Đánh giá về việc triển khai chính sách ODA của EU tại Việt Nam 67 Phụ lục 1: Những ràng buộc khi cung cấp ODA của một số nước thành viên EU 94 Phụ lục 2: Ưu tiên hỗ trợ trong ODA dành ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HÀ THỊ THANH PHƯỢNG
VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Bùi Hồng Hạnh
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS
TS Bùi Hồng Hạnh - Khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến các giáo viên các bộ môn và Khoa Quốc tế học, các cán bộ của Khoa Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn đã hết sức quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin gửi lời chân thành đến Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trung tâm thông tin thư viện Học viện Ngoại giao đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận các nguồn tài liệu phục vụ cho việc viết luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập
Học viên
Hà Thị Thanh Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: “Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được sử dụng trung thực
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CHO CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM (1995 - 2015)
22
2.1.1 Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam (1995 - 2008) 23
2.2.1 Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam (2009 - 2015) 45
3.1 Nhận xét về chính sách ODA của EU cho Việt Nam 64
Trang 53.2 Đánh giá về việc triển khai chính sách ODA của EU tại Việt Nam 67
Phụ lục 1: Những ràng buộc khi cung cấp ODA của một số nước thành viên EU 94
Phụ lục 2: Ưu tiên hỗ trợ trong ODA dành cho Việt Nam của một số đối tác
phát triển
95
Phụ lục 4: Tình hình giải ngân ODA của các nhà tài trợ EU tại Việt Nam 98
Trang 6Committee
Ủy ban hỗ trợ phát triển
DCI Development Cooperation
Instrument
Công cụ Hợp tác Phát triển
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc dân
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
IMF International Monetary Fund Qũy Tiền tệ quốc tế
MDG Milennium Development Goal Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ MUTRAP Multilateral Trade Assistance
Organisation
Dự án Hỗ trợ Thương mại đa biên
MIC Middle Income contries Nước có thu nhập trung bình
ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức OECD Organisation for Economic
Cooperation Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PCA Partnership Cooperation
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
SP Country Strategy Paper Bản chiến lược quốc gia
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc
WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
1 Bảng 2.1: Giá trị ODA cam kết và giải ngân giai đoạn 2001-2008 của
EU cho Việt Nam
4 Bảng 3.2 Những điểm tương đồng và khác biệt chủ yếu trong ODA
của EU cho Việt Nam và Châu Phi
4 Biểu đồ 2.5: Các cam kết của EU năm 2015 theo hình thức hỗ trợ 57
5 Biểu đồ 2.6: Cam kết viện trợ không hoàn lại của EU cho Việt Nam
năm 2015
57
Hộp
1 Hộp 2.1: Chương trình Hỗ trợ Khu vực tư nhân Việt Nam (VPSSP) 43
2 Hộp 2.2: Dự án thí điểm tuyến đường sắt đô thị thí điểm Nhổn - ga
Hà Nội
59
Trang 8có hiệu lực vào ngày 01 tháng 06 năm 1996, cung cấp cơ sở pháp lý cho mối quan
hệ song phương nói chung cũng như chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức của EU cho Việt Nam nói riêng Năm 2015 đánh dấu mốc 20 năm chính sách viện trợ phát triển chính thức (ODA) của EU cho Việt Nam
EU là nhà tài trợ hợp tác phát triển lớn nhất thế giới với mức viện trợ năm
2014 chiếm 55% tổng mức viện trợ, đạt 74,1 tỷ USD Cùng với các nước thành viên
EU, viện trợ từ Iceland, Nauy và Thụy sỹ đã nâng mức viện trợ của Châu Âu lên 61% tương đương 82,7 tỷ USD viện trợ toàn cầu2 ODA luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quan hệ của EU với các nước đang phát triển
Hiện nay EU là nhà tài trợ song phương lớn thứ hai về ODA và là nhà cung cấp viện trợ không hoàn lại lớn nhất của Việt Nam với tổng ODA cam kết trong giai đoạn 1996 - 2010 là hơn 12 tỷ USD góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh
tế xã hội của Việt Nam3 Thông qua các kế hoạch chiến lược hợp tác song phương, nguồn ODA của EU dành cho Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như phát triển nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, y tế, giáo dục, hỗ trợ kỹ thuật, cải cách hành chính, tư pháp, ngân hàng, tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế Các chương trình hợp tác phát triển giúp Việt Nam thúc đẩy cải cách toàn diện và phát triển bền vững, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đạt được các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG)
1 Bao gồm cả Uỷ ban Châu Âu và các nước thành viên
2 European Union Deligation of the European Commission to Vietnam, Blue Book (2015) https://eeas.europa.eu/sites/eeas/files/bluebook_2015.pdf, cập nhật ngày 16/11/2016
3 Quan hệ với Liên minh Châu Âu, 2012
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/quanhevoicactochucquocte?categor yId=100002827&articleId=10050422, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 9Theo xếp loại của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế, Việt Nam nằm ở nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp với mức GNI bình quân đầu người năm 2010 là 1270 USD và năm 2015 là 1560 USD4
Trở thành một nước có thu nhập trung bình (MIC), mặc dù trung bình thấp, song các nhà tài trợ áp dụng đối với Việt Nam một chính sách tài trợ như một nước
có thu nhập trung bình không có ngoại lệ Theo đó, tính chất, quy mô, cơ cấu, điều kiện và phương thức cung cấp ODA cho Việt Nam của các đối tác phát triển cũng
có sự thay đổi
Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn về kinh tế và chịu nhiều tác động tiêu cực của giai đoạn “hậu khủng hoảng” hiện nay, EU vẫn cam kết tiếp tục viện trợ 400 triệu Euro cho Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020, tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực ưu tiên, bao gồm phát triển con người, ủng hộ tiến trình cải cách kinh
tế và xã hội, hỗ trợ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Điều này cho thấy quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện EU - Việt Nam ngày càng đi vào thực chất và hiệu quả5 Việt Nam và EU đều thể hiện quyết tâm chính trị đưa mối quan hệ lên tầm cao mới
Việc nghiên cứu đánh giá ODA của EU cho Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015 rút ra bài học kinh nghiệm nhằm có đối sách phù hợp hơn trong bối cảnh mới, tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác toàn diện EU - Việt Nam là cần thiết Chính vì vậy thực hiện đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
2 Tình hình nghiên cứu
Có một số công trình nghiên cứu về ODA cho Việt Nam đã trên nhiều phương diện khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định Có thể chia các công trình nghiên cứu theo nhóm sau:
2.1 Ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài mà trong luận văn tiếp cận được:
Andrew Hardy (2015), “25 years of progress and friendship”, Delegation of
the European Union, Ha noi: tác giả đã mô tả một số dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển quan hệ EU - Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2015
Trang 10http://tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2014/30263/Viet-Nam-Lien-minh-chau-Au-Bluebook 2002, 2009, 2010, 2012, 2014, 2015 của EU tại Việt Nam
Stephen Booth and Sian Herbert (2011), EU external aid: Who is it for?,
Open Eupore xuất bản: phân tích và đưa ra những đánh giá về viện trợ của EU, trong đó chủ yếu đề cập đến những vẫn đề còn tồn tại trong viện trợ của EU cho Châu Phi như: Thiếu tập trung cho đói nghèo; Chi phí quản trị cao và quan liêu; Quản lý yếu kém gây tình trạng lãng phí và thiếu minh bạch… Từ đó tác phẩm đưa
ra những kiến nghị như viện trợ của EU cần phân bổ đồng đều, tập trung cho đói nghèo như đã cam kết trong Hiệp định đối tác Contonou 2000 và Đồng thuận 2005, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý viện trợ hiệu quả hơn
Nhóm Ngân hàng Thế giới, (2013), “Đánh giá khung tài trợ cho cơ sở hạ tầng Địa phương ở Việt Nam (Báo cáo cuối cùng)”, Ngân hàng Quốc tế cho Tái Thiết và Phát triển, Hà Nội Đây là Báo cáo cuối cùng của một chương trình cố vấn kỹ thuật của WB được thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2013 cho Chính phủ Việt Nam được thực hiện dưới sự chỉ đạo của bà Victoria Kwakwa (Giám đốc quốc gia, WB tại Việt Nam), bà Jennifer Sara (Giám đốc phụ trách Phát triển bền vững của WB tại Việt Nam), ông Abhas Jha (Giám đốc phụ về Cơ sở hạ tầng của WB) Quan điểm đưa ra trong báo cáo này là của các tác giả đánh giá về khung tài trợ cho cơ sở hạ tầng Địa phương ở Việt Nam cho đến năm 2013
Các báo cáo như: EC (2014), Annual Report 2014 on the European Union’s Development and external assistance policies and their implementation in 2013, UNDP (2015), Briefing note for contries on the 2015 Human Development Report:
Vietnam, Báo cáo về“Vai trò của hợp tác đa phương trong thực hiện chương tình
nghị sự phát triển bền vững sau 2015” của tác giả Pratibha Mehta - Điều phối viên
Liên Hợp Quốc và Trưởng Đại diện thường trú UNDP
2.2 Ở Việt Nam
* Nhóm công trình nghiên cứu nói chung về ODA cho Việt Nam:
Nguyễn Thị Hương, (2014), 20 năm quan hệ Viện trợ phát triển giữa Việt
Nam và các nhà tài trợ (1993 - 2013), Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế Quốc tế -
