, danh thắng làm nên bản sắc văn hóa Đồng Nai, nội dung sách đã phác thảo khá rõ về phong tục tập quán, lễ hội…của cộng đồng các tộc người tỉnh Đồng Nai, qua đó tác giả cũng đánh giá được thực trạng và giải pháp bảo tồn các giá trị di san, di tích, danh thắng trong bối cảnh hội nhập
Trong cuốn sách “Đồng Nai - Nam Bộ với văn hóa phương Đông” tác giả Nguyễn
Thị Nguyệt đã tập hợp những bài viết khảo cứu về văn hóa Đồng Nai xét từ góc độ văn hóa tộc người, văn hóa vùng, văn hóa dân gian, trong quan hệ với văn hóa Việt Nam và Phương Đông Trong đó bài viết “Di sản văn hóa trong phát triển du lịch Đồng Nai” đã bước đầu tổng hợp những kết quả đạt được của ngành du lịch Đồng Nai năm 2008, cũng như hướng khai thác di sản văn hóa với du lịch Đồng Nai”
Trang 15Ngoài ra còn một số bài viết trên tạp chí văn hóa nghệ thuật, tạp chí du lịch Việt Nam, tạp chí Di sản văn hóa, báo Đồng Nai, báo Sài Gòn giải phóng, tập san Xúc tiến du lịch Đồng Nai, sổ tay du lịch Đồng Nai, internet… giới thiệu về di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội, hoạt động du lịch… ở Đồng Nai Nội dung các bài báo cũng đã đặt ra các vấn đề phát triển du lịch trong mối gắn kết khai thác các giá trị văn hóa, cảnh quan theo hướng phát triển bền vững
Xuân Lộc là một vùng đất mới của tỉnh Đồng Nai, là một địa danh gắn liền với lịch sử
vì thế mà được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Từ đó đến nay vùng đất Xuân Lộc đã trở thành mục tiêu nghiên cứu và khảo sát của nhiều nhà khoa học, các nhà nghiên cứu văn hóa học, dân tộc học, du lịch học Nhưng phần lớn các tài liệu đó cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu lịch sử hình thành vùng đất, vai trò của vùng đất đối với nền kinh tế
Có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về núi Chứa Chan nhưng rất ít công trình vận dụng những lý luận của văn hóa sinh thái, văn hóa tâm linh vào một hoạt động kinh tế đặc thù như kinh doanh du lịch tại vùng núi Chứa Chan
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu… bước đầu đã cung cấp những thông tin hữu ích về du lịch, là những tài liệu quý giá gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp cho quá trình thực hiện luận văn của tôi được thuận lợi hơn
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chính của luận văn là thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa
Chan, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa Chan, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa Chan, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
❖ Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu các tài nguyên du lịch, hoạt động
du lịch tại vùng núi Chứa Chan, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
Trang 16❖ Đối tượng khảo sát:
- Khách hàng là những khách hành hương và khách du lịch đến vùng núi Chứa Chan
- Người dân địa phương vùng núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
- Không gian khảo sát: Vùng núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 1/2017 đến tháng 2/2017
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp: Thông qua phương pháp khảo sát thực địa, tiến hành quan sát tại
điểm du lịch, tìm hiểu về các danh lam, các di tích lịch sử, cuộc sống và các hoạt động du lịch của cư dân trong vùng và du khách Đồng thời, dữ liệu thu thập từ việc khảo sát 230
du khách đến tham quan vùng núi Chứa Chan và 100 người dân địa phương vùng núi Chứa Chan tại Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai
- Dữ liệu thứ cấp: Từ các văn bản luật, các văn bản có liên quan của các Sở, ban ngành
địa phương, internet, sách, báo và tạp chí chuyên ngành
5.2 Phương pháp phân tích số liệu:
❖ Đối với dữ liệu sơ cấp: Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng
với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi khảo sát gởi cho 230 du khách và 100 người dân địa phương vùng núi Chứa Chan Bảng câu hỏi được hình thành gồm các thang
đo Thông tin thu thập được tổng hợp và phân tích dữ liệu bằng phần mềm exel và SPSS 20.0 Các dữ liệu được phân tích, tổng hợp, từ đó đánh giá, nhận xét và làm cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa Chan
Trang 17❖ Đối với dữ liệu thứ cấp:
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Phân tích các số liệu, so sánh qua các năm
Hình 1: Ma trận SWOT
MA TRẬN SWOT O: Những cơ hội T: Những đe doạ
S: Những điểm mạnh
Các chiến lược SO:
Chiến lược phát triển thị trường
Các chiến lược ST:
Chiến lược cạnh tranh
W: Những điểm yếu
Các chiến lược WO:
Chiến lược tăng trưởng
Ma trận SWOT là ma trận cho phép ta đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của công ty
và ước lượng những cơ hội, nguy cơ của môi trường kinh doanh bên ngoài, để từ đó có sự phân phối thích hợp giữa khả năng của công ty với tình hình môi trường
Ma trận SWOT giúp ta phát triển 4 loại chiến lược:
Trang 18- Các chiến lược điểm mạnh - cơ hội (SO): các chiến lược này nhằm sử dụng những điểm mạnh bên trong của công ty để tận dụng những cơ hội bên ngoài
- Các chiến lược điểm yếu - cơ hội (WO): các chiến lược này nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong để tận dụng các cơ hội bên ngoài
- Các chiến lược điểm mạnh - đe dọa (ST): các chiến lược này sử dụng các điểm mạnh để tránh khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của các mối đe dọa bên ngoài
- Các chiến lược điểm yếu - đe dọa (WT): các chiến lược này nhằm cải thiện điểm yếu để tránh khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của các mối đe dọa bên ngoài
Để xây dựng ma trận SWOT, ta trải qua 8 bước:
Bước 1: Liệt kê các cơ hội quan trọng bên ngoài công ty
