1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao ở trường THPT

106 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 14,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tự lực hoạt động nhận thức. Ở nước ta, nhiều chuyên gia giáo dục đã đánh giá: phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông còn nặng về việc thông báo tri thức, ít tập luyện cho học sinh khám phá kiến thức bằng chính những hoạt động thao tác tư duy, trí tuệ phù hợp với nó. Trong điều kiện dạy học hiện nay, thiết bị đồ dùng dạy học ở trường phổ thông khá đa dạng và phong phú, bên cạnh những thiết bị dạy học truyền thống còn được trang bị những thiết bị dạy học hiện đại, ngoài ra còn có những thiết bị đơn giản do giáo viên và học sinh tự làm. Khai thác và sử dụng thiết bị dạy học như thế nào để có hiệu quả luôn là bài toán phức tạp đối với giáo viên trong mọi thời đại. Phiếu học tập là một phương tiện dạy học đơn giản, có khả năng tương thích cao với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi trong lĩnh vực học tập . Thực tế hiện nay trong quá trình dạy học nhiều giáo viên chưa sử dụng phiếu học tập, còn đối với giáo viên sử dụng phiếu học tập trong dạy học thì nội dung và kỹ thuật sử dụng nó như thế nào để bảo đảm tính khoa học giáo dục. Các định luật bảo toàn trong chương trình vật lí THPT có ý nghĩa lớn về mặt phương pháp luận (phương pháp bảo toàn hay tư tưởng bảo toàn dùng để nghiên cứu Vật lí học); phương pháp bảo toàn là phương pháp sử dụng các định luật bảo toàn như những phương trình cơ bản giải bài toán vật lí; nó không chỉ bổ sung cho phương pháp động lực học mà còn thay thế hoàn toàn trong trường hợp không áp dụng được phương pháp động lực học do không biết rõ về các lực tác dụng (như trong các trường hợp: va chạm, nổ,…). Nhiều định luật vật lí được trình bày như là hệ quả suy luận lí thuyết từ định luật bảo toàn: Ví dụ định luật Becnuli, định luật Ohm trong toàn mạch, các nguyên lí nhiệt động lực học,…Các định luật bảo toàn là cơ sở vật lí của nhiều ứng dụng kỹ thuật quan trọng như: chuyển động phản lực, công nghiệp năng lượng, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật… Từ những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài: Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao ở trường THPT.

Trang 1

BỘ GIÂO DỤC VĂ ĐĂO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÍ THỊ MAI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG

PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH

LUẬT BẢO TOÀN”

VẬT LÍ 10 NÂNG CAO Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG

Chuyín ngănh : Lý luận vă phương phâp dạy học bộ môn Vật lí

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÂO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS TS NGUYỄN ĐÌNH THƯỚC

Trang 2

Huế, Năm 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực,được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bốtrong bất kỳ một công trình nào khác

Họ và tên tác giả

Lê Thị Mai

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến :

Quý nhà trường, quý thầy cô giáo trong Khoa Vật lí, trưởng khoa Vật lí - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế đã trực tiếp giảng dạy, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.

Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Đình Thước luôn động viên và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo Tổ

giúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Tập thể học sinh khối 10 trường THPT Đặng Huy Trứ đã cộng tác nhiệt tình trong quá trình thực nghiệm sư phạm, giúp đỡ và góp ý chân thành trong từng bài giảng của tôi

Các anh chị học viên lớp LL&PPDH bộ môn Vật

lí K21 đã động viên tinh thần và giúp đỡ tôi rất nhiều trong hai năm học tại trường và đặc biệt trong quá trình thực hiện đề tài này.

Tác giả

Lê Thị Mai

iii

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐÒ THỊ, SƠ ĐỒ

Bảng

Bảng 3.1: Bảng thống kê điểm số của bài kiểm tra 82

Bảng 3.2: Bảng phân phối tần suất 83

Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất lũy tích 84

Bảng 3.4: Bảng điểm trung bình giữa các lớp ĐC và TN 84

Biểu đồ Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm TN và ĐC 83

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ điểm trung bình kiểm tra 84

Đồ thị Đồ thị 3.1: Đồ thị phân phối tần suất 83

Đồ thị 3.2: Đồ thị phân phối tần suất luỹ tích 84

Sơ đồ Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tâm lí của hoạt động 12

Sơ đồ 1.2: Trình tự các bước sử dụng PHT trong dạy học vật lí 23

Sơ đồ 2.1: Cấu trúc lôgic nội dung chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 NC 30

Sơ đồ 2.2: Quy trình xây dựng PHT 32

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng, biểu đồ, đò thị, sơ đồ v

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 5

3 Mục tiêu của đề tài 6

4 Đối tượng nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu: 6

6 Giả thuyết khoa học 6

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 7

9 Đóng góp của đề tài 7

10 Cấu trúc của lu n văn ậ 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP 8

TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 8

1.1 Tích cực hóa hoạt đ ng nh n thức của học sinh ộ ậ 8

1.1.1 Tính tích cực hoạt động nhận thức trong học tập 8

1.1.1.1 Tính tích cực 8

1.1.1.2 Tích cực hóa 9

1.1.2 Các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 9

1.1.3 Những biểu hiện của tính tích cực học tập vật lí 10

1.1.4 Các cấp độ của tính tích cực học tập 11

1.2 Bản chất của hoạt động học vật lí 12

Trang 7

1.2.1 Đặc điểm của hoạt động học 12

1.2.2 Cấu trúc của hoạt động học 12

1.2.3 Những hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức vật lí của học sinh 15

1.2.4 Các thao tác phổ biến cần dùng trong hoạt động nhận thức vật lí 16

1.2.4.1 Thao tác vật chất 16

1.2.4.2 Thao tác tư duy 16

1.3 Phiếu học t p trong dạy học ậ 16

1.3.1 Khái niệm phiếu học tập 16

1.3.2 Chức năng của phiếu học t p ậ 17

1.3.2.1 Chức năng cung cấp thông tin 17

1.3.2.2 Chức năng công cụ hoạt đ ng và giao tiếp ộ 18

1.4 Phân loại phiếu học t p ậ 18

1.4.1 Căn cứ vào chức năng của phiếu học t p ậ 18

1.4.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng phiếu học t p ậ 19

1.4.3 Căn cứ vào n i dung bài học ộ 20

1.4.4 Căn cứ vào tiêu chí sử dụng phiếu học t p để ren luy n các ki năng V t lí cho học sinh ậ ệ ậ 21

1.5 Sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lí 21

1.5.1 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: xây dựng kiến thức mới 22

1.5.2 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: giải bài tập vật lí 22

1.5.3 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: tổng kết chương 23

1.5.4 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: thực hành vật lí 23

1.6 Quy trình sử dụng phiếu học t p trong dạy học v t lí ậ ậ 23

1.7 Kết luận chương 1 25

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP 26

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” 26

VẬT LÍ 10 NÂNG CAO 26

2.1 Chương trình, nội dung sách giáo khoa về chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao 26

Trang 8

2.1.1 Mục tiêu dạy học 26

2.1.2 Chuẩn kiến thức và kỹ năng 29

2.1.3 Cấu trúc lôgic nội dung dạy học 30

2.2 Xây dựng phiếu học tập 30

2.2.1 Quy tắc xây dựng 30

2.2.2 Cấu trúc 32

2.2.3 Quy trình xây dựng (Sơ đồ 2.2) 32

2.2.4 Kỹ thuật soạn thảo phiếu học tập 32

2.3 Xây dựng phiếu học tập hỗ trợ dạy học chương “Các định luật bảo toàn” 35

2.4 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức của chương “Các định lu t bảo toàn” với sự hỗ ậ trợ của phiếu học t p ậ 73

2.5 Kết luận chương 2 79

Chương 3 80

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

3.1 Mục đích thực nghiệm 80

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 80

3.3 Đối tượng thực nghiệm 80

3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 81

3.5 Nội dung thực nghiệm 81

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 81

3.6.1 Đánh giá định tính 81

3.6.2 Đánh giá về điểm số 81

3.7 Kết quả thực nghiệm 82

3.7.1 Kết quả về điểm số 82

3.7.2 Kết quả định tính 84

3.7.3 Nhận xét kết quả thực nghiệm 85

3.8 Kết luận chương 3 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển với những bước tiếnnhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷnguyên thông tin, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống tinh thần lẫn vậtchất của xã hội loài người Tri thức nhân loại ngày càng phong phú và đa dạng, cácphát minh khoa học ngày càng tiến xa đòi hỏi con người phải năng động, sáng tạo

để vận dụng các tri thức khoa học vào đời sống thực tiễn

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và hội nhập quốc tế Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực cóchất lượng cao Những công dân ngày mai của đất nước hiện đang ngồi trên ghế nhàtrường phổ thông phải có sức khỏe, trí tuệ, đạo đức và nhân cách tốt Vì thế, đổimới giáo dục trong nhà trường ở nước ta hiện nay là một nhiệm vụ cấp thiết