Học viện Ngoại giao Tác giả làm rõ thực trạng 20 năm quan hệ viện trợ phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ nói chung từ năm 1993 đến năm 2013
Trần Thị Hải, (2014), Vai trò của ODA đối với hội nhập kinh tế của Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế Quốc tế - Học viện Ngoại giao Tác giả phân tích cụ thể vai trò của ODA đến với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đưa ra
Trang 11một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về vai trò và bản chất của viện trợ nước ngoài, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm giải quyết những bất cập trong việc sử dụng và quản lý vốn ODA
Trần Thị Hồng Thủy, (2016), Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối
cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC), Luận án Tiến sĩ kinh
tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả phân tích vai trò của ODA đối với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước MIC
* Nhóm công trình nghiên cứu nói chung về quan hệ EU - Việt Nam:
Phạm Thị Thu Hương, (2014), Quan hệ Hợp tác - Đối tác toàn diện Việt Nam
- Liên minh Châu Âu: Thành tựu và triển vọng, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Ngoại
giao Tác giả phân tích quá trình xây dựng quan hệ đối tác - hợp tác toàn diện Việt Nam - EU, đánh giá thuận lợi khó khăn trong tiến trình hợp tác từ đó nêu ra một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
Nguyễn Quang Thuấn (2009),Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu Âu:
thực trạng và triển vọng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách phân tích thực
trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - EU từ năm 1995 đến năm 2008 với ba nội dụng chính là thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển chính thức Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -
EU cho đến giai đoạn năm 2020
Đinh Công Tuấn (Chủ biên) (2011), Liên minh Châu Âu hai thập niên đầu thế
kỷ XXI, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách phân tích, nghiên cứu, đánh giá
những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của EU trong giai đoạn 2000 - 2010, đánh giá những tác động của xu hướng phát triển của EU đối với thế giới, khu vực Châu Âu
và Việt Nam trong thời gian tới
Nguyễn An Hà (Chủ biên) (2013), Điều chỉnh chính sách phát triển của một
số quốc gia chủ chốt Châu Âu giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách đi sâu vào phân tích sự điều
chỉnh chiến lược phát triển của EU giai đoạn tới năm 2020 trên cơ sở nhận diện bối cảnh mới sau khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và những nhân tố tác động tới khu vực của các quốc gia này Cuốn sách đánh giá các tác động, rút ra một số gợi mở cho Việt Nam trong triển khai chiến lược phát triển bền vững về kinh tế môi trường và xã hội cũng như thúc đẩy quan hệ hợp tác với EU
Trang 12Ngoài ra còn có không ít các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành, các báo
cáo kinh tế như: “Ngoại giao Việt Nam trong 25 năm đổi mới” của tác giả Phan Doãn Nam, “Việt Nam - Liên minh Châu Âu hướng tới phát triển bền vững” của tác
giả Hoa Nguyễn; Báo cáo số 7501/BC-BKHĐT ngày 01/11/2011 của Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…
* Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp EU và chính sách ODA của EU:
Kiều Thanh Nga, (2015), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu
Âu cho Châu Phi từ năm 2000 đến nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học
Xã hội - Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Tác giả phân tích vai trò ODA của EU đối với Châu Phi từ năm 2000 đến năm 2014
* Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về ODA của EU cho Việt Nam:
Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên
minh Châu Âu cho Việt Nam, Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Tác giả đánh giá khái quát về tình hình cung cấp ODA của EU cho Việt Nam; chính sách hợp tác của Việt Nam trong việc nhận và sử dụng ODA của EU đến năm 2008 và đưa ra một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ODA đến từ EU
Trần Thị Thanh Huyền, (2009), Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Liên
minh Châu Âu (EU) đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả phân tích tác động nguồn vốn ODA của EU tới phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2009 và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thu hút và
sử dụng ODA của EU đối với Việt Nam
Hiện nay trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi quốc gia như: Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thế giới năm 2008… Việc chính thức ký Hiệp định Hợp tác - Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và EU (PCA) năm 2012 và kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU năm 2015 là những sự kiện quan trọng, tạo đà cho việc phát triển quan hệ song phương đi vào chiều sâu và thực chất trên tất cả các lĩnh vực
Có thể thấy với cách tiếp cận ở nhiều mức độ khác nhau, tất cả các công trình trên đã phân tích những nội dung đến ODA của EU cho Việt Nam đến năm
2009 hoặc những bài viết chỉ đề cập một phần trong chính sách ODA trong quan hệ
EU và Việt Nam, chưa đủ để đánh giá viện trợ ODA của EU cho Việt Nam từ mục
Trang 13tiêu đến nội dung và những kết quả đã đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu chính sách ODA của EU cho Việt Nam
từ năm 1995 đến 2015, đánh dấu mốc 20 năm viện trợ ODA của EU cho Việt Nam
Từ đó đưa ra định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước có thu nhập trung bình thấp trong thời gian tới đồng thời có những kiến nghị về chính sách nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh, xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA của EU Vì vậy, đề tài: “Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam giai đoạn 1995 - 2015”
là một việc làm cần thiết, mang tính thời sự, nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn nội dung này Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả tham khảo để hoàn thành luận văn của mình
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Làm sáng tỏ chính sách ODA của EU
cho Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2015 Luận văn đưa ra quan điểm và định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước MIC trong thời gian tới, đồng thời
có những kiến nghị về chính sách nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh, xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của EU
Về nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất: Xem xét cơ sở của chính sách cung cấp ODA của EU cho Việt
Nam
Thứ hai: Đánh giá thực trạng triển khai ODA của EU cho Việt Nam từ năm
1995 đến năm 2015
Thứ ba: Đánh giá, xem xét đặc điểm chính sách ODA của EU cho Việt Nam,
đưa ra định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp trong thời gian tới, đồng thời có những kiến nghị về chính sách nhằm giúp Việt Nam điều chỉnh, xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của EU
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Chính sách và thực trạng ODA của EU (bao gồm EC và các nước thành viên) cho Việt Nam
Trang 14Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: từ năm 1995 đến 2015
Năm 1995 EC và Việt Nam ký kết Hiệp định FCA, cung cấp cơ sở pháp lý cho mối quan hệ song phương nói chung cũng như chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức của EU cho Việt Nam nói riêng Chiến lược ODA của EU dành cho Việt Nam
có những thay đổi theo từng thời kỳ Nó phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược hợp tác của EU với Việt Nam nói riêng và với khu vực Đông Nam Á nói chung Năm 2012 Việt Nam và EU đã chính thức ký kết hiệp định PCA, Hiệp định này chính thức thay thế cho Hiệp định FCA năm 1995.EU và Việt Nam đều thể hiện quyết tâm chính trị, đưa mối quan hệ lên một tầm cao mới, đưa quan hệ Việt Nam - EU thành mối quan hệ đối tác toàn diện và bền vững Năm 2015 đánh dấu mốc 20 năm chính sách ODA của EU cho Việt Nam Bên cạnh đó đánh giá chính sách ODA của EU cho Việt Nam thông qua việc so sánh với chính sách ODA của EU cho Châu Phi Phạm vi không gian: EU, Việt Nam
Phạm vi lĩnh vực: Viện trợ phát triển chính thức của EU cho Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tư liệu tổng hợp Đây là phương pháp nhằm khai thác các nguồn tài liệu gốc hoặc thứ cấp như: các tài liệu lịch sử, các báo cáo nhanh của các cơ quan chức năng, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chính trị, hoạt động xã hội
Sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế như: Các cấp độ phân tích, lịch sử, phân tích văn bản, hệ thống - cấu trúc đa ngành - liên ngành, phân tích chính sách, phân tích tác động, phân tích hợp tác quốc tế và dự báo làm sáng tỏ vấn
đề cần nghiên cứu trong phạm vi đề tài Ngoài ra luận văn áp dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh được sử dụng trong việc xử lý các nguồn tài liệu
6 Đóng góp của luận văn
Sau khi hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, tác giả hy vọng luận văn sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình phát triển của chương trình ODA của EU cho Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015 Luận văn đưa ra quan điểm và định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước MIC trong thời gian tới, đồng thời có những kiến nghị về chính sách nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh,
Trang 15xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của EU
