Hình thức giáo dục điện tử (Education)và đào tạo từ xa (Distance Learning) gọi chung là eLearning, dựa trên công cụ máy tính và môi trường Web ra đời như một hình thức học tập mới mang đến cho người học một môi trường học tập hiệu quả với tinh thần tự giác và tích cực. Với nhiều ưu điểm nổi bật, eLearning được xem như một giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu “Học mọi nơi, học mọi lúc, mọi thứ, học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời ” của mọi người và trở thành một xu hướng tất yếu trong giáo dục đào tạo hiện nay, tạo ra những thay đổi lớn trong hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, việc áp dụng eLearning vào dạy học thực tế còn gặp nhiều khó khăn, chưa mang lại hiệu quả cao. Đồng thời, eLearning vẫn chưa phủ nhận được vai trò chủ đạo của các hình thức dạy học trên lớp, máy tính vẫn chưa hoàn toàn thay thế được phấn trắng, bảng đen. Vì vậy việc tìm ra giải pháp kết hợp học trên lớp với các giải pháp eLearning là điều hết sức cần thiết trong giáo dục hiện nay. Với mô hình học tập tích hợp blearning học sinh tiếp tục nhận được các hướng dẫn trên lớp từ giáo viên và tham gia các hoạt động trên lớp truyền thống đồng thời việc học sẽ được bổ sung bởi các hoạt động online, một số hoạt động sẽ mang tính tự định hướng và tự học, một số sẽ khuyến khích sự hợp tác. Sự kết hợp của hướng dẫn trên lớp truyền thống và môi trường kỹ thuật số tạo nên một trải nghiệm học tập thích hợp với mỗi cá nhân, hiệu quả hơn, kết quả thu được tốt hơn. Môi trường bLearning cũng khiến phụ huynh quan tâm hơn tới con em của mình trong quá trình học. Phụ huynh có thể truy cập vào cùng nguồn học tập giống như con họ để giúp con học và nghiên cứu ngoài giờ lên lớp. Điều này đặc biệt hữu ích với các môn như Vật Lý và khoa học vì những môn này thường được dạy rất khác so với những gì các phụ huynh được dạy trước đây. Bằng việc truy cập vào các nguồn online, phụ huynh sẽ nắm được rõ hơn các chủ đề được dạy như thế nào và chuẩn bị tốt hơn để giúp con mình hiểu được các khái niệm và hoàn thành bài tập. Trong chương trình giảng dạy Vật lý với khối lượng kiến thức lớn, đặc biệt với chương “Dòng điện không đổi” là chương có lượng bài tập khá nhiều và khó. Kiến thức chương “Dòng điện không đổi” có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật. Các tiết học trên lớp không đủ thời gian để cung cấp hết những kiến thức và bài tập của chương. Chính vì vậy, tổ chức hoạt động ôn tập theo mô hình bLearning sẽ giúp cho học sinh nắm vững các kiến thức hơn và nâng cao hiệu quả tự ôn tập ở nhà. Thời gian gần đây cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tổ chức hoạt động dạy học theo mô hình bLearning và nghiên cứu tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá với sự hỗ trợ của Website. Qua điều tra thực tế, tôi thấy hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá chưa được chú trọng, các giáo viên chỉ ôn tập qua loa và việc kiểm tra đánh giá còn mang tính hình thức. Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 nâng cao theo mô hình bLearning.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ MINH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP VÀ KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” VẬT LÝ 11
NÂNG CAO THEO MÔ HÌNH B-LEARNING
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
Huế, Năm 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung
thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa được
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Họ và tên tác giả
Trang 3Lời Cảm Ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo trong phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo khoa Vật lý trường ĐHSP Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoa học tại khoa
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Huy Hoàng đã trực tiếp giảng dạy, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Vĩnh Linh đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Tôi xin chân thành cảm bạn bè và người thân trong gia
chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật
lý trường ĐHSP Huế đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Huế, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Hồ Thị Minh
Trang 4MỤC LỤC
TrangTrang phụ bìa
Trang 5Trung học phổ thôngThực nghiệm
TNSP
TNKQ
Thực nghiệm sư phạmTrắc nghiệm khách quan
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS 41
Bảng 1.2 : Các nội dung thường ôn tập hiện nay 42
Bảng 1.3 Các biện pháp ôn tập được GV áp dụng hiện nay 43
Bảng 1.4 Các cách tổ chức hướng dẫn ôn tập của GV mà HS thích 44
Bảng 1.5 Kết quả điều tra khả năng ứng dụng CNTT của GV 45
Bảng 1.6 Kết quả điều tra khả năng ứng dụng CNTT của HS ở THPT 46
Bảng 3.1: Đặc điểm chất lượng học tập của lớp thực nghiệm và đối chứng học kì 2 năm học 2013 – 2014 82
Bảng 3.2: Bảng thống kê kết quả kiểm tra 85
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích 86
Bảng 3.4: Các tham số đặc trưng 86
Biểu đồ 3.1: Đồ thị biểu diễn đường phân phối tần suất của nhóm lớp TN và lớp ĐC sau khi TN 87
Biểu đồ 3.2: Đồ thị biểu diễn đường phân phối tần suất luỹ tích 87
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH TRONG LUẬN VĂN
Trang Hình 1.1 Các bước xây dựng hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá theo
mô hình b-Learning 40
Hình 2.1 Giao diện của hệ thống e-Learning chương “Dòng điện không đổi”
Hình 2.2 Danh sách HS đăng kí thành viên của hệ thống e-Learning Dòng điện không đổi 52
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình tham gia ôn tập trực tuyến trong hệ thống e-Learning chương Dòng điện không đổi 52
Hình 2.4 Giao diện module hệ thống kiến thức 53
Hình 2.5 Hướng dẫn download phần mềm và tiến hành thí nghiệm bài “Dòng điện không đổi Nguồn điện” 54
Hình 2.6 Thí nghiệm mô phỏng định luật Ôm 55
Hình 2.7 Sơ đồ kiến thức bài “Dòng điện không đổi Nguồn điện” 56
Hình 2.8 Sử dụng bài tập trắc nghiệm 57
Hình 2.9 Phản hồi hướng dẫn khi lựa chọn lần đầu vào đáp án sai 58
Hình 2.10 Phản hồi khi lựa chọn vào phương án đúng 58
Hình 2.11 Hướng dẫn khi làm bài tập tự luận 59
Hình 2.12 Hướng dẫn làm bài kiểm tra 60
Hình 2.13 Nội dung câu hỏi và phương án lựa chọn 60
Hình 2.14 Thông báo kết quả kiểm tra 61
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoahọc – công nghệ (CMKH-CN) và cách mạng xã hội Những cuộc cách mạng nàyđang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người,thúc đẩy nhiều lĩnh vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớnlao khi loài người bước vào thế kỷ XXI
Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and CommunicationTechnology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc CMKH-CN hiện nay Nó thâmnhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệtrong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáodục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội
và nhân văn Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết vàthực hành Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT)vào giáo dục đã trở thành mối ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Sựbùng nổ tri thức cùng với các vấn đề giao lưu hội nhập quốc tế khiến mỗi chúng taphải biết tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đặc biệt là sự ra đời củamạng máy tính toàn cầu (Internet) giúp chúng ta biết lựa chọn các phương pháp họctập cho phù hợp Các chuyên gia giáo dục đều cho rằng, khi đưa CNTT-TT vào nhàtrường sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục dẫn đến những thay đổi trong
cả nội dung và phương pháp dạy và học
Hiện nay, Việt Nam đang phấn đấu tiến đến xây dựng một nền kinh tế tri thức.Nền kinh tế tri thức đòi hỏi nền giáo dục phải là nền giáo dục tiên tiến Trong nềngiáo dục đó thì phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực, chủ độngcủa người học để tạo ra những người lao động có khả năng sáng tạo, thích ứngnhanh với môi trường sống Do vậy, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học làmột vấn đề mang tính thời sự
Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sảnViệt Nam (Khoá VII, năm 1993) đã chỉ rõ: Về phương pháp giáo dục phải khuyếnkhích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng chohọc sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản
Trang 9Việt Nam (Khoá VIII, năm 1997) tiếp tụ khẳng định “Phải đổi mới phương phápđào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo củangười học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đạivào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho họcsinh” Luật Giáo Dục 2005 đã quy định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tự giác, tích cực chủ động sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từnglớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS"
Hình thức giáo dục điện tử (Education)và đào tạo từ xa (Distance Learning)gọi chung là e-Learning, dựa trên công cụ máy tính và môi trường Web ra đời nhưmột hình thức học tập mới mang đến cho người học một môi trường học tập hiệuquả với tinh thần tự giác và tích cực Với nhiều ưu điểm nổi bật, e-Learning đượcxem như một giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu “Học mọi nơi, học mọi lúc, mọi thứ,học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời ” của mọi người và trở thành một
xu hướng tất yếu trong giáo dục đào tạo hiện nay, tạo ra những thay đổi lớn tronghoạt động dạy và học Tuy nhiên, việc áp dụng e-Learning vào dạy học thực tế còngặp nhiều khó khăn, chưa mang lại hiệu quả cao Đồng thời, e-Learning vẫn chưaphủ nhận được vai trò chủ đạo của các hình thức dạy học trên lớp, máy tính vẫnchưa hoàn toàn thay thế được phấn trắng, bảng đen Vì vậy việc tìm ra giải pháp kếthợp học trên lớp với các giải pháp e-Learning là điều hết sức cần thiết trong giáodục hiện nay
Với mô hình học tập tích hợp b-learning học sinh tiếp tục nhận được cáchướng dẫn trên lớp từ giáo viên và tham gia các hoạt động trên lớp truyền thống
đồng thời việc học sẽ được bổ sung bởi các hoạt động online, một số hoạt động sẽ
mang tính tự định hướng và tự học, một số sẽ khuyến khích sự hợp tác Sự kết hợpcủa hướng dẫn trên lớp truyền thống và môi trường kỹ thuật số tạo nên một trảinghiệm học tập thích hợp với mỗi cá nhân, hiệu quả hơn, kết quả thu được tốt hơn Môi trường b-Learning cũng khiến phụ huynh quan tâm hơn tới con em củamình trong quá trình học Phụ huynh có thể truy cập vào cùng nguồn học tập giốngnhư con họ để giúp con học và nghiên cứu ngoài giờ lên lớp Điều này đặc biệt hữuích với các môn như Vật Lý và khoa học vì những môn này thường được dạy rấtkhác so với những gì các phụ huynh được dạy trước đây Bằng việc truy cập vào cácnguồn online, phụ huynh sẽ nắm được rõ hơn các chủ đề được dạy như thế nào và
Trang 10chuẩn bị tốt hơn để giúp con mình hiểu được các khái niệm và hoàn thành bài tập Trong chương trình giảng dạy Vật lý với khối lượng kiến thức lớn, đặc biệt vớichương “Dòng điện không đổi” là chương có lượng bài tập khá nhiều và khó Kiếnthức chương “Dòng điện không đổi” có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật.Các tiết học trên lớp không đủ thời gian để cung cấp hết những kiến thức và bài tậpcủa chương Chính vì vậy, tổ chức hoạt động ôn tập theo mô hình b-Learning sẽgiúp cho học sinh nắm vững các kiến thức hơn và nâng cao hiệu quả tự ôn tập ởnhà
Thời gian gần đây cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tổ chức hoạt độngdạy học theo mô hình b-Learning và nghiên cứu tổ chức hoạt động ôn tập và kiểmtra đánh giá với sự hỗ trợ của Website Qua điều tra thực tế, tôi thấy hoạt động ôntập và kiểm tra đánh giá chưa được chú trọng, các giáo viên chỉ ôn tập qua loa vàviệc kiểm tra đánh giá còn mang tính hình thức
Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt
động ôn tập và kiểm tra đánh giá chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 nâng cao theo mô hình b-Learning.