Bước 2: Liệt kê các mối đe dọa quan trọng bên ngoài công ty
Bước 3: Liệt kê các điểm mạnh bên trong công ty
Bước 4: Liệt kê các điểm yếu bên trong công ty
Bước 5: Kết hợp điểm mạnh với cơ hội để hình thành chiến lược SO và ghi kết quả vào ô thích hợp
Bước 6: Kết hợp điểm yếu với cơ hội để hình thành chiến lược WO và ghi kết quả vào ô thích hợp
Bước 7: Kết hợp điểm mạnh với đe dọa để hình thành chiến lược ST và ghi kết quả vào ô thích hợp
Bước 8: Kết hợp điểm yếu với cơ hội để hình thành chiến lược WT và ghi kết quả vào ô thích hợp
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng nhiều lý thuyết và cách tiếp cận sau:
+ Lý thuyết Địa -Văn hóa: Nhằm nghiên cứu vai trò của môi trường tự nhiên đối với việc hình thành nền văn hóa bản địa và dấu ấn đặc trưng của văn hóa bản địa trong tự nhiên
Trang 19+ Thuyết Sử -Văn hóa: Khai thác các giá trị lịch sử của một vùng đất để phục vụ cho hoạt động du lịch
5.3 Phương pháp chọn mẫu:
- Mẫu khảo sát là các du khách đến với vùng núi Chứa Chan và người dân địa phương Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất
- Kích thước mẫu khảo sát được tính theo công thức n >=m*5, với n là kích thước mẫu,
m là mục hỏi, m=15 Vậy trong nghiên cứu này, mẫu tác giả phải chọn n>=75 (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008 )
- Tác giả tiến hành khảo sát 230 mẫu, sau khi loại đi các bảng không phù hợp (lý do đánh không đủ mục, hoặc chọn nhiều giá trị), tác giả đã sử dụng 206 bảng khảo sát hợp lệ
để phân tích Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý, phân tích trên phần mềm exel và SPSS 20.0
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Về mặt khoa học: đề tài góp phần củng cố cơ sở lý luận, những vấn đề lý thuyết về văn hóa, du lịch, du lịch tâm linh
- Về mặt thực tiễn: Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa Chan, từ đó đề ra những giải pháp giúp định hướng phát khai thác, phát triển tiềm năng du lịch tại núi Chứa Chan, phục vụ cho phát triển du lịch tại Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai
7 Đóng góp của luận văn:
- Luận văn góp phần làm nền tảng giúp cho các cơ quan quản lý, cơ quan văn hóa của Tỉnh, Huyện, người dân địa phương cùng khách du lịch nhận thức đầy đủ hơn về giá trị lịch sử - văn hóa tại núi Chứa Chan
- Định hướng cho ngành du lịch Đồng Nai khai thác và phát triển hoạt động du lịch tại núi Chứa Chan sao cho có sức hấp dẫn lâu bền đối với du khách Đồng thời, giúp cho ngành du lịch Đồng Nai quảng bá hình ảnh du lịch cho du khách trong và ngoài nước
Trang 20- Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên học các chuyên ngành liên quan đến du lịch Đề tài cũng có thể là cơ sở gợi mở cho các đề tài sau nghiên cứu sâu hơn về hoạt động du lịch tại núi Chứa Chan, dựa trên nền tảng, cấu trúc , ý tưởng mà tác giả đưa ra
- Đề tài cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các công ty du lịch khai thác tour
du lịch tại núi Chứa Chan - Xuân Lộc trong tương lai
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3
chương chính như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này trình bày số lý luận cơ bản về du
lịch và hoạt động du lịch, các loại hình du lịch hiện nay và những nguồn tài nguyên du lịch, vai trò của hoạt động du lịch đối với sự phát triển kinh tế địa phương cũng như sự phát triển kinh tế đất nước Bên cạnh đó, tác giả cũng đã giới thiệu tổng quan về vị trí địa
lý, đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội tại vùng núi Chứa Chan cũng như của Huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai
- Chương 2: Sản phẩm du lịch và thực trạng kinh doanh du lịch tại núi Chứa Chan:
Chương này trình bày sản phẩm du lịch cũng như thực trạng kinh doanh du lịch tại vùng núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Đồng Nai thông qua dữ liệu thu thập được và dữ liệu khảo sát của tác giả
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại vùng núi Chứa Chan Chương này tổng hợp những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội, thách thức để có
cái nhìn khái quát về hoạt động du lịch tại núi Chứa Chan Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đánh thức tiềm năng và phát triển hoạt động du lịch tại Núi Chứa Chan
Trang 21CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm du lịch
Du lịch đã là một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu hoặc những người hoạt động trên lĩnh vực này
Hiện nay, trên thế giới có nhiều học giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về du lịch như sau:
Theo Tổ chức du lịch thế giới IUOTO (international Union of Official Travel
Organisation): “Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống”
Quan niệm về du lịch được thể hiện trong Tuyên ngôn Manila về du lịch năm 1980 là:
“Du lịch được hiểu như hoạt động chủ yếu trong đời sống của các quốc gia do hiệu quả trực tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế của các quốc gia và trong mối quan hệ quốc tế trên thế giới”
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma
năm 1963: “Du lịch là tổng hoà các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước với mục đích hoà bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ”
Theo điều 4 của Luật Du lịch được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ
7 Quốc hội khóa XI: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Trang 221.1.2 Khái niệm khách du lịch
Theo luật Du lịch Việt Nam (Số 44/2005/QH11 Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI) đã đưa ra một số khái niệm sau:
❖ Khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ
trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”
Tuy nhiên, có hai khái niệm khác nhau để phân biệt về thời gian lưu trú của du khách như sau:
- Khách tham quan là du khách dừng chân tìm hiểu và thưởng ngoạn điểm đến chỉ trong ngày
- Khách du lịch là du khách đến tham quan và lưu trú nghỉ lại qua đêm tại địa phương
có điểm đến tham quan
❖ Khách du lịch quốc tế (International tourist): Những người được thống kê là
khách du lịch quốc tế phải có những đặc trưng cơ bản sau:
- Là người nước ngoài, người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (khách Inbound)
- Công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (khách Outbound)
Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, khảo sát thị trường, thể thao, chữa bệnh, hành hương, nghỉ ngơi
❖ Khách tham quan quốc tế (International Excursionist):
Một người đáp ứng các tiêu chuẩn trên nhưng không ở qua đêm được gọi là khách tham quan quốc tế
❖ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):
Bất kỳ người nào ngụ tại một quốc gia nào, bất kể quốc tịch gì đi du lịch đến một nơi khác với chỗ thường trú của mình trong phạm vi quốc gia trong thời gian 24 giờ hay
Trang 23một đêm và vì bất kỳ lý do nào khác hơn là thực hiện một hoạt động trả công tại nơi đến thăm
❖ Khách tham quan nội địa (Domestic Excursionist):
Một người đáp ứng được các tiêu chuẩn của khách du lịch nội địa nhưng không ở qua đêm, được gọi là khách tham quan nội địa
1.1.3 Dịch vụ du lịch:
Theo mục 11, Điều 4, Luật Du lịch Việt Nam: “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn
và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”
Như vậy, dịch vụ du lịch là việc cung cấp đầu vào các dịch vụ và hàng hóa cho doanh nghiệp lữ hành Nhà cung cấp dịch vụ du lịch là bất cứ ai được pháp luật cho phép cung cấp sản phẩm đơn lẻ hay nhóm sản phẩm có liên quan đến nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi bao gồm các cơ sở lưu trú, nhà hàng, quán ăn, tiệm uống, dịch vụ vé máy bay, vận chuyển đường bộ, đường sắt, đường thủy, cửa hàng quà lưu niệm, nơi đổi tiền, thông tin liên lạc, dịch vụ visa xuất nhập cảnh, công an du lịch…
1.1.4 Khái niệm du lịch sinh thái
Hiện nay du lịch sinh thái là hướng nghiên cứu được nhiều nước quan tâm, xây dựng
và phát triển với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng mục tiêu lớn nhất vẫn là nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững chung của thế giới tự nhiên và các giá trị văn hóa, khuyến khích xây dựng các mối quan hệ thân thiện giữa con người với tự nhiên, con người với con người…Điều này cho thấy tiếp cận du lịch sinh thái là việc làm có cơ sở khoa học, xuất phát từ mối quan hệ giữa con người, tự nhiên, văn hóa với môi trường sinh thái
Du lịch sinh thái (eco-tourism) là thuật ngữ được Hertzer sử dụng lần đầu tiên vào giữa thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, nhằm giải thích mối quan hệ phức tạp giữa khách du lịch với môi trường tự nhiên và văn hóa địa phương, mà theo ông chúng có sự tương tác
Trang 24với nhau để định hinh nên một hiện tượng gọi là eco tourism (ecological tourism)- Du lịch sinh thái
Hetter đưa ra 4 vấn đề được xem là 4 tiêu chí của loại hình du lịch sinh thái, bao gồm:
- Sự tác động tối thiểu đến môi trường
- Tác động tối thiêu và tôn trọng tối đa nền văn hóa của nước chủnhà và địa phương
- Lợi ích tối đa tối đa đến người dân thường của nước chủ nhà, địa phương
- Thỏa mãn tối đa nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch tham gia vào tour du lịch [Dẫn theo: Lê Đức Tuấn, 2004,34]
Thời gian sau đó, Wallace và Pierce ( 1996) tiếp tục đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái với 6 tiêu chí:
- Đòi hỏi giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và cư dân địa phương
- Gia tăng ý thức và sự hiểu biết về các hệ thống tự nhiên và văn hóa của khu vực, các vấn đề có liên quan tiếp theo của khách du lịch gây ảnh hưởng đến các hệ thống này
- Góp phần vào việc bảo tồn và quản lý hợp lý các khu vực thiên nhiên và các khu vực cần bảo vệ
- Tối đa hóa sự tham gia sớm và lâu dài của người dân địa phương vào quá trình ra quyết định để xác định loại hình và số lượng loại hình du lịch sẽ tiến hành
- Nhắm đến lợi ích kinh tế và các lợi ích khác của người dân địa phương
- Cung cấp cơ hội đặc biệt cho cư dân địa phương và nhân viên du lịch sử dụng và tham quan các khu vực thiên nhiên, học tập thêm vê các điều kỳ lạ mà du khách đến để tham quan [ Dẫn theo: Lê Đức Tuấn, 2004, 34-35]
Từ những định nghĩa ban đầu, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa vê du lịch sinh thái của nhiều nhà khoa học, của nhiều chính phủ và tổ chức, cho thấy du lịch sinh thái đã thu hút được sự quan tâm của nhiều giới và có tính thời sự, kinh tế, van hóa và khoa học
Có thể nói, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau
như: Hiệp hội du lịch sinh thái thế giới (2000) nhận định : “du lịch sinh thái không chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm Ngược lại nó đã trở thành một thực tế
Trang 25trên toàn cầu…vấn đề vẫn còn tồn tại mỗi khi thảo luận về du lịch sinh thái là việc khái niệm du lịch sinh thái vẫn chưa được tìm hiêu kỹ, do đó thường bị nhầm lẫn với các loại hình phát triên du lịch khác Một số tổ chức đã rất cố gắng làm rõ sự nhầm lẫn này bằng cách chỉ sử dụng khái niệm du lịch sinh thái như một công cụ thực hiện bảo tồn và phát triển bền vững” Mặc dù vậy, đa só ý kiến tại các diễn đàn quốc tế về du lịch sinh thái về
