1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay (nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp bắc thăng long, huyện đông anh, hà nội

117 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay” Nghiên cứ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,

huyện Đông Anh, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ YẾN

NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,

huyện Đông Anh, Hà Nội)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 60 31 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Quyết

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội) là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, không sao

chép của bất cứ ai Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích và thu thập số liệu một cách trung thực và khách quan Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Học viên

Nguyễn Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sỹ của tôi được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các quý thầy cô, các bạn và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

Các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi có những tri thức để hoàn thiện đề tài này

Và đặc biệt là Thầy giáo hướng dẫn PGS TS Phạm Văn Quyết đã nhiệt tình hướng dẫn để tôi có thể thực hành tốt những kỹ năng và phương pháp cho một nghiên cứu Xã hội học

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong tập thể lớp Cao học khóa 2014 –

Xã hội học đã hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo UBND xã Kim Chung và người lao động thuộc khu công nghiệp Bắc Thăng Long đã cung cấp cho tôi những thông tin số liệu cần thiết phục vụ cho nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cố gắng, song bản thân tôi vẫn còn một số hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, cho nên luận văn còn có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý thầy cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Người thực hiện

Học viên Nguyễn Thị Yến

Trang 5

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 16

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 18

6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 18

7 Phương pháp nghiên cứu 19

8 Khung phân tích 24

PHẦN NỘI DUNG 25

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 25

1.1 Khái niệm công cụ 25

1.1.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công 25

1.1.2 Khái niệm tiếp cận dịch vụ hành chính công 26

1.1.3 Khái niệm người lao động trong khu công nghiệp 26

1.1.4 Khái niệm chính quyền địa phương 28

1.2 Lý thuyết áp dụng 28

1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội 28

1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý 30

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 34

2.1 Thực trạng sử dụng dịch vụ hành chính công của người lao động 34

2.1.1 Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính công 34

2.1.2 Việc sử dụng các dịch vụ hành chính công 37

2.1.3 Mức phí và thời gian làm các dịch vụ hành chính công 43

2.2 Mức độ hài lòng của người lao động với các dịch vụ hành chính công 50

2.3 Một số bất cập trong tiếp cận các dịch vụ hành chính công 55

Trang 6

2

2.4 Mong muốn của người lao động với các thủ tục hành chính công 71

2.4.1 Mong muốn tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính công 71

2.4.2 Mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công 73

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 76

3.1 Nhóm các yếu tố từ phía người nhận dịch vụ 76

3.2 Các yếu tố từ phía người cung cấp dịch vụ 87

3.2.1 Một số chính sách, văn bản pháp luật về cải cách thủ tục hành chính/ quy trình làm các thủ tục hành chính công 87

3.2.2 Khó khăn trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công từ phía chính quyền địa phương 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

KẾT LUẬN 95

KHUYẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 102

Trang 8

4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tỷ lệ tuổi của người lao động trả lời phiếu ý kiến 21

Bảng 2: Tỷ lệ giới tính của người lao động trả lời phiếu ý kiến 21

Bảng 3: Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của người lao động trả lời phiếu ý kiến 22

Bảng 4: Tỷ lệ cho biết bậc học phổ thông cao nhất của người lao động 22

Bảng 5: Hiện trạng ngôi nhà đang ở của người lao động trả lời phiếu ý kiến 22

Bảng 6: Thu nhập hiện tại của người lao động 22

Bảng 2.1 Nhận biết về nơi làm các thủ tục hành chính công 34

Bảng 2.2 Tỷ lệ người lao động cho biết thủ tục hành chính do tự bản thân đi làm hoặc nhờ người khác làm hộ 36

Bảng 2.3 Tỷ lệ người lao động nam và nữ đã từng làm 39

Bảng 2.4 Tỷ lệ người lao động có khẩu thường trú đã từng làm 40

Bảng 2.5 Mức độ tiếp cận thông tin có liên quan tới các thủ tục hành chính công qua các kênh thông tin 42

Bảng 2.6 Giá trị trung bình Mean của các kênh thông tin 43

Bảng 2.7 Tỷ lệ người lao động cho biết tổng số ngày làm việc để nhận được các thủ tục hành chính công 49

Bảng 2.8 Giá trị trung bình Mean về mức độ hài lòng của người lao động 51

Bảng 2.9 Những khó khăn cụ thể mà người lao động gặp phải khi làm các thủ tục hành chính công 59

Bảng 2.10 Mức độ khó khăn khi làm các thủ tục hành chính công 60

Bảng 2.11 Tỷ lệ lao động có gặp khó khăn khi đi về quê để làm các thủ tục 61

Bảng 2.12 Tỷ lệ người lao động phải chờ đợi khi làm thủ tục hành chính công 64

Bảng 2.13 Lý do phải chờ đợi mỗi lần đến trụ sở UBND xã/ phường làm thủ tục hành chính công 64

Bảng 2.14 Tỷ lệ người lao động phải di chuyển về quê để làm các thủ tục hành chính công 66

Trang 9

5

Bảng 2.15 Tỷ lệ ảnh hưởng tới công việc của người lao động khi xin nghỉ làm để làm

các thủ tục hành chính công 68

Bảng 3.1 Tỷ lệ độ tuổi của người lao động 76

Bảng 3.2 Tương quan giữa độ tuổi đánh giá về mức phí 77

Bảng 3.3 Tương quan giữa độ tuổi với sự hài lòng về kết quả giải quyết công việc 78

Bảng 3.4 Tương quan độ tuổi với mong muốn cải thiện thủ tục hành chính 79

Bảng 3.5 Tương quan giới tính với đánh giá về mức phí 79

Bảng 3.6 Tương quan giới tính với sự hài lòng giải quyết công việc 80

Bảng 3.7 Tương quan giới tính với mong muốn cải thiện thủ tục hành chính công 80

Bảng 3.8 Trình độ học vấn của người lao động 81

Bảng 3.9 Tương quan trình độ học vấn với đánh giá mức phí 81

Bảng 3.10 Tương quan học vấn với sự hài lòng kết quả giải quyết công việc 82

Bảng 3.11 Tương quan học vấn với mong muốn cải thiện chất lượng hành chính công 83

Bảng 3.12 Tương quan thu nhập hiện tại với đánh giá mức thu phí cho các thủ tục hành chính công 84

Bảng 3.13 Tương quan thu nhập với sự hài lòng giải quyết công việc 85

Bảng 3.14 Tương quan thu nhập với mong muốn cải thiện thủ tục 86

hành chính công 86

Trang 10

6

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 1 Tỷ lệ người đã từng làm các thủ tục hành chính công 38Biểu đồ 2 Tỷ lệ người lao động cho biết mức thu phí có niêm yết ở UBND xã/phường 44Biểu đồ 3 Tỷ lệ người lao động đánh giá mức giá mức thu phí khi làm các thủ tục hành chính công 47Biểu đồ 4 Mức độ hài lòng của người dân đối với 6 dịch vụ hành chính [17] 54Biểu đồ 5 Tỷ lệ người lao động có người quen/người thân làm trong UBND xã/phường 55Biểu đồ 6 Tỷ lệ người lao động phải làm ca 56Biểu đồ 7 Tỷ lệ người lao động có gặp khó khăn khi làm các thủ tục hành chính công 57Biểu đồ 8 Một số khó khăn của người lao động khi đi về quê làm các thủ tục hành chính công 62Biểu đồ 9 Tỷ lệ người lao động có xin nghỉ làm 65Biểu đồ 10 Tỷ lệ người lao động ngoại tỉnh di chuyển khi làm các thủ tục hành chính công 66Biểu đồ 11 Thời gian về quê làm ác thủ tục hành chính công 67Biểu đồ 12 Tỷ lệ người lao động đánh giá về quá trình làm các thủ tục hành chính công 69Biểu đồ 13 Tỷ lệ người lao động mong muốn tìm hiểu các thủ tục hành chính công 71Biểu đồ 14 Mong muốn cải thiện chất lượng khi làm các thủ tục hành chính công 73Biểu đồ 15 Thu nhập hiện tại của người lao động 84Biểu đồ 16 Tỷ lệ người lao động cho biết chính quyền nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tạo điều kiện làm các thủ tục hành chính công 91