2 Lịch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài đã có một số tác giả quantâm nghiên cứu như:
Trong số những luận án nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý,
đã có công trình đề cập đến việc sử dụng website trong dạy học như "Nghiên cứu sử
dụng máy vi tính với multimedia thông qua việc xây dựng và khai thác website dạy học môn Vật lí lớp 6 ở trường trung học cơ sở" của Vương Đình Thắng (ĐHSP
Vinh, 2004) [23] Luận án này đã đề cập đến việc sử dụng máy vi tính với hệ thốngmultimedia, mạng các máy tính, internet và website vào quá trình dạy học (QTDH).Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số khái niệm mới như: website dạy học, bàigiảng điện tử (BGĐT), bài tập điện tử, sách giáo khoa (SGK) điện tử và cácnguyên tắc xây dựng website dạy học qua đó thiết kế website dạy học vật lý lớp 6.Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu theohướng tác dụng của việc sử dụng máy vi tính với Multimedia trong dạy học và cácyếu tố của chuyên sâu của chuyên ngành tin học
Trang 11Phạm Vân Điệp, Khai thác và sử dụng internet trong dạy học điện học lớp 11
THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Huế (2007) [9]; Trần Khánh Duy, Khai thác và sử dụng internet trong dạy học phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ” Vật lý lớp 11,
luận văn thạc sĩ, ĐHSP Tp Hồ Chí Minh (2008) [8] Các tác giả đã đưa ra tương đốiđầy đủ quy trình và cách khai thác, sử dụng internet để tìm kiếm tài liệu và thiết kếđược BGĐT từ thư viện tư liệu khai thác trên internet Các tác giả tuy đưa ra đượcquy trình khai thác và sử dụng thông tin trên internet nhưng cũng chưa đề cập đếne-Learning trong dạy học ở trường phổ thông
Đặng Ngọc Sang, Ứng dụng Moolde xây dựng website dạy học môn Vật lý,
Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Bách khoa Đà Nẵng (2006) [18] Tác giả đã nghiêncứu rất sâu về Moodle về việc xây dựng website, tuy nhiên luận văn được trình bàybằng phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành tin học nên chưa thể hiệnđược việc ứng dụng website trong dạy học Mặt khác website thiết kế chỉ mang tínhminh hoạ cho các chức năng của Moodle nên sử dụng để dạy học hiệu quả không cao.Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ khác cũng đã đề cập đến việc sử dụng
website trong dạy học như "Nghiên cứu xây dựng website dạy học Vật lí và sử dụng
chúng trong dạy học phần Cảm ứng điện từ lớp 11 THPT" của Nguyễn Thị Hoàng
Hậu (ĐHSP Huế, 2006) [13],‘‘Nghiên cứu thiết kế website hỗ trợ dạy học chương
Chất khí Vật lí lớp 10 THPT nâng cao’’ của Võ Anh Tài (ĐHSP Huế, 2007) [19],
Trong luận văn của mình, các tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm rõ được nhữngyêu cầu về mặt sư phạm và yêu cầu cơ bản về mặt kỹ thuật khi thiết kế website hỗtrợ dạy học Các kết quả nghiên cứu của các công trình cho thấy với sự hỗ trợ củawebsite hỗ trợ dạy học, các nhiệm vụ của QTDH như: phát triển tư duy, truyền thụtri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập, kiểm tra đánh giá (KTĐG) đều đạt được hiệuquả cao Song các đề tài này mới chỉ tập trung nghiên cứu hỗ trợ dạy học cho mộtphần cụ thể trong chương trình vật lý phổ thông, cũng chưa đề cập gì đến e-Learning.B-Learning được sinh ra từ e-Learning, là một hình thức học tập nhằm khắcphục những nhược điểm của e-Learning E-Learning đã được nghiên cứu bởi khánhiều tác giả, cụ thể:
Tác giả Đỗ Thị Hương Giang, Tổ chức dạy học chương từ trường Vật lý 11
nâng cao THPT với sự hỗ trợ của e-Learning, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Huế (2008)
[10]; Lê Thanh Huy, Vận dụng e-Learning trong dạy học phần Nhiệt học Vật lý 10
Nâng cao THPT, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Huế (2009) [15] Các tác giả đã nghiên
Trang 12cứu e-Learning và những vấn đề liên quan Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đisâu khai thác soạn BGĐT bằng phần mềm eXe để soạn bài giảng chương “Từtrường” với sự hỗ trợ của Moodle với sự khai thác tối đa các tính năng khác trong
các mô đun (module) của Moodle là một mã nguồn mở như thư viện điện tử, diễn
đàn trao đổi kinh nghiệm học tập, quản lý người học, quản lý các khoá học Tuynhiên, các tác giả cũng chưa đưa ra được một mô hình học tập cụ thể nào
B-Learning còn là một khái niệm mới ở Việt Nam, chưa được nghiên cứunhiều Tác giả Nguyễn Văn Hiền có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗnhợp" [14] Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Văn Hiền đã thử nghiệm rènluyện kỹ năng về CNTT trong dạy học sinh học cho sinh viên khoa sinh học-KTNNqua hoạt động kết hợp giảng dạy trên lớp với việc trao đổi qua lớp học ảo trên địachỉ http://nicenet.org [14] Đây có thể được coi là một ví dụ về b-Learning ở bậc đại học
Tác giả Phạm Xuân Lam, Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10
(THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle, khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP
Hà Nội (2010) [16] Tác giả đã bước đầu tìm hiểu các vấn đề về mô hình b-Learning,thiết kế các bài giảng tiến hành giảng dạy thử thông qua phần mềm Moodle ở địachỉ http://biology.edumoot.com/ Mặc dù, tác giả đã đưa ra được mô hình của b-Learning nhưng chỉ mới nghiên cứu b-Learning với sự hỗ trợ của Moodle đặc biệt,tác giả chỉ thông qua tham vấn chuyên gia để đánh giá hiệu quả dạy học của môhình mà chưa tiến hành thực nghiệm cụ thể để điều tra hiệu quả sử dụng của mô hình đónhư thế nào
Th.S Nguyễn Quang Trung với đề tài Xây dựng mô hình b-Learning trong DH
chương “Điện tích – Điện trường” Vật lý 11 THPT đã tập trung nghiên cứu cơ sở
lí luận và thực tiễn của việc DH Vật lý theo mô hình b-Learning, từ đó đềxuất được quy trình thiết kế và xây dựng mô hình b-Learning trong DHchương "Điện tích – Điện trường” Vật lý 11 THPT
Luận văn Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh phần Quang hình học Vật lý
11 THPT theo mô hình b-Learning của Th.S Nguyễn Thị Lan Ngọc đã nghiên cứu
đề xuất tiến trình hoạt động tự học cho HS phần Quang hình học Vật lý 11 THPTtheo mô hình b-Learning nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, kích hích hứng thúqua đó nâng cao chất lượng DH Vật lý THPT
Trang 133 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được quy trình tổ chức hoạt động ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập của học sinh theo mô hình b-Learning kiến thức chương “Dòng điện khôngđổi” Vật lý 11 nâng cao
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được quy trình tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giáchương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 nâng cao (NC) theo mô hình b-Learning
và vận dụng quy trình đó vào dạy học Vật lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượnghọc tập của học sinh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cấu trúc nội dung chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 NC
- Mô hình b-Learning và hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: Hoạt động ôn tập, kiểm trađánh giá trong dạy học, mô hình b-Learning
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác, vận dụng internet vào hoạt độngdạy và học trong trường phổ thông hiện nay
- Nghiên cứu, ứng dụng phần mềm Moodle vào xây dựng mô hình b-Learning
để tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung và xây dựng mô hình b-Learning cho chương
“Dòng điện không đổi” Vật lý 11 NC
- Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá theo môhình b-Learning
- Tiến hành thực nghiệp sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của đề tài
Trang 14- Xử lý số liệu để đánh giá tính khả thi của đề tài.