cơ bản vẫn thống nhất rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái Du khách được tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường đê nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động tiêu cực đến
hệ sinh thái và văn hóa bản địa
Một số định nghĩa về du lịch sinh thái điển hình của nhiều nhà nghiên cứu như sau:
Theo Buckley (1994): “Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách
du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường” Phát triển du lịch
sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến việc đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”
Theo Hector - Lascurain (1987): “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Theo tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN): “Du lịch sinh thái là tham quan và
du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên ( và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” ( Ceballos- Lascurain, (1996)”
Trang 261.1.5 Khái niệm du lịch bền vững
Theo Hens L,1996: “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta đáp ứng tất cả các nhu cầu kinh tế , xa hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”
Theo hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) (1996) thì: Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta đáp ứng tất cả các nhu cầu kinh tế, xa hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống
❖ Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách
- Duy trì chất lượng môi trường
❖ Những nguyên tắc của du lịch bền vững
- Sử dụng tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tai nguyên thiên nhiên, xã hội và văn hóa Việc sử dụng tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển du lịch lâu dài
- Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải, nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thái môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng du lịch
- Duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên xã hội và văn hóa là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, tạo ra sức bật (resilient) cho ngành du lịch
Trang 27- Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia
- Du lịch phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế địa phương, phải tính toán chi phí môi trường vữa để bảo vệ nền kinh tế bản địa cũng như tránh gây hại cho môi trường
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng đại phương
- Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp du lịch bền vững nhằm cải thiện chất lượng du lịch
- Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ, giải quyết các vấn đề mang lại lợi ích cho khu
du lịch, cho nhà kinh doanh và cho du khách
1.1.6 Khái niệm du lịch cộng đồng
“Du lịch cộng đồng là một xu hướng trải nghiệm du lịch mới mẻ đầy trách nhiệm và mang lại lợi ích cho cả du khách lẫn dân bản địa Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống của người dân bản địa Người dân bản địa được tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh tế – xã hội từ các hoạt động du lịch đồng thời chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường
và văn hóa địa phương” (Lê Thị Vân, 2008)
1.1.7 Khái niệm du lịch văn hóa tâm linh
Theo Viện Nghiên Cứu Phát triển du lịch (2006) “Du lịch văn hóa tâm linh là tìm hiểu về văn hóa, giá trị truyền thống là thăm viếng, bằng tâm trí , trái tim là nuôi dưỡng
và mở rộng sự hiểu biết của du khách hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên đồng loại, chúng sinh Du lịch tâm linh góp phần nângcao giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh và giá trị chân thực của cuộc sống hiện tại”
Ở Việt Nam trong vài năm gần đây, người ta đã chú ý đến du lịch tín ngưỡng Du lịch tín ngưỡng và một loại hình du lịch phát triển rất mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới Du khách theo loại hình này thường tìm đến các đình, chùa, các thánh tích tôn giáo để vãn cảnh, chiêm bái và cầu nguyện…
Du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh- tín ngưỡng Điểm đến của các chuyến đi của sự kết hợp tâm linh và tìn ngưỡng thường là những điểm
Trang 28thiêng liêng có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng như: chùa chiền, đền miếu, thánh đường hoặc những thánh tích…đến nơi ấy họ không chỉ lãnh hội được đầy đủ các thông tin về cội nguồn tín ngưỡng tôn giáo của mình mà trong suốt quá trình hành hương đó họ được sống cùng nhau trong một môi trường tâm linh: chiêm bái, cầu nguyện, thực tập phép tịnh tâm để tu dưỡng tinh thần, tạo sức mạnh cho niềm tin và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành nghi thức truyền thống…
Văn hóa tâm linh và tín ngưỡng là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người, nhằm mang lại nét đẹp trong cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn Du lịch nhằm mở mang kiến thức về thiên nhiên và con người nơi đến cũng như giúp thư giản rất hiệu quả Tâm linh ở đấy tức là nói đến tín ngưỡng Tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian nhằm thỏa mãn niềm tin đối với các biểu tượng thiêng liêng mà họ ngưỡng vọng
1.1.8 Khái niệm tài nguyên du lịch:
Theo luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005,
tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XI định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Theo Lê Thị Vân (2008) trong giáo trình văn hóa du lịch định nghĩa “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”
Từ những khái niệm trên tài nguyên du lịch, có thể hiểu như sau: Tài nguyên du lịch
là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo, sử dụng cho ngành du lịch, mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội và môi trường.”