Trang 11

7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lực lượng lao động là một trong những nguồn lực không thể thiếu trong

sự phát triển của mỗi quốc gia Đồng thời có vai trò là động lực cho tăng trưởng

và phát triển kinh tế

Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2014 là 53,7 triệu người, tăng

so với năm trước là 498 nghìn người (1%) bao gồm 52,7 triệu người có việc làm

và có 1 triệu người thất nghiệp, lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 69,3% Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động là 77,7%, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ và không đồng đều giữa các vùng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị Trong tổng số 733,6 nghìn người di cư từ 15 tuổi trở lên có hơn bốn phần năm (81,7%) tham gia vào lực lượng lao động [12]

Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển với tốc độ cao nên tình trạng di dân đến các khu công nghiệp ngày càng gia tăng

Để sinh sống và hòa nhập thì người lao động cũng có nhu cầu lớn đối với các dịch vụ hành chính công tại nơi cư trú, chẳng hạn: giấy tạm trú tạm vắng; hộ khẩu; giấy khai sinh; bảo hiểm lao động…vv và nhiều loại giấy tờ khác Song trên thực tế, hiện nay việc tiếp cận của họ với các dịch vụ này vẫn còn nhiều trở ngại và khó khăn nhất định, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chức năng chồng chéo, tính không công khai trong các thủ tục hành chính, năng lực chuyên môn, nghiệp

vụ của người cung ứng dịch vụ còn nhiều bất cập, hạn chế Tình trạng bất bình đẳng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ vẫn còn khá phổ biến

Cải cách dịch vụ hành chính công là một yêu cầu cấp thiết cho người lao động, bởi nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thể hiện rõ bản chất:

“Nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta

Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 xác định

“Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế;

Trang 12

8

xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công” Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “dịch vụ công” Nghị quyết còn yêu cầu “tiến hành từng bước việc phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chế trong các đơn

vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công; thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch

vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các thành phố và các khu công nghiệp

Khu công nghiệp Bắc Thăng Long là nơi thu hút rất nhiều người lao động đến từ các tỉnh khác nhau trong cả nước Có thể nói đây là một trong những khu công nghiệp được xem là điểm sáng của Hà Nội về phát triển ngành công nghiệp

cơ điện tử xuất khẩu, bao gồm cả công đoạn sản xuất lắp ráp cũng như sản xuất chế tạo chi tiết linh kiện Khu công nghiệp này đã thu hút được trên 60 nghìn lao động, mỗi doanh nghiệp cũng thu hút tới vài nghìn lao động Do vậy, đây là địa bàn có nhiều lao động phần lớn là dân nhập cư Do vậy, các vấn đề có liên quan tới hành chính công đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết mà nhiều người lao động ở đây rất quan tâm

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Người lao

động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp

Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội), kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ

ra thực trạng tiếp cận dịch vụ, cũng như sẽ phân tích rõ được thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công, mặt khác qua đề tài cũng làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ từ phía người lao động và chính quyền địa phương Từ

đó, có thể đưa ra được một số khuyến nghị với mục đích cải thiện và nâng cao hơn chất lượng dịch vụ hành chính công ở cấp cơ sở xã/ phường hiện nay

Trang 13

9

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Lực lượng lao động là một trong những bộ phận quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Vì vậy, các vấn đề xã hội có liên quan tới người lao động luôn nhận được sự quan tâm của xã hội Liên quan tới tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động là một vấn đề mới và cấp thiết đối với người lao động, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài

về vấn đề này, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công

Các nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động

Nhằm tháo gỡ các khó khăn và hạn chế liên quan tới hành chính công, thì

với đề tài“Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (thuộc chương trình

nghiên cứu: các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam) chủ nhiệm

đề tài là PGS.TS Lê Chi Mai Đề tài đã phân tích thực trạng cung ứng các dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay, từ đó kiến nghị các giải pháp cải tiến việc cung ứng dịch vụ này nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước Trong đề tài đã mô tả và làm rõ về mặt lý luận khái niệm và nội dung của dịch vụ hành chính công Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ hành chính công do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng thông qua tiến hành khảo sát thực tiễn cung ứng 7 loại dịch vụ hành chính công chủ yếu hiện nay (bao gồm thu thuế, cấp giấy phép đầu tư nước ngoài, hải quan, công chứng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, xuất nhập cảnh, giấy đăng ký kinh doanh) Đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến để đạt được mục tiêu đề ra như là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu phân tích việc người lao động nói riêng tiếp cận như thế nào với các dịch vụ hành chính công đó cũng như có những yếu tố nào ảnh hưởng, khó khăn và thuận lợi khi tiếp cận dịch vụ hành chính công

Trang 14

10

Cùng với nội dung đổi mới hành chính công thì bài viết “Một số vấn đề

đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam” của TS Đặng Đức Đạm, phó trưởng

Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Với các trình bày chi tiết các khái niệm có liên quan tới dịch vụ công ở nước ta, trong đó có hành chính công, hơn nữa bài viết cũng nêu ra thực trạng, vấn đề và yêu cầu đổi mới quản lý dịch vụ công Hơn nữa bài viết cũng đề cập tới một số đổi mới chế độ tài chính đối với dịch vụ công, tuy nhiên bài viết chưa làm rõ cụ thể các loại dịch vụ công hiện nay, mặt khác cũng chưa đề cập tới việc tiếp cận các loại dịch vụ này như thế nào? Cũng như hình thức tiếp cận các loại dịch vụ công ra sao

Với nghiên cứu của Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc: Lao động nữ

di cư tự do nông thôn – thành thị Nhà xuất bản Phụ nữ Hà Nội, 2002 Công

trình đã sử dụng nhiều phương pháp phỏng vấn sâu trên diện rộng cả địa bàn và đối tượng Trong đó có các nội dung chính như: Bối cảnh, tình hình, lý do di cư vào các thành phố lớn và lý do di cư của lao động nữ vào các thành phố; việc làm

và đời sống của lao động nữ di cư tự do vào thành phố (việc làm, thu nhập, sức khỏe, chăm sóc y tế, điều kiện sống, quan hệ xã hội); ảnh hưởng của lao động nữ

di cư đối với các thành phố (nơi nhập cư) dư luận xã hội đối với lao động nữ di

cư vào thành phố; xu hướng và giải pháp cho vấn đề lao động nữ di cư vào thành phố Mặc dù, đã trình bày một số vấn đề có liên quan tới người lao động tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả các yếu tố có liên quan tới người lao động di cư nhưng chưa làm rõ được vấn đề tiếp cận với các dịch vụ xã hội, trong