Luận văn cũng đồng thời là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập về chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng như về quan hệ
EU - Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở cho Chính sách viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam
Chương này tập trung vào tìm hiểu vào 3 nội dung chủ yếu: Khái niệm và vai trò của ODA; Chính sách của EU về ODA; Các lĩnh vực ưu tiên của EU cho ODA;
Quan hệ Việt Nam - EU
Chương 2: Thực trạng viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu
Âu cho Việt Nam (1995 - 2015)
Chương này tác giả trình bày và phân tích chính sách ODA của EU cho Việt Nam theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1995 - 2008 gồm có: Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam; Giải ngân và sử dụng ODA của EU cho Việt Nam
- Giai đoạn 2009 - 2015 gồm có: Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam; Giải ngân và sử dụng ODA của EU cho Việt Nam
Chương 3: Đánh giá và Kiến nghị chính sách
Nhận xét về chính sách ODA của EU cho Việt Nam thông qua việc so sánh với chính sách ODA của EU cho Châu Phi; Đánh giá việc triển khai ODA của EU tại Việt Nam Từ đó đề xuất quan điểm và định hướng về ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước MIC và kiến nghị chính sách nhằm giúp Việt Nam có những điều chỉnh, xây dựng một chính sách hợp tác phát triển hoàn thiện, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của EU trong thời gian tới
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CHO CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và vai trò về Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Khái niệm về Viện trợ phát triển chính thức (ODA) đã được nhiều tổ chức và học giả đưa ra trong đó đáng chú ý là khái niệm của của Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Phần lớn các nước EU
là thành viên của OECD Theo tổ chức này: ODA là “dòng tài chính chính thức được quản lý nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi ở các nước đang phát triển, trong đó một phần viện trợ không hoàn lại chiếm tối thiểu 25% Thông qua thỏa thuận, dòng vốn ODA bao gồm các khoản đóng góp của các cơ quan Chính phủ của nước tài trợ, tại tất cả các cấp, cho các nước đang phát triển và cho các thể chế đa phương Sự tiếp nhận ODA bao gồm việc giải ngân của các nhà tài trợ song phương và các thể chế đa phương” Các khoản cho vay của các cơ quan tín dụng xuất khẩu với mục đích duy nhất là thúc đẩy xuất khẩu không được xem là ODA6
Theo khái niệm của Việt Nam được quy định trong Quy chế quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức, ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ là “hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ”7 Các hình thức cung cấp ODA gồm:
i) ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ;
ii) ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi”: là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc (Xem thêm Phụ lục 1);
6 https://stats.oecd.org/glossary/detail.asp?ID=6043, cập nhật ngày 16/11/2016
7 Quy chế quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức, ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ, tr.1
Trang 17iii) ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển
Theo cách hiểu chung nhất, ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) của các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức các tổ chức quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
Như vậy, một khoản tài trợ được coi là nguồn vốn ODA nếu đáp ứng đủ 3 điều kiện sau: (i) Các khoản tài trợ này được các tổ chức chính thức (Chính phủ, các
tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, hoặc Liên Hợp Quốc hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận); (ii) Mục tiêu của ODA là giúp các nước tiếp nhận sử dụng vốn ODA trong các lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo; nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề
xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế; (iii) Thành tố hỗ trợ phải đạt ít nhất 25%, đây là chỉ số biểu hiện tính
ưu đãi của ODA so với khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường và được xác định trên tổ hợp các yếu tố: lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ trong năm và tỷ lệ chiết khấu
Vai trò của ODA:
Đối với nước tài trợ ODA: Tăng cường vai trò ảnh hưởng đối với thế giới;
thực hiện mục tiêu an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục đích chính trị; tiếp cận thị trường mới và mở rộng thị trường trong nước; hỗ trợ các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, di cư, chủ nghĩa khủng bố…); khai thác tài nguyên
Đối với nước tiếp nhận: ODA góp phần thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và
giảm nghèo ở những nước tiếp nhận ODA có tính ưu đãi bởi trừ những khoản viện trợ không hoàn lại ít nhất là 25% tổng số vốn vay thì phần cho vay có lãi suất thấp hơn khoản vay thương mại thông thường (các khoản vay thông thường là
Trang 1810%/năm) Tuy nhiên, các nước tiếp nhận phải đối mặt với những thách thức trong mỗi khoản ODA8 như:
- Điều kiện ràng buộc của ODA khiến cho quyền làm chủ của bên nhận viện trợ yếu khi đáp ứng những điều kiện theo hướng có lợi cho bên cung cấp viện trợ, nhiều nước nhận viện trợ trở thành nước vay nợ với lãi suất cao;
- Các nước nhận viện trợ có thể gặp những rủi ro do đồng tiền của nước viện trợ tăng giá;
- Tạo nên sự phân biệt đối xử trong việc cung cấp ODA khi chỉ những quốc gia nào thỏa mãn được điều kiện do bên cung cấp ODA đưa ra mới nhận được sự viện trợ;
- Tình trạng sử dụng lãng phí ODA do trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm trong tiếp nhận và sử dụng ODA, tạo điều kiện cho tham nhũng gia tăng
Vì vậy, nguồn vốn ODA đối với Việt Nam đóng vai trò bổ sung cho nguồn vốn trong nước: giúp Việt Nam tiếp thu các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại; hoàn thiện cơ cấu kinh tế; giúp tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc đẩy mở rộng đầu tư phát triển trong nước Bên cạnh đó, ODA còn được xem là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng khả năng tham gia vào các thể chế kinh tế toàn cầu, thúc đẩy sự hình thành mối quan hệ đối tác công - tư nhờ việc cải cách các doanh nghiệp quốc doanh…
1.2 Chính sách của EU về ODA
1.2.1 Đồng thuận Châu Âu về Phát triển
Năm 1975 EU đã đi tiên phong trong việc đề ra các chính sách phát triển, kể
từ khi thực hiện Công ước Lomé đầu tiên Hơn nữa, theo Hiệp ước Liên minh Châu
Âu, các quốc gia thành viên và EC bắt buộc phải cộng tác với nhau và phối hợp các hoạt động hợp tác phát triển cùng với nhiều vấn đề khác Yêu cầu này càng quan trọng khi EU mở rộng, kết nạp thêm thành viên (năm 2013 tổng cộng có 28 nước), những nước cũng hoạt động tích cực trong lĩnh vực hợp tác phát triển
Có thể nói Hài hòa, Điều phối và Lồng ghép là mối quan tâm chủ yếu của
EU EU cũng là một thành viên tích cực trong xây dựng chương trình nghị sự quốc
8 Kiều Thanh Nga, (2015), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Châu Phi từ năm 2000 đến nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội, tr 26-28
Trang 19tế nhằm nâng cao hiệu quả viện trợ Tháng 3/2002 Hội đồng Châu Âu đã đồng ý thực hiện những hành động cụ thể về điều phối chính sách và hài hòa hóa các thủ tục trước năm 2004 Sự cam kết này được khẳng định thêm thông qua một số cam kết tương tự trong Đồng thuận Monterrey Đáp lại cam kết chính trị đó, tháng 6/2002, các nước thành viên EU quyết định yêu cầu Uỷ ban Châu Âu triển khai những sáng kiến thí điểm ở 4 nước: Ma - rốc, Nicaragua, Mozambique và Việt Nam
EU đã áp dụng những kinh nghiệm thu được từ những sáng kiến thí điểm này
để xây dựng Kế hoạch hành động của EU Kế hoạch hành động này đã được trình bày tại Diễn đàn cấp cao Paris (Paris HLF) vào tháng 2 - 3/2005 EU thông qua Tuyên bố Paris về Hiệu quả viện trợ Ngày 16/12/2005 Hội đồng Châu Âu đã phê
chuẩn “Đồng thuận Châu Âu về Phát triển”9 Văn kiện này đưa ra cho EU một tầm nhìn chung về giá trị, mục tiêu, nguyên tắc và phương tiện cho phát triển, đồng thời nhấn mạnh viện trợ nhiều hơn và tầm quan trọng của viện trợ Đồng thuận Châu Âu về Phát triển buộc các quốc gia thành viên EU và EC cam kết đảm bảo rằng:
- Tất cả các hỗ trợ nâng cao năng lực cần thực hiện thông qua các chương trình được điều phối và tham gia nhiều hơn của các nhà tài trợ
- 50% sự hỗ trợ của các nhà tài trợ sẽ được thông qua các hệ thống Chính Phủ
- Không lập thêm những Ban quản lý Dự án mới
- Số nhiệm vụ không được điều phối giảm 50%
Nội dung chính của Đồng thuận Châu Âu về Phát triển thể hiện những cam kết mạnh mẽ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, cung cấp viện trợ nhiều hơn và hiệu quả hơn cũng như thúc đẩy chính sách gắn kết phát triển, xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng
Tuyên bố bao gồm 2 nội dung chính:
Nội dung thứ 1 tập trung vào: “Tầm nhìn phát triển EU” Trong nội dung này, Cộng đồng Châu Âu và các nước thành viên được hướng dẫn cụ thể trong các hoạt động hợp tác phát triển tại tất cả các quốc gia đang phát triển Với mục tiêu căn bản
là xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững, đảm bảo nhân quyền và quản trị tốt, dựa
9 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.14-16
Trang 20trên quy tắc tôn trọng quyền tự chủ, quan hệ đối tác, quan hệ chính trị ở chiều sâu, tham gia xã hội dân sự, bình đẳng giới, ngăn ngừa xung đột sắc tộc
Với mục tiêu viện trợ nhiều hơn và hiệu quả hơn, EU cam kết:
Vốn viện trợ đạt 0,7% tổng thu nhập quốc dân (GNI) đến năm 2015 (0,56% vào năm 2010 là mục tiêu trung hạn);