Trang 29Như vậy, tài nguyên du lịch là điều kiện cần trong phát triển du lịch, bao gồm tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra (tài nguyên thiên nhiên) và cũng có thể do con người tạo ra (tài nguyên nhân văn) đang được khai thác và chưa được khai thác
1.1.8.1 Tài nguyên thiên nhiên bao gồm:
+ Địa hình: Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa phương phải có địa hình
đa dạng với những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông, hồ, núi, với những phong cảnh đẹp, những nơi có địa hình và phong cảnh đơn điệu thường được cho là tẻ nhạt và không phù hợp với du lịch
+ Khí hậu: Những nơi có khí hậu điều hoà thường được khách du lịch ưa chuộng
Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá nóng, quá khô, quá ẩm hoặc nhưng nơi có nhiều gió
+ Tài nguyên nước: Các nguồn tài nguyên nước như: ao, hồ, sông, ngòi, đầm, tạo
điều kiện để điều hoà không khí, phát triển giao thông vận tải và tạo điều kiện cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch riêng biệt như: du lịch chữa bệnh (bằng nước khoáng, bùn, )
+ Vị trí địa lý: Thông thường, vị trí địa lý được coi là thuận lợi đối với du lịch là: điểm
du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch không quá xa (để khách có thể tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại trong chuyến du lịch của mình Trong một số trường hợp, khoảng cách xa lại có sức hút đối với khách du lịch có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ
1.1.8.2 Tài nguyên nhân văn:
+ Các giá trị lịch sử là đối tượng quan tâm của khách du lịch có hứng thú hiểu biết Giá trị lịch sử được chia thành 2 nhóm: Nhóm những giá trị lịch sử gắn với nền văn hoá chung của loài người và nhóm những giá trị lịch sử đặc biệt
+ Các phong tục tập quán cổ truyền, các thành tựu về kinh tế của đất nước hay của vùng cũng có sức thu hút đối với khách du lịch
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch:
Trang 301.2.1 Môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lượng bên ngoài tổ chức thường tác động một cách gián tiếp đến tất cả các tổ chức hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau Các yếu tố môi trường vĩ mô còn có đặc điểm là chúng có mối quan hệ hỗ tương để cùng tác
động đến tổ chức Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố sau: (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2006)
1.2.1.1 Yếu tố kinh tế:
Trong môi trường kinh tế chúng ta chủ yếu tập trung xem xét các yếu tố như: sự tăng trưởng kinh tế, các chính sách kinh tế, chu kỳ kinh doanh và khuynh hướng toàn cầu hoá kinh doanh hiện nay Chính sách kinh tế có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn
Đối với ngành du lịch nếu các chỉ số của nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ làm cho thu nhập của dân cư tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu du lịch vì thế cũng sẽ gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành
1.2.1.2 Yếu tố chính trị và chính phủ:
Đặc trưng nổi bật về sự tác động của môi trường chính trị - chính phủ đối với các hoạt động kinh doanh thể hiện ở những mục đích mà thể chế chính trị nhắm tới Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội – trong đó có hoạt động kinh doanh
Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm quy định những điều mà các thành viên trong xã hội không được làm và là cơ sở để chế tài những hành động vi phạm các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ
Trong xã hội hiện đại ngày nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các mối quan hệ bang giao quốc tế Nhiều cuộc “chiến tranh thương mại” đã nổ ra giữa các quốc gia muốn giành ưu thế cạnh tranh kinh tế trong các mối quan hệ buôn bán kinh doanh
Trang 31Ngành du lịch là ngành chịu sự tác động trực tiếp toàn diện của môi trường chính trị, luật pháp và do đó nó rất nhạy cảm với những biến động của môi trường này Ngành chịu
sự tác động của đường lối phát triển của quốc gia thể hiện ở hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà nước và tổ chức bộ máy cơ chế điều hành từ trung ương đến địa phương Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, coi trọng các quốc gia là bạn và đối tác tin cậy của nhau là cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch phát triển trên các phương diện khai thác thị trường, tránh được các rủi ro trong kinh doanh do bạo loạn chính trị, đảm bảo được sự an toàn và an ninh cho khách du lịch quốc tế
1.2.1.3 Yếu tố văn hoá – xã hội:
Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định và giữa doanh nghiệp với môi trường xã hội có những mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp cần và tiêu thụ hàng hoá, dịch