đó là hành chính công

Nghiên cứu tiếp về vấn đề này bài viết “Việc làm và đời sống của người

lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà

Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), của tác giả

Nguyễn Thị Bích Nga, tạp chí Xã hội học số 2 (82), 2003 Nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp mô tả thực trạng, vận dụng quan điểm giới và phát triển trong quá trình thực hiện, xem xét mối tương quan giữa nam và nữ trong mối quan tâm và bối cảnh chung của vấn đề di chuyển lao động nông thôn – thành

Trang 15

11

thị Bài viết đã chỉ ra một số đặc điểm về việc làm và đời sống của người lao động cụ thể như là: Nghề của lao động nam, nữ tại Hà Nội tương tự nhau, đơn giản, phổ thông và sử dụng lao động cơ bắp là chính; Cả nam và nữ đều không chỉ làm một nghề cố định mà còn làm thêm bất cứ công việc gì có thể tạo ra thu nhập; Cùng một nhóm nghề nhưng thu nhập của nam cao hơn nữ, do chi tiêu cá nhân của nam cao hơn nên số tiền gửi về gia đình của nam và nữ tương đương; Khả năng chuyển đổi vị trí làm việc của người lao động thấp Mặc dù nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số khó khăn về quan hệ của người lao động với các cơ quan chức năng của địa phương song nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả sơ bộ khó khăn, chưa đi sâu phân tích việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính của địa phương, mặt khác nghiên cứu chưa phân tích cụ thể được những nhu cầu, thực trạng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công hiện nay

Di dân là một trong những vấn đề mà được nhiều nhà nghiên cứu quan

tâm, với đề tài cấp bộ: “Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”

do PGS.TS Lưu Bích Ngọc làm chủ nhiệm đề tài Báo cáo đã phân tích và làm rõ các nội dung có liên quan tới người lao động di cư tạm thời, đồng thời báo cáo cũng đã ước lượng di cư tạm thời và dự báo dân số Bên cạnh đó báo cáo cũng chỉ ra được một số vấn đề kinh tế - xã hội của người di cư tạm thời, trong đó báo cáo cũng đề cập đến mức độ hiểu biết và thực hành về một số quyền cơ bản của người di cư hiện nay Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, báo cáo cũng đề xuất một số giải pháp hạn chế giảm thiểu tiêu cực của di cư tạm thời hiện nay Với mẫu khảo sát tại hai địa bàn Hà Nội và TP HCM, đây là hai trung tâm kinh tế chính trị và văn hóa lớn nhất cả nước, với lợi thế là nơi tập trung đa dạng nhiều ngành nghề, đã tạo điều kiện cơ bản để thu hút được một lực lượng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác biệt

cơ bản giữa lao động ở Hà Nội và TP HCM, mặc dù vậy, nghiên cứu mới đưa ra những kết quả chung cho vấn đề di dân ở nước ta, việc tìm hiểu về việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người di dân vẫn còn nhiều hạn chế, hơn nữa, đề tài mới

Trang 16

di dân ở nước ta, đồng thời cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của người di cư

Số liệu trong những năm gần đây cho thấy số người di cư ngày càng lớn, thiếu đất và thiếu việc làm là một trong những nguyên nhân tạo nên “lực đẩy” xuất cư lớn Đặc biệt, người di cư ngày càng có xu hướng “vươn xa”, tỷ lệ người di cư giữa các tỉnh, huyện, xã tăng nhanh Theo báo cáo cũng chỉ ra một số đặc trưng

cơ bản của người di cư trong những năm gần đây: Phụ nữ di cư ngày càng nhiều hơn nam giới; Đa số những người di cư là trẻ tuổi; Đa số người di cư là chưa kết hôn; Đa số những người di cư có trình độ học vấn từ Trung học cơ sở trở lên; sức khỏe của người di cư nói chung là tốt Mặc dù, nghiên cứu đã chỉ ra được những xu hướng chính và đặc trưng cơ bản song nghiên cứu chưa đi sâu vào nghiên cứu người lao động tiếp cận các dịch vụ xã hội, dịch vụ hành chính công như thế nào?

Đề cập tới vấn đề này, trong cuốn sách “Lao động di trú trong pháp luật

quốc tế và Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công

dân, Đại học Quốc gia Hà Nội Đã nêu ra một số vấn đề có liên quan tới quyền của người lao động di trú, đồng thời cuốn sách cũng đưa ra một số vấn đề có liên quan như là: xuất khẩu lao động; tác động kinh tế - xã hội của di cư quốc tế tại Việt Nam; pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động di cư Tuy nhiên, pháp luật về người di cư nội địa là một vấn đề khó, chưa được đề cập đến nhiều, đặc biệt là các quyền cơ bản của người lao động, trong đó, tiếp cận các dịch vụ xã hội chưa đề cập đến

Tương tự, liên quan tới pháp luật của người lao động di cư thì trong cuốn:

“Bảo vệ người lao động di trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú” Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Mục tiêu của cuốn sách là hỗ

trợ công tác nghiên cứu, xây dựng và thực thi pháp luật về đưa người lao động ra

Trang 17

13

nước ngoài làm việc cũng như việc bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài của các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác có liên quan theo hướng phù hợp và hài hòa với các tiêu chuẩn chung đã được thiết lập trong các văn kiện và đang được áp dụng ở tầm quốc tế và khu vực Tuy nhiên, cuốn sách mới đề cập tới các văn kiện quan trọng về lao động di cư quốc tế Chưa có nội dung liên quan tới quyền người lao động di cư nội địa, vì vậy các vấn đề có liên quan như quyền dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có dịch vụ hành chính công chưa được đề cập đến

Bảo vệ các quyền lợi của người lao động nhập cư là một trong nhiệm vụ quan trọng của Đảng Nhà nước và các ban ngành, vì vậy an sinh xã hội cho

người nhập cư là một trong những vấn đề được quan tâm Bài viết “Nhập cư đô

thị và an sinh xã hội”, Xã hội học số 1 (93), 2006 của Phạm Quỳnh Hương đã

nêu ra vấn đề nhu cầu an sinh xã hội của người nhập cư; đổi mới và thực trạng an sinh xã hội của người nhập cư; tăng cường tiếp cận an sinh xã hội cho người nhập cư trong giai đoạn hiện nay; trong đó bài viết đi sâu vào thực trạng và việc đổi mới an sinh xã hội, có đề cập tới khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội còn nhiều hạn chế do không có đăng ký cư trú, điều này lại trở thành bài toán khó không chỉ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo mà còn khó khăn hơn cho bài toán quản lý đô thị hiện nay Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu vào phân tích được thực trạng, yếu tố ảnh hưởng của người lao động khi tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản nói chung và dịch vụ hành chính công nói riêng

Việc cung ứng đầy đủ và đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản của người lao động tiếp tục được đề cập tới trong bài viết của Đặng Nguyên Anh & Nguyễn

