Phùng Hiệu – Nguyên Pháp trong bài Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến kể về những dự cảm trong đời đã viết: “Có thể nói, anh đã vượt lên nỗi đau đời thường của chính mình, bỏ qua những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THU THẢO
THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN TỪ GÓC NHÌN
TƯ DUY NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THU THẢO
THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN TỪ GÓC NHÌN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Văn học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô Viện văn học, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Bá Thành – giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình
Một lần nữa, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua Tôi xin gửi lời kính chúc sức khỏe và hạnh phúc tới thầy, cô, gia đình và bạn bè
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Thơ Nguyễn Việt Chiến từ góc nhìn tư duy nghệ thuật” là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Bá Thành Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trong quá trình nghiên cứu luận văn còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy
cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 22 tháng 12 năm 2016
Học viên
Lương Thị Thu Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp khoa học của đề tài 6
6 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN 8
1.1 Một số vấn đề về lý luận về tư duy nghệ thuật 8
1.1.1 Tư duy nghệ thuật 8
1.1.2 Tư duy thơ 9
1.2 Quan niệm thơ và quá trình sáng tác của Nguyễn Việt Chiến 11
1.2.1 Vài nét về tiểu sử 11
1.2.2 Quá trình sáng tác 12
1.2.3 Quan niệm thơ Nguyễn Việt Chiến 15
CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN 18
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Việt Chiến 18
2.1.1 Cảm hứng về Tổ quốc, nhân dân 18
2.1.2 Cảm hứng về tình yêu lứa đôi 29
2.2 Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Việt Chiến 39
2.2.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ 39
2.2.2 Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Việt Chiến 39
2.2.2.1 Cái tôi chiêm nghiệm - triết lý, suy tư về cuộc đời 40
2.2.2.2 Cái tôi đằm thắm, nồng nàn trong tình yêu 43
2.2.2.3 Cái tôi luôn thường trực với tình yêu quê hương, đất nước 46
2.2.3 Những nhân vật trữ tình khác trong thơ Nguyễn Việt Chiến 49
Trang 52.2.3.1 Người mẹ 49
2.2.3.2 Nhân vật em 50
2.2.3.3 Người chiến sĩ 51
CHƯƠNG 3 THỂ LOẠI, NGÔN NGỮ VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN 55
3.1 Thể thơ 55
3.1.1 Thể thơ tự do 55
3.1.2 Thể thơ lục bát: 58
3.1.3 Thể thơ 8 chữ: 62
3.1.4 Thể thơ 5 chữ 63
3.2 Cấu tứ thơ 65
3.2.1 Khái niệm về cấu tứ trong thơ 65
3.2.2 Những cấu tứ đặc sắc trong thơ Nguyễn Việt Chiến 66
3.3 Ngôn ngữ 71
3.3.1 Ngôn ngữ trong tư duy thơ 71
3.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ Nguyễn Việt Chiến 71
3.4 Biểu tượng 78
3.4.1 Khái niệm biểu tượng 78
3.4.2 Phân biệt hình tượng với biểu tượng 78
3.4.3 Những biểu tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Việt Chiến 80
3.4.3.1 Con tàu 80
3.4.3.2 Trăng 81
3.4.3.3 Hoa hồng 87
3.4.3.4 Hoa sen 89
3.4.3.5 Cỏ 92
3.4.3.6 Cát 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ giữa con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ Nghiên cứu thơ ca từ góc độ tư duy nghệ thuật là một yêu cầu toàn diện và khá phức tạp đối với các hiện tượng thi ca Nghiên cứu thơ từ góc
độ tư duy tạo những khả năng tiếp cận mới, khám phá phong cách nghệ thuật của nhà thơ từ nhiều góc độ khác nhau
Tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, hay nói cách khác tư duy nghệ thuật nhằm phản ánh hiện thực có tính thẩm mỹ Để làm rõ hơn về vấn đề này, tác giả
Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam nhấn mạnh: “Tư duy
nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [35,tr 62] Điều này đã làm sáng rõ hơn về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa cái phản ánh và cái được phản ánh trong lĩnh vực thơ ca, nghệ thuật
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, là một vấn
đề lý luận mới mẻ và đầy sức hấp dẫn Nó có khả năng mở ra những cánh cửa để đi vào thế giới nghệ thuật phong phú và bí ẩn
Tư duy thơ không chỉ có yếu tố cá nhân mà còn bao hàm cả yếu tố dân tộc, nhân loại và thời đại Nó nằm trên bình diện nội dung và hình thức, nằm trong mối tương tác giữa chủ thể và khách thể Cho nên tiếp nhận thơ ca dưới góc nhìn tư duy
là một hướng tiếp cận có chiều sâu, mang tính hệ thống và toàn diện
Nguyễn Việt Chiến (1952), là nhà thơ xuất hiện không sớm trong văn đàn, bởi ông xuất thân là một nhà báo Tuy nhiên, thơ mới là cách để ông hoàn thiện
chính mình Bốn mươi tuổi, ông mới cho ra mắt tập thơ đầu tiên (Mưa lúc không
giờ) và hơn chục năm sau, qua những Ngọn sóng thời gian; Cỏ trên đất; Những con ngựa đêm và đặc biệt là Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Viễn Chiến đã chính thức để
Trang 7lại những dấu ấn khó phai trong lòng độc giả về hành trình sáng tạo, đổi mới và cách tân cho thơ ca
Nguyễn Việt Chiến đã có những đóng góp lớn vào dòng chảy thơ Việt Nam đương đại.Với 5 tập thơ đã xuất bản, ông đã tạo được dấu ấn riêng trong lòng độc giả
Mặc dù bắt đầu sự nghiệp sáng tác không sớm, nhưng đến nay ông đã gặt hái được những thành công nhất định như: Giải nhì Cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam (1989-1990); Giải nhì cuộc thi Thơ hay về biển của Vũng Tàu (1992); Giải nhì cuộc thi Thơ Tạp chí Văn nghệ 1998 – 1999; Giải thưởng của Hội
Nhà văn Hà Nội (2004) và Hội Nhà văn Việt Nam (2004) cho tập thơ Những con
ngựa đêm
Tiếp nối những bài viết nghiên cứu về thơ Nguyễn Việt Chiến, luận văn sẽ đi
từ góc độ tư duy nghệ thuật nhằm phát hiện ra những tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Việt Chiến, khẳng định phong cách thơ Nguyễn Việt Chiến
Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ đưa đến cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thơ Nguyễn Việt Chiến cũng như góp phần khẳng định vị trí và những đóng góp của ông cho nền thơ ca nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