Thực hiện hỗ trợ phát triển cộng đồng ổn định hơn;
Thực thi và giám sát các cam kết về hiệu quả viện trợ;
Từng bước tăng cường phương thức viện trợ ngân sách, tăng cường tính tự chủ;
Tiếp tục xóa nợ và tăng cường giãn nợ;
Tăng cường phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa Cộng đồng Châu Âu và các quốc gia thành viên
Thúc đẩy chính sách gắn kết phát triển: nhấn mạnh đến mục tiêu hợp tác trong
tất cả các chính sách có thể tác động đến các nước đang phát triển và đảm bảo rằng các chính sách này hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển
Nội dung thứ hai của bản tuyên bố tập trung phản ánh Chính sách Phát triển của Cộng đồng Châu Âu Mỗi nước, EC sẽ hướng hoạt động viện trợ của mình vào một số lĩnh vực Có 9 lĩnh vực ưu tiên gồm: thương mại và hội nhập khu vực; môi trường và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc và giao thông; nước sạch và năng lượng; phát triển nông thôn, kế hoạch
sử dụng đất, nông nghiệp và an ninh lương thực; quản lý, dân chủ, nhân quyền và
hỗ trợ về mặt kinh tế và thể chế; cải cách; ngăn ngừa xung đột; phát triển nhân lực; gắn kết xã hội và việc làm Trong tất cả các vấn đề trên, Cộng đồng Châu Âu sẽ ưu tiên 4 vấn đề sau: dân chủ, quản lý tốt, nhân quyền, quyền trẻ em; bình đẳng giới; môi trường bền vững; chống đại dịch HIV/AIDS Năm 2006, EU đã thảo luận các bước cụ thể về cách thức để tổ chức tốt hơn việc phân công lao động giữa các nước thành viên với nhau
1.2.2 Gắn kết chính sách về phát triển
Hỗ trợ tài chính là một cách riêng rẽ chưa đủ để giúp các nước đang phát
triển đạt các MDG, mà việc thực thi các chính sách phi viện trợ cũng góp phần quan trọng vào việc đạt được các mục tiêu này.Việc thực thi hiệu quả sự gắn kết chính sách của các quốc gia phát triển sẽ giúp các quốc gia đang phát triển tiến gần hơn
Trang 21tới các MDG Trên cơ sở đó, EU đưa ra 12 lĩnh vực chính sách có ảnh hưởng tới việc thực hiện MDG gồm:
Về lĩnh vực thương mại, EU tiếp tục gắn kết thương mại với các chiến lược phát triển và hỗ trợ các nước phát triển thực hiện cải cách trong nước
Về lĩnh vực môi trường, EU hỗ trợ các nước đang phát triển thực thi Hiệp định Môi trường đa phương EU cũng tiếp tục tăng cường các sáng kiến và chính sách liên quan đến môi trường vì người nghèo
Về lĩnh vực thay đổi khí hậu, EU tiếp tục khẳng định các cam kết đối với Hiệp định thư Kyoto và phát triển các chiến lược trung hạn và dài hạn nhằm đối phó với những thay đổi khí hậu
Về lĩnh vực an ninh, EU thúc đẩy các chính sách hỗ trợ hiệu quả, ngăn ngừa xung đột và tăng cường kiểm soát xuất khẩu vũ khí
Về lĩnh vực nông nghiệp, EU tiếp tục nỗ lực giảm thiểu mức độ chệch hướng thương mại liên quan tới những phương thức hỗ trợ đối với nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp cho các nước đang phát triển
Về lĩnh vực thủy sản, EU đã ban hành chính sách mới về Hiệp định đối tác Thủy sản với các nước thứ ba bắt đầu thực thi từ năm 2003 nhằm khai thác bền vững nguồn thủy sản của các quốc gia duyên hải cũng như đảm bảo lợi ích hai bên
Về lĩnh vực xã hội của toàn cầu hóa, việc làm và thất nghiệp, EU tích cực đẩy mạnh khía cạnh xã hội của toàn cầu hóa, giảm thiểu thất nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích lớn nhất cho tất cả mọi người
Về lĩnh vực di cư, EU thực hiện các hoạt động nhằm tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau giữa di cư và phát triển, biến di cư thành yếu tố tích cực của phát triển
Về lĩnh vực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, EU hỗ trợ các nỗ lực toàn cầu, khu vực và quốc gia trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển, đáp ứng nhu cầu của người nghèo trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bao gồm phòng ngừa và chữa trị HIV/AIDS (Virus gây suy giảm miễn dịch ở người/ Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải); trong lĩnh vực nông nghiệp; quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên; năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo
Lĩnh vực xã hội thông tin: EU rút ngắn khoản cách kỹ thuật số bằng cách khai thác tiềm năng của công nghệ tông tin và truyền thông như một công cụ phát triển
và là một nguồn lực quan trọng nhằm đạt MDG
Trang 22Lĩnh vực giao thông, EU tích cực giải quyết nhu cầu đặc biệt của các quốc gia đang phát triển biệt lập và ở vùng duyên hải bằng cách giải quyết các vấn đề về phương thức, an ninh và an toàn nhằm đạt tới một mạng lưới kết nối
Lĩnh vực năng lượng, EU cam kết mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển bằng cách tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn năng lượng bền vững, hỗ trợ kết nối các mạng lưới và cơ sở hạ tầng năng lượng
1.2.3 Ƣu tiên trong Chính sách ODA tại Châu Á
“Chiến lược Châu Á mới” năm 1991 được coi là nền móng chiến lược cho quan hệ hợp tác phát triển giữa hai châu lục EU muốn thúc đẩy quan hệ đối tác với Châu Á, tăng cường sự hiện diện kinh tế và chính trị ở khu vực, cân bằng tốt hơn các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội cũng như phối hợp giữa hai châu lục trong giải quyết các thách thức và cơ hội toàn cầu trên cơ sở đối tác bình đẳng Hiện nay, EU chiếm khoảng 30% tổng viện trợ ODA của thế giới cho Châu Á, chỉ đứng sau Nhật bản Với tư cách là nhà viện trợ lớn thứ 2 ở châu lục này, các hoạt động viện trợ của EU chủ yếu tập trung nhằm hỗ trợ cho các sáng kiến vì hòa bình, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các nguyên nhân cơ bản của đói nghèo, thúc đẩy dân chủ, tôn trọng nhân quyền, quản lý tốt và nhà nước pháp quyền tại các quốc gia đang phát triển
Năm 2007, EU đưa ra Văn kiện Chiến lược Châu Á giai đoạn 2007 - 2013 và
kế hoạch giai đoạn 2007 - 2010, tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên sau:
Hội nhập khu vực thông qua Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN và Hợp tác khu vực Nam Á Hợp tác chính sách và thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau trong các lĩnh vực môi trường, năng lượng và thay đổi khí hậu thông qua tiêu dùng và sản xuất bền vững;
hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu; hợp tác xuyên biên giới về các vấn đề y tế và động vật;
Hỗ trợ người nghèo, thúc đẩy nhân quyền và dân chủ, bình đẳng giới và quản
lý tốt, quyền trẻ em và ứng phó đại dịch AIDS
Với mục tiêu trên, trong giai đoạn 2007 - 2013, EU dành khoản hỗ trợ phát triển 5,187 tỷ Euro để giúp Châu Á thực hiện mục tiêu nêu trên Trong đó, 81% là dành cho hoạt động hỗ trợ phát triển ở các quốc gia đơn lẻ, 16% dành cho hỗ trợ ở cấp vùng và 3% dự trữ10
10 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.23-24
Trang 231.2.4 Các lĩnh vực ưu tiên của EU cho ODA
Bao gồm: 7 lĩnh vực
Nhân quyền, dân chủ và pháp trị là những giá trị cốt lõi đối với EU
Củng cố nền dân chủ và nhà nước pháp quyền, tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản là những ưu tiên chính trong chính sách phát triển, hợp tác tài chính và kinh tế của EU Sáng kiến Châu Âu về Dân chủ và Nhân quyền (áp dụng
từ năm 1999) là một trong những công cụ tài chính hỗ trợ thúc đẩy nhân quyền và dân chủ trên thế giới
Trong triển vọng Tài chính 2007 - 2013, cuối năm 2006, Nghị viện Châu Âu
đã thông qua quy chế mới thiết lập một công cụ tài chính đặc biệt với ngân sách hỗ trợ 1,104 tỷ Euro11 Công cụ thúc đẩy Dân chủ và Nhân quyền của Châu Âu (áp dụng năm 2007) ra đời thay thế cho Sáng kiến Châu Âu về Dân chủ và Nhân quyền trong hoạt động thúc đẩy dân chủ và nhân quyền
Phát triển con người và xã hội
EU hướng tới các hoạt động hỗ trợ vào các vấn đề cụ thể là y tế, giáo dục, thất nghiệp và gắn kết xã hội
Về y tế, EU ưu tiên hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nhằm đối phó với các bệnh dịch do đói nghèo gây ra EU đang tiến hành hỗ trợ bổ sung cho Qũy toàn cầu chống bệnh AIDS, lao và sốt rét; dành những khoản hỗ trợ cho vấn đề sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản và phát triển nguồn lực trong ngành y tế của các nước đang phát triển
Về giáo dục, EU hỗ trợ thông qua một số chương trình cụ thể như: Đối tác FTI (Fast Track Initiative - FTI), TEMPUS, Erasmus, Edulink, Asialink…
EU chú trọng tới các hoạt động liên quan tới thất nghiệp và gắn kết xã hội trong việc xóa đói giảm nghèo
Kế hoạch tài chính 2007 - 2013 khẳng định EU tiếp tục các hoạt động tài trợ cho sáng kiến trong lĩnh vực này thông qua chương trình: “Đầu tư cho con người”
11 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.26
Trang 24Chương trình dự kiến dành 1,06 tỷ Euro12
tài trợ cho các sáng kiến liên quan trực tiếp đến mức sống và tình trạng sức khỏe của người dân, tập trung chủ yếu vào những quốc gia nghèo nhất và kém phát triển nhất trong các vùng dân cư kém lợi thế
Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một quy tắc cơ bản trong luật pháp EU, có quan hệ mật thiết với các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục, tham gia vào quá trình xây dựng kinh tế và ra quyết định, quyền phụ nữ và nhân quyền Trong giai đoạn 2007 - 2013, EU phân bổ 57 triệu Euro13 nhằm hỗ trợ cho các hoạt động trong lĩnh vực này
An ninh lương thực
Ngày 27/2/2008, EC đã thông qua Quyết định viện trợ tài chính lương thực nhằm giúp 135 triệu Euro cho khoảng 12,5 triệu người dân nghèo14 ở khắp nơi trên thế giới
Ngăn chặn xung đột, khủng hoảng và thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc
tế chống ma túy
Cho đến nay các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang vẫn đang xảy ra trên một số khu vực trên thế giới EU đã và đang nỗ lực tham gia các hoạt động tại các quốc gia và khu vực xung đột