Bình Minh, “Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư ở

thành phố, Tạp chí XHH số 3 (47), 1998 Với số liệu khảo sát “Di cư và sức

khỏe” (VNMHS97) do Viện Xã hội học (thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và

Nhân văn Quốc gia Việt Nam) thực hiện năm 1997 trong khuôn khổ dự án hợp tác quốc tế do Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ Trung tâm đào tạo và nghiên cứu dân số (Đại học Tổng hợp Brown, Hoa Kỳ) là cơ quan trợ giúp kỹ

Trang 18

14

thuật cho dự án Bài viết tập trung vào mô tả và phân tích các khó khăn và thách thức của người lao động ngoại tỉnh nói chung khi nhập cư vào thành phố, một số khó khăn mà họ gặp phải như là không có hộ khẩu thường trú, thiếu vốn và trình

độ chuyên môn cho nên mặc dù có sức khỏe nhưng họ vẫn khó tìm được việc làm trong khu vực kinh tế chính thức Nhìn chung, bài viết chưa đi sâu phân tích được những khó khăn của người lao động khi tiếp cận các dịch vụ hành chính công, đặc biệt là những lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp hiện nay

Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người dân nói chung và người lao động nói riêng

Người lao động trong khu công nghiệp là một nhóm đặc thù có nhiều đặc điểm khác biệt so với người lao động di cư nói chung, do vậy, việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính công cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế, để khắc phục những ảnh hưởng từ phía người lao động cũng như từ phía chính quyền địa

phương thì đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, với bài viết “Nâng cao chất

lượng cung ứng dịch vụ hành chính công ở cấp huyện theo cơ chế một cửa liên thông” của Nguyễn Đặng Phương Truyền, Bộ môn Văn bản và Công nghệ

hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia, bài viết đã nêu ra một số vấn đề chính có liên quan tới dịch vụ hành chính và cơ chế một cửa liên thông tại cấp huyện, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công ở cấp huyện theo cơ chế một cửa liên thông, ngoài ra còn đưa ra một

số khuyến nghị cho nhằm nâng cao hiệu quả việc cung ứng dịch vụ hành chính công theo cơ chế một cửa liên thông tại cấp huyện Tuy vậy, bài viết vẫn chưa phân tích sâu nhận thức cũng như thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công cho người dân nói chung và người lao động nói riêng

Tiếp tục liên quan tới yếu tố ảnh hưởng tới di dân, bài viết “Chiều cạnh

giới của di dân lao động thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” của

Đặng Nguyên Anh, Xã hội học số 2 (90), 2005 Bài viết này nhằm mục đích xem xét đặc trưng của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân lao động nữ ra đô thị và đến các khu công nghiệp, chế xuất Tác giả bài viết

Trang 19

15

không đề cập đến các hình thái di dân khác nhau như xuất khẩu lao động, du học

tự túc, kết hôn với người nước ngoài hoặc buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới

là những loại hình di dân có sự tham gia của phụ nữ Bài viết đã đề cập tới một

số vấn đề chính chẳng hạn như là: Quy mô di dân; hướng di chuyển; Động lực di cư; quyết định chuyển cư; tiền gửi về của người lao động; những khó khăn và trở ngại cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ; vị thế pháp lý của người lao động Lao động nữ từ nông thôn di chuyển ra đô thị cũng như đến các khu công nghiệp ngày càng đông đảo dưới nhiều phương thức khác nhau

Hiện nay, trên phạm vi cả nước có 463 KCN trong quy hoạch tổng thể phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 139,5 ngàn ha Ước tính đến hết tháng 12/2015, trên phạm vi cả nước có 304 KCN được thành lập trên tổng số 463 KCN có trong quy hoạch, với tổng diện tích đất

tự nhiên khoảng 85,2 ngàn ha, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 56 ngàn ha (chiếm khoảng 66% tổng diện tích đất tự nhiên) Trong đó riêng kế hoạch 5 năm 2011-2015 có 44 KCN được thành lập và mở rộng với tổng diện tích 13,8 ngàn ha (thấp hơn so với tổng diện tích KCN đã được thành lập trong

kế hoạch 5 năm 2006-2010 là 44,4 ngàn ha và mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm 2011-2015 là 17-20 ngàn ha) Các KCN được thành lập trên 60 tỉnh, thành phố, chủ yếu tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm nhằm phát huy lợi thế về

vị trí địa lý và tiềm năng phát triển kinh tế của các vùng [21]

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những vấn đề mà người di dân rất

quan tâm, với nghiên cứu “Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký thường

trú trên địa bàn thành phố Hà Nội” Cù Ngọc Trang, (chủ nhiệm) (2010), Đề tài

cấp cơ sở, Hà Nội Nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề về lý luận về thủ tục hành chính trong đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố Hà Nội; thực trạng hoạt động cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố

Hà Nội; giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính Đồng thời, nghiên cứu cũng tập trung mô tả các bước, thủ tục, quy định, quy trình thủ tục

Trang 20

16

hành chính trong đăng ký thường trú và những cải cách quy định này trên địa bàn những năm vừa qua Trên cơ sở thực trạng và những quy định mới ban hành, đề tài đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký thường trú trên địa bàn Mặc dù vậy, nghiên cứu vẫn chưa đi sâu phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc người di cư tiếp cận với các thủ tục hành chính khi hiện nay các thủ tục hành chính trong đăng ký thường trú đã và đang có những cải cách tiến bộ

Như vậy, qua các nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính của người lao động, cũng như các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công thì có thể có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ mô tả được thực trạng của các dịch vụ công, cũng như một số quyền của người lao động, chưa phân tích và làm rõ được thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công, hơn nữa ở thời điểm hiện tại tác giả chưa tìm thấy một nghiên cứu nào phân tích sâu về việc tiếp cận hành chính công của người lao động, đặc biệt

là người lao động đang làm việc trong khu công nghiệp Các nghiên cứu cũng chưa chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới khả năng tiếp cận của người lao động, cũng như tìm ra những giải pháp giải quyết những khó khăn và bất cập trong quá trình tiếp cận các thủ tục hành chính công cho người lao động Nhận thấy, đây là một vấn đề mới cần có một nghiên cứu phân tích và làm rõ thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công, cũng như phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động trong khu công nghiệp

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài nghiên cứu đã vận dụng một số khái niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Xã hội học vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể Đặc biệt nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết hành vi lựa chọn hợp lý Kết quả nguyên cứu về người lao động tiếp cận các dịch vụ hành chính công hy vọng sẽ góp phần mang lại những thông tin hữu ích cho các nghiên cứu liên quan tới

Trang 21

17

người lao động, việc làm, dịch vụ xã hội cơ bản Kết quả sẽ đưa ra các luận điểm

và dẫn chứng bổ sung cho các lý thuyết Xã hội học có liên quan tới Xã hội học lao động, Xã hội học Nông thôn – Đô thị, Xã hội học Chính trị…vv

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thực trạng tiếp cận các dịch vụ hành chính công của người lao động tại khu công nghiệp, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của họ tại địa phương Trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp để cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công cho người lao động

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hình thành cơ sở lý thuyết giúp nghiên cứu việc tiếp cận dịch vụ hành chính

công của nhóm dân cư lao động trong khu công nghiệp

- Làm rõ thực trạng tiếp cận các dịch vụ hành chính công của người lao dộng trong khu công nghiệp