Theo tư tưởng đổi mới giáo dục: lấy người học làm trung tâm, các hình thức

tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác Tổ chức hoạt động học tập củahọc sinh theo hướng phát huy tính tự lực, tích cực hoạt động nhận thức trong quátrình hình thành kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy khoa học và năng lực sáng tạo

Quan điểm của phương pháp dạy học hiện đại là dạy học thông qua hoạt độngcủa người học Vì vậy, yêu cầu đối với đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là pháthuy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh, biến chủ thể nhận thức thành chủthể hành động, đặt hoạt động của người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạyhọc Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tự lực hoạt động nhận thức

Ở nước ta, nhiều chuyên gia giáo dục đã đánh giá: phương pháp giảng dạy ởtrường phổ thông còn nặng về việc thông báo tri thức, ít tập luyện cho học sinh khámphá kiến thức bằng chính những hoạt động thao tác tư duy, trí tuệ phù hợp với nó

Trong điều kiện dạy học hiện nay, thiết bị đồ dùng dạy học ở trường phổthông khá đa dạng và phong phú, bên cạnh những thiết bị dạy học truyền thống cònđược trang bị những thiết bị dạy học hiện đại, ngoài ra còn có những thiết bị đơngiản do giáo viên và học sinh tự làm Khai thác và sử dụng thiết bị dạy học như thếnào để có hiệu quả luôn là bài toán phức tạp đối với giáo viên trong mọi thời đại

Phiếu học tập là một phương tiện dạy học đơn giản, có khả năng tương thíchcao với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi trong lĩnh vực học tập

Trang 10

Thực tế hiện nay trong quá trình dạy học nhiều giáo viên chưa sử dụng phiếuhọc tập, còn đối với giáo viên sử dụng phiếu học tập trong dạy học thì nội dung và

kỹ thuật sử dụng nó như thế nào để bảo đảm tính khoa học giáo dục

Các định luật bảo toàn trong chương trình vật lí THPT có ý nghĩa lớn về mặtphương pháp luận (phương pháp bảo toàn hay tư tưởng bảo toàn dùng để nghiêncứu Vật lí học); phương pháp bảo toàn là phương pháp sử dụng các định luật bảotoàn như những phương trình cơ bản giải bài toán vật lí; nó không chỉ bổ sung chophương pháp động lực học mà còn thay thế hoàn toàn trong trường hợp không ápdụng được phương pháp động lực học do không biết rõ về các lực tác dụng (nhưtrong các trường hợp: va chạm, nổ,…) Nhiều định luật vật lí được trình bày như là

hệ quả suy luận lí thuyết từ định luật bảo toàn: Ví dụ định luật Bec-nu-li, định luậtOhm trong toàn mạch, các nguyên lí nhiệt động lực học,…Các định luật bảo toàn là

cơ sở vật lí của nhiều ứng dụng kỹ thuật quan trọng như: chuyển động phản lực,công nghiệp năng lượng, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật…

Từ những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài: Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao

ở trường THPT.

2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

Việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học, đã có một số tác giảquan tâm nghiên cứu như:

Bài báo “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp tác” của tác giả

Đặng Thành Hưng đăng trên báo Phát triển Giáo dục số 8, tháng 8/2004 Tác giả đãnêu định nghĩa, chức năng của một số dạng PHT, nêu cách thiết kế và quy trình sửdụng PHT trong DH hợp tác

Bài báo “Xây dựng phiếu học tập dùng trong dạy học trên lớp môn Địa lí lớp

10 THPT” của tác giả Đậu Thị Hòa, đăng trong Tạp chí Giáo dục số 168 tháng

7/2007 Tác giả đã nêu lên bản chất của PHT, nguyên tắc và quy trình xây dựngPHT trong dạy học trên lớp môn Địa lí lớp 10

Bài báo “Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lí lớp 10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hòa trong

Tạp chí Giáo dục số 195 tháng 8/2008 Tác giả đã trình bày nguyên tắc và phươngpháp sử dụng PHT trong dạy học Địa lí lớp 10, trong đó tác giả chú trọng trình bàyphương pháp sử dụng PHT trong dạy bài mới và củng cố bài học

Trang 11

Luận văn thạc sĩ của Trần Thùy Uyên “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học địa lí” và Hoàng Châu Âu “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Sóng ánh sáng và Lượng tử ánh sáng” Vật lí 12 nâng cao ” Các

tác giả đã trình bày định nghĩa, chức năng, các dạng PHT trong dạy học; xây dựngđược các nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong DH bài mới và củng

cố bài học

Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu xây dựng và sử dụng

PHT trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao Đây cũng

là một đề tài nghiên cứu cần thiết nhằm phục vụ cho việc đổi mới PPDH Vật lí

3 Mục tiêu của đề tài

- Hệ thống các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

- Đề xuất được quy trình dạy học chương “Các định luật bảo toàn” với sự hỗtrợ của phiếu học tập

4 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học Vật lí lớp 10 ở trường THPT

5 Phạm vi nghiên cứu:

Xây dựng và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Các định luật bảotoàn” Vật lí 10 nâng cao

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được phiếu học tập và sử dụng phiếu học tập trong dạy họcchương “Các định luật bảo toàn” của chương trình Vật lí 10 nâng cao, theo hướngtích cực hóa hoạt động nhận thức thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập vật lícủa học sinh

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực tựlực của học sinh

- Nghiên cứu các loại phiếu học tập, thiết kế và sử dụng phiếu học tập trongdạy học vật lí nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

- Điều tra thực trạng dạy học chương “Các định luật bảo toàn “Vật lí 10 vàviệc sử dụng phiếu học tập trong các giờ học ở trường THPT trên địa bàn thànhphố Huế

Trang 12

- Soạn thảo một số tiến trình dạy học có sử dụng các phiếu học tập, dạy họcchương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 nâng cao

- Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu các tài liệu tham khảo về khoa học giáo dục, chú trọng về lí luậndạy học Vật lí ở trường phổ thông

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tìm hiểu thực trạng dạy học Vật lí ở trường THPT

8.3 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành thực nghiệm kết quả nghiên cứu ở trường THPT, kiểm chứng giảthuyết khoa học của đề tài

8.4 Phương pháp thống kê toán học

Xử lí các số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm bằng công cụ củatoán học thống kê

9 Đóng góp của đề tài

Về lí luận:

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về PHT trong dạy học Vật lí ở trường THPT

- Đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học Vật lí

Về thực tiễn:

Xây dựng được hệ thống PHT trong chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí

10 NC và sử dụng vào tiến trình dạy học một số bài cụ thể

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn gồm

có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lí

Chương 2: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương “Các địnhluật bảo toàn”

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP

Muốn phát hiện được học sinh có tính tích cực học tập không, ta cần dựa vàonhững dấu hiệu sau đây:

- Có chú ý học tập không?

- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không (thểhiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép )?

- Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?

- Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?

- Có hiểu bài học không?

- Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?

- Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?

- Tốc độ học tập có nhanh không?

- Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?

- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?

- Có sáng tạo trong học tập không?

- Mức độ tích cực của học sinh trong quá trình học tập có thể không giốngnhau, giáo viên có thể phát hiện được điều đó nhờ dựa vào một số dấu hiệu sau đây:

+Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình,bạn bè, xã hội)

+Thực hiện yêu cầu của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?

+Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?

Trang 14

+Tích cực tăng lên hay giảm dần?

+Có kiên trì vượt khó hay không?

1.1.1.2 Tích cực hóa

Tích cực hoá là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từthụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm trithức để nâng cao hiệu quả học tập [3]

Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụcủa thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạyhọc hiện nay thì việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đềđược đặc biệt quan tâm Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy vàngười học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp ứng được yêucầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó học sinh chuyển từ vai trò làngười thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiếnthức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức,hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới [3]

Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làmcho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quảhơn Tích cực hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nógóp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao động mới: tựchủ, năng động, sáng tạo [4]

Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện nhữngquan niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp để khắc phục nhữngquan niệm đó Vì thế việc khắc phục những quan niệm của học sinh có vai trò quantrọng trong nhà trường nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

1.1.2 Các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh

Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có liên quan đến nhiều vấn

đề, trong đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân,không khí dạy học…đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố liên quan chặt chẽ vớinhau và có ảnh hưởng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh tronghọc tập Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài vàthường xuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giaiđoạn, của sự phối hợp nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội [3]

Trang 15

Để có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình họctập chúng ta cần phải chú ý đến một số biện pháp chẳng hạn như: tạo ra và duy trìkhông khí dạy học trong lớp; xây dựng động cơ hứng thú học tập cho học sinh; giảiphóng sự lo sợ cho học sinh… Bởi chúng ta không thể tích cực hoá trong khi họcsinh vẫn mang tâm lí lo sợ, khi các em không có động cơ và hứng thú học tập vàđặc biệt là thiếu không khí dạy học Do đó với vai trò cuả mình, thầy giáo phải làngười góp phần quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện tốt nhất để cho họcsinh học tập, rèn luyện và phát triển Sau đây là một số biện pháp cụ thể:

- Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo ra môi trườngthuận lợi cho việc học tập và phát triển của học sinh Trong môi trường đó học sinh

dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quátrình dạy học, vì khi đó tâm lí các em rất thoải mái

- Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho học sinh Trước mỗi tiết học tưduy của học sinh ở trạng thái nghỉ ngơi Vì vậy, trước hết thầy giáo phải tích cực hoáhoạt động nhận thức của học sinh ngay từ khâu đề xuất vấn đề học tập nhằm vạch ratrước mắt học sinh lí do của việc học và giúp các em xác định được nhiệm vụ học tập.Đây là bước khởi động tư duy nhằm đưa học sinh vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôikéo học sinh vào không khí dạy học Khởi động tư duy chỉ là bước mở đầu, điều quantrọng hơn là phải tạo ra và duy trì không khí dạy học trong suốt giờ học Học sinhcàng hứng thú học tập bao nhiêu, thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủđộng tích cực bấy nhiêu Muốn vậy cần phải chú ý đến việc tạo các tình huống có vấn

đề nhằm gây sự xung đột tâm lí của học sinh Điều này rất cần thiết và cũng rất khókhăn, nó đòi hỏi sự cố gắng, nổ lực và năng lực sư phạm của thầy giáo Ngoài ra cũngcần chú ý tới lôgic của bài giảng Một bài giảng gồm các mắt xích nối với nhau chặtchẽ, phần trước là tiền đề cho việc nghiên cứu phần sau, phần sau bổ sung làm rõphần trước Có như vậy thì nhịp độ hoạt động, hứng thú học tập và quá trình nhậnthức của học sinh mới tiến triển theo một mạch liên tục không bị ngắt quãng

1.1.3 Những biểu hiện của tính tích cực học tập vật lí

Trong quá trình nhận thức Vật lí, tính tích cực của học sinh thể hiện ở việcthực hiện các thao tác chân tay (bố trí dụng cụ, sử dụng các dụng cụ đo, thực hiệncác phép đo), các thao tác tư duy (phân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa,

cụ thể hóa), các hành động nhận thức (xác định đặc tính bản chất của sự vật hiệntượng, tìm nguyên nhân, xác định mối quan hệ) Tuy nhiên, các thao tác tư duy, các

Trang 16

hành động nhận thức lại diễn ra ở trong đầu học sinh, để nhận biết được tính tíchcực của học sinh trong quá trình nhận thức Vật lí cần dựa vào một số dấu hiệu:

- Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên,

bổ sung câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra

- Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáoviên trình bày chưa đủ rõ

- Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học đểnhận ra vấn đề mới

- Học sinh mong muốn được đóng góp ý kiến với thầy, với bạn những thôngtin mới lấy từ những nguồn thông tin khác nhau, vượt ra ngoài phạm vi bài học

Ngoài những biểu hiện trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểuhiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn như: thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạtnhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ralời giải cho một bài tập Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể họcsinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên G.I.Sukina cònphân biệt những dấu hiệu của tính tích cực học tập về mặt ý chí:

- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học

- Kiên trì làm xong bài tập

- Không nản chí trước những tình huống khó khăn

- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ cố làm xong hoặc vộivàng gấp vở chờ đợi lệnh ra chơi

Thông qua những biểu hiện của tính tích cực của học sinh mà người giáoviên có thể nhận biết được những hạn chế của tiến trình dạy học trong quá trình tổchức hoạt động nhận thức của học sinh Từ đó tìm biện pháp khắc phục những hạnchế đó làm phát triển tư duy của học sinh

1.1.4 Các cấp độ của tính tích cực học tập

Có thể phân biệt ở ba cấp độ khác nhau từ thấp đến cao:

- Tái tạo: học sinh độc lập tái tạo hoạt động, giải quyết vấn đề của bài toán

theo mẫu

- Tìm tòi: học sinh độc lập giải quyết bài tập nêu ra với những cách giải khác

nhau để tìm ra lời giải hợp lí nhất

- Sáng tạo: học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo, hoặc thiết kế, lắp đặt

những thí nghiệm mới để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 17

1.2 Bản chất của hoạt động học vật lí

1.2.1 Đặc điểm của hoạt động học

Hoạt động học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thu trithức, kĩ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được, đồng thời phát triểnnhững phẩm chất năng lực của người học

Việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng kinh nghiệm nhằm sử dụng chúng tronghoạt động thực tiễn của mình Cách tốt nhất để nắm vững (hiểu và sử dụng được)những tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm là người học tái tạo ra chúng Như vậy, ngườihọc không tiếp thu một cách thụ động dưới dạng đã đúc kết một cách cô đọng,chuyển trực tiếp từ giáo viên, sách vở, tài liệu vào óc mình mà phải thông qua hoạtđộng tự lực của bản thân mà tái tạo lại chúng, chiếm lĩnh chúng trên những kiếnthức cơ sở đã có

Nhờ có hoạt động học mà xảy ra sự biến đổi trong bản thân học sinh, sảnphẩm của hoạt động học là những biến đổi trong chính bản thân chủ thể trong quátrình thực hiện hoạt động học Học trong hoạt động, học bằng hoạt động Những trithức, kĩ năng, kinh nghiệm mà người học tái tạo lại không có gì mới đối với nhânloại, nhưng những biến đổi trong chính bản thân người học, sự hình thành phẩmchất và năng lực ở người học thực sự là những thành tựu mới, chúng sẽ giúp chongười học sau này sáng tạo ra được những giá trị mới

1.2.2 Cấu trúc của hoạt động học

Theo lí thuyết hoạt động, hoạt động học có cấu trúc gồm nhiều thành phần có

quan hệ và tác động lẫn nhau (sơ đồ 1.1).

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tâm lí của hoạt động

Một bên là động cơ, mục đích, phương tiện, điều kiện, bên kia là hoạt động,

Động cơ Hoạt động

Mục đích Hành động

Phương tiện Thao tácĐiều kiện

Trang 18

hành động, thao tác Động cơ học tập kích thích sự tự giác, tích cực, thúc đẩy sựhình thành, duy trì và phát triển hoạt động học, đưa đến kết quả cuối cùng là thỏamãn được lòng khát khao mong ước của người học.

Muốn thỏa mãn động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những hành động để đạtđược những mục đích cụ thể Cuối cùng, mỗi hành động được thực hiện bằng nhiềuthao tác sắp xếp theo một trình độ xác định, ứng với mỗi thao tác trong những điềukiện cụ thể là những phương tiện, công cụ thích hợp

Động cơ học tập có thể được kích thích, hình thành từ những kích thích bênngoài người học như: nhu cầu của xã hội đòi hỏi phải hoạt động có hiệu quả trongmột lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội, sự tôn vinh của xã hội đối với người cóhọc, đem lại vinh lợi cho gia đình, cho đất nước Nhưng quan trọng nhất, có khảnăng thường xuyên được củng cố và phát triển, có hiệu quả bền vững là sự kíchthích bên trong bằng mâu thuẩn nhận thức, mâu thuẩn giữa nhiệm vụ mới phải giảiquyết và khả năng hạn chế hiện có của học sinh, cần có một sự cố gắng vươn lêntìm kiếm một giải pháp mới, xây dựng một kiến thức mới Việc thường xuyên thamgia vào việc giải quyết những mâu thuẩn này sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thíchhoạt động, hoạt động tự giác và tích cực, hoạt động càng có kết quả thì động cơcàng được củng cố

Mục đích của hoạt động học được thể hiện ở nhiệm vụ cụ thể của mỗi mônhọc, mỗi phần của môn học và cụ thể nhất là ở mỗi bài học, đó là mục tiêu cụ thể

mà học sinh phải đạt được sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi phần, mỗi môn học

mà ta có thể đánh giá được Ta đã biết việc học tập vật lí có nhiều nhiệm vụ Cónhiệm vụ có thể hoàn thành một cách rõ rệt, có thể kiểm tra, đánh giá ngay được kếtquả thực hiện sau bài học, ví dụ như: nội dung kiến thức, kĩ năng cần nắm vững Cónhững nhiệm vụ phải trải qua nhiều bài học mới có thể thực hiện được, mỗi bài học,thậm chí mỗi chương chỉ góp một phần

Để thực hiện mỗi mục đích cụ thể, phải thực hiện những hành động, thao táctương ứng Có thể thực hiện một hành động, nhưng thông thường phải phối hợpnhiều hành động mới đạt được một mục đích Nhiệm vụ bài học thường được diễnđạt dưới dạng các “bài toán nhận thức” hay “vấn đề nhận thức” mà nếu giải quyếtđược nó thì học sinh sẽ đạt được mục đích đề ra

Trang 19

Ví dụ: Để xây dựng và nắm vững được khái niệm động lượng, học sinh phảithực hiện ít nhất các hành động sau đây để tự mình xây dựng khái niệm đó:

- Xây dựng giả thuyết mối quan hệ giữa khối lượng và vận tốc (bằng hoạtđộng huy động kiến thức)

- Tìm một hệ quả suy ra từ giả thuyết (bằng suy luận logic hay suy luậntoán học)

- Lập phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán

- Tiến hành thí nghiệm kiểm tra dự đoán

mới rút ra được kết luận về định luật bảo toàn của các vật trong tự nhiên: Động lượng của một hệ cô lập là một đại lượng bảo toàn.