Qua việc tìm hiểu những bài nghiên cứu của các tác giả về thơ của Nguyễn Việt Chiến, chúng tôi nhận thấy hầu hết các bài viết đều tập trung khẳng định nội dung đặc sắc trong các tác phẩm thơ của Nguyễn Việt Chiến và đặc biệt là ý thức cách tân rõ nét của nhà thơ qua từng thời kỳ, từng tác phẩm
Theo thống kê của chúng tôi, tính đến thời điểm năm 2016, đã có khoảng hơn 40 bài viết trên các tạp chí, báo và mạng internet về thơ của Nguyễn Việt
Chiến Có thể kể đến một số bài tiêu biểu như: Khách mời quán văn - Nhà thơ
Nguyễn Việt Chiến của Đoàn Văn Mật; Nguyễn Việt Chiến và Tổ quốc nhìn từ biển; Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến háo hức lên con tàu tìm bến đỗ mới cho thi ca của Đỗ
Ngọc Yên…
Trang 8Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về sáng tác của ông, chưa thật xứng đáng Hầu hết đó là những bài viết ngắn, những cảm nhận, những nhận xét mang tính khái quát, đăng rải rác ở một số tờ báo.Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số ý kiến tiêu biểu
Phùng Hiệu – Nguyên Pháp trong bài Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến
kể về những dự cảm trong đời đã viết: “Có thể nói, anh đã vượt lên nỗi đau đời
thường của chính mình, bỏ qua những hiềm nghi tầm thường tự sự để nghĩ về Tổ quốc, để xúc động theo cách một nhà thơ đang cảm nhận sự tự do qua mỗi ngày đang sống và nhìn nhận những nguy cơ, những hiểm họa đang đến gần trên vùng biển đảo của Tổ quốc thân yêu Và chính từ những cảm xúc lớn lao, trách nhiệm ấy,
anh đã viết Tổ quốc nhìn từ biển như viết từ chính bằng máu và nước mắt của mình
– như lời Nguyễn Việt Chiến tâm sự Và không gì vui sướng, thỏa chí hơn khi bài thơ nhận được sự tri âm, đồng điệu từ triệu triệu người yêu nước đúng vào thời
điểm “đất nước gian lao” Ngay sau đó, anh cho ra đời luôn tập trường ca Tổ quốc
nhìn từ biển gồm hơn 1.000 câu thơ và mười chương, trong đó có 4 chương viết về
biển đảo và 6 chương viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc Tác phẩm này đã được trao giải thưởng Văn học 5 năm của Bộ Quốc phòng giành cho những tác phẩm xuất sắc nhất viết về đề tài chiến tranh, cách mạng
và bảo vệ Tổ quốc Thế mới gọi là tài chứ – chữ của một nhà văn”[46]
Đỗ Ngọc Yên trong bài Nguyễn Việt Chiến và Tổ quốc nhìn từ biển cho rằng:
“Với 50 bài thơ gói gọn trong gần 200 trang của Tổ quốc nhìn từ biển có khá nhiều bài trực tiếp đề cập đến chủ đề biển đảo và Tổ quốc như: Tổ quốc nhìn từ biển, Tổ
quốc là tiếng mẹ, Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra, Mẹ - Tổ quốc, Tổ quốc nơi biên thùy, Tổ quốc bên bờ biển cả, Đất nước, Ta như cỏ trên ngược trần Tổ quốc, Chuông chùa vọng tiếng trống đồng Trường Sa, Gió Hoàng Sa, Như vậy có thể
coi Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ của những đề tài lớn mang tính chất thế sự Có người cho rằng sở dĩ Nguyễn Việt Chiến khá thành công ở mảng đề tài này vì nó gắn liền với công việc làm báo của anh, vốn rất cần một sự tinh nhạy đối với những
Trang 9biến động xã hội và lịch sử Và hầu hết các giải thưởng thơ của anh cũng đều thuộc
về đề tài này” [49]
Trong bài báo về Buổi ra mắt thơ ấm áp của Nguyễn Việt Chiến, nhà thơ
Nguyễn Trọng Tạo chia sẻ: “Tôi cảm giác Nguyễn Việt Chiến 'lên đồng' với chủ đề
về Tổ quốc, tình yêu đất nước Mỗi bài một cảm xúc, cái thì tinh tế, cái thì hào hùng Hình như sự 'lên đồng' của anh cũng quá mạnh mẽ, vì thế anh in thêm tập
Hoa hồng không vỡ đầy tính dịu dàng Hai tập như một cặp phạm trù nhưng không
đối lập nhau Hoa hồng không vỡ cho thấy Nguyễn Việt Chiến là cây thơ tình nồng
nàn, đắm đuối bên cạnh tác giả của thể loại chính sự Nguyễn Việt Chiến đã truyền
tải tinh thần đó thành tứ thơ lãng mạn, day dứt qua: Cát đợi, Mùa thu không trở lại,
Hoa hồng không vỡ, Có một người bị ướt thức trong ta, Để nhớ về em ” [48]
Đỗ Ngọc Yên trong bài Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: Háo hức lên con tàu tìm
bến đỗ mới cho thi ca thì nhận định: “Nguyễn Việt Chiến coi diễn trình đổi mới thi
ca Việt như những chuyến tầu lao mãi về phía trước không ngừng nghỉ Chuyến du hành ấy chẳng bao giờ là sớm và cũng chẳng bao giờ là muộn Chỉ có điều, không thể không ra đi để tìm bến đỗ mới cho thơ… Khách quan mà nói, thơ Nguyễn Việt Chiến là sự pha trộn của cả ba khuynh hướng thơ đương đại: khuynh hướng truyền thống, khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống, và khuynh hướng cách tân hoàn toàn ảnh hưởng thơ của các trường phái Hiện đại, Hậu hiện đại, Tân hình thức, Tân cổ điển… từ các nước phương Âu- Mỹ” [50]
Tuy nhiên các bài viết chỉ mới khai thác về một vấn đề nhỏ hoặc về một tập thơ lẻ của tác giả chứ chưa có một bài viết nào tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Việt Chiến một cách có hệ thống và toàn diện
Vì thế, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Việt Chiến dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật sẽ đi vào tìm hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật của nhà thơ, làm rõ cái tôi trữ tình của nhà thơ và khẳng định những đóng góp của Nguyễn Việt Chiến trên các phương diện biểu tượng, ngôn ngữ, giọng điệu trong sáng tạo thơ ca
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Việt Chiến nhằm tìm hiểu về tư duy thơ của tác giả Chỉ ra những đặc trưng trong tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Việt Chiến thông qua nội dung và các phương thức biểu hiện như: những biểu tượng đặc sắc, ngôn ngữ, cấu tứ, thể loại…
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ thơ Nguyễn Việt Chiến và những tác phẩm phê bình về thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Những tập thơ tiêu biểu của ông như:
+ Mưa lúc không giờ (thơ, NXB Hội nhà văn, 1992)
+ Ngọn sóng thời gian (thơ, NXB Thanh niên, 1998)
+ Những con ngựa đêm (thơ, NXB Hội nhà văn, 2004)
+ Trăng và thơ đọc chậm (thơ, NXB Hội nhà văn, 2012)
+ Tổ quốc nhìn từ biển (thơ, NXB Phụ nữ, 2015)
+ Hoa hồng không vỡ (thơ, NXB Phụ nữ, 2015)
Ngoài ra chúng tôi còn liên hệ với thơ của các tác giả khác để có cái nhìn đối sánh và lý giải