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về định hướng đổi mới PPDH
- Nghiên cứu tài liệu và một số công trình khoa học đã công bố có liên quanđến các nội dung trong đề tài
- Nghiên cứu công cụ và phương tiễn hỗ trợ dạy học qua mạng internet nhưphần mềm và những ứng dụng trên mạng internet
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, sách giáo viên (SGV) và các tàiliệu tham khảo liên quan đến nội dung chương “Dòng điện không đổi”
Phương pháp điều tra, quan sát
- Điều tra tình hình sử dụng và khai thác mạng internet vào hoạt động dạy vàhọc cũng như thái độ của GV và HS đối với việc ôn tập và kiểm tra đánh giá quamạng internet
- Quan sát nhằm mục đích thăm dò ý kiến của GV và HS từ đó nắm bắt đượcnhững khó khăn và thuận lợi
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng các nguyên tắc và tiêu chí của mô hình b-Learning để tổ chức hoạtđộng ôn tập và kiểm tra đánh giá
- Tiến hành TN một số bài của chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 NCtheo mô hình b-Learning tại một số trường THPT
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày, so sánh kết quả TNSP
và kiểm định giả thuyết thống kê kết quả học tập của hai nhóm đối chứng (ĐC) và
và thực nghiệm (TN)
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo và các danh mục, phầnnội dung chính của luận văn gồm 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ôn tập và kiểm tra đánhgiá của học sinh trong các trường THPT theo b-Learning
Chương II: Xây dựng mô hình b-Learning hỗ trợ học sinh tự ôn tập và kiểm trađánh giá kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 Nâng cao
Chương III Thực nghiệm sư phạm
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh
giá học sinh trong các trường THPT theo mô hình b-Learning
1.1 Hoạt động ôn tập trong dạy học
1.1.1 Khái niệm ôn tập
Theo Từ điển Tiếng Việt của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội (Hoàng Phêchủ biên) [28]: “Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc”.Theo Từ điển Bách khoa toàn thư [27]: “Ôn tập là học để nhớ, để nắm chắchoặc có thể hiểu theo nghĩa khác là: Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy đểhọc sinh nắm chắc chương trình”
Như vậy, theo Từ điển ôn tập có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lạinhững điều đã học để nhớ, để nắm chắc
Theo các nhà tâm lý học [7]; [13]: “Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sựcấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mớikết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể táihiện lại những thông tin và sử dụng lại những thông tin đó có hiệu quả cho nhiềuhoạt động khác nhau”
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Nguyễn Bá Kim,
….) [24]; [7]: “Ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo khả năngcho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của HS, rèn luyện kỹnăng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lựcnhận thức cho HS Ôn tập còn giúp HS mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thốnghóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành”.Một số tác giả lại cho rằng: “Ôn tập là một quá trình giúp HS xác nhận lạithông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy chưa hợp lý hay chưa tối ưu,góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quảtrong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau”
Tiếp thu những quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi cho rằng: Ôn tập là
quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và điều chỉnh thông tin, tổ chứclại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gợi lại hơn, vận dụngthông tin đã lĩnh hội qua đó củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các
Trang 17kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ tư duy của HS.
1.1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trìnhdạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GVphải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trìnhhoàn thiện tri thức và rèn luyên kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mànhững kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấutrúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cáichủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trínhớ muốn tồn tại lâu dài thì phải được ôn tập và vận dụng thường xuyên
Thông qua việc ôn tập giúp HS hệ thống hóa kiến thức, xây dựng được một
“bức tranh” tổng thể, hệ thống về kiến thức, rèn luyện và phát triển những kỹ năng
đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh đượccác sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới
1.1.3 Nội dung cần ôn tập trong dạy học Vật lý
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông, vìthế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nộidung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn nhữngvấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó
Đối với môn Vật lý, cái tạo nên nội dung chính của môn học là những kiếnthức cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiệnnhững nhiệm vụ khác của dạy học Vật lý, trước hết là phát triển năng lực nhận thức,năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học Vật
lý cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học từđầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh, kiểmtra, đánh giá…
Những kiến thức Vật lý cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thứcmới cũng như trong quá trình ôn tập trong chương trình Vật lý ở trường phổ thônggồm các loại sau:
- Những khái niệm Vật lý, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng Vật lý
- Những định luật Vật lý
Trang 18- Những thuyết Vật lý
- Những ứng dụng của Vật lý trong kĩ thuật
Bên cạnh những kiến thức Vật lý cơ bản cần hình thành ở trên thì HS cần phải
có một số kỹ năng sau để nâng cao hiệu quả của việc tự ôn tập
- Kỹ năng thu thập thông tin: kỹ năng đọc sách, kỹ năng quan sát, đọc đồ thị,biểu đồ, kỹ năng khai thác mạng Internet,…
- Kỹ năng xử lý thông tin: kỹ năng xây dựng bảng biểu, đồ thị, kỹ năng so sánh,đánh giá, phân tích, tổng hợp…
- Kỹ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả…
1.1.4 Các hình thức ôn tập
Ôn tập có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức, nhưng thường sử dụngnhiều nhất là các hình thức sau đây:
1.1.4.1 Ôn tập thông qua trả lời các câu hỏi ôn bài dưới dạng tự luận
Hình thức này được thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn
bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiếthọc nhằm gợi lại những kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình thành những kiến thứcmới trong bài học hoặc cũng có thể được thực hiện ngay sau khi trình bày kiến thứcmới nhằm củng cố những kiến thức HS vừa lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơbản, cốt lõi của bài học
1.1.4.2 Ôn tập thông qua lập bảng tóm tắt bài học hoặc phần, chương kiến thức đã học
Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi, các yêu cầu để
HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết lại những kiếnthức cơ bản của bài học và thường được sử dụng sau khi kết thúc một chương hoặcmột phần của chương
1.1.4.3 Ôn tập thông qua làm bài tập luyện tập
Các bài tập có thể dưới dạng trắc nghiệm khách quan hoặc dạng tự luận vàthường được sử dụng với nhiều mục đích nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹnăng vận dụng, sử dụng các kiến thức đã học để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
Trang 191.1.4.4 Ôn tập thông qua lập sơ đồ kiến thức
Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết họcriêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thốnglại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong mộtphần của tài liệu, tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần đó.Tất cả các hình thức ôn tập trên có thể được thực hiện ngay trong các giờ lênlớp chính khóa (dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV), có thể thực hiện trong các giờhọc ngoại khóa và cũng có thể tự HS thực hiện ở nhà (dưới sự hướng dẫn gián tiếpcủa GV)
1.2 Kiểm tra đánh giá trong dạy học
1.2.1 Khái niệm kiểm tra
Theo Nguyễn Như Ý (Đại từ điển Tiếng Việt, NXBNVHTT, 1999), “kiểm tra
Theo Trần Bá Hoành, “kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tinlàm cơ sở cho việc đánh giá”
Theo Từ điển giáo dục, “kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình dạy họcnhằm nắm được thông tin về tình trạng và kết quả học tập của học sinh, về nhữngnguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục lỗ hỏng,đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học”
Như vậy các nhà từ điển học và giáo dục học đều sử dụng thuật ngữ kiểm travới ý nghĩa là “xem xét, soát xét lại công vệc thực tế để đánh giá nhận xét” nhằmxác định mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ kiến thức, kỹ năng và thái độ màngười học đạt được sau một quá trình học tập, là khâu đầu tiên của quá trình đánh giá
Trang 201.2.2 Khái niệm đánh giá
Trong Đại tự điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (NXBVHTT, 1999), “đánhgiá là nhận xét, bình phẩm về giá trị”
Theo Từ điển giáo dục, “đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắmđược tri thức và kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra”.Theo Magor, “đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để
dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp đỡ học sinh tiến bộ”
Theo J.M De Ketele, “đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của mộttập hợp các thông tin thu được với tập hợp các tiêu chí thích hợp với mục tiêu đãxác định nhằm đưa ra một quyết định theo một mục đích nào đó”
Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, “đánh giá kết quả học tập là quátrình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tậpcủa học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở chonhững quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họhọc tập ngày một tốt hơn”