Rõ ràng muốn đạt được mục đích, phải thực hiện một hay một số hành động.trong khi thực hiện một hành động, ta phải sử dụng một số phương tiện, trong nhữngđiều kiện cụ thể Khi sử dụng những phương tiện, điều kiện đó là ta đã thực hiệnnhững thao tác Tương ứng với hành động vật chất và hành động trí tuệ, có hai loạithao tác: thao tác chân tay và thao tác trí tuệ Trong thao tác chân tay, ta sử dụngnhững công cụ, phương tiện vật chất như mắt, tay, dụng cụ thí nghiệm, máy đo…

Thao tác trí tuệ hoàn toàn diễn ra trong óc, sử dụng những khái niệm, nhữngphương pháp suy luận mà ta đã xây dựng lên Chẳng hạn như ví dụ trên: để rút rađịnh luật bảo toàn động lượng (mục đích hành động), ta phải sử dụng các khái niệm

Trang 20

“động lượng”, “hệ cô lập” và thực hiện một loạt thao tác tư duy như phân tích, sosánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa…

Đối với những thao tác vật chất, ta có thể quan sát được quá trình thực hiệnchúng, cho nên có thể can thiệp trực tiếp vào quá trình đó để uốn nắn, rèn luyện,làm cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo thực hiện chúng một cách đúng đắn, có hiệuquả Còn thao tác trí tuệ diễn ra trong đầu, ta chỉ biết được kết quả khi học sinhthông báo ý nghĩ của họ Nhưng thao tác trí tuệ lại có vai trò to lớn, quyết địnhtrong nhận thức khoa học Bởi vậy, việc rèn luyện cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảothực hiện các thao tác tư duy trong khi học tập vật lí là vấn đề thời sự quan trọng, cónhiều khó khăn trong tiến trình thực hiện

1.2.3 Những hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức vật lí của học sinh

Hiện tượng vật lí rất đa dạng và phức tạp Trong lịch sử, các nhà vật lí đãsáng tạo ra rất nhiều cách làm để đạt được mục đích mong muốn, rất nhiều hànhđộng đã được áp dụng Có thể mỗi một phát minh mới của vật lí học là do kết quảcủa rất nhiều hành động ở những mức độ khó khăn, phức tạp khác nhau, nhiều thaotác có mức độ tinh vi, thành thạo ngày càng cao, khó có thể liệt kê đầy đủ và phânloại chính xác

Dưới đây là những hành động được dùng phổ biến trong quá trình nhận thứcvật lí của học sinh ở trường phổ thông:

1 Quan sát, nhận biết những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng

2 Phân tích một hiện tượng phức tạp ra thành những hiện tượng đơn giản

3 Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng

4 Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật, hiện tượng

5 Bố trí một thí nghiệm để tạo ra một hiện tượng trong những điều kiệnxác định

6 Tìm những tính chất chung của nhiều sự vật, hiện tượng

7 Tìm mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng

8 Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng

9 Mô hình hóa những sự kiện thực tế quan sát được dưới dạng những kháiniệm, những mô hình lí tưởng để sử dụng chúng làm công cụ của tư duy

10 Đo một đại lượng vật lí

11 Tìm mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng vật lí, biểu diễn bằng công

cụ toán học

Trang 21

12 Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực tếxác định.

13 Giải thích một hiện tượng thực tế

14 Xây dựng một giả thuyết

15 Từ giả thuyết suy ra một hệ quả

16 Lập phương án thí nghiệm để kiểm tra một giả thuyết (hệ quả)

17 Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của những khái niệm, định luậtvật lí

18 Diễn đạt bằng lời những kết quả thu được qua hành động

19 Đánh giá kết quả hành động

20 Tìm phương pháp chung để giải quyết một loại vấn đề

1.2.4 Các thao tác phổ biến cần dùng trong hoạt động nhận thức vật lí.

1.2.4.1 Thao tác vật chất

- Nhận biết bằng các giác quan

- Tác động lên các vật thể bằng công cụ: chiếu sáng, tác dụng lực, làm dichuyển, làm biến dạng, hơ nóng, làm lạnh, cọ xát, đặt vào một điện áp

- Sử dụng các dụng cụ đo

- Làm thí nghiệm (bố trí, lắp ráp, vận hành thiết bị)

- Thu thập tài liệu, số liệu thực nghiệm

- Thay đổi các điều kiện thí nghiệm

1.2.4.2 Thao tác tư duy

- Phân tích - Cụ thể hóa

- Tổng hợp - Suy luận quy nạp

- So sánh - Suy luận diễn dịch

- Trừu tượng hóa - Suy luận tương tự

- Khái quát hóa

1.3 Phiếu học tập trong dạy học

1.3.1 Khái niệm phiếu học tập

Để tổ chức các hoạt động, người ta dùng phiếu hoạt động học tập gọi tắt làphiếu học tập, còn gọi là phiếu hoạt động hay phiếu làm việc Theo tác giả Đặng

Thành Hưng trong bài viết “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp tác” thì “Phiếu học tập là một trong những phương tiện dạy học cụ thể, đơn giản và

Trang 22

có khả năng tương thích rất cao đối với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạng giấy do giáo viên tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa không quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và giảng dạy, vừa như công cụ hoạt động vừa như điều kiện hoạt động của người học và người dạy, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập” [3].

Theo một số tác giả của cuốn sách “Một số vấn đề dạy học sinh học ở trường

phổ thông” thì “Phiếu học tập là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay nhóm nhỏ, được phát cho học sinh yêu cầu tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học Mỗi phiếu học tập có thể giao cho học sinh một hay một vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một kỹ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thái độ trước một vấn đề Điều quan trọng là qua công tác độc lập với phiếu học tập, học sinh được phát triển các kỹ năng tư duy, làm tăng hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực” [4].

Như vậy các tác giả điều nhất trí cho rằng phiếu học tập là một phương tiệndạy học đơn giản gồm một hoặc một số tờ giấy rời có ghi rõ nhiệm vụ hoạt độngcho học sinh hoặc bổ sung thông tin cho bài học kèm theo gợi ý hướng dẫn đượcphát cho học sinh yêu cầu học sinh tự lực hoàn thành

1.3.2 Chức năng của phiếu học tập

Tùy theo phân loại, có nhiều loại phiếu học tập khác nhau nhưng nhìn chungphiếu học tập có hai chức năng cơ bản: Chức năng cung cấp thông tin, chức năngcông cụ hoạt động và giao tiếp

1.3.2.1 Chức năng cung cấp thông tin

PHT thực hiện chức năng cung cấp thông tin và sự kiện cho HS Nhữngthông tin, sự kiện này là những thông tin, sự kiện không có trong SGK nhưng cóliên quan đến bài học GV có thể cung cấp những thông tin này hoặc có thể giớithiệu cho HS cách tự tìm thông tin Từ đó, yêu cầu HS phân tích để rút ra những trithức cho bài học, hoặc để minh họa, làm sáng tỏ thêm kiến thức cho bài học

Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “Trong PHT có thể là văn bản, biểu số liệu, hình ảnh, sơ đồ , tóm tắt hoặc trình bày bằng những cấu trúc nhất định một lượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người học”.

Trang 23

Như vậy những thông tin, sự kiện trong PHT có thể dưới dạng văn bản, sốliệu, hình ảnh, sơ đồ, đồ thị không có trong SGK nhưng cần thiết cho người học.Nguồn của các thông tin này có thể là các sách, báo, tạp chí, mạng internet, các sốliệu thí nghiệm mà GV đã tiến hành ở nhà

1.3.2.2 Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp

Đây là chức năng quan trọng và được lưu ý hơn chức năng cung cấp thôngtin và sự kiện Bởi trong thời đại này, nguồn tư liệu học tập rất phong phú nên việctìm kiếm thông tin, sự kiện không khó đối với HS Mặt khác phương pháp dạy họchiện nay là dạy người học biết cách lựa chọn và khai thác thông tin

Theo tác giả Đặng Thành Hưng, “PHT còn nêu lên những nhiệm vụ học tập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc và vấn đề để người học thực hiện hoặc giải quyết Thông qua nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tập của người học.”