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi vận dụng một cách tổng hợp những kiến thức về lí luận văn học, văn học sử và một số phương pháp chủyếu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: Chúng tôi dùng phương pháp này để đi sâu vào đặc trưng, thể loại trong thơ Nguyễn Việt Chiến
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu những đặc trưng về thơ Nguyễn Việt Chiến trong bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi dùng phương pháp này để thiết lập hệ thống luận điểm Từ sự phân tích cụ thể tác phẩm, người viết tổng hợp khái quát để có những kết hợp, nhận định, tránh lối áp đặt chủ quan không cần thiết
Trang 11- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê các thể loại thơ trong sáng tác của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến
- Phương pháp so sánh đồng đại, lịch đại: Chúng tôi so sánh sự vận động tư duy thơ qua các tập thơ của Nguyễn Việt Chiến, mặt khác, so sánh tư duy thơ Nguyễn Việt Chiến với một số tác giả cùng thời hoặc cùng viết về một đề tài để tìm
ra những đặc trưng riêng của thơ ông
- Đồng thời, luận văn vận dụng những thành tựu khoa học của các ngành: Lí luận văn học, lí thuyết tiếp nhận, thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học… trong quá trình nghiên cứu và triển khai
5 Đóng góp khoa học của đề tài
Luận văn sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống và khá toàn diện tư duy thơ của Nguyễn Việt Chiến Tìm hiểu thơ Nguyễn Việt Chiến dưới góc độ tư duy nghệ thuật nhằm khám phá những nét mới trong thế giới nghệ thuật nói chung và thế giới thơ Nguyễn Việt Chiến nói riêng
Nghiên cứu tư duy thơ qua sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, qua
hệ thống biểu tượng, cấu tứ, ngôn ngữ và giọng điệu, nhằm tìm ra những nét khác biệt trong cách cảm, cách nghĩ, những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật của thơ Nguyễn Việt Chiến
Trong bối cảnh công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật đã có những thành tựu đáng kể và đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong nước, luận văn góp thêm cái nhìn toàn diện, khoa học và khách quan về toàn bộ sáng tác thơ Nguyễn Việt Chiến trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Qua đó khẳng định được hướng tiếp cận nghiên cứu
từ góc độ tư duy nghệ thuật đối với các hiện tượng văn học thực sự có nhiều ưu thế cần được tiếp tục và phát triển
Bên cạnh đó, luận văn còn đòng góp thêm một tiếng nói trong việc khẳng định vị trí của thơ Nguyễn Việt Chiến trong nền thơ hiện đại nói riêng và nền thơ Việt Nam nói chung
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Nguyễn Việt Chiến từ góc nhìn
tư duy nghệ thuật
Trang 126 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được trình bày trong ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ Nguyễn Việt Chiến
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Việt Chiến
Chương 3: Ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ Nguyễn Việt Chiến
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM
THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN
1.1 Một số vấn đề về lý luận về tư duy nghệ thuật
1.1.1 Tư duy nghệ thuật
Tư duy là một thuật ngữ có tính chất mở, với một nội hàm khá rộng Nói đến
tư duy là liên quan đến lĩnh vực triết học, tâm lý học… trong đó có lĩnh vực nghệ thuật
Trong Từ điển triết học của M.Rodentan, P.Iudin có định nghĩa về tư duy
như sau: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người Khí quan của
tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [42, tr.676]
Đặc trưng tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phương tiện ngôn ngữ Đó là toàn bộ của chức năng nhận thức của tư duy
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển tinh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất sự vật
Tư duy nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật và có nhiều quan niệm khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái
quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật, tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư
duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn nhiều về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung, tư
duy thơ nói riêng và đi đến kết luận: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thức khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo” [35, tr.39]
Khác với tư duy khoa học, ở tư duy nghệ thuật “Tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy”
Trang 141.1.2 Tư duy thơ
Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nằm trong phương thức biểu hiện trữ tình
Nó được nuôi dưỡng trong cảm xúc của con người với nhân sinh quan, gắn với những cảm xúc ở sâu trong tâm hồn con người, với phương thức biểu đạt thông qua ngôn ngữ để giãi bày những cảm xúc đó, trở thành một tác phẩm nghệ thuật
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật Tư duy thơ
là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ Do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại
mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định… Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại” [35, tr 44]
So với tư duy logic thì tư duy hình tượng có được một phạm vi rộng rãi hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng của người sáng tạo Tư duy thơ chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nhà thơ Trí tưởng tượng là biểu hiện trực tiếp của năng lượng tư duy hình tượng
Sóng Hồng cũng đã thừa nhận: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng” Trí tưởng tượng của nhà khoa học khác với nhà thơ ở chỗ, nhà khoa học thì mã hóa các tài liệu cảm tính, quy chúng về các đại lượng, các ký hiệu và con số, quan sát và biểu diễn sự vận động của hiện thực thành sự vận động của khái niệm, của kí hiệu Khả năng tưởng tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hóa, vô hình hóa các sự vật và hiện tượng Còn nhà thơ thì cụ thể hóa, hình tượng hóa hiện thực khách quan theo một đường dây liên tưởng Tư duy thơ là sự kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ Hướng nội là tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình Tìm hiểu tư duy thơ là tìm