Theo Dương Thiệu Tống, “đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giảithích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục tiêugiảng huấn về phía học sinh Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp địnhlường (đo lường) hay định tính (quan sát)”
Theo Nguyễn Phụng Hoàng, “đánh giá không chỉ bao gồm đo lường để ướcđịnh mức độ thay đổi của cá nhân trên những tính chất nào đó mà còn liên quan đếnviệc định trước mục tiêu cho chương trình học tập và xét đoán xem những sự thayđổi của học sinh trên các tính chất ấy có đạt đến được mức độ chấp nhận trên nhữngmục tiêu đã đề ra hay không”
Như vậy, đánh giá là đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độhọc sinh Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểmtra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường đểthu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do vậy,kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ mật thiếtvới nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kếtquả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra đánh giá
1.2.3 Vai trò và vị trí của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Trang 211.2.3.1 Mục đích của kiểm tra đánh giá trong dạy học
- Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh vàtập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinhnhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập
- Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểmyếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng để nâng cao chấtlượng và hiệu quả dạy học
Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và địnhhướng, điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
1.2.3.2 Vai trò của kiểm tra đánh giá trong dạy học hiện nay
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì màcòn dạy như thế nào Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tínhchất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớnđến việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở đểđiều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục Vậy kiểm tra đánh giátrở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm trađánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say,nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập
Kiểm tra đánh giá chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học Nó vừa
là điểm kết thúc vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm giữa của một quá trình dạy học
a Vai trò của KT-ĐG với quá trình dạy học
Kiểm tra đánh giá không chỉ là công đoạn cuối cùng của quá trình dạy học màcòn là cơ sở khoa học để điều chỉnh và định hướng quá trình dạy học nhằm làm choquá trình này đạt được mục tiêu đề ra Quá trình dạy học phải luôn luôn hướng đếnmục tiêu và chịu sự chi phối và điều khiển bởi mục tiêu thông qua KT-ĐG Tùy theoloại đánh giá mà sự chi phối này là khác nhau
Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy (một chương hay một vấn đềquan trọng nào đó), sẽ giúp cho giáo viên nắm được tình hình về những kiến thứcliên quan đã có của học sinh, những điểm học sinh chưa nắm vững, và đi đến quyếtđịnh những nội dung dạy học cần bổ khuyết và chọn lựa phương pháp dạy học thích hợp
Trang 22Đánh giá từng phần, thường xuyên, định kỳ được tiến hành nhiều lần trongquá trình dạy học nhằm cung cấp những thông tin ngược, sẽ giúp giáo viên điềuchỉnh phương pháp cũng như nội dung dạy học KT-ĐG thường xuyên, định kỳ tạo
cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả việc thực hiện những đổi mới về phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang triển khai Việc kiểm tra đánh giá sẽcung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược trong” về kết quả học tập cho họcsinh Qua đó học sinh sẽ kịp thời điều chỉnh phương pháp học cho phù hợp với yêucầu đổi mới phương pháp của giáo viên
Đánh giá tổng kết được tiến hành khi kết thúc quá trình dạy học bằng kỳ thihết môn, kỳ thi học kỳ, kỳ thi tốt nghiệp nhằm so sánh đối chiếu kết quả đạt đượccủa học sinh với những mục tiêu mà môn học đề ra Ngoài ra, dựa vào kết quả kiểmtra đánh giá, giáo viên có thể kiến nghị, đề xuất điều chỉnh nội dung sách giáo khoahay giảm tải chương trình
b Vai trò của KT-ĐG với phương pháp dạy của GV
KT-ĐG cần phải thích ứng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, thúc
đẩy và hỗ trợ quá trình đổi mới phương pháp dạy của GV Vật lý là một môn khoahọc thực nghiệm nhưng chưa được giảng dạy đúng như tên gọi của nó Một trongnhững nguyên nhân đó là kết quả tất yếu của việc thi cử và cách KT-ĐG hiện nay.Nếu cách KT-ĐG không quan tâm đến kỹ năng thực hành vật lý, kỹ năng vận dụngkiến thức vật lý vào cuộc sống thì vẫn duy trì cách dạy lý thuyết suông cho dù nhàtrường không thiếu thiết bị thí nghiệm
Như vậy, muốn đổi mới phương pháp dạy học thì trước hết cần phải đổi mớicách KT-ĐG và thi cử cho tương thích Muốn dạy học "bằng hoạt động” và dạy học
"thông qua hoạt động” thì giáo viên sẽ phải KT-ĐG "bằng hoạt động và thông quahoạt động” Muốn dạy Vật lý theo đúng yêu cầu của bộmôn thì cần phải kiểm trađánh giá kỹ năng thực hành thí nghiệm vật lý của học sinh
c Vai trò của KT-ĐG với việc học của HS
KT-ĐG có thể cung cấp thông tin về tình hình học tập của học sinh giúp họđiều chỉnh hoạt động học của chính mình Có 2 loại thông tin có thể thu nhận được
từ kết quả KT-ĐG
- Loại thứ nhất chỉ khả năng hiện tại của người học
- Loại thứ hai chỉ những biến đổi trong học tập của người học (thông tin động)
Trang 23Xét từ góc độ nâng cao chất lượng dạy học, điều quan trọng là thông qua kiểmtra đánh giá mà GV nắm được những biến đổi trong học tập của học sinh Kết quảKT-ĐG chính xác, phản ánh đúng thành quả học tập của HS không những tạo được
hứng thú, niềm tin trong học tập mà còn giúp cho HS định hướng, tự điều chỉnh
việc học tập của bản thân
Vì vậy, ngoài những hình thức đánh giá thông dụng như trắc nghiệm kháchquan và trắc nghiệm tự luận hiện nay, GV cần phải bổ sung thêm các công cụ đánhgiá đa dạng như: vấn đáp, quan sát, phiếu kiểm kê, phiếu xếp hạng và kết hợp cáchình thức này một cách hợp lý và khoa học GV là người duy nhất có điều kiện đểđánh giá và hiểu thấu mọi hoạt động học tập của HS và đồng thời giúp học sinhhình thành và định hướng phương pháp học tương thích bằng phương pháp KT-ĐGphù hợp
1.2.4 Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh, giáo viên và cán bộquản lý
1.2.4.1 Đối với học sinh
Việc kiểm tra, đánh giá (bên trong và bên ngoài) có hệ thống và thường xuyêncung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược trong” về kết quả học tập củachính mình Qua đó học sinh sẽ tự điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động học của bảnthân mình
1.2.4.2 Đối với giáo viên
Việc kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho giáo viên những thông tin
“liên hệ ngược ngoài” giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy Kiểm tra, đánh giá kếthợp với theo dõi thường xuyên, tạo điều kiện cho giáo viên nắm được một cách cụthể và khá chính xác năng lực và thành quả học tập của mỗi học sinh trong lớp mìnhphụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội chogiáo viên xem xét hiệu quả của những cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổchức dạy học mà mình đang theo đuổi
1.2.4.3 Đối với cán bộ quản lý
Việc kiểm tra, đánh giá học sinh cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấpnhững thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong đơn vị giáo dục để có nhữngchỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích hỗ trợ những sáng kiến hay,
Trang 24điều chỉnh hoạt động dạy và học, bảo đảm thực hiện tốt những mục tiêu giáo dục.Kết quả KT-ĐG còn có thể được sử dụng để đưa ra những ý kiến về chương trình vàsách giáo khoa.
Tóm lại, việc đánh giá kết quả học tập có ý nghĩa về nhiều mặt đối với nhiềuđối tượng, trong đó quan trọng nhất là đối với bản thân học sinh (đánh giá vì họcsinh và cho học sinh)
1.2.5 Yêu cầu của kiểm tra, đánh giá trong dạy học
Để việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đem lại hiệu quả caothì đề thi hay đề kiểm tra phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Khách quan: Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phải khách quan và
chính xác tới mức tối đa có thể, tạo điều kiện để mỗi học sinh bộc lộ thực chất khảnăng và trình độ của mình, ngăn chặn mọi biểu hiện thiếu trung thực khi làm bàinhư nhìn bài nhau, nhắc bạn, quay cóp Yêu cầu này đảm bảo kết quả thu đượckhông phụ thuộc vào chủ quan của người đánh giá cũng như điều kiện đánh giá
Toàn diện: Một bài kiểm tra, một đợt đánh giá có thể nhằm vào một vài mục
đích trọng tâm nào đó nhưng toàn bộ hệ thống kiểm tra, đánh giá phải đạt yêu cầuđánh giá toàn diện các mục tiêu đã xác định trong chương trình môn Vật lý, khôngchỉ về mặt số lượng mà quan trọng là mặt chất lượng, không chỉ về mặt kiến thức
mà cả về kỹ năng và thái độ
Hệ thống: Việc kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành theo kế hoạch, theo
một hệ thống, đánh giá trước, trong và sau khi học một phần của chương trình Sốlần kiểm tra phải đủ lớn để có thể đánh giá chính xác
Công khai: Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành công khai.
Không chỉ công khai đáp án và thang điểm, các kết quả sau khi kiểm tra đánh giá
mà phải công khai cả thời điểm và tiêu chí đánh giá một cách rõ ràng cho toàn bộ
HS trước khi bắt đầu vào học
Phân hóa: HS có năng lực cao hơn phải có kết quả cao hơn một cách rõ rệt
HS có năng lực thấp hơn
1.2.6 Quy trình của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học
Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn Nó mangtính tổng hợp nhiều yếu tố, vì vậy để đánh giá chính xác một học sinh, một lớp hay
Trang 25một khóa học, đầu tiên người giáo viên phải nghiên cứu xây dựng quy trình, chọnlựa một phương pháp cũng như thu thập các thông tin hợp lý cần thiết cho việc đánh giá.Theo chúng tôi quy trình đánh giá có thể bao gồm bốn bước: đo, lượng giá,đánh giá, quyết định.