Tác giả Nguyễn Đức Vũ khi bàn về chức năng này cũng cho rằng đây là

chức năng cơ bản của PHT: “PHT chứa đựng các câu hỏi, bài tập, yêu cầu hoạt động, những vấn đề và công việc để HS giải quyết hoặc thực hiện, kèm theo hướng dẫn, gợi ý cách làm.Thông qua các nội dung này, PHT thực hiện chức năng là công

cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tập của HS”.

Như vậy, ngoài chức năng cung cấp thông tin và sự kiện, PHT còn thực hiệnmột chức năng quan trọng hơn đó là công cụ hoạt động và giao tiếp PHT là công cụ

để HS hoạt động theo hình thức cá nhân hay hoạt động theo nhóm PHT hỗ trợ cáchoạt động và quan hệ của người học, tương tác chia sẻ giữa người học với nhau vàvới GV Qua phiếu học tập học sinh tích cực hoạt động nhận thức vì phiếu học tậpkhơi gợi tính tò mò ham hiểu biết, giúp học sinh khám phá ra những kiến thức mới

lạ, từ đó tác động tích cực đến việc phát huy tính sáng tạo, tạo hứng thú trong quátrình dạy học

1.4 Phân loại phiếu học tập

1.4.1 Căn cứ vào chức năng của phiếu học tập

Nếu căn cứ vào chỉ tiêu này, có thể phân loại phiếu học tập thành 2 dạng sau:

- Phiếu cung cấp thông tin và sự kiện

Đây là loại phiếu có tác dụng bổ sung thêm các thông tin sự kiện để làm rõkiến thức bài học Học sinh dựa vào nguồn thông tin, sự kiện đó để nhận thức khámphá ra kiến thức mới

Trang 24

Trong phiếu học tập dạng này có thể là bản số liệu thí nghiệm mà giáo viên

đã tiến hành ở nhà hoặc sơ đồ, đồ thị…Chẳng hạn giáo viên vật lí chuẩn bị các sựkiện cho các yêu cầu thí nghiệm để cung cấp dữ liệu giúp các em đánh giá so sánhchúng với số liệu thực nghiệm do chính các em khai thác và ghi chép trong quátrình thực nghiệm và quan sát trực tiếp

Như vậy, loại phiếu này có vai trò cung cấp nhiều dữ liệu khoa học, số liệu

mà sách giáo khoa không có hoặc các số liệu này không có đủ thời gian để tiến hànhthí nghiệm trên lớp Thông thường loại phiếu này sử dụng để dạy bài có các mụctrong sách giáo khoa quá ngắn, những bài có nội dung trừu tượng, phức tạp khóhiểu Để xây dựng loại phiếu này cần phải có quá trình thu thập, chọn lọc, xử líthông tin rất cẩn thận khi đưa vào phiếu

- Phiếu công cụ hoạt động và giao tiếp

Đây là loại phiếu giúp giáo viên truyền đạt tới học sinh những câu hỏi, bàitập, yêu cầu

Phiếu này được sử dụng trong rất nhiều trường hợp với nhiều mục đích khácnhau vì thế phiếu hoạt động có nhiều kiểu với các tên gọi khác nhau

1.4.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng phiếu học tập

- Phiếu dùng trong kiểm tra bài cũ

Có thể hiểu phiếu dùng trong kiểm tra bài cũ là một đề kiểm tra ngắn (từ 7’đến 10’) được in trên tờ giấy có dành chỗ trống để học sinh làm ngay vào đó Nộidung của phiếu là yêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức cũ hoặc kiểm tra khả năngvận dụng kiến thức của học sinh

Dùng phiếu này để kiểm tra bài cũ giúp tránh được tình trạng giáo viên chỉkiểm tra được 1 hay vài học sinh, còn các học sinh khác chỉ ngồi nghe theo dõi bạntrả lời Vì thế kiểm tra bằng phiếu buộc tất cả học sinh đều hoạt động và luôn luôn

ôn tập bài học ở nhà trước khi đến lớp

Loại phiếu này có nhược điểm là không phát huy được năng lực trình bày vàdiễn đạt bằng lời nói của học sinh Do vậy không nên dùng tràn lan việc kiểm trabằng phiếu Nên kiểm tra bài cũ bằng phiếu sau khi học sinh học xong tiết luyệntập, ôn tập chương hoặc những bài có nội dung kiến thức nhiều

- Phiếu dùng trong dạy bài mới

Phiếu dùng trong dạy bài mới là phiếu ghi rõ hệ thống nội dung câu hỏi, yêucầu được sắp xếp một cách logic khéo léo để học sinh hoạt động Qua đó các em có

Trang 25

thể vừa tự tìm ra các kiến thức mới của bài học vừa rèn luyện các kỹ năng tự họccủa học sinh Loại phiếu này có thể sử dụng một hoặc một vài kiến thức hay có thểcho cả bài tùy thuộc vào đặc điểm bài học và phương pháp tổ chức của giáo viên.

Sử dụng phiếu học tập trong dạy bài mới có nhiều ưu điểm như phát huy tínhtích cực của học sinh, tiết kiệm được thời gian giao câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ nhậnthức Bên cạnh đó có nhược điểm là việc giao tiếp bằng lời với học sinh bị hạn chế,không phải bất cứ học sinh nào cũng hiểu và làm được những yêu cầu giáo viên đưa

ra để tiếp thu bài

Nên sử dùng phiếu này ở những đơn vị kiến thức có nhiều ý kiến tranh cãi,những kiến thức mới được xây dựng trên những kiến thức cũ

Ví dụ: Bài “Chuyển động bằng phản lực” không có kiến thức mới, chủ yếudùng kiến thức cũ về định luật bảo toàn động lượng để làm cho học sinh hiểunguyên tắc chuyển động bằng phản lực Vì thế ta phải thiết kế phiếu học tập cho họcsinh hoạt động và tự tìm ra đặc điểm của chuyển động bằng phản lực

- Phiếu dùng trong củng cố bài

Phiếu dùng trong củng cố bài là loại phiếu có nội dung chủ yếu là câu hỏitrắc nghiệm bài tập có dành chỗ trống để học sinh điền vào nhằm giúp học sinh kháiquát hóa, hệ thống lại kiến thức, rèn luyện các kỹ năng

- Phiếu để ra bài về nhà

Đây là loại phiếu yêu cầu HS thực hiện ở nhà, phiếu ra bài về nhà có mụcđích yêu cầu học sinh vận dụng, ôn tập những kiến thức kĩ năng vừa mới được họchoặc tìm hiểu bài mới trước khi đến lớp Loại phiếu này thường được dùng ở cácbài ôn tập chương, lập bảng thống kê, xử lí số liệu thí nghiệm

- Phiếu dùng để rèn luyện, phát triển các kĩ năng cho HS như kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh, quy nạp, khái quát hóa

Loại phiếu này thường được sử dụng ở những bài có tiến hành thí nghiệm,thực hành Giáo viên có thể sử dụng phiếu này để yêu cầu học sinh quan sát, dựđoán, giải thích các hiện tượng và đưa ra kết luận của bài học

1.4.3 Căn cứ vào nội dung bài học

- Phiếu dùng để giảng dạy khái niệm vật lí.

- Phiếu dùng để giảng dạy định luật vật lí

- Phiếu dùng để giảng dạy thuyết vật lí

Trang 26

1.4.4 Căn cứ vào tiêu chí sử dụng phiếu học tập để rèn luyện các kĩ năng Vật lí cho học sinh

- Kĩ năng thu lượm thông tin từ quan sát thực nghiệm, thí nghiệm, điều tra, sưu tầm tài liệu, tìm hiểu trên các thông tin đại chúng, khai thác mạng internet

Để rèn luyện kĩ năng này, GV thiết kế phiếu cho HS tìm hiểu chuẩn bị ở nhà,

ví dụ yêu cầu học sinh tìm hiểu ứng dụng của các hiện tượng vật lí trong đời sốngKHKT, tìm hiểu về các hành tinh

- Kĩ năng thực hành vật lí: Kĩ năng lắp đặt thí nghiệm, kĩ năng quan sát

thí nghiệm

- Kĩ năng xử lí thông tin về vật lí: Xây dựng bảng biểu, vẽ đồ thị, rút ra kết

luận quy nạp, khái quát hóa

Để phát triển những kĩ năng này GV thường dùng PHT trong các bài thựchành thí nghiệm, với các yêu cầu:

+ Phần HS chuẩn bị ở nhà: Mục đích thí nghiệm, cơ sở lí thuyết, phương ánthí nghiệm, chuẩn bị các dụng cụ thí nghiệm

+ Phần thực hành ở lớp:

• HS điền các số liệu ở bảng thí nghiệm

• HS vẽ đồ thị biểu biễn các đại lượng có liên quan với nhau

• HS đưa ra nhận xét kết quả thí nghiệm, nguyên nhân gây ra sai số thí nghiệm

- Rèn luyện kĩ năng giải bài tập vật lí, vận dụng các kiến thức vật lí để giải thích các hiện tượng đơn giản

Thường GV sử dụng PHT trong các tiết bài tập, phần củng cố bài học

1.5 Sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lí

Để thực hiện được các phương pháp dạy học đáp ứng nhu cầu dạy học tíchcực hiện nay, đòi hỏi phải có các phương tiện dạy học thích hợp Các phương tiệndạy học có vai trò quan trọng trong dạy học vật lí Nó là công cụ để giáo viên tổchức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức; là nguồn tri thức để học sinh tìm tòi, khámphá, rút ra những nội dung cần thiết cho nhận thức của mình Phương tiện dạy học

là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu dạy học

Một trong những mục tiêu dạy học giáo viên có khả năng làm được, dễ sửdụng và có thể phục vụ cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học đó là phiếu họctập Nó là công cụ để giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, học sinh

Trang 27

thực hiện các công việc trong phiếu học tập bằng nổ lực cá nhân hoặc bằng hợp tácnhóm qua đó nhận thức được bài học.