Trang 15hiểu sự vận động của hình tượng thơ Ngôn ngữ đối với nhà thơ vừa có ý nghĩa phương tiện vừa có ý nghĩa mục đích, nó là một thứ “công cụ” trực tiếp của tư duy Khả năng tự do của tư duy thơ phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc thể loại…
Sự vận động của hình tượng thơ không phải là tùy tiện và vô hướng, tuy rằng tính chất ngẫu nhiên và tự do của trí tưởng tượng thơ ca là rất cao Khả năng tự do của tư duy thơ còn phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc thể loại
“Khả năng tự do của tư duy thơ thể hiện trong khả năng co dãn của dòng thơ, khả năng kéo dài của lời thơ, ý thơ, câu thơ Những cấu trúc thể loại truyền thống giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hành trình vận động của hình tượng thơ Thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bát…là những thể thơ ổn định, lâu đời đã làm đa dạng hóa nhưng đồng thời cũng đơn điệu hóa các kiểu tư duy thơ” [35, tr 8] Tư duy thơ thường được biểu hiện thành từng dòng phát ngôn trên văn bản và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc
Như vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối đến tư duy thơ Muốn tìm hiểu thơ và tư duy thơ của các thời đại, các dân tộc hay các tác giả khác nhau, chúng ta cần tìm hiểu những đặc trưng tư duy của từng chủ thể ở mỗi dân tộc và thời đại Mặt khác, chúng ta cùng tìm hiểu thơ ở mỗi người, mỗi thời kỳ lịch sử Quan niệm thơ sẽ chi phối tư duy thơ Nếu coi thơ là một thứ vũ khí thì tư duy thơ phải mạnh mẽ, ngôn ngữ thơ phải sắc nhọn Nếu coi thơ là món ăn tinh thần, thơ phải ngọt ngào, phải nhuần nhị Vậy thì quan niệm nghệ thuật có một thứ vai trò quan trọng trong việc xác định bản chất của thơ và tư duy thơ
Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo ra các biểu tượng trực quan, vai trò của nhận thức cảm tính là vô cũng quan trọng, nhưng không phải quyết định Những quan niệm về thơ, về nhân sinh, về thời đại sẽ làm cho nhà thơ chú ý nhiều
Trang 16hơn đến loại biểu tượng này hay biểu tượng khác Một quan niệm mới về nhân sinh,
về thế sự, về nghệ thuật ra đời sẽ làm thay đổi hướng tư duy thơ Những tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc, nhu cầu bộc lộ những tư tưởng mới, ý thức về sự vận động và phát triển của thời đại, của dân tộc, quốc gia…tất cả đều chi phối đến tư duy thơ
Như vậy có thể thấy, tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng gần với đời sống hiện thực hơn so với tư duy khoa học vì tính chất trực quan của các biểu tượng Công việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng là một quá trình khám phá, tìm hiểu hoạt động sáng tạo, bước đầu nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong một tác phẩm thơ ca của một nhà thơ tiêu biểu
1.2 Quan niệm thơ và quá trình sáng tác của Nguyễn Việt Chiến
Thời chiến tranh, Nguyễn Việt Chiến đi bộ đội, sau đó xuất ngũ, học đại học rồi công tác trong ngành bản đồ Cùng với đó, ông theo học khóa bồi dưỡng viết văn trẻ, học khóa nghiệp vụ báo chí nâng cao sau đại học Năm 1991, Nguyễn Việt Chiến công tác ở báo Văn Nghệ, năm 1993, ôngvề công tác tại Báo Thanh Niên (Hội Liên hiệp Thanh niên VN) cho đến nay
Trong suốt quá trình sáng tác, Nguyễn Việt Chiến đã có rất nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà, tên tuổi và những sáng tác của ông không chỉ thu hút được độc giả yêu văn thơ trên khắp mọi miền tổ quốc, thậm chí có những bạn văn, bạn thơ, thích thơ ông và thuộc nhiều thơ ông
Mặc dù vậy, nhưng tên tuổi Nguyễn Việt Chiến chỉ thực sự được đông đảo bạn đọc biết đến nhờ những sáng tác về biển đảo, gắn với sự kiện mang tính thời sự của đất nước Trong những ngày hàng triệu trái tim Việt Nam đang sục sôi hướng ra
Trang 17biển Đông, ông đã liên tiếp cho ra đời những sáng tác nóng hổi, mang tính thời sự làm hàng triệu trái tim Việt Nam ngân rung, được nhiều bạn trẻ tìm nghe trên mạng
Những vần thơ trong bài Thời đất nước gian lao; Tổ quốc nhìn từ biển vang lên, nó
như lời hiệu triệu, thúc giục hàng trăm nghìn trái tim yêu nước cùng hòa nhịp Chính đề tài bắt kịp xu hướng chung của thời đại, mang tính thời sự nóng bỏng này
đã khiến cho tên tuổi nhà thơ đến gần hơn với độc giả và khiến những lời thơ ấy còn sống mãi với thời gian
Các giải thưởng văn học của Nguyễn Việt Chiến: Giải nhì cuộc thi thơ Báo
Văn Nghệ năm 1989-1990, Giải nhì cuộc thi thơ hay về biển năm 1992, Giải nhì
cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1998-1999, Tặng thưởng thơ hay Tạp chí VNQĐ năm 2000, Giải thưởng thơ Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004 cho tập thơ
Những con ngựa đêm, Tặng thưởng thơ Hội Nhà văn VN năm 2004 cho tập thơ Những con ngựa đêm, Giải nhì cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2008-
2009, Giải ba cuộc thi thơ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội năm 2010, Giải nhì cuộc
thi thơ Đây biển Việt Nam năm 2012 của báo Vietnamnet và báo Văn nghệ, Giải
thưởng văn học 5 năm 2010-2014 cho trường ca về biển của Bộ Quốc phòng
1.2.2 Quá trình sáng tác
Cho đến nay, đã hơn 40 năm sau chiến tranh và gần 30 năm đổi mới, cùng với bước ngoặt đổi mới quan trọng của nền văn học Việt Nam đương đại, cả một thời kỳ mới đáng ghi nhận của thơ ca đất nước đã mở ra với sự xuất hiện của hàng loạt tác giả, tác phẩm mới mang dấu ấn của một giai đoạn văn học sau chiến tranh Điều đáng mừng, cả thế hệ các nhà thơ đã trưởng thành và khẳng định tên tuổi trong chiến tranh cũng hăm hở và nhiệt thành bước vào giai đoạn cách tân - đổi mới tự thân thơ của mình trong giai đoạn này
Nhìn lại chặng đường gần 30 năm qua (1986-2016), có thể thấy thơ ca đương đại vừa có sự tiếp nối gánh nặng văn chương từ thế hệ các nhà thơ đã hành trình trong suốt 30 năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ (1945-1975), vừa có sự bứt phá ngoại mục để đưa thơ ca sải bước những bước dài trên con đường hiện đại hóa
Và hành trình thơ ấy có sự góp mặt của nhiều thế hệ