vụ do doanh nghiệp sản xuất ra Các giá trị chung của xã hội, các tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, các hệ tư tưởng tôn giáo đều có những tác động nhiều mặt đến các hoạt động của các tổ chức kinh doanh
Các bộ phận dân cư khác nhau, có quốc tịch, giới tính khác nhau, tuổi tác khác nhau
và trình độ văn hóa khác nhau,… sẽ chọn những loại hình du lịch khác nhau
Ví dụ người thành thị đi du lịch nhiều hơn người nông thôn, người có trình độ văn hóa cao đi nhiều hơn người có trình độ văn hóa thấp,
Xem xét thị trường gởi khách, việc nghiên cứu cơ cấu nhân khẩu học và xu hướng biến động của nó sẽ có ý nghĩa lớn trong việc dự đoán nhu cầu du lịch đến nước ta trong thời gian đến
Trong ngành du lịch, trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến thái độ
cư xử của du khách trong giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ du khách, tạo nên
sự hấp dẫn thu hút du khách
1.2.1.4 Yếu tố tự nhiên:
Trang 32Môi trường tự nhiên không chỉ là yếu tố tạo cầu, tạo cung trong du lịch mà còn mang
tính chất quyết định trong việc tạo ra sản phẩm du lịch và việc tổ chức thực hiện chương trình du lịch của các doanh nghiệp trong ngành du lịch; tính hữu ích của các yếu tố trong môi trường tự nhiên phục vụ cho việc sản xuất và tiêu dùng du lịch được gọi là tài nguyên
du lịch tự nhiên
1.2.1.5 Yếu tố kỹ thuật – công nghệ:
Công nghệ là yếu tố có sự năng động nhất trong các yếu tố môi trường kinh doanh Những thành tựu của công nghệ đã làm thay đổi phương pháp làm việc của con người trong cả văn phòng và xưởng máy Sự tiến bộ của công nghệ tác động mạnh mẽ đối với sản phẩm, dịch vụ, thị trường, nhà cung cấp, nhà phân phối, khách hàng và cả vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
1.2.2 Môi trường vi mô:
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh
doanh đó (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2006) Trong ngành du lịch, những
yếu tố thuộc về môi trường vi mô tác động như:
1.2.2.1 Các đối thủ cạnh tranh:
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các hãng do nhiều lý do Thứ nhất là, các đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định
và mức độ đa dạng hoá sản phẩm Sự tồn tại của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặc nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình Vì vậy chúng làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt
Để cạnh tranh trên thị trường du lịch, ngành du lịch của một địa phương cần xác định được thị trường mục tiêu và phát huy được lợi thế cạnh tranh của ngành để áp dụng đúng
Trang 33các chiến lược cho phù hợp với lợi thế cạnh tranh và thị trường mục tiêu, đồng thời tạo sự khác biệt hóa với các loại hình du lịch của các địa phương lân cận
1.2.2.2 Khách hàng:
Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn lao của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thoả mãn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại các khách hàng hiện tại
và tương lai Các thông tin có được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược
Trong ngành du lịch, khách hàng ở đây là tất cả những du khách đã và chưa đến điểm
du lịch Vì vậy, để có thể thu hút được lượng khách du lịch càng đông thì đòi hỏi địa phương đó phải nghiên cứu đầy đủ nhu cầu của du khách, từ đó đưa ra những chiến lược phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động du lịch địa phương phát triển
1.2.2.3 Đối thủ tiềm ẩn:
Những đối thủ mới có khả năng gia nhập thị trường có nguy cơ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của công ty do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Trong ngành du lịch, đối thủ tiềm
ẩn là những khu du lịch tiềm năng trong khu vực địa phương mà chưa được khai thác hoặc khai thác chưa triệt để Vì vậy địa phương cần nghiên cứu kỹ xu hướng của ngành
du lịch cũng như những nguy cơ từ những khu du lịch tiềm ẩn đó nhằm có kế hoạch và phương hướng phát triển du lịch địa phương các hiệu quả nhất
1.3 Tổng quan về khu du lịch núi Chứa Chan
1.3.1 Tên gọi
Núi Chứa Chan thuộc địa phận huyện Xuân Lộc, có độ cao khoảng 837 so với mặt biển; diện tích khoảng 14.000 ha; phía bắc giáp xã Xuân Thành; phía nam giáp xã Suối Cát; phía đông giáp thị trấn Gia Ray; phía tây giáp xã Xuân Thọ Núi có diện tích khoảng 1.400ha
Trang 34Đây là ngọn núi cao thứ nhì ở miền Đông Nam Bộ, sau núi Bà Đen của Tây Ninh (986m), thuộc địa hình đá hoa cương trồi, phân bố rải rác ở Đông Nam Bộ Đầu thế kỷ
20, nhà cầm quyền Pháp đặt tên quận Núi Chứa Chan ở địa điểm thị trấn Gia Ray hiện nay, sau đó dời vào Võ Đắc, đổi thành quận Võ Đắc