1.2.7 Mối quan hệ giữa ôn tập và kiểm tra đánh giá
Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công việckiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Những công việc đòi hỏi tính tích cực của HSnhiều hơn là khi giảng kiến thức mới Về vấn đề này N.N.Baranxki đã chỉ rõ [1]:chúng ta có thể hợp nhất hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một Tuynhiên tính mục đích của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau Ở trường hợp thứnhất là công tác củng cố tri thức, ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với sựcho điểm (đánh giá) thích đáng Tất nhiên mặc dù ở tính mục đích khác nhau nhưng
ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời Bất kỳ việc ôn tập nào do GV tổchức đồng thời cũng tiến hành kiểm tra tri thức, mặc dù người GV không có dụng ýđạt mục đích này
Ôn tập và kiểm tra, đánh giá liên hệ với nhau vô cùng khăng khít Ôn tập được
tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm…) và việcđánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúng nộidung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình độ nhậnthức của mình trong bài kiểm tra trên lớp
1.3 Mô hình b-Learning
Trên thế giới, hành trình giáo dục trực tuyến đã trải qua những giai đoạn thăngtrầm và đang đi đúng quỹ đạo mở ra một kỷ nguyên phát triển mới đầy triển vọng
Từ đầu những năm 1990 nhờ sự phát triển của internet, các viễn cảnh về giáo dục từ
xa đã hình thành trong cộng đồng Song tới những năm 1995, 1996 những sản phẩmđầu tiên ra đời mở toang cánh cửa bước vào thế giới học tập trực tuyến Môi trườnghọc tập trực tuyến e-Learning xuất hiện từ năm 1998, với những thế mạnh của nó,e-Learning đã phát triển mạnh mẽ Thời kỳ đó như một cơn lốc và người ta kỳ vọngđào tạo trực tuyến là hình thức đào tạo tối ưu nhất và có thể thay thế tất cả Thực
tế lại không như vậy, dần dần e-Learning đã thể hiện một số bất cập của nó buộcngười ta phải nhìn nhận lại vấn đề Vì vậy, đến năm 2000, Paul Myers đã khởixướng thuật ngữ “b-Learning”[40]
Trang 261.3.1 Khái niệm b-Learning
Blended Learning hiện nay đang là một trong những mô hình học tập được rấtnhiều nước quan tâm Đây thực chất không phải là một khái niệm mới, nó là sự kếthợp những ưu điểm của phương pháp học truyền thống và tận dụng thế mạnh củaCNTT Với mô hình này, cả GV và HS sẽ có phương pháp tiếp cận môn học theohướng toàn diện
Dạy học b-Learning là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực giáodục và đào tạo ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, dạy học kết hợpxuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn" Có nhiều định nghĩa khác nhau
về học kết hợp
Theo Từ điển Longman Online, Blend được định nghĩa như sau: “to combinedifferent things in a way that produces an effective or pleasant result” (kết hợp nhiềuhình thức khác nhau theo một cách nào đó để tạo ra kết quả tốt hơn, dễ chịu hơn)
Theo Từ điển Cambridge Online, “blend” là trộn hoặc kết hợp cùng nhau (tomix or cambine together)
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, kết hợp là gắn với nhau để bổ sung,
hỗ trợ cho nhau, tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạonên một hệ thống đồng bộ, hỗn hợp gồm có nhiều thành phần, trong đó mỗi thànhphần vẫn giữ được tính chất riêng của mình Từ cách diễn giải theo cả Từ điển tiếngAnh và Tiếng Việt ta thấy rằng Blended Learning xét về bản chất của nó sẽ đượchiểu là mô hình học tập kết hợp, qua đó việc học trên lớp và việc học trực tuyếnđược tiến hành trong sự kết hợp và bổ trợ cho nhau
- Theo Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2001;Thomson 2002, b-Learning là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấpcác phương tiện truyền thông)
- Theo Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett 2002, b-Learning là kết hợp cácphương pháp giảng dạy
- Theo Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & Labranche, 2003;Young 2002, b-Learning là kết hợp hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn đối mặt.Theo tác giả Alvarez (2005), b-Learning là "Sự kết hợp của các phương tiện truyềnthông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ramột chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể" Theo tác giả Victoria L
Trang 27Tinio, "Học kết hợp để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyềnthống và các giải pháp e-Learning".
Ở Việt Nam, b-Learning còn là một khái niệm mới mẻ Tác giả Nguyễn VănHiền có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗn hợp" để chỉ hình thức kếthợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập quamạng[11] Theo tác giả Nguyễn Danh Nam [22]: “Sự kết hợp giữa e-Learning vớilớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạogọi là "Blended Learning"”.Theo tác giả Trần Trung [38]: “Học tập hỗn hợp là hìnhthức học tập, triển khai một khóa học với sự kết hợp của hai hình thức học tập trựctuyến và dạy học giáp mặt”
Từ những cách định nghĩa trên, có thể hiểu một cách đơn giản, dạy học b-Learning
là sự phối hợp nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy-học giữa các hìnhthức khác nhau nhằm tối ưu hóa thế mạnh mỗi hình thức, đảm bảo hiệu quả giáodục đạt được là cao nhất
1.3.2 Ưu điểm và nhược điểm của b-Learning
a Ưu điểm
- B-Learning hướng đến mục tiêu phát huy tốt nhất các thế mạnh của dạy họctruyền thống với dạy học trực tuyến để thúc đẩy hiệu quả học tập và giảng dạy của
cả HS và GV
- Tạo điều kiện cho HS tích cực, chủ động hơn thông qua việc tương tác giữa
HS – HS để học hỏi lẫn nhau, giữa GV – HS qua việc hướng dẫn trực tiếp của GV
cả ở trên lớp và qua mạng, HS có thể tương tác với các chuyên gia ở bất kỳ nơi nàotrên thế giới
- Học tập kết hợp giúp HS có nhiều kinh nghiệm học tập tốt hơn: tận dụngcông nghệ, b-Learning cho phép HS học theo tốc độ của riêng họ, sử dụng cácphương thức học tập ưa thích, và nhận được phản hồi thường xuyên và kịp thời vềhoạt động tham gia
- B-Learning sẽ tăng cường sự kiểm soát của phụ huynh đối với học sinh trongviệc học hành và giúp HS có trách nhiệm hơn trong việc học tập của mình
- Đối với GV, b-Learning giúp GV điều khiển được thực tiễn giảng dạy củachính họ GV sẽ tuỳ chỉnh những thiết kế giáo án dựa trên nhu cầu của HS bao gồmphong cách, sở thích và khả năng học tập
Trang 28- Đối với các nhà giáo dục, b-Learning sẽ giúp cho họ tự điều chỉnh và quyếtđịnh nội dung các chương trình giảng dạy, sản phẩm của hoạt động học tập và môitrường học tập tốt nhất phục vụ cho nhu cầu của mỗi HS.