Môi trường và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Chính sách môi trường và phát triển bền vững của EU dựa trên hiệp ước toàn cầu, đặc biệt dựa trên Chương trình nghị sự 21 của Hiệp định Rio de Janeiro Hội nghị Liên hợp quốc tế về môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Brazil tạo nền móng cho sự phát triển bền vững hơn trên toàn cầu, thể hiện sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và quan tâm đến môi trường
Di cư
12 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.27
13 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.28
14 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.28
Trang 25Di cư hiện nay là vấn đề nóng ở cấp độ toàn EU, cấp độ quốc gia và toàn cầu Giải quyết vấn đề này, EU tập trung một cách toàn diện vào các vấn đề xây dựng chính sách, chính trị và nhân quyền ở các nước và khu vực đang phát triển Trong giai đoạn tài chính 2007 - 2013, EU dành khoản hỗ trợ 384 triệu Euro15 cho các nước đang phát triển nhằm giải quyết các vấn đề di cư
1.3 Nền tảng quan hệ Việt Nam - EU
Trước khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (28/11/1990), từ giữa năm
1969 đến giữa năm 1979, các nước thành viên EU đã có nhiều cuộc tiếp xúc chính trị, ngoại giao và viện trợ song phương cho đất nước Việt Nam mới thống nhất trị giá tới 109 triệu USD, trong đó viện trợ trực tiếp 68 triệu USD16
Sau đó, nguồn viện trợ này bị gián đoạn bởi “vấn đề Campuchia” Có thể phân chia các nước thành
viên EU thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam làm 3 nhóm Thứ nhất, các nước
Bắc Âu gồm những nước có quan điểm trung lập đối với Việt Nam như: Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch Phần Lan Tiêu biểu là nước Thụy Điển, đây là quốc gia phát triển và là nước Châu Âu đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1969, trong bối cảnh Việt Nam chiến tranh ác liệt, đất nước bị
chia cắt, chưa thống nhất và bị cấm vận, cô lập của nhiều quốc gia phương tây Thứ
hai, các nước Tây Âu gồm những nước gắn liền với chế độ dân chủ tự do, phần lớn
các quốc gia trong vùng này có cùng văn hóa phương Tây, gồm các nước Châu
Âu có thu nhập đầu người cao như: Áo, Anh, Ireland, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Thụy sĩ… Đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam có mối quan hệ bề dày lịch sử Mặc dù hai quốc gia có chế độ chính trị - xã hội phát triển khác nhau, lưu giữ nhiều dấu ấn của một thời gian dài thực dân Pháp chiếm đóng và đô hộ Việt Nam cũng như thất bại của Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954, nhưng sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 và đặc biệt từ sau khi Tổng thống Pháp Mitterrand (François Mitterrand ) đến thăm Việt Nam năm
15 Đỗ Tá Khánh và các cộng sự, (2008), Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh Châu Âu cho Việt Nam,
Báo cáo tổng quan - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Châu Âu - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tr.30
16 Quan hệ Việt Nam - EU: 25 năm phát triển và bứt phá (Bài 2), nam-eu-25-nam-phat-trien-va-but-pha-bai-2.html, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 26http://baocongthuong.com.vn/quan-he-viet-1993 và hiện là nhà tài trợ song phương đứng thứ hai ở Việt Nam về viện trợ phát triển, với 3,14 tỷ USD17 Thứ ba, các nước thuộc khối Đông Âu trước đây gồm
những nước Trung và Đông Âu như: Ba lan, Cộng hòa Czech, Hungary Những nước này đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập trước đây và công cuộc xây dựng đất nước sau này Sau khi những nước này gia nhập EU vẫn tiếp tục ủng hộ và viện trợ ODA cho Việt Nam
Từ năm 1990, quan hệ Việt Nam - EU chủ yếu là tham gia vào các hoạt động song phương, nhưng bên cạnh đó còn có việc EU hỗ trợ Việt Nam tham gia hòa nhập với thế giới Vấn đề người tị nạn đã được hai bên phối hợp thực hiện Năm
1995, EU và Việt Nam kí Hiệp định FCA tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng mối quan hệ FCA bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 1996 Tháng 10/2010, Việt Nam và EU đã ký tắt Hiệp định PCA Năm 2012, EU và Việt Nam ký Hiệp định
PCA, Hiệp định này thay thế Hiệp định FCA có từ năm 1995 Hiệp định PCA ghi
một dấu mốc mới, “một bước nhảy vọt về chất trong quan hệ đối tác song phương”
ngày càng sâu rộng giữa Việt Nam - EU Hiệp định PCA tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh quan hệ hợp tác đối tác bình đẳng, lâu dài, ổn định và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU
Với chủ trương hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chủ động tăng cường tiếp xúc với các nước thành viên EU Biểu hiện cao nhất cho quyết tâm của Việt Nam và EU trong việc tăng cường hợp tác toàn diện là các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo hai bên Nguyên thủ đầu tiên của phương Tây đến thăm Việt Nam là Tổng thống Pháp Mitterrand (năm 1993)
Sự kiện lớn đầu tiên trong quan hệ đối tác Việt Nam - EU là chuyến thăm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tới EC (năm 1993), một điểm đến trong chuyến công
du mang tính đột phá tới các nước Châu Âu gồm Bỉ, Pháp, Đức và Vương quốc Anh Chuyến đi này đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhằm thúc đẩy chính sách mở cửa của Việt Nam và tìm kiếm sự ủng hộ đối với việc kêu gọi Mỹ dỡ bỏ cấm vận
Một chuyến thăm mang tính biểu tượng về chính trị là chuyến thăm của Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tới Brussels tháng 3/2004 Nhân dịp này, Phó
17 40 năm quan hệ Việt - Pháp, catactualites/703-40-nam-quan-he-phap-viet-tong-ket-va-trien-vong, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 27http://ambassade-vietnam.com/index.php/fr/component/content/article/35-thủ tướng Vũ Khoan đã gặp gỡ với quan chức thương mại cao cấp của EC Peter Carl để bàn về việc Việt Nam gia nhập WTO… và các tiêu chí để Việt Nam được coi là một nền kinh tế thị trường
Chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Brussels (năm 2006) đã gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ về vai trò chiến lược của EU với Việt Nam Chủ tịch
EC Manuel Barroso (năm 2007) đáp lại bằng chuyến thăm tới Hà Nội, trong đó ông chấp nhận đề xuất của Việt Nam về việc đàm phán một hiệp định hợp tác mới PCA được khởi đầu năm 2010 và ký kết vào năm 2012 Việt Nam ghi nhận những quyền hạn và tư cách pháp nhân mới của EU ghi trong Hiệp ước Lisbon với sự ra đời của
Cơ quan đối ngoại Châu Âu (2010) Vai trò của phái đoàn EU giờ đây bao gồm các nhiệm vụ trước đây vốn được thực hiện bởi Chủ tịch luân phiên, đó là đối thoại chính trị và đại diện ngoại giao thay mặt EU Đồng thời Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng công nhận Phái đoàn EU có tư cách như một sứ quán
Các cuộc trao đổi khác diễn ra giữa các chuyến thăm mang tính cột mốc này
là Các nhà lãnh đạo Việt Nam là khách mời của EC gồm Phó thủ tướng Trần Đức Lương (năm 1996), Thủ tướng Phan Văn Khải (năm1998) Nghị viện Châu Âu từng đón tiếp Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Nông Đức Mạnh (1995), Nguyễn Văn An (năm 2005), Nguyễn Sinh Hùng (2011) Các cuộc trao đổi do ông David O’Sullivan
- Giám đốc Điều hành cơ quan Đối ngoại Châu Âu tổ chức ở Hà Nội (năm 2012) đã
mở đường cho một loạt các chuyến thăm cao cấp sau đó của quan chức EU, gồm Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Van Rompuy (năm 2012), Phái đoàn Nghị viện Châu
Âu (năm 2013), Chủ tịch Manuel Barroso (năm 2014)… Sau khi khởi động đàm phán về FTA ở Brussels (năm 2012), Cao ủy thương mại Karel de Gucht đã có các chuyến thăm Hà Nội (năm 2013, 2014) Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng thăm EU (năm 2013), Ngoại trưởng Phạm Bình Minh gặp bà Ashton tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (Davon, năm 2014), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp ông Manuel Barroso 3 lần năm 2014 tại Hội nghị Thượng đỉnh Hạt nhân (La Hay, tháng 3), tại Hà Nội (tháng 8) và Brussels (tháng 10)
Đại sứ EU tại Hà Nội Franz Jessen nói về tầm nhìn của ông trong mối quan
hệ này như sau: “Trong chính trị, bạn phải nhìn trước 20 hoặc 30 năm Nếu bạn
nghĩ về Việt Nam trong 20 đến 30 năm tới, bạn sẽ thấy một đất nước với 100 triệu người hăng say lao động, một nền kinh tế phát triển cao và một môi trường chính
Trang 28trị ổn định, hội nhập đầy đủ với cộng đồng thế giới và luôn cố gắng cân bằng với người hàng xóm phía bắc Đó là một đất nước giàu mạnh mà EU muốn gần gũi - đó
là một mối quan hệ xứng đáng để chúng tôi đầu tư xây dựng”18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chính sách hỗ trợ phát triển của EU có vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển, nổi bật trong chính sách này là sự cung cấp viện trợ ODA và các chính sách ưu đãi riêng dành cho các nước nghèo Viện trợ ODA là “dòng tài chính chính thức được quản lý nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi ở các nước đang phát triển, trong đó một phần viện trợ không hoàn lại chiếm tối thiểu 25%”
EU là đối tác kinh tế và chính trị gồm 28 nước thành viên Hiện nay EU là nhà tài trợ song phương lớn thứ hai về ODA và là nhà cung cấp viện trợ không hoàn lại lớn nhất của Việt Nam Mục đích chính của hoạt động viện trợ phát triển của EU đối với Việt Nam: Hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam và cải thiện điều kiện sống của người nghèo; Khuyến khích Việt Nam hội nhập kinh tế và hệ thống thương mại thế giới, hỗ trợ quá trình cải cách kinh tế, xã hội; Hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Việt Nam hướng tới một xã hội mở dựa trên quản lý công lành mạnh, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền; Nâng cao hình ảnh của EU tại Việt Nam