Hình 1.1 Núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Đồng Nai
(Nguồn: Ảnh Ban QLDT Đồng Nai)
Tên gọi “ núi Chứa Chan” bắt nguồn từ một truyền thuyết được người dân địa phương truyền miệng như sau:
Vào thế kỉ 17, có một vị quan người Việt là Việt Hùng, trong lúc giao chiến với quân Khmer, ông bị bắt cùng với người vợ của mình Ông bị giam lỏng ở miền núi này và lập ở đây một ngôi miếu ăn chay tịnh Còn vợ ông vì có nhan sắc nên đã bị vua khmer ép làm
vợ lẽ mặc dầu biết bà đang mang thai Sau đó, bà sinh được một con gái, đặt tên là Mai Khanh 18 năm sau, khi cô gái lớn lên, bà đã kể sự thật về cha cô cho cô nghe Cùng với một người nô bộc của mình cô quyết định đi tìm cha Hai cha con gặp nhau trong niềm vui sướng, và họ quyết định bỏ trốn, họ bị người Khmer truy đuổi gắt gao Trong lúc
Trang 35hoảng loạn, cả ba người đã gieo mình tự vẫn ở ngọn núi này Người dân ở đây đã lập miếu thờ ba người, hiện nay trong chùa có 3 tượng được mọi người gọi là ông vàng, cô bạc và cậu chì là để chỉ ba người này Biết được câu chuyện thương tâm đó, người dân ở đây đặt tên cho ngọn núi này là núi chứa chan để nói lên tình cảm chan chứa của gia đình
họ
Cũng có một cách khác giải thích về tên gọi của núi Chứa Chan được tác giả Lê Trung Hoa lý giải trong bài viết “Nguồn gốc và ý nghĩa một số địa danh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” về địa danh Chứa Chan như sau: Trong tiếng Chăm, từ chỉ núi
là chơk và núi non là Chơk Chăn Người Chăm cũng dùng một từ của tiếng Gia Rai và tiếng Êđê là Chư và gọi núi Chứa Chan là Chư Chan Trong Sổ tay địa danh Việt Nam (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002), Đinh Xuân Vịnh ghi: Chử Chân (hoặc Chứa Chan): còn gọi là núi Gia Ray Có lẽ Chử Chân là biến thể của Chư Chan Chan (hay Chăn, Chân) trong tiếng Chăm hiện đại đã mất nghĩa, có thể vốn là tên người, tên cây hoặc tên thú Theo suy luận của tác giả bài viết trên, địa danh Chứa Chan bắt nguồn từ từ
tổ Chư Chan của tiếng Chăm theo con đường tạm gọi là“mượn âm” Người Chơro ở Bảo
Chánh (huyện Xuân Lộc) gọi núi Chứa Chan là Gung Char với nghĩa là “núi Lớn”
1.3.2 Vị trí địa lý
1.3.2.1 Huyện Xuân Lộc
Ngày 10 tháng 4 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 107, thành lập một số đơn vị hành chánh cấp huyện của tỉnh Đồng Nai Huyện Xuân Lộc được tách thành hai huyện: huyện Xuân Lộc và huyện Long Khánh
Hiện nay, huyện Xuân Lộc có 15 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm: Thị trấn Gia Ray
và các xã Xuân Hòa, xã Xuân Hưng, xã Xuân Tâm, xã Xuân Trường, xã Xuân Thành, xã Xuân Hiệp, xã Xuân Định, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ, xã Xuân Bắc, xã Suối Cao, xã Suối Cát, xã Bảo Hoà, xã Lang Minh
Trang 36Diện tích tự nhiên của Xuân Lộc 725,84 km2 Địa bàn huyện Xuân Lộc thuộc phía đông bắc tỉnh Đồng Nai Địa giới Xuân Lộc được xác định: Phía Bắc giáp huyện Định Quán, phía Đông - Đông bắc giáp huyện Hàm Tân, huyện Đức Linh thuộc tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ và huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây giáp thị thị xã Long Khánh
Hình 1.2 Bản đồ địa lý huyện Xuân Lộc
Trang 37(Nguồn: Trang điện tử tỉnh Đồng Nai)
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 38Địa danh Xuân Lộc nổi tiếng là chiến trường ác liệt trong trận Xuân Lộc cánh cửa thép phía đông Sài Gòn (tháng 4 năm 1975) Ngày nay, Xuân Lộc nổi tiếng với các vườn cây ăn trái như: chôm chôm, sầu riêng, mít, xoài, măng cầu, nhãn, bơ, cam, quýt, chuối,
đu đủ, ổi Xuân Lộc có các địa danh tiêu biểu như: núi Gia Lào hay núi Chứa Chan (được phong làm “Đệ nhị thiên sơn” của vùng Nam bộ), hồ Suối Vọng, hồ Núi Le… Núi Chứa Chan - Xuân Lộc là một địa danh nổi tiếng xưa nay không chỉ là phong cảnh hữu tình từ vẻ đẹp của núi đá hang động thiên nhiên kết hợp với bàn tay sáng tạo khéo léo của con người mà còn là một địa danh với nhiều chiến tích lịch sử đã đi vào ký
ức của bao thế hệ cư dân như một biểu tượng của quê hương “Miền Đông gian lao mà anh dũng”
Ngày 17/6/2009, Ủy ban nhân tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định số 1687/QĐ-UBND xếp hạng núi Chứa Chan là di tích lịch sử - danh thắng đầu tiên nằm trên địa phận huyện Xuân Lộc Ba năm sau, ngày 29/3/2012, Bộ VH-TT-DL đã xếp hạng di tích núi Chứa Chan là di tích cấp Quốc gia với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học vốn có của di tích
Nhiệt độ môi trường cũng là một trong những tiêu chí du lịch Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chịu sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam va chịu sự chi phối của khối khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10, nên có