Thông qua việc giải quyết các câu hỏi, yêu cầu trong phiếu học tập và qua

sự góp ý của bạn bè, sửa chữa của giáo viên mỗi cá nhân học sinh cũng có phần nàođánh giá được kết quả công việc của mình Đồng thời, qua việc tổ chức các hoạtđộng bằng phiếu học tập, giáo viên có thể thu nhận những thông tin phản hồi vềkiến thức, kỹ năng, thái độ học tập của học sinh để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

Để phiếu học tập trở thành phương tiện dạy học có hiệu quả, giáo viên cầnthiết kế và sử dụng nó tùy thuộc vào mục tiêu bài học, cách thức tổ chức hoạtđộng của học sinh

1.5.1 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: xây dựng kiến thức mới

Phiếu dùng trong dạy bài mới là loại phiếu có ghi rõ các công việc được sắpxếp có hệ thống và logic để HS thực hiện nhằm tự lực tìm ra kiến thức mới của bàihọc Thông thường, phiếu này phải có gợi ý, hướng dẫn để HS có thể tự lực hoànthành phiếu Loại phiếu này có thể sử dụng cho một hoặc một vài đơn vị kiến thứchay có thể cho cả bài học

Việc sử dụng PHT trong dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm như phát huy tínhtích cực học tập của HS, tự lực tìm ra kiến thức mới, tiết kiệm được thời gian giaocâu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, GV có thể nhận biết được thái độ, năng lực họctập của từng HS Bên cạnh đó, việc sử dụng phiếu cũng có những hạn chế như việcgiao tiếp bằng lời giữa GV và HS không nhiều, không phải bất cứ HS nào cũng hiểuđược và làm được những yêu cầu mà GV đưa ra để có thể tiếp thu được bài mới, do

đó, cần có sự hướng dẫn riêng đối với những HS này

1.5.2 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: giải bài tập vật lí

Loại phiếu này có nội dung là những bài tập giao cho HS hoàn thành, có thểkèm theo gợi ý, hướng dẫn nếu là bài tập khó, GV có thể cho đáp số trước hoặctrình bày đáp số dưới dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Khi thực hiệnloại phiếu này, các kỹ năng giải bài tập VL sẽ được hình thành trong HS như tóm tắt

đề bài, phân tích dữ kiện bài toán, nêu được các định luật và công thức liên quan,đổi đơn vị, sử dụng đúng các thuật ngữ VL để viết được những lời giải chínhxác Phiếu này có thể dùng để củng cố, ôn tập, hay giao bài về nhà

Trang 28

1.5.3 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: tổng kết chương

Khi sử dụng PHT trong bài học tổng kết chương cần có những câu hỏi, bàitập, những yêu cầu được viết sẵn trên giấy, có chừa sẵn chỗ trống để HS thực hiệnnhằm mục đích khái quát hóa, hệ thống lại những kiến thức, kỹ năng đã học trongmột chương

Phiếu này thường được dùng lúc gần cuối tiết học sau khi học xong chương,hoặc có thể dùng sau khi học xong một bài nào đó của chương mà cần củng cố lạikiến thức của bài đó ngay

1.5.4 Sử dụng phiếu học tập trong bài học: thực hành vật lí

Loại phiếu này có nội dung là những yêu cầu đưa ra để HS tiến hành thínghiệm, giúp HS rèn luyện những kỹ năng như sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp đặtdụng cụ, xử lí số liệu, nhận xét kết quả thí nghiệm

Loại phiếu này thường được sử dụng khi dạy các bài thực hành

1.6 Quy trình sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lí

Sử dụng PHT trong dạy học tức là GV tiến hành các hoạt động học tập cho

HS Khi sử dụng PHT giáo viên cần phải nhắc nhở HS chuẩn bị bài trước khi đếnlớp Nếu thảo luận theo nhóm thì GV có thể chia nhóm ở tiết trước và nêu nhữngvấn đề cần thảo luận cho HS để HS chuẩn bị ở nhà Để sử dụng PHT trong 1 tiếthọc GV thường tiến hành theo các bước sau:

Sơ đồ 1.2: Trình tự các bước sử dụng PHT trong dạy học vật lí

Bước 1: Giao PHT cho HS hoạt động theo cách tổ chức học tập

Tùy theo cách tổ chức dạy học GV giao PHT cho HS với số lượng thích hợp

Ví dụ với hoạt động cá nhân mỗi người một PHT, nếu hoạt động theo nhóm, GVgiao PHT cho HS cùng với những yêu cầu hướng dẫn nhiệm vụ cụ thể

HS làm việc với PHT, GV quan sát hướng dẫn quá trình hoạt động với PHT của HS

GV chỉnh sửa, chính xác hóa kiến thức

GV nhận xét tổng kết công việc

Trang 29

Bước 2: Học sinh làm việc với phiếu, GV quan sát hướng dẫn quá trình hoạt động với PHT của học sinh.

Sau khi phát PHT, GV yêu cầu HS hoàn thành nhiệm vụ trong phiếu Trongkhi HS giải quyết công việc GV cần quan sát hướng dẫn cho HS

Quan sát để phát hiện những biểu hiện thiếu tập trung trong việc học và phântích các dữ kiện không đúng trọng tâm để kịp thời nhắc nhở, hướng dẫn Điều đặcbiệt quan trọng là qua việc quan sát GV nắm thái độ, ý thức học tập của mỗi HS vàđảm bảo cho tất cả HS đều cùng làm việc, không để tình trạng có HS lười biếng,dựa dẫm, thụ động, chờ bạn khác làm việc

GV có thể luân phiên tham gia công việc của từng nhóm, hoặc công tác vớimột nhóm hay một HS cụ thể khi làm việc với phiếu, qua đó kiểm soát được nhịp độlàm việc của HS và điều hành lớp một cách chính xác Việc giám sát như vậy giúpcho công việc của các nhóm tiến triển đồng đều xoay quanh trọng tâm bài học

Bước 3: Tổ chức cho HS trình bày kết quả làm việc với PHT, HS khác sửachữa, bổ sung sau đó GV chính xác hóa lại kiến thức

Việc tổ chức cho HS trình bày kết quả làm việc với PHT có ý nghĩa rất quantrọng Đây là cơ hội phát triển kĩ năng học tập hợp tác, giúp HS chia sẻ những kếtquả, ý tưởng…từ đó học hỏi lẫn nhau

Trong bước này GV cần cho HS luân phiên thay nhau báo cáo để các emtham gia đóng góp ý kiến, góp ý bổ sung,…các kết quả công việc với nhau đểhoàn thành PHT GV theo dõi sửa chữa, kết luận các kiến thức đúng và đầy đủ

để HS hoàn thành PHT

Bước 4: Tổng kết công việc

Sau khi HS trình bày kết quả làm việc và được GV sửa chữa là bước tổng kếtcông việc thực hiện phiếu của HS Mục đích của bước này giúp HS rút ra kinhnghiệm, học hỏi điểm tốt của bạn, sửa chữa những khuyết điểm của bản thân

Theo tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “Trong bước này không nhất thiết

GV phải đích thân nhận xét, tổng kết bài mà tốt hơn là khuyến khích HS tổng kết Thông qua việc tổng kết, HS tự đánh giá công việc của nhau, xử lí các mối quan hệ

xã hội trong các nhóm và lớp, rút ra những kinh nghiệm cần thiết từ lập trường của chính họ, chứ không phải từ lập trường của GV”.

Trang 30

1.7 Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việcxây dựng và sử dụng PHT trong dạy học Để giải quyết nhiệm vụ đề tài của luậnvăn Chúng tôi đã quan tâm những vấn đề sau:

- Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

- Các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

- Quy trình các bước sử dụng PHT trong dạy học vật lí

Trang 31

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN”

- Nêu được mối quan hệ giữa công, động năng, thế năng

- Phát biểu được nội dung, viết được biểu thức của các định luật bảo toànđộng lượng, bảo toàn cơ năng và vận dụng được các định luật bảo toàn này để giảithích một số hiện tượng và giải một số bài toán liên quan

+ Viết được công thứctính và nêu được đơn vịcủa động lượng

+ Phát biểu và viết đượcbiểu thức của định luậtbảo toàn đối với hệ kíngồm hai vật

+ Nêu được nguyên tắcchuyển động bằng phảnlực

+ Nêu được khái niệm và lấyđược ví dụ về hệ kín?