18 Andrew Hardy (2015), “25 years of progress and friendship”, Delegation of the European Union, Ha noi,
pg.106-111
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU CHO VIỆT NAM (1995 – 2015)
Viện trợ ODA của EU cũng như những nước phát triển nói chung đều dành cho những nước kém phát triển Trong chính sách Châu Á của mình, EU đã thể hiện mong muốn hỗ trợ nhiều hơn cho các nước kém phát triển của châu lục, trong đó Việt Nam là một trong những nước nhận được nhiều sự quan tâm của EU
EU triển khai chính sách ODA đối với Việt Nam bởi ba lý do sau: Thứ nhất,
“Chiến lược Châu Á mới năm 1991” được coi là nền móng cho quan hệ hợp tác
giữa hai châu lục; Thứ hai, đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: có lợi ích
song song giữa việc mở rộng EU và mở rộng ASEAN Chiến lược của EC với tên gọi “Quan hệ đối tác mới với Đông Nam Á” đặt quan hệ chiến lược toàn diện cho
mối quan hệ EU và khu vực này; Thứ ba, là chiến lược chuyển hướng sang Châu Á
- Thái Bình Dương của EU từ năm 2009, EU có thể tận dụng cạnh tranh ảnh hưởng
Mỹ - Trung Quốc để thực hiện “cân bằng linh hoạt” tại khu vực này để tối đa hóa lợi ích của mình Tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực, Chủ tịch Nhóm nghị
sỹ hữu nghị Pháp - Việt tại Thượng viện Christian Poncelet nhấn mạnh “Việt Nam
là một chủ thể tất yếu, quan trọng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là cửa ngõ
để EU và Pháp thúc đẩy hợp tác với khu vực Đông Nam Á, đồng thời ngược lại Pháp cũng là cửa ngõ để Việt Nam tăng cường quan hệ với EU” 19
Mục tiêu ODA là công cụ quan trọng trong chính sách đối ngoại của EU, tạo
ra giá trị, thương hiệu, ảnh hưởng của EU Về mặt lý thuyết thì chính sách ODA của
EU hoàn toàn phù hợp với mục tiêu chính thống của ODA là giúp nước nhận viện trợ ODA xóa đói giảm nghèo, thực hiện MDG và hội nhập thế giới, mặt khác cho thấy mục tiêu của EU khi viện trợ ODA cho Việt Nam là tìm kiếm lợi ích kinh tế, tăng cường vai trò an ninh, chính trị và kiềm chế sự ảnh hưởng của các đối tác khác
ở Việt Nam
Chính sách ODA của EU cho Việt Nam cũng có trọng tâm và thay đổi theo từng chu kỳ phát triển EU có chính sách ngoại thương chung nhưng chính sách đối ngoại có sự ảnh hưởng rất lớn của từng nước thành viên, và ODA do mỗi nước thành viên triển khai theo những chiến lược đối ngoại của mình và mỗi nước có những lĩnh vực và thế mạnh khác nhau trong triển khai ODA Có rất nhiều nước
19 40 năm quan hệ Việt- Pháp, catactualites/703-40-nam-quan-he-phap-viet-tong-ket-va-trien-vong, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 30http://ambassade-vietnam.com/index.php/fr/component/content/article/35-trong EU đã dành sự hỗ trợ song phương rất lớn cho Việt Nam Chẳng hạn như Pháp, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, Vương quốc Anh… Về cơ bản chính sách của
EU nhằm giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế bền vững, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ trong cải cách thể chế nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường có hiệu quả và thúc đẩy tiền trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhưng mỗi giai đoạn các nhà tài trợ EU lại đặt trọng tâm vào một vấn đề cụ thể
Chính sách ODA của EU cho Việt Nam được chia ra làm 2 giai đoạn: 1995 - 2008; 2009 - 2015
2.1 Giai đoạn 1995 - 2008
Năm 1995, EC và Việt Nam ký kết Hiệp định FCA, cung cấp cơ sở pháp lý cho mối quan hệ song phương nói chung cũng như chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức của EU cho Việt Nam Năm 2008 bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thế giới ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới
2.1.1 Bối cảnh và chính sách ODA của EU cho Việt Nam (1995 - 2008)
Trong những năm đầu thế kỉ XXI cho đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn toàn cầu năm 2008, trong xu thế gia tăng toàn cầu hóa, khu vực hóa, với
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, cách mạng thông tin… thế giới đã
có những bước phát triển nhanh và sự gia tăng không ngừng của các luồng thương mại hàng hóa và dịch vụ, các dòng vốn đầu tư nước ngoài… Trong sự đan xen và gắn kết chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau như vậy, tăng cường nội lực, tăng cường khả năng cạnh tranh, chủ động tích cực hội nhập với khu vực và thế giới, tham gia tiến trình tự do hóa, mở cửa đầu tư và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài… là xu thế chung và chủ đạo trong chiến lược của mỗi quốc gia Sự tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế các nhóm G7, G8, sự ra đời của G20, nhóm BRICS (Braxin, Nga,
Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi)… cùng với các thể chế truyền thống như WB, IMF, WTO… cho thấy mặt tích cực của xu thế toàn cầu hóa kinh tế20 Cuộc khủng kinh tế
20Nguyễn An Hà (2013), Điều chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt Châu Âu giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.18-19
Trang 31toàn cầu năm 2008 là đợt suy thoái kinh tế kéo dài và nghiêm trọng nhất kể từ “đại khủng hoảng” thập niên 1930, ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các nền kinh tế
Khu vực Châu Âu:
Nhìn lại thập niên đầu thế kỷ XXI, EU đã có những bước phát triển ấn tượng, trở thành hình mẫu điển hình của liên kết khu vực và việc vừa phát triển theo chiều rộng, vừa tăng cường liên kết theo chiều sâu cả về kinh tế, an ninh chính trị và tư pháp nội vụ
Về liên kết theo chiều rộng: Vào tháng 5 năm 2004, EU đã kết nạp thêm 10
nước thành viên ở Đông Âu, nâng tổng số nước EU lên 25 nước Các nước thành viên mới là Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Slovakia, Slovenia Năm 2007 đánh dấu sự mở rộng EU lần thứ sáu sau khi EU kết nạp thêm Romania và Bungary Năm 2013 kết nạp nước Croatia, đưa số thành viên lên 28 nước, với dân số hơn 500 triệu người, GDP xấp xỉ 18 ngàn tỉ USD, EU đã trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới
Tăng cường theo chiều sâu:
Thứ nhất, hoàn thiện Liên minh kinh tế tiền tệ với sự ra đời đồng tiền chung năm 2002 và được sử dụng trong nhóm các nước phát triển hơn thuộc Eurozone, đến nay đã có 18 thành viên tham gia
Thứ hai, tăng cường liên kết chính trị, thúc đẩy nhất thể hóa, dân chủ, minh bạch, cải thiện vị thế EU trên thế giới Năm 2009, Hiệp ước Lisbon về cải cách các thể chế quyền lực của EU được thông qua Hiệp ước Lisbon thúc đẩy quá trình liên kết khu vực bằng những cải cách về thể chế và cơ chế hoạch định chính sách Hiệp ước này tăng cường dân chủ và minh bạch trong quá trình hoạch định chính sách
của EU đồng thời thống nhất chính sách an ninh và đối ngoại chung
Đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Theo ông Markus Cornaro-
Trưởng phái đoàn, Phái đoàn EC tại Việt Nam năm 2004: Các nước thành viên ASEAN và sự hợp tác Châu Á cũng đang tăng lên Có những lợi ích song song giữa việc mở rộng EU và mở rộng ASEAN Sau lần mở rộng cuối cùng của mình, ASEAN đã tập hợp được những đối thủ chính trị cũ thành một khối bao gồm cả các quốc gia dịch chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang hệ thống dựa vào thị trường Tài liệu năm 2003 của EC với tên gọi “ Một quan hệ đối tác mới với Đông Nam Á” đã đặt
ra một chiến lược toàn diện cho mối quan hệ trong tương lai của EU với khu vực này Nó đặt ra các ưu tiên chiến lược và đề xuất những hành động cải thiện quan hệ
EU - ASEAN trong các lĩnh vực từ hỗ trợ cho ổn định khu vực và cống khủng bố
Trang 32đến tăng cường quan hệ kinh tế thông qua hợp tác thường xuyên theo “Sáng kiến thương mại xuyên khu vực EU - ASEAN”21
Những vấn đề từ khủng hoảng tài chính năm 2008: Cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu có nguồn gốc từ cuộc khủng hoảng tín dụng, cho vay thế chấp và nợ dưới chuẩn của các ngân hàng và tập đoàn tài chính khổng lồ của Mỹ đã lan toản nhanh chóng tới tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đẩy EU vào suy thoái kinh tế Trong bối cảnh tăng trưởng thấp và việc thực thi chính sách “thắt lưng, buộc bụng” ở hầu khắc các nước thành viên22
Trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" và "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000" tiếp tục khẳng định
mục tiêu chiến lược nhất quán là "tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"; đồng thời trong chính sách đối
ngoại đã có thêm một bước đổi mới theo hướng cởi mở hơn là "tiếp tục đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" (thay cho chính sách "thêm bạn bớt thù" trước đây) Tiếp tục chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và đa phương
hóa, Đảng ta chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, bảo
21 Carlo Filippini, Stefan Hell, Bui Huy Khoat (2004), “EU Enlargement and It is Impact on Vietnam”, European Studies Programme Vietname, pg.77-99
22Nguyễn An Hà (2013), Cơ hội và thách thức của Liên minh Châu Âu trong phát triển tới 2020, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, số 11 (158), tr 3-13
Trang 33đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa " và đến Đại hội IX của Đảng
phát triển thành "Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng thế giới”23