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận các dịch vụ hành chính công của người lao động trong khu công nghiệp

Trang 22

18

+ Yếu tố từ phía người nhận dịch vụ

+ Yếu tố từ phía người cung cấp dịch vụ

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương

5.2 Khách thể nghiên cứu

- Người lao động trong khu công nghiệp, bao gồm người lao động địa phương

và người lao động ngoại tỉnh

- Cán bộ UBND xã

5.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: 12/2015 – 10/2016

- Phạm vi không gian: Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Đông Anh, Hà Nội

- Phạm vi nội dung: Có nhiều lĩnh vực thuộc dịch vụ hành chính công như là: lĩnh vực tư pháp; lĩnh vực đăng ký kinh doanh, lĩnh vực đất đai, lĩnh vực môi trường; lĩnh vực xây dựng; lĩnh vực chứng thực…trong giới hạn của đề tài này

chúng tôi lựa chọn khảo sát ba lĩnh vực chính trong dịch vụ hành chính công đó là:

+ Lĩnh vực tư pháp (Đăng ký khai sinh thông thường; đăng ký kết hôn; xác nhận sơ yếu lý lịch)

+ Lĩnh vực chứng thực (Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt)

+ Lĩnh vực công an (Khai báo tạm trú/ tạm vắng tại công an xã/ phường)

6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính công của người lao động trong khu công nghiệp hiện nay diễn ra như thế nào?

- Các yếu tố liên quan đến cá nhân người lao động đã ảnh hưởng như thế nào đến việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của họ?

Trang 23

19

- Các yếu tố liên quan đến người cung cấp dịch vụ (Chính sách, cơ quan chính quyền địa phương) ảnh hưởng thế nào đến việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập như: việc di chuyển đi lại, thời gian chờ đợi, xin nghỉ làm…vv Tuy nhiên, người lao động khá hài lòng với mức phí, kết quả giải quyết công việc…vv của chính quyền

- Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thu nhập có mối liên hệ với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công qua việc đánh giá mức phí, sự hài lòng giải quyết công việc và mong muốn cải thiện chất lượng hành chính công

- Các văn bản, chính sách pháp luật về thủ tục hành chính công ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiếp cận của người lao động, hơn nữa từ phía chính quyền cũng còn tồn tại một số khó khăn và bất cập trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Quan điểm của Mác xít về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật, trong đó tuân thủ các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét vấn đề Chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng, luôn có mối quan hệ ràng buộc, tương tác

Những quy luật vận động và phát triển của xã hội phải được xem xét khách quan như nó đang tồn tại Khi nghiên cứu về việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động ta phải đặt nó trong sự vận động, luôn có những chiều hướng thay đổi cùng với sự thay đổi của xã hôi, có thể theo chiều hướng đi lên hoặc giảm đi Điều này có ý nghĩa khi xem xét một vấn đề phải đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể và trong mối quan hệ tương quan với môi trường xung quanh

Trang 24

20

Khi xem xét một vấn đề ta phải đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể và trong mối quan hệ tương quan với môi trường xung quanh Trong đề tài này chúng tôi tìm hiểu việc tiếp cận của người lao động với dịch vụ hành chính công, cũng như vai trò của người cung ứng dịch vụ hành chính

Đề tài nghiên cứu thông qua việc tiếp cận của Xã hội học và sử dụng các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu xã hội học nhằm tìm hiểu thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công cũng như những yếu tố tác động tới việc tiếp cận dịch vụ này của người lao động trong khu công nghiệp

7.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học

7.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Cuộc khảo sát này được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng không tỷ lệ Với lượng mẫu được chọn là 200 người lao động

 Cách chọn mẫu: Chia đều số lượng đơn vị mẫu theo các đặc trưng là người địa phương, người nhập cư và theo giới tính ở các công ty thuộc khu công nghiệp Bắc Thăng Long, nhằm mục đích có đủ số lượng mẫu và thuận tiện cho việc thu thập thông tin

Số lượng đơn vị mẫu của nghiên cứu được lựa chọn theo quy trình chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (dạng không tỷ lệ), cách chọn này sẽ cho phép nhà nghiên cứu lựa chọn được số lượng đơn vị nghiên cứu cần thiết để các phép tính thống kê có ý nghĩa [10] Với nghiên cứu này, các biến số xác định tầng như là: địa bàn cư trú; giới tính

Cách chọn mẫu được biểu thị bằng sơ đồ như sau:

Trang 25

 Xử lý số liệu và kiểm định giả thuyết

Số lƣợng bảng hỏi phát ra là 200 bảng hỏi, số lƣợng bảng hỏi thu về và làm sạch là 200 bảng hỏi Thông tin thu về đƣợc xử lý trên máy tính bằng phần mềm

xử lý thống kê SPSS 16.0 for Window

 Cơ cấu mẫu của nghiên cứu định lượng

Bảng 1: Tỷ lệ tuổi của người lao động trả lời phiếu ý kiến

Trang 27

Cụ thể đề tài thực hiện 07 phỏng vấn sâu, trong đó:

vụ, mặt khác sẽ tìm hiểu những khó khăn, trở ngại cũng như bất cập trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công

Từ việc khai thác các thông tin từ phía người sử dụng dịch vụ và người cung ứng dịch vụ sẽ tìm ra được một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao được khả năng tiếp cận các dịch vụ hành chính công hiện nay

7.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Đây là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua các nguồn tài liệu có sẵn, trong đề tài tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu ở: Thư viện Quốc Gia Việt Nam; Trung tâm thông tin thư viện – Đại học Quốc Gia Hà Nội; Trung tâm nghiên cứu Quyền con người – quyền công dân, thuộc khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Các sách, báo, tạp chí, tài liệu trong các luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp, tài liệu trên mạng Internet, các trang web về vấn đề người lao động, dịch vụ hành chính công

Trang 28

24

8 Khung phân tích

Trang 29

25

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công

Để hiểu khái niệm dịch vụ hành chính công, trước tiên cần hiểu khái niệm dịch vụ có nghĩa là gì? Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về dịch vụ Theo Zeitheml và Bitner (2000), dịch vụ là những công việc, những quy trình và những sự thực hiện

Còn theo Gronross (1990) thì dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng

và các nhân viên có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ - nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng Tóm lại, dịch vụ được hiểu là một quá trình bao gồm các hoạt động phía sau và các hoạt động phía trước nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn cũng như tạo ta giá trị cho khách hàng

Trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng đề cập tới khái niệm dịch vụ hành chính công Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX

đã nêu: “Xây dựng một nền hành chính nhà nước, dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa…Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các

Bộ theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công”

Có nhiều định nghĩa về dịch vụ hành chính công, dịch vụ hành chính công

là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền)

có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý

Trang 30

26

Theo các tác giả cuốn sách “Hành chính học đại cương” thì hành chính công là

“hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý công việc công của nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân” [11]

1.1.2 Khái niệm tiếp cận dịch vụ hành chính công

Sự tiếp cận là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt Sự tiếp cận có thể được xem như khả năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay vật chất