Trang 18Ấn tượng đầu tiên là các nhà thơ thành danh trong chiến tranh, vẫn tiếp tục viết và tiếp tục được khắng định: Lưu Quang Vũ (mất 1988); Hoàng Hưng; Phùng Khắc Bắc; Ý Nhi; Thanh Thảo; Nguyễn Trọng Tạo… Đây là lớp người trưởng thành từ những năm chiến tranh nhưng vẫn giàu nội lực sáng tạo, tìm tòi, đổi mới chính thơ mình trong giai đoạn Hậu chiến Không chỉ cách tân về hình thức nghệ thuật, lớp nhà thơ kháng chiến đã đổi mới cách phản ánh bản chất đời sống của thơ bằng chính những cảm nhận về cuộc đời trầm luôn khó nhọc với những suy tưởng đớn đau và nhân bản về một thế giới đang phải tự hàn gắn những đổ vỡ sau đêm dài chiến tranh và bạo lực Một Hoàng Hưng với những thể nghiệm thơ gây khá nhiều tranh cãi Một Thanh Thảo luôn trăn trở với những tìm tòi, thể nghiệm trên con đường tìm nguồn – nước- thi- ca…
Song hành với những nhà thơ nói trên là thế hệ của các nhà thơ mới, họ là những gương mặt của thời kỳ hậu chiến tiếp nối đến hôm nay Họ đã làm nên dòng chảy đầy sức sáng tạo và đa dạng của nền thơ ca đương đại Trước hết phải kể đến nhóm tác giả thành danh sau năm 1986 Ấy là “một Nguyễn Lương Ngọc bừng cháy
và ngạo nghễ trong tìm tòi; một Nguyễn Quang Thiều đã tạo từ - trường – thơ mới; một Dư Thị Hoàn độc đáo trong sáng tạo thơ; một Mai Văn Phấn đang hành trình đến bến bờ của sự cách tân; một cõi thơ lạ đến say đắm của Nguyễn Bình Phương; một Phan Thị Vàng Anh đang cố gắng vượt lên bằng một bản lĩnh thơ mới ” [6, tr34] Điểm nổi bật trong sáng tác của họ là sự trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ Những cây bút đương đại được nhắc tới nhiều có thể kể đến một số tên tuổi như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly… Điểm chung nhất ở họ là sự khát khao thể hiện tiếng nói thế hệ mình như một giá trị Và giá trị ấy được đảm bảo bằng cái mới, cái hiện đại trong quan niệm về thơ, trong bút pháp, hình thức thể hiện… Dù những tìm tòi, cách tân chưa dễ được đồng thuận trong đánh giá và tiếp nhận của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được nguồn sinh lực trong thế hệ nhà thơ đương đại hôm nay
Trong số những thế hệ nhà thơ, những gương mặt vừa kể trên, có thể nói Nguyễn Việt Chiến là một trong những gương mặt thơ khá nổi bật trong nền thơ
Trang 19Việt Nam Đương đại Nguyễn Việt Chiến đã gây ấn tượng mạnh trong thơ Việt đặc biệt là mảng đề tài thế sự, biển đảo
Cũng như thế hệ mình, Nguyễn Việt Chiến sớm rời ghế nhà trường để bước vào chiến trường Những trải nghiệm ngắn ngủi nhưng khốc liệt của cuộc chiến đã hằn sâu vào kí ức người cầm bút, tạo tiền đề, cơ sở cho những sáng tác của ông sau này
- Bốn mươi tuổi, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, Mưa lúc không giờ (1992) Gần chục năm sau, ông cho ra đời tiếp tác phẩmNgọn sóng thời gian (1998) và Cỏ
trên đất (2000), 3 năm sau, Nguyễn Viễn Chiến đã chính thức ra mắt tập thơNhững con ngựa đêm(thơ, NXB Hội nhà văn, 2004); Trăng và thơ đọc chậm (thơ, NXB
Hội nhà văn, 2012); Tổ quốc nhìn từ biển (thơ, NXB Phụ nữ, 2015); Hoa hồng
không vỡ (thơ, NXB Phụ nữ, 2015)
- Cũng chính sự nhạy cảm cách tân trong sáng của tập thơ trên mà liền đó, Nguyễn Việt Chiến, với tư cách là người tuyển chọn và thẩm bình, đã làm nên tập
tiểu luận Thơ Việt tìm tòi và cách tân 1975 – 2005
- Đặc biệt hơn, điều đã làm nên tên tuổi Nguyễn Việt Chiến trong bước
đường thơ ca ấy chính là những tác phẩm viết về đề tài tổ quốc như Thời đất nước
gian lao - tháng 6/2008; Tổ quốc nhìn từ biển - tháng 4/2009
Những bài thơ này đã làm lay động hàng triệu độc giả với những câu hỏi đau đáu lo lắng, đồng hành với vận mệnh đất nước Chính bản thân nhà thơ cũng từng
nhận định rằng: “Tổ quốc nhìn từ biển và Thời đất nước gian lao có thể nói là hai
bài thơ hay nhất về đất nước mà tôi từng viết, trong đó tôi đã vận dụng hết năng lực sáng tạo, toàn bộ tài năng và vốn sống trải nghiệm của tôi trong suốt 40 năm qua
Sự khái quát đó, trải nghiệm đó, tôi cũng chỉ mong đánh thức được tình yêu đất nước trong tâm hồn mỗi con người hôm nay” [48]
Trang 201.2.3 Quan niệm thơ Nguyễn Việt Chiến
Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ có một cuộc sống sôi nổi và thăng trầm Với hàng loạt những tập thơ đã xuất bản của mình, ông đã khẳng định một thương hiệu Nguyễn Việt Chiến trong nền thơ Việt đương đại, đầy dựcảm và sáng tạo
- Ông quan niệm: “Trong những giây phút ngã lòng yếu đuối nhất của cuộc đời, chính thơ ca đã cứu rỗi tôi, đã cho tôi có được niềm tin vào cuộc sống” [48]
- Trong một buổi ra mắt hai tập thơ Tổ quốc nhìn từ biển và Hoa hồng không
vỡ hồi đầu tháng 11/2015, trả lời trên báo chí, Nguyễn Việt Chiến cho rằng: “Thơ
hay phải đánh thức con người, không phải ở góc độ mỹ học mà là chiêm nghiệm nỗi đau, chia sẻ với con người những mất mát, hạnh phúc Tôi rất thích lời nói của một nhà thơ nước ngoài, đại ý “thơ là nền nghệ thuật chia sẻ với con người", ông nói [47]
- Nguyễn Việt Chiến quan niệm: “Đòi hỏi cách tân thơ như một nhu cầu bức thiết và tự thân của những cây bút trẻ”[48] Và “bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ” [48]
- Ông nhấn mạnh rằng: “Đời sống thi ca trong thơ trẻhiện nay còn mỏng quá” [48] Ông khuyến khích các cây bút trẻ không nên ngoảnh mặt với đời sống thực đang chuyển động không ngừng, mà hãy coi đó là tư liệu sinh động để thỏa sức sáng tạo
- Đề tác phẩm văn học có sức thuyết phục và lôi cuốn, Nguyễn Việt Chiến quan niệm: “Ngoài việc khắc họa thành công cái tôi, các nhà thơ phải hướng đến những chân trời lớn lao hơn, hướng đến cộng đồng, hướng đến nỗi đau và khát vọng của chính dân tộc mình – và phải khắc họa được chính đời sống đang diễn ra xung quanh mình Điều đó khó khăn và đòi hỏi nhiều thứ lắm.Nó đòi hỏi sự trải nghiệm nhiều, đau đớn nhiều, vốn sống nhiều, và cả tài năng – là điều không thể thiếu” [44]
Trang 21Có thể nói những quan niệm về thơ của Nguyễn Việt Chiến khá phong phú, ngoài những nhận định về thơ trên bề nổi, Nguyễn Việt Chiến còn đi sâu vào tìm hiểu thi pháp của thơ, ông đưa ra những nhận định và quan niệm về ngôn ngữ thơ, biểu tượng thơ rất sâu sắc Chính sự thấu hiểu thơ ca trong chiều sâu của nguồn gốc