b Hạn chế
B-Learning đang là một xu hướng phát triển của nhiều nước trên thế giới Việctriển khai mô hình b-Learning cần có những nỗ lực và chi phí lớn, mặt khác nócũng có những rủi ro nhất định Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, b- Learningvẫn còn tồn tại một số khuyết điểm mà ta không thể bỏ qua cần phải khắc phục
- Do đã quen với cách học truyền thống nên HS và GV sẽ gặp một số khó khăn
về cách học tập và giảng dạy Ngoài ra học còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cậncông nghệ mới
- GV phải mất rất nhiều thời gian và công sức để soạn bài giảng, tài liệu giảngdạy, tham khảo cho phù hợp với phương thức học tập b-Learning
- Mặt khác, do b-Learning được tổ chức cho đông đảo HS tham gia, có thểthuộc nhiều vùng quốc gia, khu vực khác nhau nên mỗi HS có thể gặp khó khăn vềyếu tố tâm lý, văn hoá
1.3.3 Những thuận lợi và khó khăn khi đưa b-Learning vào dạy học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khoảng 3 năm trở lại đây thuật ngữ b-Learning bắt đầu được biết đến.Việc nghiên cứu học tập theo mô hình b-Learning đang trở thành mối quan tâm của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Với điều kiện của nước ta hiện nay, bên cạnh những thuậnlợi thì việc triển khai dạy học theo mô hình b-Learning cũng gặp không ít nhữngkhó khăn nhất định Qua tìm hiểu thực trạng dạy học hiện nay và tham khảo một số
ý kiến của các chuyên gia, chúng tôi thấy khi đưa mô hình b-Learning vào dạy học ởViệt Nam sẽ gặp một số thuận lợi và khó khăn sau
a Thuận lợi
Các nhà lãnh đạo của Việt Nam cho rằng giáo dục là một trong các vấn đềđược ưu tiên hàng đầu và hệ thống giáo dục đang nhận được sự quan tâm đặc biệtcủa nhà nước cả về số lượng và chất lượng Một phần tất yếu là Việt Nam đã gắnCNTT vào trong phát triển của giáo dục nhằm thúc đẩy hơn nữa trên mọi lĩnh vực
và trong mọi điều kiện Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểnb-Learning ở Việt Nam
Trang 29b Khó khăn
Theo nhận định của một số chuyên gia, thực tế khi triển khai dạy học theo mô
hình b-Learning ở Việt Nam thì chúng ta đang gặp nhiều thách thức không nhỏ Một là, về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Chất lượng nguồn tàinguyên bài giảng e-Learning là nhân tố quyết định đến số lượng người tham giahọc Để soạn bài giảng e-Learning có chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức củagiáo viên Nhiều giáo viên giỏi về chuyên môn và khả năng sư phạm, nhưng kỹ
năng sử dụng công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần mềm) còn hạn chế, nên
chưa phát huy được hết khả năng của mình
Hai là, về phía người học: Học tập theo mô hình b-Learning đòi hỏi người học
phải có tinh thần tự học, do ảnh hưởng cách học thụ động truyền thống, tâm lý họcphải có thầy (không thầy đố mầy làm nên), nội dung quá tải tại trường dẫn đến việctham gia học online chưa trở thành động lực học tập Nhiều học sinh nghèo, nhất là
ở vùng sâu vùng xa, chưa thể trang bị máy vi tính kết nối Internet, nhiều thông tinkhông tốt trên mạng Internet dẫn đến gia đình lo lắng khi con em vào mạng cũng lànhững lý do làm hạn chế HS học online đối với HS phổ thông Việt Nam
Ba là, về cơ sở vật chất: Đòi hỏi phải có hạ tầng CNTT đủ mạnh, có đườngtruyền cáp quang, xây dựng Website trường học và Website e-Learning hoàn chỉnhchi phí cao, nếu không tận dụng hết khả năng của Web sẽ gây lãng phí
Bốn là, về nhân lực phục vụ website: Cần có cán bộ chuyên trách phục vụ sự
hoạt động của hệ thống e-Learning Tuy nhiên, theo quy định hiện tại chưa có biênchế cho hoạt động này ở các trường phổ thông
1.4 Tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá “Dòng điện không đổi” Vật
lý 11 nâng cao theo mô hình b-Learning
Để xây dựng được mô hình b-Learning đạt hiệu quả, cần phải đưa ra nhữngnguyên tắc và tiêu chí làm cơ sở cho việc xác định nội dung, vận dụng phương pháp
và triển khai thực hiện sao cho phù hợp với cơ sở lý luận và điều kiện thực tiễn Ởđây, chúng tôi đưa ra 2 nhóm nguyên tắc sử dụng trong xây dựng mô hình b-Learning
1.4.1 Nguyên tắc, tiêu chí thiết kế nội dung b-Learning
Việc phân tích, đánh giá nội dung kiến thức, phân chia vai trò thực hiện cácmục tiêu dạy học có ý nghĩa quan trọng trong dạy học kết hợp Nhóm nguyên tắc,tiêu chí này là cơ sở cho việc xây dựng mô hình b-Learning Việc này được xác
Trang 30định dựa trên khả năng vận dụng công nghệ của GV và HS vào dạy và học đến đâu.Đồng thời, dựa trên đặc điểm kiến thức môn học, điều kiện cơ sở vật chất và sự hỗtrợ của công nghệ Từ đó chúng tôi đề xuất những tiêu chí và nguyên tắc sau:
- Cân đối về nội dung: Nội dung kiến thức và mục tiêu dạy học phải đượcphân chia một cách cân đối giữa việc học trên lớp và học qua mạng internet
- Phù hợp với trình độ của người xây dựng và khả năng của người sử dụng
- Phù hợp với kiến thức môn học
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá theo mô hình b-Learning
Trên cơ sở các nội dung cụ thể của bài học, nhiệm vụ của hoạt động ôn tập làtổng kết lại, hệ thống hoá lại toàn bộ kiến thức một cách tổng quát nhất giúp HS cóthể tái hiện lại kiến thức đã học nhằm khắc sâu hơn các kiến thức đó GV phải thuhút tất cả HS tích cực tham gia trao đổi để hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã học,nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Để đạt được kết quảtrên thì khi tổ chức hoạt động ôn tập cho HS cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phải bám sát nội dung và chương trình SGK
- Quán triệt mục đích, yêu cầu của hoạt động ôn tập
- Phát huy tính tích cực và tạo hứng thú học tập cho HS
- Đảm bảo tính khái quát cao: qua các nội dung được ôn tập HS phải rút rađược mối liên hệ giữa các kiến thức và vận dụng được các kiến thức vào thực tiễn
- Đảm bảo tính khoa học: số lượng các nội dung cần ôn tập ở trên lớp cũngnhư trên hệ thống online phải phù hợp với thời gian HS làm việc Các nội dung đưa
ra phải theo một trình tự logic
Hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong tiến trìnhdạy học Do đó, ngoài những nguyên tắc trên khi thiết kế hoạt động ôn tập, kiểm trađánh giá phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc sau:
* Những nguyên tắc dạy học trong lý luận dạy học
- Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong
Trang 31- Phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì?
- Tiến hành đánh giá phải được chọn theo mục tiêu đánh giá, phải xác địnhmục tiêu muốn kiểm tra, đánh giá cho rõ ràng, các mục tiêu phải được phát biểudưới dạng những điều có thể quan sát được có thể đo lường được
- Để đánh giá cần phải có nhiều hình thức tiến hành đồng thời để có giá trịtổng hợp, tổng quát nhất
- GV cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụngcho đúng và có hiệu quả
- GV phải xem xét nó chỉ là phương tiện để đi đến mục đích, chứ bản thân nókhông phải là mục đích
+ Những nguyên tắc mang tính cụ thể:
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của HS
- Đánh giá bao giờ cũng kèm theo nhận xét để học sinh biết những sai sót củamình để khắc phục
- Đánh giá để thay đổi cách dạy sao cho phù hợp và hoàn thiện nhất đối với HS
- Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức trắc nghiệmkhác nhau nhằm tăng độ tin cậy và độ chính xác
- Khuyến khích, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào quá trình đánh giá
- GV phải thông báo một cách rõ ràng các loại hình câu hỏi để kiểm tra, đánhgiá nhằm giúp học sinh định hướng được khi trả lời
* Những nguyên tắc xây dựng bài giảng e-Learning, Website dạy học
Trang 32- Tính phong phú
- Tính tổ chức
- Tính hiệu quả
- Tính phân chia nội dung (module)
- Tính dễ truy cập và linh hoạt
- Gắn liền tri thức với thực tiễn
- Đảm bảo những tri thức vật lý cơ bản
- Bổ sung những tri thức hỗ trợ
- Có kho học liệu vật lý mở
1.4.3 Quy trình tổ chức hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giá theob-Learning
B-Learning xuất phát từ chính yêu cầu của quá trình dạy học khi công nghệngày càng phát triển và thâm nhập sâu rộng vào các mặt của đời sống con người,đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Để triển khai dạy học với mô hình b- Learningmột cách có hiệu quả, người dạy cần phải thiết kế mô hình đó với các hoạt động phùhợp Căn cứ theo cấu trúc nội dung, mục tiêu đề ra cùng những nguyên tắc và tiêuchí xây dựng mô hình b-Learning, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình b-Learning