rõ rệt “mùa khô và “mùa mưa”
1.3.3 Điều kiện văn hóa – lịch sử:
Trên núi có bốn ngôi chùa Ngôi chùa ở vị trí cao nhất trong quả núi có tên Bửu Quang Chùa tọa lạc ở độ cao 660m nằm giữa lưng chừng núi, lưng dựa vào vách núi, mặt chính quay về hướng đông Chùa được khai sơn đầu thế kỷ XX với sự kiến tạo theo hình thể Hàm Rồng trên một hang đá Trong quần thể kiến trúc chùa Bửu Quang còn lưu lại vết tích chùa cổ xây bằng đất sét Có lẽ, đây là dấu tích của ngôi chùa cổ do Hòa thượng Ngộ Chân khai sơn được nhắc đến trong một số sử sách – Đại nam nhất thống chí thời Nguyễn Tương truyền, khi nhà sư Ngộ Chân hóa xác vân du, người dân địa phương lấp
Trang 39kín cửa động để nhó về một con người đắc đạo, lưu tồn di tích Phật nơi miền sơn cước Xung quanh chùa có nhiều địa điểm gắn liền với các huyền tích thơi khai mở và nhiều tảng đá lớn tạo dáng kỳ thú Chuyện đôi hổ thần mỗi đêm về nghe kinh kế, chuyện Tam
vị tướng quân ứng hộ phò dân lành hay ông Tiên Rao pháp thuật thần thông, sái đậu thành binh…càng làm tăng thêm sự kỳ bí của ngọn núi, chùa thiêng
Núi Chứa Chan còn lưu nhiều dấu tích của lịch sử Trước đây, quanh núi có nhiều buôn của người Chơro, Mạ sinh sống Về sau, các nhóm di dân Mạ, Chăm cũng đến khai khẩn, lập làng Người Pháp trong thời kỳ khia thác thuộc địa đã xây một hồ nước trên quần thể đá lớn của núi phía Gia Ray Trên đỉnh núi tương đối bằng phẳng có ngôi nhà nghỉ của Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ Năm 1972, quân đội Mỹ thiết kế một cứ điểm ra đa trên đỉnh núi Trước năm 1975, nhiều nhân hào, thi sĩ địa phương vận động xây dựng một lâm viên tại núi Chứa Chan nhưng bất thành Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lực lượng cách mạng Biên Hòa – Đồng Nai, Xuân Lộc đã chọn núi Chứa Chan làm căn cứu cách mạng
Từ dưới chân núi có một con đường gần 4 km tam cấp theo triền núi hình xoáy dẫn lên chùa Bửu Quang Từ trên chùa Bửu Quang, phóng tầm nhìn phía chân núi chiêm ngưỡng được cảnh thiên nhiên hữu tình Hằng năm, vào ngày rằm tháng giêng, chùa Bửu Quang thu hút đông đảo du khách từ các nơi hành hương, tạo nên một lễ hội độc đáo trên vùng đất Xuân Lộc
1.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội:
❖ Nông nghiệp:
Xuân Lộc là huyện trung du miền núi, diện tích tự nhiên 72.619 ha trong đó có 55.552
ha đất sản xuất nông nghiệp Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn với những nội dung chủ yếu như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp - dịch vụ, xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng, thực hiện thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá,
Trang 40phát triển thị trường nông thôn; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại
Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung chỉ đạo củng cố xây dựng kinh tế hợp tác, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, xây dựng các mô hình Câu lạc bộ năng suất cao, liên hiệp câu lạc bộ đã tạo ra những bước đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp; những chủ trương đó đã tạo được sự thống nhất cao trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền
từ huyện đến cơ sở và sự hưởng ứng tích cực của đa số nông dân, đã khẳng định tính hiệu quả, tính đúng đắn, hợp “ý Đảng - lòng dân”
Dựa trên các yếu tố tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội, huyện Xuân Lộc đã định hướng quy hoạch thành 4 tiểu vùng để phát triển, cụ thể như sau:
- Tiểu vùng I: Bao gồm các xã Xuân Hiệp, Suối Cát và thị trấn Gia Ray trong đó trung
tâm của tiểu vùng là thị trấn Gia Ray, cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp Tổng diện tích tự nhiên 5.526,09 ha, chiếm 7,6% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 3.259,38 ha, chiếm 7,06% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện
- Tiểu vùng II: Bao gồm các xã Xuân Định, Bảo Hoà, Xuân Phú và Lang Minh trong
đó trung tâm của tiểu vùng là Bảo Hoà; cơ cấu kinh tế chủ là chuyên canh cây lâu năm, cây hàng năm, cây đặc sản với trình độ thâm canh cao và chăn nuôi trang trại Tổng diện tích tự nhiên 8.716,74 ha, chiếm 12% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 7.432,85 ha, chiếm 16,08% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện
- Tiểu vùng III: Bao gồm các xã Xuân Tâm, Xuân Hưng và Xuân Hoà trong đó Xuân
Hưng là trung tâm của tiểu vùng, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông- lâm nghiệp, trang trại chăn nuôi và thủy sản Tổng diện tích tự nhiên 31.315,18 ha, chiếm 43,12% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 16.082,47 ha, chiếm 34,78% diện tích đất nông nghiệp toàn huyện