Năm 1995 với 3 sự kiện quan trọng cùng diễn ra trong tháng 7 là ký Hiệp định FCA với EU; thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và chính thức trở thành thành viên của ASEAN Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ đã giúp Việt Nam khai thông quan hệ với EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, gia nhập Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương và các tổ chức quốc tế khác
Năm 2006 Việt Nam được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức WTO Việc gia nhập tổ chức quốc tế này là một cột mốc hết sức quan trọng, mở ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế
Về thu hút dòng vốn ODA, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt và ban hành Đề
án “Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ
2006 - 2010”, ban hành kèm theo Quyết định số 290/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 29/12/200624
Những lĩnh vực được nêu trong Đề án trên cho thấy các ưu tiên đã được xác định của Việt Nam rất gần với những ưu tiên cung cấp ODA của các nhà tài trợ: hỗ trợ thực hiện SEDP và y tế cũng nằm trong hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA của Việt Nam Các ưu tiên về tăng cường thể chế, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ… cũng tương đồng với những ưu tiên của các nước thành viên EU trong quan hệ hợp tác với Việt Nam như: Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển… Sự xuống cấp về môi trường do phát triển sản xuất ồ ạt với công nghệ lạc hậu và thiếu sự quan tâm đang là vấn nạn của các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam Đặt lĩnh vực bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam khai thác được thế mạnh của EU trong lĩnh vực này
Đề án đưa ra định hướng ưu tiên sử dụng ODA tại 6 vùng: Trung du miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng và các khu kinh tế trọng điểm phía Bắc, Bắc Trung
Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 34Cùng với sự phát triển của dòng vốn ODA, Chính phủ Việt Nam đã liên tục ban hành các văn bản pháp lý nhằm quản lý chặt chẽ các chương trình dự án sử dụng vốn ODA ở Việt Nam như: Nghị định số 87/1997/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, Nghị định số 17/2001/NĐ-CP về việc quy định cơ chế quản lý ODA, Nghị định số 131/2006/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
Chính sách ODA của EU cho Việt Nam:
Hiệp định FCA được EC và Việt Nam ký ngày 17/07/1995 đã tạo cơ sở pháp
lý cho việc xây dựng mối quan hệ FCA bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/6/1996 Hiệp định này mở rộng quan hệ đối tác ra khỏi bình diện hợp tác nhân đạo thuần túy trong những năm đầu Hiệp định khung đề ra bốn mục tiêu:
1) Tăng cường đầu tư và thương mại song phương;
2) Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam và cải thiện các điều kiện sống cho người nghèo;
3) Hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế và tiến tới một nền kinh tế thị trường;
4) Bảo vệ môi trường
Điều khoản đầu tiên của FCA đã xác định “tôn trọng các nguyên tắc cơ bản
về quyền của con người và dân chủ” là cơ sở cho sự hợp tác của hai bên Trọng tâm
của hiệp định này là thương mại và hợp tác Qúa trình ký kết FCA thực tế là một công việc mang tính tiên phong vì đã được đàm phán trước khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận và khôi phục quan hệ ngoại giao Sự thực là một trong những mục tiêu của EU trong các cuộc đàm phán là gây sức ép với Mỹ để Mỹ thay đổi chính sách đối với Việt Nam Văn kiện này được thực hiện với sự nhiệt tình của Pháp và sự ủng hộ mạnh mẽ của Vương quốc Anh
Sau 10 năm đầu tiên, mối quan hệ EU - Việt Nam bắt đầu định hình rõ ràng
Từ hợp tác trên bình diện nhân đạo mối quan hệ này đã bắt đầu chuyển sang phát triển nông thôn Hợp tác lĩnh vực giáo dục (tức là hỗ trợ kỹ thuật) đã giúp Việt Nam cải cách thị trường và hội nhập quốc tế25 Bắt đầu từ năm 2000 trở đi, đây là
25 Andrew Hardy (2015), “25 years of progress and friendship”, Delegation of the European Union, Ha noi,
pg.7
Trang 35giai đoạn hội nhập sâu của nền kinh tế Việt Nam vào kinh tế thế giới, các nhà tài trợ
EU chuyển hướng sang hỗ trợ Việt Nam đẩy mạnh cải cách và hội nhập, hỗ trợ cải cách thể chế kinh tế thị trường, phát triển nguồn nhân lực và các nền tảng vật chất
xã hội cũng như bảo vệ môi trường
Chiến lược Điều phối và Hài hòa hơn nữa (thuộc chiến lược Đồng thuận Châu Âu về phát triển) tại Việt Nam
Năm 2003 Việt Nam là quốc gia thử nghiệm cho sự phối hợp về Điều phối và Hài hòa hóa các thủ tục của EU Đặc trưng then chốt của sự hợp tác và cộng tác này
là Lộ trình Châu Âu (hay còn gọi là ý Kế hoạch Hành động vì sự Điều phối chặt chẽ hơn và Hài hòa hơn) Lộ trình này được Trưởng phái đoàn EU tại Việt Nam thông qua vào tháng 2/2005, phù hợp với Tuyên bố Paris và Đồng thuận Châu Âu về phát triển, giúp nâng cao mức độ hài hòa và điều phối của các nước thành viên EU và
EC Lộ trình thực hiện cách tiếp cận thực tiễn và bao gồm các cam kết dựa theo Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam 2006 - 2010, xác định những ưu tiên và lĩnh vực quan tâm chung, hỗ trợ của EU cho Việt Nam qua việc phối hợp và hài hòa bằng cách cung cấp một phần tài chính cho các lĩnh vực khác nhau cũng như hỗ trợ ngân sách
Trong Diễn đàn Cấp cao (HLF) OECD/DAC đầu tiên tại Rome vào 2/2003, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập một Kế hoạch Hành động Hài hòa tổng thể được
sự tài trợ của các nhà tài trợ và nhóm nhà tài trợ Nhóm đối tác về Hiệu quả viện trợ được thành lập vào đầu năm 2004 Nhóm này kết nối Chính phủ, các nhà tài trợ và các nhóm nhà tài trợ (như EU) Tại HLF II tại Paris vào 3/2005, Nhóm đối tác về Hiệu quả Hỗ trợ đã phác thảo Cam kết Hà Nội dựa trên Tuyên bố Paris về Hiệu quả
Hỗ trợ được các nhà tài trợ thông qua vào tháng 6 và được Thủ tướng Việt Nam ký chính thức vào tháng 12/2005
Từ năm 2006, nội dung “Đồng thuận Châu Âu về Phát triển” đã được đưa vào Chính sách phát triển của EU đối với Việt Nam Việt Nam cũng nằm trong các chương trình hợp tác do Công cụ hợp tác phát triển (DCI) tài trợ Nghị quyết của
EC số 1905/2006 ngày 18/12/2006 đã thiết lập một công cụ tài chính phục vụ hợp tác phát triển Nghị quyết này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của DCI gắn với việc xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh phát triển bền vững, bao gồm việc hướng tới MDG, cũng như thúc đẩy dân chủ, quản lý tốt, tôn trọng nhân quyền và pháp quyền
Trang 36DCI cũng khuyến khích hội nhập vào nền kinh tế thế giới và hướng tới củng cố mối quan hệ giữa EU và các quốc gia đối tác thông qua những đối thoại ngày càng tăng được tiến hành trên cơ sở lợi ích của hai bên về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội
Ngày 28/03/2007, EC đã thông qua Bản Chiến lược Quốc gia cho Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 Bản Chiến lược phối hợp hài hòa với Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội của Chính phủ Việt nam (SEDP 2006 - 2010) nhằm giúp Việt Nam giữ vững trọng tâm xóa nghèo đói của SEDP, được cộng đồng tài trợ thông qua và đánh giá, tuân theo mục tiêu tổng thể về xóa đói nghèo đưa ra trong Tuyên bố chung EC và Hội đồng Châu Âu tháng 10 năm 2000 về Hợp tác phát triển và các mục tiêu đưa ra trong Chiến lược Châu Á, Chiến lược Đông Nam Á của EU và Hiệp định hợp tác song phương Việt Nam - EU năm 199526
Rất nhiều hành động được xác định trong Tuyên bố Paris và Đồng thuận Châu
Âu về phát triển đã được đề cập đến thông qua Sáng kiến 5 Ngân hàng, đó là một nhóm gồm 5 ngân hàng hàng (được cấu thành bởi WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD của Pháp, Ngân hàng Tái thiết - KfW của Đức thiên về các dự án vay lớn, chủ yếu trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản và hỗ trợ chính sách) cộng tác chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư về một chương trình nghị sự và Nhóm Đối tác vì hiệu quả viện trợ, nhóm này đã góp phần đưa Chính phủ Việt Nam và toàn bộ cộng đồng nhà tài trợ xích lại gần nhau, dưới sự đồng chủ tịch của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và một nhà tài trợ trên cơ sở luân phiên EU tiếp tục cung cấp ODA thông qua Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo Đây là một công cụ hỗ trợ ngân sách toàn cầu định hướng kết quả do WB điều hành Chương trình này nâng cao hiệu quả: chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, bền vững môi trường và vấn đề xã hội; và Chính phủ hiện đại Các quỹ này được cung cấp dưới dạng các khoản vay (WB cung cấp…) và các khoản khoản tài trợ (do các nhà tài trợ song phương như Đan Mạch, Hà Lan, Vương quốc Anh và EC)
Chính sách gắn kết hợp tác phát triển, chính sách thương mại và quan hệ chính trị
26Nguyễn Quang Thuấn (2009), Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu Âu: Thực trạng và triển vọng,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.178-182
Trang 37EU đã tạo dựng được các mối quan hệ bền vững và nhiều mặt với Việt Nam, trong đó hợp tác phát triển của EU chỉ là một bộ phận EU đã cố gắng tăng cường tính gắn kết giữa các lĩnh vực chính sách khác nhau, đặc biệt là giữa hợp tác phát triển, chính sách thương mại và đối thoại chính trị với Chính phủ Việt Nam EU là đối tác tin cậy ủng hộ cho nỗ lực của Việt Nam trong việc gia nhập WTO Việt Nam
là một trong những quốc gia ưu tiên trong số các thành viên ASEAN mà EU muốn đạt được Hiệp định thương mại tự do để củng cố và tăng cường mối quan hệ thương mại Là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam, EU nhấn mạnh tính gắn kết thương mại và phát triển27