và sự sáng tạo như vậy nên Nguyễn Việt Chiến có ý thức cách tân rất rõ rệt Ý thức cách tân thơ của ông không chỉ dừng lại ở việc xác định ở hình thức bên ngoài của khái niệm cách tân mà sâu sắc hơn còn là ở sự đổi mới nội dung, là sự phản ánh hơi thở của cuộc sống thường nhật Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu cầm bút Nguyễn Việt Chiến đã tạo ra một giọng thơ lạ cho riêng mình Những tác phẩm ra đời như một sự minh chứng cho quan điểm nghệ thuật của một thi nhân dám sống hết mình, cống hiến hết mình cho nghệ thuật Đặc biệt, dám hướng đến nỗi đau và những khát vọng sục sôi của dân tộc Ông là một nhà thơ có công lớn trong sự vận động của thơ hiện đại Việt Nam
TIỂU KẾT: Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Việt Chiến đã ghi dấu mạnh mẽ trong lòng độc giả với những tác phẩm mang đậm chất thế sự, đặc biệt trong mảng đề tài về tổ quốc, biển đảo Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ không xuất hiện sớm trên văn đàn, nhưng ông đã có những đóng góp không nhỏ vào nền thơ ca hiện đại, cả về mặt nội dung và hình thức lẫn quan niệm thơ ca Với tư duy hướng ngoại tích cực, Nguyễn Việt Chiến đã cất cao tiếng nói khẳng định chủ quyền của đất nước, gợi mở cho người đọc nhiều suy ngẫm về vấn đề chủ quyền của đất nước, về vai trò của quan trọng của biển đảo đối với một quốc gia và trách nhiệm của một người công dân trong việc giữ gìn đất đai Tổ quốc…
Trước đó, khi còn là một người lính bước ra từ chiến trận, Nguyễn Việt Chiến viết về đồng đội và tâm sự chính mình bằng những suy tư, trăn trở về cuộc đời, về tình yêu đôi lứa, về hạnh phúc… Tư duy thơ của Nguyễn Việt Chiến đã chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại Đây có thể coi là một hành trình chuyển động ngược với xu thế Bởi trước kia, các nhà thơ thường hướng ngòi bút của mình đến những vấn đề lớn lao mang tính lịch sử, thời đại, như viết về tổ quốc, về chiến
Trang 22tranh… rồi lại hướng ngòi bút của mình đến những tâm tư, trăn trở cá nhân, thì đến với Nguyễn Việt Chiến, ông lại đi ngược xu thế ấy Sự vận động này được đánh dấu
bằng một hành trình dài với tập thơ Tổ quốc nhìn từ biển và Thời đất nước gian
lao…Trước kia, tư duy thơ hướng nội cùng chất lãng mạn của nỗi buồn thảng thốt,
của những dự cảm, bất chợt đến với Nguyễn Việt Chiến, thì nay, vẫn ngòi bút ấy, ông đã hướng đến những con người thực tại, hướng đến những vấn đề lớn lao mang tính cộng đồng, thời đại
Trang 23CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG
THƠ NGUYỄN VIỆT CHIẾN
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Việt Chiến
2.1.1 Cảm hứng về Tổ quốc, nhân dân
Trong mỗi trái tim thi sĩ đều thường trực một tình yêu Tổ quốc như là một
điểm tựa tinh thần, một niềm kiêu hãnh Nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong Việt Nam
quê hương ta”với nhịp lục bát thong thả, mênh mang mở ra một bát ngát của đồng
quê thôn Việt, bát ngát của những mùa màng ấm no: “Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều” Còn nhà thơ Đỗ Trung Quân, ông vẽ ra một phần đất nước thu nhỏ, quê hương hiện ra thật cụ thể, mộc mạc, đơn sơ mà thấm thía nghĩa tình
trong Quê hương: “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày” Cũng như trong trường ca Những người đi tới biển”nhà thơ Thanh Thảo đã từng hơn một
lần tự vấn, tự day dứt và tự giải đáp: “Chúng tôi đi không tiếc đời mình/ Nhưng tuổi
hai mươi ai mà không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc” Ngay cả nhà thơ HữuThỉnh, trong trường ca Đường tới thành phố ông cũng đã có
lần day dứt thốt lên: “Nếu kẻ thù chiếm được/ Một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/
Thì Tổ quốc sẽ ra sao Tổ quốc”… Cho đến nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa – người đã nổi tiếng từ bé với Góc sân và khoảng trời khi anh đã thành người lính thì
đất nước hiện hữu trong anh như một biểu tượng của tình yêu và cao hơn cả tình yêu lứa đôi: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Bão thổi chưa ngưng trong những vành tang trắng/ Anh đứng gác Trời khuya Đảo vắng/ Biển một bên và em
một bên”(Thơ tình người lính biển) Cùng một cảm hứng đầy tính thế sự nhưng
nồng nàn và ẩn chứa bao trăn trở Chân thành trước lịch sử, đắm đuối với lòng mình
nhà thơ Nguyễn Việt Chiến trong tập thơ Tổ Quốc nhìn từ biển đã có những phát
hiện thật tinh tế và bất ngờ
Ở đây, Nguyễn Việt Chiến vừa tiếp tục làm công việc của các thi sĩ thuộc thế
hệ chiến tranh trước đây, vừa đề cập kịp thời đến những vấn đề nóng bỏng của đất
Trang 24nước và dân tộc hôm nay.Chiến tranh không ngừng ám ảnh người đàn ông cao lớn
có mái tóc rối và dáng vẻ quả quyết – người mang một cái tên đặc biệt - Nguyễn Việt Chiến
Trả lời với báo chí, Nguyễn Việt Chiến đã từng khẳng định rằng, gia tài của ông là bài thơ yêu nước Nhà thơ từ chia sẻ: “Trong những bài thơ viết ra, tôi không muốn nói về nỗi đau cá nhân mình Tôi viết về nỗi mất mát của cuộc chiến
tranh đã đi qua và nỗi đau của dân tộc Tổ quốc nhìn từ biển, rồi Thời đất nước gian
lao, tôi đã dồn hết mọi tâm trạng của riêng mình xuống tận cùng, đã nén mọi bi kịch
cá nhân để không còn một chút gì là nỗi đau riêng của mình, để viết về đồng đội, bạn bè tôi đã hy sinh Những người bạn của tôi đang nằm dọc dãy Trường Sơn, ngày hôm nay, lại hướng mình về biển”
Hoàng Đức Diễn từng nhận xét: “Có thể nói, nếu không có một tình yêu lớn đối với Tổ quốc thì không có một nhà thơ nào viết nổi những câu thơ lay động tâm hồn như vậy Và đó cũng chính là điều ta nhận thấy ở Nguyễn Việt Chiến Bài thơ
Tổ quốc nhìn từ biển, vì vậy là một thông điệp về tình yêu Tổ quốc và sứ mạng
công dân…” [9,tr.4 ]
Ở mỗi khổ thơ trong Tổ quốc nhìn từ biển, tác giả đều đưa đến cho chúng ta
nhiều suy ngẫm về vấn đề chủ quyền của đất nước, về vai trò của quan trọng của biển đảo đối với quốc gia và trách nhiệm của mỗi một người công dân Việt Nam trong việc giữ gìn đất đai, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc
Bài thơ được xây dựng trên cấu tứ nền tảng là những giả định về Tổ quốc gắn với những hình ảnh về biển đảo: “Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển…”,
“Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển…”, “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo…”,
“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích…”, “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa…”,
“Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả…”, “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát…” Hình tượng Tổ quốc được Nguyễn Việt Chiến đặt trong điểm nhìn “từ biển”, khiến cảm nhận về Tổ quốc của ông khác với các nhà thơ khác khi viết về đề tài này Nhưng cái độc đáo hơn là ở chỗ nhà thơ gợi nhắc chúng ta về một truyền thuyết đáng yêu của buổi bình minh Tổ quốc, khi Lạc Long Quân và Âu Cơ với trăm
Trang 25người con, theo mẹ lên rừng, theo cha xuống biển, vẽ nên hình hài đất nước cho cháu con muôn đời:“Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa”
Khẳng định chủ quyền của đất nước, ông gợi nhắc về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con lên rừng, xuống biển mà làm nên hình hài đất nước Theo nhà thơ, dòng máu Rồng Tiên đã cho ta Tổ quốc, cho ta tiếng nói, để tiếng nói đầu tiên mà con dân nước Việt cất lên là tiếng nói đánh giặc bảo vệ cõi bờ Tổ quốc thân yêu Nguyễn Việt Chiến đã hình tượng hóa Tổ quốc bằng truyền thuyết, với điểm nhìn xuyên suốt “từ biển”, và những “bão giông”, những “hiểm họa”, những “mất mát” từ đó hiển hiện trong những chiều kích khác nhau Ta bắt gặp ở đây sự giao cảm, sự đồng điệu của Nguyễn Việt Chiến với Trần Đăng Khoa:
“Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành khăn trắng”
(Thơ tình của người lính biển)
Hình ảnh Tổ quốc chưa một ngày bình yên với âm hưởng thơ trầm hùng, bi tráng như hối thúc, giục giã suy nghĩ trong tâm hồn mỗi người:
“Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn”
Trong điểm nhìn “từ biển”, Tổ quốc là biển và biển cũng là Tổ quốc Thanh
Thảo, trong trường ca Những người đi tới biển cũng đã viết:
“Tổ quốc kiên trì nhoài ra phía biển
ôm những quần đảo trong vòng tay thương mến
mắt dõi nhìn hút cánh hải âu bay”
Tổ quốc vì thế mà rộng dài trong cả không gian lẫn thời gian, rộng dài trong tình yêu vô biên của con dân nước Việt đối với Tổ quốc Nguyễn Việt Chiến đã nói
hộ chúng ta về tình yêu Tổ quốc Ông cảm nhận được những giông bão rình rập,
Trang 26những mất mát đau thương, những hiểm họa khôn lường đến với Tổ quốc từ phía biển và ông thể hiện tình yêu Tổ quốc bằng một thứ tình cảm máu thịt:
“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa”
“Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân”
Tổ quốc dưới góc nhìn “từ biển” trong bài thơ của Nguyễn Việt Chiến vừa trải qua ngàn năm đau thương, mất mát với bao nhiêu hiểm họa, nhưng cũng từ ngàn năm ấy, Tổ quốc đã bất khuất ngẩng cao đầu chiến thắng quân thù:
“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng”
Nguyễn Việt Chiến đã thay chúng ta nói lên niềm tự hào, kiêu hãnh chính đáng về một Tổ quốc anh hùng Chúng ta có quyền tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông nhưng không có quyền quên đi trách nhiệm giữ gìn đất đai Tổ quốc Ý thức rất rõ trách nhiệm của người cầm bút chân chính, ông
đã nói hộ chúng ta về tinh thần trách nhiệm công dân cao cả đối với đất nước:
“Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi”
Tổ quốc trong tâm thức con người Việt Nam là một giá trị đã được kiến tạo bằng xương máu, bằng công sức của biết bao thế hệ, trải rộng dài trong thời gian hàng ngàn năm Với tổ quốc trong lòng, con người Việt Nam sẵn sàng dâng hiến máu xương của mình:
“đất nước đẹp mênh mang
đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt
chỉ riêng cho Người, chúng tôi dám chết!”
Trang 27(Thử nói về hạnh phúc - Thanh Thảo - 1972)
Truyền thống ấy bất chấp thời gian, luôn hiện hữu dưới mọi hình thái xã hội, không gì có thể tước bỏ, dập tắt, làm con người Việt Nam buông bỏ tình yêu quê hương, đất nước, tổ quốc của mình Người đang sống yêu tổ quốc bằng hơi thở, bằng máu nóng, bằng cái chết, người nằm xuống vẫn yêu tổ quốc bằng thịt xương đang ước ao tái sinh thành cỏ, thành đất, đắp bồi thêm lên quê hương, xứ sở Cứ tiếp nối không ngừng như thế, tổ quốc vừa sục sôi vừa âm thầm sinh sôi trong lòng người, trong mọi thời đại:
“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời”
Và ông nhắc đến một câu chuyện thời sự về việc người dân huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi vừa tìm thấy sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 - cử dân binh ra canh đảo Hoàng Sa – để lay động trong nhận thức của chúng ta về ý nghĩa sống còn của biển đảo đối với Tổ quốc và nhiệm vụ thiêng liêng trong việc bảo vệ toàn vẹn vùng lãnh thổ mà ông cha chúng ta để lại:
“Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh”
“Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”
Nhà thơ Anh Ngọc đã nói rất ngắn gọn, nhưng khá đầy đủ tầm vóc về sức mạnh của thi ca, trong đó có thơ Nguyễn Việt Chiến, rằng: “ chỉ với một bản tráng
ca Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Việt Chiến đã cắm lên một ngọn cờ trang trọng,
trong rừng cờ của thi ca đang tung bay trên ngọn sóng Biển Đông, vào thời khắc mà
cả Đất, Trời, Biển cả của Tổ quốc đang cần đến tiếng lòng của chúng ta hơn bao giờ hết” [9, tr.4]
Hình tượng Tổ quốc trong thơ Nguyễn Việt Chiến khác với hình tượng thơ
về Tổ Quốc sau 1975 trong Nhìn từ xa… Tổ quốc của nhà thơ Nguyễn Duy Hình
tượng Tổ quốc khi đó chỉ toàn những đau thương, u buồn và đói nghèo: “Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu/nạng gỗ khua rỗ mặt đường
Trang 28làng / Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện/ ma cụt đầu phục kích nhà quan”; “Xứ
sở thông minh/ sao thật lắm trẻ con thất học/ lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương / Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt/ tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp /tuổi thơ bay như lá ngã tư đường”…
Sau bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển, với bài thơ Tổ quốc bên bờ biển cả,