+ Viết được công thức tính

và nêu được đơn vị của độnglượng

+ Phát biểu và viết được biểuthức của định luật bảo toànđối với hệ kín gồm hai vật

+ Nêu được nguyên tắcchuyển động bằng phản lực

Công, + Phát biểu được định + Phát biểu được định nghĩa

Trang 32

công suất nghĩa và viết được công

nghĩa, viết được công

thức và nêu được đơn vị

của động năng

+ Phát biểu được định nghĩa,viết được công thức và nêuđược đơn vị của động năng + Phát biểu và viết được biểuthức của định lí động năng

nghĩa, viết được công

thức và nêu được đơn vị

của thế năng của một

SGKchuẩnkhôngyêu cầuhọc sinhthiết lậpcôngthứctính thếnăngđàn hồi

nghĩa, và viết được biểu

thức của cơ năng

+ Phát biểu và viết được

biểu thức của định luật

bảo toàn cơ năng

+ Phát biểu được định nghĩa,

và viết được biểu thức của cơnăng

+ Phát biểu và viết được biểuthức của định luật bảo toàn

Ba định

luật

Kê-ple

+ Có khái niệm đúng về hệnhật tâm: Mặt Trời là trungtâm của các hành tinh quay

Trang 33

để giải được các bài tậpđối với hai vật va chạmmềm.

+ Vận dụng định luật bảotoàn động lượng (xét hệ kíngồm hai và nhiều vật), bảotoàn năng lượng (cơ năng) đểgiải được các bài tập đối vớihai vật va chạm mềm, va

chạm đàn hồi

+ Vận dụng được các công thức:A= F s.cosα

+Tính được vận tốc của các

vật sau va chạm đàn hồi vàphần động năng của hệ bị

giảm sau va chạm mềm

Trang 34

2.1.2 Chuẩn kiến thức và kỹ năng

e) Cơ năng Định luật

bảo toàn cơ năng

- Nêu được nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tínhcông

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính độngnăng Nêu được đơn vị đo động năng

- Phát biểu và viết được hệ thức của định lí động năng

- Phát biểu được định nghĩa thế năng của một vật trongtrọng trường và viết được công thức tính thế năng này Nêuđược đơn vị đo thế năng

- Viết được công thức tính thế năng đàn hồi

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính cơnăng

- Phát biểu được định luật bảo toàn cơ năng và viết được hệthức của định luật này

- Phát biểu và viết được hệ thức của ba định luật Kê-ple

Kĩ năng

Vận dụng định luật bảo toàn động lượng, bảo toàn nănglượng để giải được các bài tập đối với hai vật va chạmmềm, va chạm đàn hồi

+ Vận dụng được các công thức A = Fscosα và P =A

t + Vận dụng định luật bảo toàn cơ năng để giải được bàitoán chuyển động của một vật, của hệ có hai vật

Trang 35

2.1.3 Cấu trúc lôgic nội dung dạy học

Sơ đồ 2.1: Cấu trúc lôgic nội dung chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 NC

Trang 36

- Phiếu học tập phải phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học, trình độ học sinh.

Phiếu học tập được thiết kế phải dựa trên mục tiêu bài học về kiến thức, kĩnăng, thái độ Việc xây dựng phiếu học tập giúp học sinh hoạt động đạt được mụctiêu này thì phiếu học tập mới có giá trị thực tiễn Nội dung phiếu học tập phải xâydựng dựa trên nội dung của bài học Nội dung phiếu phải ngắn gọn, phải được họcsinh khám phá, nhận thức và nắm bắt

Mặc khác, xây dựng phiếu cần phải xuất phát từ đặt điểm tâm sinh lí, trình

độ nhận thức của học sinh để đưa ra những yêu cầu phù hợp Điều đó có ý nghĩa làcác câu hỏi, yêu cầu của phiếu phải đảm bảo tính vừa sức vừa đảm bảo tính pháttriển tư duy của học sinh, các nhiệm vụ trong phiếu không quá khó cũng không quá

dễ và đảm bảo đa số học sinh đều làm được và hoạt động được

-Phiếu học tập phải đảm bảo tính khoa học, tính chính xác và tính thẩm mĩ.

•Tính khoa học đòi hỏi các kiến thức, thông tin trong phiếu học tập phảihoàn toàn chính xác, được trình bày một cách lôgic và khoa học

•Tính chính xác yêu cầu những thông tin nội dung trong phiếu học tập phảiđúng và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và đáng tin cậy

•Tính thẩm mĩ của phiếu thể hiện ở cách trình bày phải ngắn gọn, rõ ràng cânđối, lôgic tường minh và đẹp Hình thức trình bày phiếu có tính thẩm mĩ cao sẽ tạo

sự hấp dẫn hứng thú cho học sinh khi làm việc với phiếu

- Phiếu học tập phải chỉ dẫn rõ nhiệm vụ, phương pháp làm việc cho học sinh, đảm bảo cho học sinh làm việc trong thời gian nhất định, có qui định thời gian hoàn thành.

Những mệnh lệnh, yêu cầu đưa ra cho học sinh phải chỉ rõ học sinh phải làmgì? làm thế nào? căn cứ vào đâu? Thông thường những mệnh lệnh đưa ra là nhữngđộng từ: Em hãy nhận xét? hãy nhận xét, hãy giải thích, hãy chứng minh? Các câuhỏi bài tập phải có gợi ý hướng dẫn cụ thể Điều này rất cần thiết đối với những nộidung khó và phức tạp

Vì mỗi tiết học có giới hạn thời gian nên khối lượng công việc trong phiếuvừa đủ đảm bảo đa số học sinh có thể hoàn thành trong một thời gian ngắn Vì thếkhi xây dựng phiếu học tập giáo viên cần tính đến yếu tố thời gian để định lượngcông việc vừa đủ và khi phát phiếu học tập cho học sinh phải qui định thời gianhoàn thành

Trang 37

- Trong phiếu học tập phải có chỗ điền tên học sinh để khi cần giáo viên đánh giá trình độ học sinh, có khoảng trống thích hợp để học sinh điền kết quả công việc đã làm, có đánh số thứ tự của phiếu (nếu biên soạn một tập phiếu học tập cho cả bài học).

+ Hệ thống bài tập câu hỏi, tranh ảnh, các ví dụ…

+ Hệ thống các hoạt động của học sinh: Giáo viên nêu ra những yêu cầu

cụ thể để học sinh thực hiện (phân tích, quan sát, giải thích…)

- Tương ứng với mỗi yêu cầu có khoảng trống để học sinh điền kết quảcông việc đã làm

2.2.3 Quy trình xây dựng (Sơ đồ 2.2)

Sơ đồ 2.2: Quy trình xây dựng PHT

2.2.4 Kỹ thuật soạn thảo phiếu học tập

Để soạn thảo phiếu học tập có chất lượng nhằm tổ chức cho học sinh lĩnh hộikiến thức ngoài việc phải tuân thủ theo các bước của quy trình thiết kế mà trongmỗi bước có các kỹ thuật soạn thảo riêng

Bước 1: Xác định các nội dung bài học có thể sử dụng phiếu học tập

Tập hợp các kiến thức, các thông tin, dữ kiện, sự kiệnChọn ra những vấn đề cần xây dựng PHT

Xây dựngPHT

Trang 38

Để chọn bài có thể sử dụng phiếu học tập hiệu quả cần lưu ý một số điểm sau:

- Đó là những bài học hoặc những đơn vị kiến thức bài học thích hợp trongviệc tổ chức cho học sinh nghiên cứu độc lập hoặc thảo luận nhóm lấy ý kiếnnhiều người

- Những bài có nội dung không phức tạp, thường là yêu cầu học sinh vậndụng các kiến thức đã học kết hợp với nghiên cứu sách giáo khoa hoặc những hiểubiết là có thể nhận thức được tri thức mới cần nắm

- Nội dung cần xây dựng trong phiếu học tập là những kiến thức cơ bản,trọng tâm Để học sinh hoạt động có hiệu quả, giáo viên nên đưa ra các yêu cầu cóđịnh hướng theo trình tự logic của quá trình tiếp thu tri thức Ví dụ giáo viên yêucầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa rồi lập bảng so sánh hoặc nêu đặc điểm vàvai trò của sự vật hiện tượng, hoàn thành sơ đồ