Như vậy, bên cạnh viện trợ ODA của EC, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho các hoạt động chung của EU, các nước thành viên EU cũng có những chương trình, viện trợ và ưu tiên viện trợ riêng của mình Bên cạnh đó, các nước thành viên EU cũng lồng ghép chính sách đối ngoại của mình vào Sau đây là những
ưu tiên viện trợ của của một số nước thành viên tiêu biểu của EU cho Việt Nam Những nước này có quan hệ đối ngoại lâu năm, viện trợ vốn ODA lớn cho Việt Nam hoặc có vai trò quan trọng trong EU, ví dụ như: Pháp, Anh, Đức đều là ba nền kinh tế lớn nhất EU; Pháp viện trợ ODA lớn thứ nhất trong EU cho Việt Nam; Đức
là nước đầu tàu kinh tế, phát triển ổn định và bền vững nhất EU; nước Anh là nước viện trợ ODA không hoàn lại lớn cho Việt Nam hay Thụy Điển là nước Châu Âu đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1969…
Pháp: Pháp là một trong những nước Châu Âu đầu tiên ủng hộ sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ năm 1986 Pháp hiện là nhà tài trợ song phương đứng thứ hai ở Việt Nam về viện trợ phát triển, với 3,14 tỷ USD, đầu tư vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, chống biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Quan hệ Việt - Pháp cũng được tăng cường trong lĩnh vực giáo dục, hợp tác văn hóa, hợp tác phi tập trung28 Lợi thế và sức hấp dẫn của mối quan hệ Việt - Pháp đã được Đại sứ
Pháp Jean Nougareda chỉ rõ trong bài phát biểu năm 2004: “ Chính sách Việt Nam
(của Pháp) suy tính trên quy mô khu vực Chính sách này mang lại lợi ích cho cả
Trang 38http://ambassade-vietnam.com/index.php/fr/component/content/article/35-hai nước, Pháp có thể giúp Việt Nam phát triển và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Châu Âu Để đáp lại Việt Nam giúp Pháp có lại chỗ đứng trong khu vực Châu Á của Pháp” Không phải ngẫu nhiên Pháp là nước phương Tây đầu tiên khai thông
quan hệ với Việt Nam từ năm 1989, mở đầu cho quá trình bỏ bao vây, cấm vận chống Việt Nam29
Đức: Việt Nam là đối tác hợp tác phát triển quan trọng của Đức Từ năm
1990 đến nay, Đức đã hỗ trợ Việt Nam với tổng kinh phí trên 1,8 tỷ Euro30 Thế mạnh của Đức là đào tạo nghề (đặc biệt là mô hình đào tạo nghề kép nổi tiếng của Đức), môi trường (đa dạng sinh học và bảo vệ bờ biển), năng lượng (sử dụng năng lượng hiệu quả và năng lượng tái tạo) Bên cạnh đó Đức cũng ủng hộ quá trình cải cách tư pháp tại Việt Nam Về quan hệ kinh tế, Đức giữ vị trí là đối tác kinh tế lớn nhất của Việt Nam trong EU Đức và Việt Nam đã thống nhất ba lĩnh vực ưu tiên cho hợp tác phát triển như sau: Hỗ trợ các chính sách cải cách kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và đào tạo nghề; Bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên bao gồm rừng, hệ thống thoát nước và quản lý chất thải rắn; Y tế, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe gia đình và ngăn chặn HIV/AIDS Đức thường hỗ trợ Việt Nam dưới dạng viện trợ không hoàn lại và các khoản vay mềm (theo điều kiện của Hiệp hội Phát triển Quốc tế) Dựa trên quan hệ hữu hảo lâu dài với Việt Nam, Đức có những đề nghị cung cấp cho Việt Nam các khoản tín dụng tổng hợp (kết hợp ngân sách và các quỹ thị trường) với các điều khoản linh động dựa trên lĩnh vực và loại
dự án Hướng hợp tác sẽ dựa trên các chiến lược giảm nghèo và tăng trưởng của Việt Nam, đặc biệt là Chiến lược Tổng thể về giảm nghèo và tăng trưởng
Bỉ: Hợp tác phát triển của Bỉ nhằm mục đích đóng góp xóa đói giảm nghèo, quản lý tốt và thúc đẩy đảm bảo các quyền con người, tập trung vào 5 mảng: chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo, nông nghiệp và an ninh lương thực, hạ tầng cơ sở, ngăn chặn xung đột Có ba lĩnh vực nằm giao nhau với các mảng đó là giới, môi trường và kinh tế xã hội Hơn 90% ODA của Bỉ là dưới dạng tài trợ không ràng buộc Phần còn lại chủ yếu là các khoản vay giữa Nhà nước - Nhà nước và các
29 Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Thị Minh Thảo (2013), Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp từ 1991 đến
2013, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 5 (152), trang 46-54
30 Quan hệ Việt Nam - Đức: Khẳng định quan hệ đối tác, van-de-su-kien/2015/33490/Quan-he-Viet-Nam-Duc-khang-dinh-quan-he-doi-tac.aspx, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 39http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-khoản hỗ trợ Cả hai mục này đều nhằm giảm lãi suất tín dụng thương mại và là những khoản hỗ trợ ràng buộc do Bộ Tài chính công quản lý Chính sách hợp tác của Bỉ với Việt Nam gắn liền với chiến lược xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đề
ra trong “Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2001- 2010” và “Chiến lược Tổng thể về giảm nghèo và tăng trưởng” của Việt Nam
Đan mạch: Kể từ năm 1994, Đan Mạch đã hỗ trợ Việt Nam trên 1,3 tỷ USD31trong phát triển, trở thành nhà tài trợ không hoàn lại lớn nhất trong số các nước thành viên EU tại Việt Nam, chiếm gần 25% tổng số vốn không hoàn lại toàn bộ các nước EU Phần lớn các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam là dành cho các hoạt động liên quan đến xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là trong các lĩnh vực thủy sản, nước sạch, vệ sinh, nông nghiệp và môi trường Các chương trình hợp tác trong lĩnh vực văn hóa hướng đến tăng cường khả năng tiếp cận và sự tham gia của Việt Nam trong nhiều khía cạnh văn hóa và nghệ thuật, từ đó thúc đẩy hơn nữa dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam Ngoài ra, một lĩnh vực ưu tiên viện trợ quan trọng là quản trị nhà nước, bao gồm cải cách kinh tế, hành chính và tư pháp cũng như các hoạt động phòng, chống tham nhũng Chương trình hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Đan Mạch trong đó Việt Nam là quốc gia ưu tiên đã kết thúc trong năm 2015 Hợp tác phát triển sẽ được thay thế bằng hợp tác chiến lược mà trọng tâm là tăng trưởng
bền vững
Phần Lan: Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1973, Phần Lan luôn ủng hộ ta trong thời kỳ khó khăn, bị bao vây, cấm vận trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay và “không áp đặt các điều kiện về chính trị trong chính sách viện trợ” Phần Lan đã xoá nợ trên 40 triệu USD cho Việt Nam Hiện nay, Việt Nam là một trong tám nước (một trong hai nước ở châu Á) được chọn là đối tác lâu dài về hợp tác phát triển của Phần Lan32 Thế mạnh của Phần Lan là phát triển nông thôn tổng hợp bao gồm cả lâm nghiệp;
31 Đan Mạch giải ngân 90 triệu USD vốn ODA cho Việt Nam,
gii-ngn-90-triu-USD-vn-ODA-cho-Vit-Nam.aspx, cập nhật ngày 16/11/2016
http://oda.mpi.gov.vn/odavn/Tint%E1%BB%A9c/tabid/126/articleType/ArticleView/articleId/1410/an-Mch-32 Giới thiệu chung về nước Cộng hòa Phần Lan,
http://www2.chinhphu.vn/portal/page/portal/English/TheSocialistRepublicOfVietnam/Diplomatic%20relatio ns/detail?diplomacyNationId=212&diplomacyZoneId=3, cập nhật ngày 16/11/2016
Trang 40cấp thoát nước và xử lý chất thải Mục tiêu hợp tác phát triển của Phần Lan là: Giảm đói nghèo rộng rãi; Ngăn chặn các đe dọa toàn cầu về môi trường; Thúc đẩy bình đẳng, dân chủ và các quyền con người; Tăng cường an ninh toàn cầu; Hội nhập kinh tế quốc tế Khoảng 90% ODA của Phần Lan là dưới dạng các khoản tài trợ, chủ yếu dưới dạng tài trợ dự án Đối với Việt Nam, hợp tác song phương với Phần Lan chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến nước, vệ sinh, rừng và phát triển nông thôn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo Việt Nam đã trải qua quá trình tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ấn tượng, vì vậy hợp tác phát triển của Phần Lan với Việt Nam sẽ giảm dần trong những năm tới, và hai nước đang dần chuyển đổi sang các hình thái hợp tác mới33
Thụy Điển: Khi Việt Nam bị mất sự trợ giúp của Liên Xô và bị bao vây cấm vận, quá trình Đổi Mới của Việt Nam phải trả giá cao hơn, cải cách khó khăn hơn nếu thiếu sự hỗ trợ của Thụy Điển từ ban đầu Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện
trưởng, Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương đã nhấn mạnh “Thụy Điển là
người bạn thủy chung, đã ở bên Việt Nam trong những giờ phút khó khăn nhất và cung cấp sự giúp đỡ có hiệu quả, chân thành cho công cuộc cải cách ở Việt Nam” 34 Quốc hội Thụy Điển đã thông qua một chính sách mới cho Phát triển toàn
cầu vào tháng 10/2003 Thụy Điển ưu tiên tới việc: Thúc đẩy khả năng giảm nghèo của Việt Nam trong dài hạn và trong một nền tảng môi trường bền vững; Thúc đẩy
mở cửa và phát triển theo hướng dân chủ và tăng tôn trọng quyền con người Bên cạnh đó Thụy Điển cũng tập trung hỗ trợ cho Việt Nam trong việc xây dựng năng lực thể chế để hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách, hợp tác trực tiếp tại các cấp địa phương, tài trợ cho các khoản tín dụng phát triển và tín dụng ưu đãi, tăng mối quan tâm tới các mặt bình đẳng giới, môi trường và quyền trẻ em, HIV/AIDS, xúc tiến ý tưởng về các lợi ích chung và mở rộng tiếp xúc giữa hai quốc gia Một trong những lĩnh vực đạt hiệu quả cao xuyên suốt lịch sử quan hệ song phương là lĩnh vực y tế, biểu hiện qua nhiều công trình y tế lớn do Thụy Điển hỗ trợ Việt Nam xây dựng và phục hồi như Bệnh viện Nhi Trung Ương, Bệnh viện Đa Khoa Thụy Điển Uông Bí, Bệnh viện Bạch Mai
33 Quan hệ hợp tác phát triển, nền tảng của mối quan hệ,
http://www.finland.org.vn/public/default.aspx?nodeid=35321&contentlan=31& #Hop, cập nhật ngày 16/11/2016
34 Di sản của cố Thủ tướng Olof Palme và mối quan hệ Việt Nam - Thụy Điển, cua-co-thu-tuong-olof-palme-va-moi-quan-he-viet-nam-thuy-dien-30692.html, cập nhật ngày 16/11/2016