tổ chức hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá theo quy trình gồm 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn lập kế hoạch
- Giai đoạn tổ chức thực hiện
- Giai đoạn kiểm tra, đánh giá
1.4.3.1 Giai đoạn lập kế hoạch
Trước khi tổ chức hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá môn Vật lý cho HS theo
mô hình b-Learning nói riêng hay bất kì hình thức dạy học nào nói chung thì việclập kế hoạch cần được tiến hành cẩn thận mới đảm bảo tính khoa học và đạt được
Trang 33mục tiêu đề ra Giai đoạn lập kế hoạch gồm có ba khâu:
- Khâu 1: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ ôn tập cho HS
Khi làm bất cứ công việc gì chúng ta đều phải xác định mục tiêu chúng ta cầnđạt được là gì Quá trình ôn tập, kiểm tra đánh giá cũng vậy, cần phải xác định rõmục tiêu ôn tập, kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để từ đó vạch ra kếhoạch, nhiệm vụ cụ thể để đạt được mục tiêu đó Trong đề tài này, chúng tôi xácđịnh mục tiêu ôn tập cho HS là giúp HS khắc sâu những kiến thức đã học, phântích, tổng hợp, khái quát lại những kiến thức một cách rõ ràng, logic và vận dụngcác kiến thức đó vào thực tế cuộc sống
Khi đã xác định được mục tiêu, chúng tôi đưa ra những nhiệm vụ cụ thể yêucầu HS hoàn thành để đạt được mục tiêu đề ra Những nhiệm vụ đưa ra phải vừasức với HS và đảm bảo có sự nỗ lực thì nhiệm vụ sẽ được giải quyết và không nên
đề ra những nhiệm vụ quá dễ, thiếu tính thách thức trong quá trình học tập
- Khâu 2: Xác định nội dung và hình thức tổ chức
GV phải xác định rõ những nội dung nào cần ôn tập cho HS, nội dung nàobuộc phải ôn tập trên lớp truyền thống, nội dung nào ôn tập trên online Khi đã xácđịnh được nội dung thì sẽ chọn hình thức ôn tập cho phù hợp để kết quả thu được làtốt nhất
- Khâu 3: Xây dựng kế hoạch ôn tập môn Vật lý
Một công việc nếu có kế hoạch cụ thể thì công việc đó sẽ đem lại hiệu quả tốt.Chính vì vậy, muốn ôn tập có hiệu quả thì GV cần phải xây dựng một kế hoạch tổchức ôn tập thật cụ thể và rõ ràng Trong kế hoạch phải xác định được mục tiêu cầnđạt được, thời gian, không gian tổ chức, phương tiện và hình thức tổ chức
Ngoài ra, GV cần hướng dẫn cho HS các kĩ năng xây dựng kế hoạch tự ôn tậpnhư sắp xếp bố trí công việc, phân phối thời gian cho từng công việc, xác địnhphương pháp và các hình thức tổ chức thực hiện từng công việc và mức độ hoànchỉnh cá nhân
Những việc làm này là cần thiết để tránh làm việc tùy tiện, không có hiệu quả.Trong quá trình học tập kế hoạch luôn được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
1.4.3.2 Giai đoạn tổ chức thực hiện
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối
Trang 34lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đềsâu sắc hay không tùy thuộc vào khả năng của chính bản thân người học trong giaiđoạn này
Trong quá trình ôn tập ở trên lớp học truyền thống, đảm bảo cho HS vừa đượclàm việc độc lập vừa được hoạt động tập thể (nhóm) Giáo viên là người tổ chứcđiều khiển
Tuỳ từng điều kiện cụ thể, đặc điểm từng lớp mà GV sử dụng các phươngpháp và hình thức ôn tập khác nhau để đạt được mục tiêu đề ra Trong giai đoạn này
có thể chia làm 2 giai đoạn nhỏ:
• Tái hiện thông tin
Ở giai đoạn này, GV hướng dẫn giúp HS tái hiện lại các kiến thức lý thuyếtcủa bài học Quá trình tái hiện thông tin có thể được tiến hành thông qua việc tómtắt, lập sơ đồ, so sánh, tổng hợp…Giai đoạn tái hiện thông tin có thể chia làm 3 khâu:
- Khâu 1: Tóm tắt nội dung bài học
Sau khi đọc tài liệu và tiếp thu bài giảng, người học nên tóm tắt lại những điều
đã thu nhận được Việc làm này rất quan trọng vì nó chốt lại nội dung kiến thức giúp
ta hệ thống hoá một cách ngắn gọn những vấn đề vừa được tiếp thu cho dễ nhớ
Ở khâu này GV có thể tổ chức cho HS ôn tập trên lớp (F2F) bằng hệ thống cáccâu hỏi ôn bài và hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi ôn bài
Quá trình ôn tập này diễn ra ở trên lớp theo một lịch trình cố định, hoặc theo
sự hướng dẫn của GV Tài liệu tham khảo chủ yếu là các tài liệu giấy như: SGK,sách bài tập, các sách tham khảo, … tài liệu trực tuyến phần lớn không sử dụnghoặc sử dụng rất hạn chế
Để kiểm tra xem HS hiểu bài đến đâu thì GV cần có các câu hỏi kiểm tra mức
độ nhận thức của HS ngay trên lớp Qua đó HS có thể nắm được bài ngay trên lớpnhờ vào hệ thống câu hỏi kiểm tra cuối bài Những câu hỏi dạng này thường ở mức
độ biết và hiểu
- Khâu 2: Lập sơ đồ học tập
Tập hợp các thông tin tiếp thu được thành những sơ đồ, những mô hình, làm
rõ cấu trúc của chúng dưới một dạng đơn giản Điều đó sẽ làm cho thông tin dễhiểu, dễ nhớ và dễ lưu trữ Việc lập sơ đồ đòi hỏi HS phải phân tích tổng hợp và
Trang 35khái quát lại để tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức Để làm tốt công việcnày thì HS phải có thời gian để tổng hợp thông tin Do vậy khâu ôn tập này GV cóthể tổ chức cho HS ôn tập trên hệ thống online Với mục tiêu như vậy, chúng tôitiến hành thiết kế và xây dựng moodule như sau:
Dựa trên tài liệu SGK, lập sơ đồ tóm tắt bài học hoàn chỉnh và chi tiết thể hiệncấu trúc nội dung và logic hình thành kiến thức trong bài học đó rồi đưa cho HSnghiên cứu Sau khi HS đã nghiên cứu kĩ sơ đồ, có cái nhìn bao quát về nội dungkiến thức và logic hình thành kiến thức, HS sẽ phải thể hiện sự hiểu biết và nắmvững kiến thức của mình bằng việc chuyển từ sơ đồ thành bản tóm tắt bài học rồigửi về cho GV làm cơ sở để đánh giá
- Khâu 3: So sánh kết quả
Đây là một thao tác tư duy quan trọng để làm bộc lộ sự giống nhau và khácnhau giữa các thông tin tái hiện được và thông tin mà GV truyền thụ, qua đó làm rõhơn bản chất của nó và giúp người học khắc sâu kiến thức hơn
Sau khi HS đã tái hiện được thông tin GV kiểm tra lại kết quả thông tin mà HSthu nhận được đã đạt được mục tiêu đề ra hay chưa Khâu này GV tổ chức trên lớphọc truyền thống thông qua các hình thức kiểm tra như kiểm tra miệng hoặc kiểmtra 15 phút để đánh giá kết quả đạt được của HS Qua đó giúp HS điều chỉnhphương pháp học cho phù hợp
• Trao đổi và vận dụng thông tin
+ Trao đổi thông tin
Trong quá trình ôn tập, khi tái hiện lại các nội dung kiến thức đã được học, HS
sẽ gặp các vấn đề thắc mắc cần được giải đáp HS cần khoanh vùng các vấn đề đólại để cùng trao đổi với GV hoặc các HS khác để tìm ra được đáp án chính xác Mặtkhác, trong quá trình ôn tập HS có thể phát hiện ra những vấn đề mới hay cácphương pháp giải mới có thể trao đổi, chia sẽ với mọi người qua các diễn đàn họctập, trao đổi trực tuyến, chat, email… hay có thể trao đổi trực tiếp trên lớp họctruyền thống
Để các diễn đàn thảo luận sử dụng có hiệu quả, trong khi xây dựng chúng tôinhấn mạnh vào vai trò tổ chức hướng dẫn của GV và chú trọng vào nội dung cáccuộc thảo luận
Về vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV: GV phải là người khởi xướng cuộc
Trang 36thảo luận, khuyến khích sự tham gia của nhiều HS vào diễn đàn, đặt các câu hỏi vàkhắc phục những bất đồng giữa các HS Ngoài ra cần phải có sự khéo léo của GV
để dàn xếp sao cho tất cả mọi người tham gia phải nói với nhau, nghe lẫn nhau, đáplại điều người khác nói, đưa ra nhiều hơn một quan điểm về vấn đề đang thảo luận
Về nội dung: nội dung các cuộc thảo luận phải phù hợp, đáp ứng được yêucầu, đòi hỏi HS phải vận dụng được kiến thức của cá nhân, phải có tính vấn đề, cómức độ khó khăn nhất định và đặc biệt phải gây được sự hấp dẫn đối với ngườitham gia thảo luận Các chủ đề thảo luận có thể do GV đưa ra hoặc do HS tự đềxuất vấn đề thảo luận Nếu là các chủ đề do HS đề xuất thì GV phải là người kiểmsoát, sắp xếp, lựa chọn để tránh các chủ đề trùng nhau GV có thể loại bỏ những chủ
đề không phù hợp
Về phương pháp thảo luận: Các chủ đề thảo luận được đưa ra dưới dạng cáccâu hỏi, các bài toán mà lời giải của nó không có sẵn trong tài liệu, trong SGK Đểtìm kiếm câu trả, HS phải vận dụng linh hoạt nhiều kiến thức, phải tranh luận, bổsung hoặc bác bỏ ý kiến của những người cùng tham gia để cuối cùng đi đến thốngnhất cách lý giải hợp lý cho vấn đề cần giải quyết
Về hình thức thảo luận: các câu hỏi và câu trả lời cho mỗi vấn đề được tất cảcác thành viên tham gia thảo luận, có quyền được đưa ra các ý kiến của mình đồngthời cũng có quyền được biết các ý kiến của người khác đưa ra và có quyền bác bỏhoặc bổ sung ý kiến đó
Về cách đánh giá: Trong mỗi chủ đề thảo luận GV và HS có quyền đánh giá ýkiến của người khác bằng cách cho điểm Những ý kiến nhận được sự ủng hộ củanhiều người và đạt được điểm số cao là những ý kiến hay, lập luận đúng và chặt chẽmang tính thuyết phục cao