Bước 2: Xác định nội dung của phiếu, cách trình bày phiếu

Sau khi chọn bài và định hướng nội dung cần soạn phiếu, giáo viên cần xácđịnh nội dung sẽ trình bày trong phiếu Nội dung trong phiếu chính là nội dung giáoviên dự định sẽ tổ chức cho học sinh hoạt động và nhận thức Nội dung của phiếu

phụ thuộc vào mục tiêu bài học, thuộc đơn vị kiến thức có thể sử dụng PHT, cách

trình bày phiếu cũng rất đa dạng như: nêu đặc điểm, giải thích hiện tượng, câu hỏitrắc nghiệm tùy thuộc vào quá trình tổ chức các hoạt động của mỗi giáo viên trongmỗi bài học

- Khi PHT là bài thực hành thì GV phải xây dựng phiếu thành 2 phần riêng biệt:

1 Phần cho học sinh hoạt động ở nhà: tên thí nghiệm, mục đích thí nghiệm,

cơ sở thí nghiệm

2 Phần cho học sinh hoạt động trên lớp:

+ Bảng để học sinh điền số liệu và tính các đại lượng có liên quan, sai sốphép đo

+ Phần ô vuông có các trục tọa độ để học sinh vẽ đồ thị biểu diễn các đạilượng có liên quan

+ Phiếu phải có các khoảng trống để học sinh ghi các kết quả thí nghiệm

- Khi nội dung PHT là tiến hành thí nghiệm, giáo viên phải thiết kế phiếu cóđầy đủ các mục để học sinh định hướng hoạt động:

+ Dự đoán hiện tượng xảy ra

Trang 39

+ Quan sát hiện tượng, điền các số liệu vào bảng, điền các kết quả thí nghiệm.+ Nhận xét hiện tượng xảy ra.

+ Giải thích hiện tượng xảy ra

+ Đưa ra kết luận thí nghiệm

- Khi nội dung PHT là hình thành khái niệm hoặc so sánh giữa các sự vậthiện tượng thì có thể trình bày phiếu như sau:

1.Cho các ví dụ về hiện tượng

2 Nhận xét đặc điểm hiện tượng, so sánh đặc điểm của các hiện tượng

3 Từ kết quả thí nghiệm rút ra kết luận, các khái niệm

Bước 3: Thu Thập thông tin

Để xây dựng PHT giáo viên có thể thu thập thông tin từ SGK, SGV, sáchtham khảo về câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi thực tế, bài tập định tính về vật lí

Bước 4: Trình bày phiếu

Trình bày phiếu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và thẩm mĩ Khi trìnhbày phiếu cần chú ý một số điểm sau đây:

- Các câu hỏi của một vấn đề phải tách ý ra để học sinh khỏi phân tán, các ýphải sắp xếp một cách lôgic…

- Ở các câu hỏi cần sự khẳng định hay phủ định GV có thể cho HS chọn đáp

án đúng hay sai để tiết kiệm thời gian làm bài

- Phiếu học tập phải để những khoảng trống thích hợp để học sinh điền kếtquả của mình vào

- Các câu dẫn phải rõ ràng; không tối nghĩa, nhiều nghĩa để khỏi làm phântán suy nghĩ của HS

Ví dụ : Bài: “Chuyển động bằng phản lực”

Dạy phần 1: “Nguyên tắc chuyển động bằng phản lực”

Trang 40

Bước 1 : Xác định nội dung bài học có sử dụng PHT

Bước 2: Xác định nội dung và cách trình bày phiếu

1 Nội dung PHT gồm 2 phần chính

- Đưa ra khái niệm chuyển động bằng phản lực

- Phân biệt chuyển động phản lực và chuyển động nhờ phản lực

2 Cách trình bày nội dung

- GV cho các ví dụ về chuyển động bằng phản lực, yêu cầu HS nêu đặcđiểm giống nhau của các chuyển động Từ đó đưa ra khái niệm “Chuyển động theonguyên tắc bằng phản lực”

- GV cho các ví dụ về chuyển động, yêu cầu HS phân biệt đâu là chuyểnđộng bằng phản lực

3 Hình thức thể hiện

- Các ví dụ chuyển động theo nguyên tắc bằng phản lực có thể kèm theohình ảnh

- Phần vận dụng: dạng câu hỏi lựa chọn và yêu cầu HS giải thích

Bước 3: Thu thập thông tin, dữ liệu

- Tìm các chuyển động theo nguyên tắc bằng phản lực có kèm ảnh

Ví dụ : chuyển động của con mực, hiện tượng súng giật lùi

- Tìm các chuyển động chịu tác dụng về phản lực để HS hiểu đúng thuậtngữ thế nào là chuyển động bằng phản lực

Ví dụ: Chuyển động của vận động viên nhảy sào nhờ phản lực của mặt đất Bước 4: Xây dựng phiếu học tập:

2.3 Xây dựng phiếu học tập hỗ trợ dạy học chương “Các định luật bảo toàn”

Ngày đăng: 26/08/2017, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Châu Âu (2009), Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lí phần sóng ánh sáng và lượng tử ánh sáng vật lí 12 nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục, Đại học sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật líphần sóng ánh sáng và lượng tử ánh sáng vật lí 12 nâng cao
Tác giả: Hoàng Châu Âu
Năm: 2009
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình dạy học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tự lực của HS trong quátrình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
3. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh (2006), Sách giáo khoa lớp 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa lớp 10
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh (2006), Sách giáo viên lớp 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên lớp 10
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Phan Đức Duy, Nguyễn Khoa Lân, Nguyễn Bá Lộc, Bền Văn Minh, Đặng Thị Dạ Thủy (2005), Một số vấn đề dạy học sinh học ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy học sinh học ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Đức Duy, Nguyễn Khoa Lân, Nguyễn Bá Lộc, Bền Văn Minh, Đặng Thị Dạ Thủy
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Thu Hiền (2006), Sử dụng phiếu học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học bài: “Lai hai cặp tính trạng”, tạp chí giáo dục số 134 kì 2 – 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phiếu học tập nhằm nâng cao chấtlượng dạy học bài: “Lai hai cặp tính trạng”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2006
7. Đặng Thành Hưng (2004), Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp tác, phát triển giáo dục số 8, 8/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy họchợp tác
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2004
8. Nguyễn Thế Khôi, Phạm Quý Tư, Lương Tất Đạt, Lê Chân Hùng, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Đình Thiết, Bùi Trọng Tuân, Lê Trọng Tường (2006), Sách giáo viên lớp 10 nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáchgiáo viên lớp 10 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Phạm Quý Tư, Lương Tất Đạt, Lê Chân Hùng, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Đình Thiết, Bùi Trọng Tuân, Lê Trọng Tường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Hà Việt Phương (2008), Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh qua dạy học giải bài tập vật lí chương động học chất điểm - Vật lí 10 chương trình nâng cao, luận án thạc sĩ ĐHSP Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh quadạy học giải bài tập vật lí chương động học chất điểm - Vật lí 10 chương trìnhnâng cao
Tác giả: Hà Việt Phương
Năm: 2008
10. Nguyễn Thế Khôi, Phạm Quý Tư, Lương Tất Đạt, Lê Chân Hùng, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Đình Thiết, Bùi Trọng Tuân, Lê Trọng Tường(2006), Sách giáo khoa lớp 10 nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáchgiáo khoa lớp 10 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Phạm Quý Tư, Lương Tất Đạt, Lê Chân Hùng, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Đình Thiết, Bùi Trọng Tuân, Lê Trọng Tường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (2001), Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thứccho học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
12. Phạm Đình Thực (2003), Dạy toán bằng phiếu giao việc, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy toán bằng phiếu giao việc
Tác giả: Phạm Đình Thực
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
13. Lê Công Triêm, Lê Văn Giáo, Lê Thúc Tuấn, Trần Huy Hoàng, Nguyễn Khoa Lan Anh, Nguyễn Thanh Hải(2006), Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm vật lí lớp 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm vật lí lớp10
Tác giả: Lê Công Triêm, Lê Văn Giáo, Lê Thúc Tuấn, Trần Huy Hoàng, Nguyễn Khoa Lan Anh, Nguyễn Thanh Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
14. Lê Công Triêm (2005), Phân tích chương trình vật lí phổ thông, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chương trình vật lí phổ thông
Tác giả: Lê Công Triêm
Năm: 2005
15. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2003), Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phươngpháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
16. Lê Công Triêm (2004), Nghiên cứu chương trình vật lí phổ thông, ĐHSP – ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chương trình vật lí phổ thông
Tác giả: Lê Công Triêm
Năm: 2004
18. Phạm Quý Tư (Chủ biên), Sách dùng cho giáo viên,Vật lí 10 Nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách dùng cho giáo viên,Vật lí 10 Nâng cao
Nhà XB: NXBGiáo dục
19. Phạm Quý Tư (Chủ biên), Bài tập Vật lí 10 Nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí 10 Nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Trần Thùy Uyên (2005), Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học địa lí lớp 12, luận án thạc sĩ ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học địalí lớp 12
Tác giả: Trần Thùy Uyên
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w