Tiếp cận có nghĩa là tiến sát gần; đến gần để tiếp xúc hay là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một vấn đề, công việc nào đó [22] Tiếp cận dịch vụ hành chính công trong nghiên cứu này có thể hiểu là việc người lao động tiếp xúc tới dịch vụ có liên quan tới hoạt động thực thi pháp luật, bao gồm việc làm các thủ tục giấy tờ hành chính do đại diện cơ quan có thẩm quyền cấp trong lĩnh vực mà cơ quan đó quản lý

Có thể nói dịch vụ hành chính công là loại hình gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công

1.1.3 Khái niệm người lao động trong khu công nghiệp

Để hiểu khái niệm người lao động trước tiên cần tìm hiểu về khái niệm nguồn lao động và lực lượng lao động

Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn

bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còn gọi là dân số hoạt động kinh

tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam đủ

15 đến hết 60 tuổi; nữ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không

có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc

Trang 31

27

Ở Việt Nam: Căn cứ vào Điều 6 của bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung năm 2002 “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” và Điều

145 “Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện

về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội như sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ

55 tuổi…”

Theo Nghị định số 29/2008/ NĐ – CP của Chính phủ “Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế” thì khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này

Trên thế giới thì khu công nghiệp tập trung được hiểu là khu tập trung các Doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ công nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất trong khu

Theo quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp chính ban hành ngày 24/4/1997 của chính phủ, khu công nghiệp tập trung là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống do chính phủ hoặc Thủ Tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có các loại doanh nghiệp sau:

+ Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Các loại dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương đối với người lao động trong khu công nghiệp

Dịch vụ hành chính công bao gồm rất nhiều loại thủ tục giấy tờ khác nhau, tùy vào từng loại đối tượng khác nhau, cũng như mục đích công việc của từng đối tượng để làm các loại thủ tục giấy tờ hành chính Đối tượng người lao động, thì có một số loại giấy tờ mà người lao động thường xuyên phải làm như: giấy khai sinh; xác nhận sơ yếu lý lịch; chứng thực giấy tờ; khai báo tạm trú tạm vắng

Trang 32

28

Sở dĩ, đây là những loại giấy tờ mà người lao động thường xuyên tiếp xúc vì đây

là loại giấy tờ chủ yếu có trong hồ sơ xin việc, mặt khác ở đây có tỷ lệ người lao động ngoại tỉnh cao cho nên việc khai báo tạm trú tạm vắng là rất cần thiết với người lao động ngoại tỉnh

1.1.4 Khái niệm chính quyền địa phương

Chương Chính quyền địa phương trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã đánh dấu những thay đổi lớn của Hiến pháp năm 1992, đã làm rõ hơn tính chất của hệ thống cơ quan công quyền ở địa phương trong mối quan hệ với Trung ương, thể hiện tính gắn kết, mối quan hệ chặt chẽ giữa Hội đồng Nhân dân, Ủy ban nhân dân trong chỉnh thể của chính quyền địa phương; đồng thời cũng quy định một cách tổng quát về phân chia đơn vị hành chính

Có thể hiểu chính quyền địa phương là những thiết chế nhà nước hay thiết chế

tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương, có tư cách pháp nhân quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến và hợp pháp để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội trên một đơn vị hành chính – lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định

Chính quyền địa phương ở nước ta, theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 hiện hành, được tổ chức 3 cấp đơn vị hành chính là: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (được gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị, xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); Xã, phương, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên, không phân biệt sự khác nhau về vị trí, tính chất, vai trò, ở địa bàn nông thôn hay đô thị đều được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Đối với đề tài này thì thực hiện nghiên cứu việc cung cấp các thủ tục hành chính công thuộc cấp xã

Trang 33

Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của cá nhân Hành động xã hội bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: lợi ích, nhu cầu, định hướng giá trị của chủ thể hành động

- Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái, xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc xem xét phân tích mối quan hệ giữa công cụ và phương tiện và mục đích hành động

- Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ theo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền từ đời này sang đời khác

- Cấu trúc của hành động xã hội

(1) Động cơ và mục đích của hành động sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham

gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động

(2) Chủ thể hành động: Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, các nhóm, cộng

đồng xã hội hay toàn thể xã hội

(3 )Hoàn cảnh hoặc môi trường của hành động: Đó chính là những điều kiện về

thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động Hành động đó diễn ra lúc nào? ở thời điểm nào? trong bối cảnh xã hội như thế nào? Bối cảnh xã hội ở

Trang 34

30

đây được hiểu là tất cả những gì xung quanh có ảnh hưởng đến hành động Tuỳ theo hoàn cảnh hành động, các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ [4]

Giữa các thành tố trong cấu trúc của hành động xã hội có mối liên quan hữu cơ với nhau Mối quan hệ này được biểu diễn trên mô hình sau:

Như vậy, với vận dụng lý thuyết hành động xã hội vào nghiên cứu sẽ giúp phân tích và tìm hiểu nhận thức cũng như mô tả thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công cho người lao động, qua những phân tích về động cơ, nguyên nhân mà người lao động lại lựa chọn hoặc quyết định tiếp cận các dịch vụ hành chính công tại chính quyền địa phương nơi họ đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc chính quyền tại nơi họ đang sinh sống và làm việc

1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý

Homans đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lý của hành vi cá nhân trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản đã được khái quát thành định đề Ông đưa ra một số định đề cơ bản trong lý thuyết của mình: Phần thưởng, kích thích, giá trị, duy lý, giá trị suy giảm, mong đợi Dựa vào những định đề đã nêu, Homans đã đưa ra quy tắc liên quan đến phần thưởng của họ tương xứng với việc đầu tư của họ

Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của cn người, hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng lặp lại

Định đề kích thích: nếu một nhóm kích thích nào trước đây đã từng khiến cho hành động nào đấy được khen thưởng thì một nhóm mới càng giống kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự trước đây được lặp lại bấy nhiêu

Hoàn cảnh

phương tiện Mục đích

Trang 35

31

Định đề giá trị: kết quả của hành động có giá trị cao đối thủ với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu Và khi mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó

Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất

Định đề giá trị suy giảm: càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào

đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng [8]

Người lao động có xu hướng lựa chọn những hành vi có lợi và dễ thực hiện khi tiếp cận với các thủ tục hành chính công tại địa phương đăng ký cư trú Công nhân là nhóm người có quỹ thời gian bận rộn, trong khi đó việc làm các dịch vụ hành chính công mất khá nhiều thời gian, do vậy, việc lựa chọn các yếu tố liên quan như thời gian, hình thức, người làm…cũng được cân nhắc Tuy nhiên, với một số thủ tục hành chính công thì người lao động cũng gặp một số khó khăn khi tiếp cận, vì vậy họ cũng cần phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau để lựa chọn

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

Khu công nghiệp Bắc Thăng Long Long thuộc địa bàn huyện Đông Anh,

Hà Nội Khu công nghiệp nằm trên địa bàn 4 xã đó là: Xã Kim Chung; xã Đại Mạch, xã Hải Bối, xã Võng La Có tổng diện tích là 274 ha, đất công nghiệp là