+ Vận dụng thông tin
Trong quá trình ôn tập để khắc sâu kiến thức hơn, và hiểu kiến thức một cách
rõ ràng HS cần vận dụng giải quyết các vấn đề cụ thể như giải các bài tập, làm cácthí nghiệm, giải thích các vấn đề liên quan trong đời sống… Tuỳ theo yêu cầu,nhiệm vụ học tập khác nhau, khả năng và điều kiện của mỗi cá nhân để chọn cáchình thức vận dụng khác nhau
Ở giai đoạn này GV sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm và tự luận có phảnhồi hướng dẫn để ôn tập Song song với việc ôn tập trên lớp, GV có thể thiết kế và
Trang 37đóng gói, tải các nội dung học tập và hướng dẫn cho HS tự ôn tập trên hệ thốnge-Learning Hình thức này có thể giao nhiệm vụ cho cá nhân HS hoàn thành các bàitập trong chương “Dòng điện không đổi” trên hệ thống thông qua các bài tập điện tửhoặc các bài kiểm tra chương “Dòng điện không đổi” Thông qua việc làm bài tập
và các bài kiểm tra, HS có thể tự so sánh đánh giá kết quả của mình, nếu có vấn đềnào chưa hiểu, HS có thể đăng nhập hệ thống để xem hướng dẫn của GV
Việc GV yêu cầu HS ôn tập các kiến thức Vật lý trên hệ thống e-Learning sẽmang lại nhiều thuận lợi như: GV có thể soạn thảo và đóng gói hệ thống bài giảng,bài tập và bài kiểm tra dung lượng lớn Qua việc truy cập làm bài của HS, GV cóthể theo dõi quá trình tự học của HS
Bên cạnh đó GV có thể yêu cầu HS ôn tập thông qua các thí nghiệm môphỏng, thí nghiệm ảo hoặc các phim thí nghiệm để giúp HS khắc sâu hơn nhữngkiến thức đã học và vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống
Do hạn chế về mặt thời gian và điều kiện trên lớp học truyến thống nên một sốthí nghiệm không thể thực hiện trực tiếp trên lớp học được Mặt khác, do đặc thùcủa môn Vật lý là môn học thực nghiệm nên GV phải cho HS thấy được phần lớnkiến thức Vật lý được rút ra từ thực tiễn và các thí nghiệm Như vậy, thông qua cácthí nghiệm ảo của hệ thống e-learning, GV yêu cầu HS tổng hợp lại kiến thức đãhọc có liên quan đến thí nghiệm Hình thức ôn tập này sẽ tạo hứng thú học tập cho
HS, bởi vì HS quan sát được những số liệu chính xác và kết quả thực từ thí thínghiệm mà không phải chỉ hình dung qua lý thuyết suông
1.4.3.3 Giai đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả
KT-ĐG là khâu cuối cùng trong một quá trình dạy học nói chung và dạy họcVật lý nói riêng nhằm xác định sự đúng đắn việc thực hiện quá trình cũng như kếtquả của quá trình ấy Thông qua đó kịp thời điều chỉnh, rút kinh nghiệm cho các quátrình về sau Hoạt động ôn tập môn Vật lý theo mô hình b-Learning cần phải đượckiểm tra và đánh giá một cách nghiêm túc, nhằm xác định sự đúng đắn và chính xáccủa những thông tin đã thu nhận được
Giai đoạn này GV sẽ sử dụng các bài kiểm tra để đánh giá mức độ thu nhậnkiến thức của HS Ngoài những giờ kiểm tra trực tiếp trên lớp, HS có thể tự làm cácbài kiểm tra và tự đánh giá mức độ nhận thức của mình thông qua hệ thống e-Learning.Tận dụng ưu những thế mạnh của CNTT, chúng tôi soạn thảo hệ thống câu hỏi
Trang 38cùng với các đáp án, sau đó sử dụng hệ thống của mã nguồn mở Moodle để thiết kế
và xây dựng bài kiểm tra, thiết lập chấm điểm tự động và gửi phản hồi kết quả cho
HS ngay sau khi kết thúc bài làm đồng thời lưu giữ kết quả của từng HS trong một cơ
sở dữ liệu để làm căn cứ đánh giá cho từng HS
Về nguyên tắc HS có thể làm bài kiểm tra này vào bất cứ thời điểm nào trongquá trình ôn tập và có thể sử dụng lại nhiều lần Ứng với mỗi lần làm bài hệ thống
sẽ ghi lại và thống kê để thông báo cho HS cũng như GV biết về kết quả của bàikiểm tra đó, thời gian đã sử dụng trong khi làm bài, thời điểm làm bài kiểm tra đó,các câu nào trả lời đúng, câu nào trả lời sai…Trên cơ sở đó HS có thể tự đánh giáđược mức độ nắm kiến thức của mình, đồng thời GV cũng có thể nắm được nhữngthông tin cơ bản về mức độ nhận thức của HS, những sai lầm phổ biến để từ đó cónhững điều chỉnh kịp thời trong phương pháp dạy của bản thân cũng như phươngpháp học của HS
1.5 Xây dựng mô hình b-Learning ôn tập, kiểm tra đánh giá chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 nâng cao
Mô hình b-Learning hỗ trợ hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá chương “Dòngđiện không đổi” Vật lý 11 NC được xây dựng nhằm mục đích nâng cao hiệu quảhoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá ở trường phổ thông Hệ thống online của môhình b-Learning được xem là một phương tiện hữu hiệu để phổ biến kiến thức, cungcấp thông tin cho nhiều đối tượng khác nhau thông qua mạng internet và có cácchức năng: hỗ trợ hoạt động kiểm tra đánh giá của GV và HS, hỗ trợ hoạt động ôntập của HS và là kênh tương tác đa chiều giữa GV và HS
B-Learning xuất phát từ chính yêu cầu của quá trình dạy học khi công nghệngày càng phát triển và thâm nhập sâu rộng vào các mặt của đời sống con người,đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Để triển khai dạy học với mô hình b-Learningmột cách có hiệu quả, người dạy cần phải thiết kế mô hình đó với các hoạt động phùhợp Căn cứ theo cấu trúc nội dung, mục tiêu đề ra cùng những nguyên tắc và tiêuchí xây dựng mô hình b-Learning, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình b-Learning
tổ chức hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá theo trình tự các bước sau:
Trang 39Hình 1.1 Các bước xây dựng hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá theo mô
hình b-Learning
1.5.1 Xác định kiến thức cần ôn tập, kiểm tra
Khi xây dựng nội dung, GV cần quan tâm đến mục tiêu ôn tập, nội dung cần
ôn tập, hình thức tổ chức ôn tập và đối tượng sử dụng Trong giai đoạn này cần lưu
ý là những tài nguyên thu thập phải liên quan đến nội dung môn Vật lý Các nộidung cần thiết cho chủ đề của mỗi hình thức ôn tập có thể lấy từ giáo trình, tài liệutham khảo, phim ảnh, thí nghiệm Vật lý…
1.5.2 Thiết kế mô hình b-Learning
Khi đã xác định được nội dung cần ôn tập, KT-ĐG, GV dựa vào nội dung đó
để thiết kế mô hình b-Learning Những kiến thức cần ôn tập, hệ thống câu hỏi vànhiệm vụ phù hợp cùng với hình thức tổ chức phải được lựa chọn một cách tối ưusao cho phát huy được hết thế mạnh của dạy học truyền thống và dạy học trên hệthống online Bên cạnh đó, mô hình thiết kế phải đảm bảo các nguyên tắc và tiêuchí đã nêu ở trên
1.5.2.1 Xây dựng hệ thống e-Learning
Sau khi đã xác định được nội dung và hình thức nào sẽ được tổ chức ôn tập,kiểm tra trên hệ thống online thì GV sẽ tiến hành xây dựng trên hệ thống e-Learningvới các module hợp lý, rõ ràng, thẩm mỹ và đảm bảo tính sư phạm
Trang 401.5.2.2 Xây dựng nội dung ôn tập, KT theo F2F
Dựa vào đặc điểm của lớp học truyền thống và những ưu điểm của nó, GV cầnlựa chọn những nội dung kiến thức và hình thức tổ chức sao cho phù hợp để đem lạihiệu quả cao nhất, góp phần nâng cao chất lượng học tập cho HS
1.5.3 Tổ chức ôn tập, KT-ĐG học sinh
Sau khi xây dựng xong mô hình, GV tổ chức cho HS thực hiện theo kịch bản
mà GV đã soạn sẵn GV không chỉ tổ chức, hướng dẫn ôn tập cho HS trên lớptruyền thống mà còn phải tổ chức hướng dẫn HS ôn tập trên hệ thống online saocho có hiệu quả nhất Trong giai đoạn tổ chức ôn tập, KT-ĐG mô hình b-Learning
sử dụng nhiều hình thức ôn tập khác nhau như: ôn tập thông qua thí nghiệm ảo, ôntập thông qua các sơ đồ bài học, ôn tập thông qua các diễn đàn…Chính vì vậy, GV
là người định hướng cho HS để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ được giao
1.5.4 Đánh giá hiệu quả mô hình
- Chúng tôi đánh giá mô hình b-Learning bằng các cách như sau:
+ Bản thân trải nghiệm ở vị trí HS để tiến hành ôn tập trên hệ thống online+ Xin góp ý của các chuyên gia
+ TNSP để kiểm chứng chất lượng của chương trình
Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉnh sửa, bổ sung thêm những chi tiết cần thiết để
có được chương trình hoàn chỉnh nhất
- Chúng tôi xác định phương án vận dụng mô hình theo ba bước sau:
+ Tổ chức hoạt động ôn tập trên lớp
+ Tổ chức hoạt động ôn tập, kiểm tra đánh giá qua mạng
+ Tổ chức tổng kết, kiểm tra đánh giá trên lớp
1.6 Thực trạng ôn tập, kiểm tra đánh giá môn Vật Lý ở THPT hiện nay
Để đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập và kiểm tra đánh giácủa GV và HS trong các trường THPT, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phươngpháp điều tra, phương pháp nghiên cứu sản phẩm (bài kiểm tra của HS), phươngpháp phỏng vấn và đàm thoại với HS và GV một số trường THPT Đó là trườngTHPT Vĩnh Linh, Quảng Trị