87 ha; đất nhà xưởng: 0 ha; đất còn trống: 0 ha; thời gian hoạt động là 22/02/1997 Được phát triển bởi Thăng Long Industrial Park, một công ty liên doanh giữa tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) và Công ty cơ khí Đông Anh (Bộ Xây dựng), được thành lập theo giấy phép đầu tư số 1845/GP do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cấp ngày 22/02/1997 Hiện nay, khu công nghiệp này đã thu hút 61 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 662,3 triệu USD Tỷ lệ lấp đầy 100% Giai đoạn 1: Thi công san nền 165.000 m3 cát và thi công lớp kết cấu đường với khối lượng 58.500 m3, thời gian từ 1998 – 2000, với giá trị hợp đồng

Trang 36

32

là 7.573.000.000 VND; giai đoạn 2: Diện tích 72 ha, thi công toàn bộ hệ thống đường giao thông, trạm biến áp, trạm phát điện, hệ thống nước mưa, trạm bơm nước thải, nhà thường trực, thời gian từ 2004 – 2005, với giá trị hợp đồng là 31.900.000.000 VND Đây là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp điện

tử lắp ráp lớn như Cannon, Panasonic,…các doanh nghiệp sản xuất thiết bị vệ sinh lớn như Toto; Sản xuất thiết bị y tế như Ashashi,…vv

 Xã Kim Chung

Với ¾ diện tích khu công nghiệp Bắc Thăng Long nằm trên địa bàn xã Kim Chung, cho nên đây là xã tập trung lực lượng lao động di cư cũng như ngoại tỉnh đông hơn nhiều so với các địa bàn xã khác

Xã Kim Chung là một xã thuộc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội, xã có diện tích đất tự nhiên là 344,32 ha, dân số xã là 12,453 người

+ Phía Bắc giáp xã Nam Hồng

+ Phía Nam giáp xã Hải Bối và xã Võng La

+ Phía Đông giáp xã Kim Nỗ

+ Phía Tây giáp xã Đại Mạch và xã Tiền Phong huyện Mê Linh

Xã tiếp giáp với tuyến đường cao tốc Hà Nội – Nội Bài, đường vành đai phát triển công nghiệp Đường 5 kéo dài, giao thông thuận lợi với các tuyến đường liên thôn, liên xã

Với vị trí địa lý và giao thông thuận lợi, đặc biệt là có khu công nhiệp nằm trên địa bàn cho nên xã Kim Chung là một trong những xã thuộc huyện Đông Anh thu hút nhiều lao động di cư từ nhiều địa phương khác tới đây sinh sống và làm việc tại đây

Trang 37

33

Khu công nghiệp Bắc Thăng Long

Trang 38

34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

Quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi căn bản các lĩnh vực đời sống xã hội Với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, trình độ dân trí của người dân ngày càng tăng cao đòi hỏi Nhà nước có những điều chỉnh về hành chính công phù hợp với người dân Với những đặc thù của người lao động thì việc tiếp cận với dịch vụ hành chính công cũng có nhiều hạn chế và khó khăn Vậy, thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính của người lao động như thế nào? Họ có những nhận biết, hiểu biết ra sao với một số loại thủ tục hành chính công cũng như mong muốn, nhu cầu của họ khi được tiếp cận với các thủ tục hành chính công của chính quyền địa phương cấp xã hiện nay

2.1 Thực trạng sử dụng dịch vụ hành chính công của người lao động

2.1.1 Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính công

Với các loại thủ tục hành chính đã nêu thì vẫn có thể làm tại chính quyền nơi đang sinh sống và làm việc nhưng không có hộ khẩu thường trú, chẳng hạn: khai báo tạm trú, chứng thực giấy tờ Do vậy, việc hiểu biết về nơi làm các thủ tục này sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người lao động, giảm thiểu thời gian đi lại

Bảng 2.1 Nhận biết về nơi làm các thủ tục hành chính công

(Đơn vị: %)

Thủ tục hành chính công

Chính quyền nơi ĐKHKTT

Chính quyền nơi sinh sống, làm việc

Bộ phận

1 cửa

Phòng khác nhau

Bộ phận 1 cửa

Phòng khác nhau

Khai báo tạm trú tại công an xã/phường 67,5 22 10 1 Khai báo tạm vắng tại công an xã/ phường 70,5 23,5 6 0,5

Trang 39

35

Người lao động làm việc trong khu công nghiệp bao gồm cả lao động địa phương và lao động ngoại tỉnh, cho nên về nơi làm một số thủ tục hành chính công có sự khác biệt giữa hai nhóm đối tượng này

Qua kết quả của bảng số liệu trên ta thấy, có sự khác biệt rõ ràng về nhận biết của người lao động khi cho biết về nơi làm thủ tục hành chính Tỷ lệ lựa

chọn làm đối với các thủ tục trên ở “chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú” ở bộ phận một cửa, chiếm tỷ lệ rất cao Cụ thể, tỷ lệ “chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt” là 88,8%, xác nhận

sơ yếu lý lịch là 84,5%; đăng ký khai sinh thông thường (77,2%); đăng ký kết

hôn (71,5%); khai báo tạm vắng (70,5%); khai báo tạm trú (67,5%);

Bên cạnh đó, tỷ lệ thấp người lao động lựa chọn nơi làm thủ tục hành chính công ngay ở chính quyền nơi sinh sống, làm việc ở bộ phận một cửa, tỷ lệ “khai báo báo tạm trú, tạm vắng” ở đây chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 10%; 6% Kết quả định lượng này cho thấy, việc nhận biết nơi làm các thủ tục hành chính công của người lao động vẫn đang còn thấp, bởi những loại thủ tục như chứng thực giấy tờ thì họ vẫn có thể làm ở các văn phòng công chứng, không nhất thiết phải làm thủ tục này ở chính quyền nơi đăng ký hộ khẩu thường trú

Đối với người lao động địa phương thì họ cho biết họ làm các thủ tục này tại bộ phận một cửa của ủy ban nhân dân xã:

“Tất nhiên là anh làm ở bộ phận một cửa chứ Làm ở đây nhanh và tiện hơn rất nhiều, anh nghĩ chắc ở xã nào bây giờ cũng cải cách làm ở bộ phận một cửa hết cả rồi.” (PVS 2, nam lao động, 35 tuổi, Hà Nội)

Ý kiến của một lao động ngoại tỉnh cho biết thêm:

“Anh làm ở bộ phận một cửa chứ, bây giờ làm ở đấy tiện, không phải chạy

đi nhiều phòng làm gì.” (PVS 3, nam lao động, 29 tuổi, Nghệ An)

Theo lãnh đạo xã cho biết: “Bộ phận một cửa được triển khai từ tháng 10 năm 2005, theo quyết định 07 về chức danh, nhiệm vụ của bộ phận văn phòng một cửa, ở xã Kim Chung, có bộ phận một cửa, thì nộp các giấy tờ hành chính ở đây rồi bộ phận này sẽ có nhiệm vụ gửi các bộ phận liên quan, rồi chuyển lãnh đạo ký, rồi gửi lại cán bộ một cửa trả cho người làm thủ tục Do địa bàn xã Kim

Trang 40

36

Chung rộng và tập trung nhiều lao động, cho nên xã đã đều chuyển bộ phận Tư pháp sang ngồi ở văn phòng một cửa và tuyển thêm 2 cán bộ hợp đồng trợ giúp các công việc có liên quan tới bộ phận một cửa này”

(PVS số 6, Phó chủ tịch UBND xã Kim Chung)

Các ý kiến đều cho biết việc làm các thủ tục hành chính này tại bộ phận một cửa Một cửa là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả kết thông qua một đầu mối là “bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại cơ quan hành chính nhà nước Đến nay, việc thực hiện cơ chế “một cửa” là biện pháp hữu hiệu

để cải cách thủ tục hành chính nhằm giải tỏa những bức xúc của người dân Một số loại thủ tục thì người lao động vẫn có thể nhờ người khác đi làm hộ được chẳng hạn: xác nhận sơ yếu lý lịch; chứng thực giấy tờ…vv, bên cạnh đó thì cũng có loại giấy tờ bắt buộc tự bản thân mình đi làm như: đăng ký kết hôn Khảo sát đã chỉ ra hiểu biết của người lao động về việc tự bản thân mình đi làm thủ tục hay là có thể nhờ người khác làm hộ

Bảng 2.2 Tỷ lệ người lao động cho biết thủ tục hành chính do tự bản thân đi

làm hoặc nhờ người khác làm hộ

(Đơn vị: %)

Thủ tục hành chính công Tự bản thân

Nhờ người khác

Khai báo tạm trú tại công an xã/ phường 156 78 44 22 Khai báo tạm vắng tại công an xã/ phường 151 75,5 49 24,5

Kết quả bảng số liệu trên cho thấy, với thủ tục “Đăng ký kết hôn” thì có tỷ

lệ lựa chọn cao, với 98,5% cho biết tự bản thân phải đi làm thủ tục này, còn thủ

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao (2011), Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, sách chuyên khảo
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2011
4. Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) (2001), “Xã hội học”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.129-144; tr.257-262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Phạm Quỳnh Hương (2006), Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội, Tạp chí Xã hội học số 1 (93) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học số 1 (93
Tác giả: Phạm Quỳnh Hương
Năm: 2006
7. Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2002), Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị, Nxb Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị
Tác giả: Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Phụ nữ Hà Nội
Năm: 2002
8. Lê Ngọc Hùng (2011), Lịch Sử và lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Nguyễn Thị Bích Nga (2003), Việc làm và đời sống của người lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), Tạp chí xã hội học số 2 (82) 10. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2011), Phương pháp nghiên cứu xãhội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm và đời sống của người lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Nga
Nhà XB: Tạp chí xã hội học
Năm: 2003
11. GS. Đoàn Trọng Truyền (chủ biên) (1999), Hành chính học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính học đại cương
Tác giả: GS. Đoàn Trọng Truyền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
12. Viện Dân số và các vấn đề xã hội, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, báo cáo “Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”, PGS. TS Lưu Bích Ngọc chủ nhiệm đề tài, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: PGS. TS Lưu Bích Ngọc
Nhà XB: Viện Dân số và các vấn đề xã hội, trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2014
13. Trung tâm nghiên cứu con người – quyền công dân (2009), Bảo vệ người lao động di trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú”. Nxb lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người lao động di trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu con người – quyền công dân
Nhà XB: Nxb lao động
Năm: 2009
15. Trung tâm Thông tin Bộ Lao động thương binh xã hội (2004), Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996 – 2003, tr.16. Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội 16. 5 sở 'nhạy cảm' của Hà Nội bị điều tra, Tin tức – sự kiện,http://dtcblehongphong.hanoi.gov.vn/tabid/84/post/149/5-so-nhay-cam-cua-Ha-Noi-bi-dieu-tra.aspx, truy cập ngày 15/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996 – 2003
Tác giả: Trung tâm Thông tin Bộ Lao động thương binh xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2004
17. Đo sự hài lòng của dân thế nào?, Việt Nguyễn, Giadinh.net. http://www.baomoi.com/do-su-hai-long-cua-dan-the-nao/c/12503135.epi truy cập ngày 25/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo sự hài lòng của dân thế nào
Tác giả: Việt Nguyễn
Nhà XB: Giadinh.net
Năm: 2013
18. Bộ Tƣ pháp khảo sát mô hình “Ba trong một” tại huyện Bến Lức tỉnh Long An, http://stp.longan.gov.vn/Tint%E1%BB%A9cS%E1%BB%B1ki%E1%BB%87n/Th%C3%B4ngtinho%E1%BA%A1t%C4%91%E1%BB%99ngph%E1%BB%95bi%E1%BA%BFngi%C3%A1od%E1%BB%A5cph%C3%A1plu%E1%BA%ADt/tabid/600/ArticleId/1074/-B-T-phap-Kh-o-sat-mo-hinh-Ba-trong-M-t-t-i-huy-n-B-n-L-c-t-nh-Long-An-1074.aspx truy cập ngày 14/03/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba trong một” tại huyện Bến Lức tỉnh Long An, "http://stp.longan.gov.vn/Tint%E1%BB%A9cS%E1%BB%B1ki%E1%BB%87n/Th%C3%B4ngtinho%E1%BA%A1t%C4%91%E1%BB%99ngph%E1%BB"%95bi%E1%BA%BFngi%C3%A1od%E1%BB%A5cph%C3%A1plu%E1%BA%ADt/tabid/600/ArticleId/1074/-B-T-phap-Kh-o-sat-mo-hinh-Ba-trong-M-t-t-i-huy-n-B-n-L-c-t-nh-Long-An-1074.aspx
19. Theo Quyết định số 07/2013/QĐ-UBND ngày 30/01/2013 của UBND Tp.Hồ Chí Minh về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhóm TTHC thuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký, quản lý cƣ trú trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh,http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh-07-2013-QD-UBND-Quy-che-thuc-hien-co-che-mot-cua-lien-thong-vb169646.aspxtruy cập ngày 14/03/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 07/2013/QĐ-UBND
Nhà XB: UBND Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2013
24. 10 sự kiện tiêu biểu trong lĩnh vực cải cách hành chính năm 2012”, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước – Bộ Nội vụ,http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/533/language/vi-VN/10-s-ki-n-tieu-bi-u-trong-linh-v-c-c-i-cach-hanh-chinh-nam-2012.aspx truy cập ngày 13/03/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 sự kiện tiêu biểu trong lĩnh vực cải cách hành chính năm 2012
Nhà XB: Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước – Bộ Nội vụ
Năm: 2012
25. Cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho dân, Thứ năm, 05/12/2013 - 07:40 PM (GMT+7), http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/21837402-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-giam-phien-ha-cho-dan.html truy cập ngày 13/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/21837402-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-giam-phien-ha-cho-dan.html
20. Hồng Ngọc, Tuần tin cải cách hành chính từ ngày 19 đến ngày 25-8-2013, tapchicongsan.org.vn, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam- Link
23. Báo cáo số 2184/BC-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 25/06/2013 về tình hình thực hiện công tác CCHC 6 tháng đầu năm 2013, http://thuvienphapluat.vn/archive/Bao-cao-2184-BC-BNV-nam-2013-cai-cach-hanh-chinh-6-thang-dau-nam-vb207170.aspx Link
1. Đặng Nguyên Anh (2005), Chiều cạnh giới của di dân lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí xã hội học số 2 (90) Khác
2. Đặng Nguyên Anh & Nguyễn Bình Minh (1998), Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư ở thành phố, Tạp chí xã hội học số 4 (64) Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 133 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w