Nguyễn Việt Chiến lại một lần nữa có dịp cất cao tiếng lòng thổn thức của người sáng tác, chứng tỏ cái tâm của những người làm thơ nơi đất liền hướng đến đảo
xa.Trong Tổ quốc bên bờ biển cả, Nguyễn Việt Chiến đã thuyết phục được người
đọc bằng,những tứ thơ gai góc, đẹp đẽ, và đắt giá: “Nơi đất mẹ tựa lưng vào biển cả/ Những người con như sóng cuộn dưới trời/ Lồng ngực trẻ căng đầy hơi thở sớm/ Như ngọn buồm khát vọng cuốn ra khơi ”
Giọng thơ hào hùng, mang đậm chất sử thi và xu hướng anh hùng ca Lời thơ
ca ngợi vẻ đẹp sáng ngời của đất nước Tâm thế hào hùng, sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc ùa vào thơ Những lời thơ lúc này như trái tim đập những nhịp đập chung của dân tộc Qua tâm hồn chan chứa yêu thương của nhà thơ, các vấn đề sự kiện chính trị liên quan tới vận mệnh của dân tộc trở thành nguồn xúc cảm nghệ thuật mãnh liệt Nỗi đau chia cắt, khát vọng về một đất nước hòa bình, vững mạnh
là nỗi niềm tình cảm, khát vọng chung của cả dân tộc Đi từ tình cảm chung ấy, thơ Nguyễn Việt Chiến viết về đề tài Tổ quốc đậm đà chất sử thi…
Không chỉ có sóng gió, bão giông, không chỉ có sự khô cằn, bỏng rát, biển đảo còn gắn cả với tình yêu lứa đôi còn giang dở Bởi lẽ, người lính ấy phải ra biên cương, tạm xa mối tình đầu đầy hứa hẹn, mang theo sứ mệnh cao cả hơn – bảo vệ tổ quốc:
“Anh ra biển, mang tình em lên đảo
Ngày chia tay chỉ có sóng theo cùng
Sóng thương nhớ quặn lòng trong giông bão
Em trở về với đất mẹ thủy chung”
Tình yêu lứa đôi bất ngờ hòa cùng tình yêu đất nước Chàng trai nhắn nhủ cô gái nhớ tới biển khơi, cũng chính là nhớ tới tình yêu của mình: “Nơi mịt mù bão tố
Trang 29giữa đảo xa/ Em đừng quên phía ấy có Trường Sa/ Anh ra biển, mang tình em lên đảo/ Biển yêu thương vẫn sâu nặng thiết tha/ Ngay cả lúc biển cồn lên giông bão” Tình yêu với biển vì thế mà ngày một lớn dần Tình yêu đó khiến cho bao người thà
hy sinh thân mình, chứ nhất quyết không để biển, đảo quê hương rơi vào tay kẻ thù Cũng bởi lẽ, nhà thơ đã dành cả trái tim mình cho biển đảo quê hương, ông mới có thể viết lên những dòng thơ xuất phát tự đáy lòng, mới dám khẳng định thật đanh thép:
“Anh gắn bó đời anh cùng biển cả
Những tên làng, tên đảo hóa quê hương
Nơi thân thuộc từng dấu chân trên cát
Từng cánh chim xao động mỗi hoàng hôn”
Nguyễn Việt Chiến đã ghi lại niềm tự hào dân tộc, cảm nhận được nhịp đập chung trong trái tim Việt Nam và chuyển tải cảm xúc chân thành của mình tới công chúng Bi tráng, trầm hùng, thơ ca biển đảo hôm nay không còn là tiếng lòng riêng của cá nhân thi sĩ mà đã trở thành sự thổn thức chung của hàng triệu trái tim Việt Nam, trở thành thơ ca của lòng yêu nước”
Có thể nói, với Tổ quốc bên bờ biển cả, Nguyễn Việt Chiến đã tiếp nối mạch thơ Tổ quốc nhìn từ biển của anh trước đó, khẳng định chủ quyền biển đảo của đất
nước với niềm xúc động thật lớn lao và có thể coi đây gần như một bản tuyên ngôn của thi ca yêu nước với khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam
Cảm hứng về tình yêu quê hương đất nước trong thơ Nguyễn Việt Chiến còn
là ở những nỗi đau, niềm xót xa vô hạn của ông đối với những người lính đã ngã xuống, những đau thương mất mát mà chiến tranh đã gây ra:
“Đại bác nổ cuộc chiến tranh thứ nhất
Đất chiến hào cỏ chưa kịp nhú xanh
Thì lựu đạn và lưỡi lê cường tập
Lần thứ hai cỏ lại thấm máu mình”
(Về khổ đau và đại bác)
Trang 30Ông tiếc thương cho những chàng trai trẻ - những người lính đã bỏ cả tuổi thanh xuân, rời xa quê hương và cả những tình yêu đầu đời tươi đẹp nhất của mình
để bước vào trận chiến Trong trận chiến đầy hiểm nguy ấy, đã có biết bao chàng trai đã phải nằm lại nơi bom đạn, chiến trường… Quên làm sao được những tiếng lòng không khỏi thổn thức, không khỏi xót xa khi Nguyễn Việt Chiến nhắc đến những người lính – những người đồng đội Không thể không dừng lại để dành một khoảng lặng cho “ngẫm” và “nghĩ! Rơi nước mắt ở một số câu, một số khúc, nhức nhối, nghẹn lòng… sôi sục niềm xót xa và thức dậy lòng yêu nước:
“Họ sinh ra không phải để làm lính
Đứa con nào của mẹ cũng vậy thôi
Bởi sữa mẹ nghìn năm không giọt đắng
Và hoà bình là vú mẹ bên nôi”
(Về khổ đau và đại bác)
Để tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở biên giới năm 1979, Nguyễn Việt
Chiến cũng từng dành những lời thơ tri ân tha thiết đến họ trong bài thơ Tổ quốc nơi
biên thùy:
“Mùa này biên giới hoa sim
Tím quanh mộ chí im lìm các anh
Bao người lính trận vô danh
Hiến dâng đất nước tuổi xanh của mình”
Để bảo vệ nơi vùng biên với bao nỗi vất vả trong cuộc sống đời thường lẫn khi thực hiện nhiệm vụ, những người chiến sĩ biên phòng đôi khi phải đánh đổi cả tuổi thanh xuân lẫn hạnh phúc cá nhân của mình
Tổ quốc nơi biên thùy không chỉ là Tổ quốc của những người đang sống mà
của các liệt sĩ, những người anh hùng đã hiến máu xương mình cho mỗi tấc đất quê hương Các anh sống mãi với non sông, đất nước Các anh sống mãi trong lòng Mẹ
Tổ Quốc Việt Nam Để rồi thế hệ mai sau khi nhìn lại, họ không chỉ biết ơn các anh, tri ân các anh mà còn phải nghiêng mình kính cẩn: “Lặng thinh không thể lặng thinh/ Trước bao xương máu hy sinh giống nòi/ Quên ư! Không lẽ quên rồi?/
Trang 31Đường lên biên giới một trời hoa sim/ Màu hoa chẳng chịu lặng im/ Lẫn vào sỏi đá
thắp nghìn nén hương” (Tổ quốc nơi biên thùy)
Cảm hứng về tình yêu quê hương, đất nước ấy cũng chính là kết tinh cho niềm hy vọng, niềm mơ ước về một tương lai phía trước, tươi sáng hơn, bình yên hơn và quan trọng hơn, những người lính – họ được trở về bên mẹ, bên gia đình và bên quê hương nơi “chôn nhau cắt rốn”:
“Con sẽ gọi: Mẹ ơi! Mẹ hãy tin
Rằng ngày ấy chúng con về trở lại
Dẫu đồng làng hiếm hoi từng vụ trái
Đất cày lên chỉ thấy sỏi và bùn
Đất cày lên bao mùa vụ nhọc nhằn
Nhưng con sẽ trở về bên mẹ”
(Ta như cỏ trên ngực trần đất nước)
Cái không khí nhuốm đầy niềm hy vọng, ngậm ngùi, nỗi thương nhà, thương thân trong cảnh nghèo kém xác xơ hòa lẫn với lòng thương quê, thương nước trong cơn binh đao khói lửa có một sức lay động lòng người khó tả Chiến tranh đã lùi xa hàng chục năm, tức là cho tới tận giờ này, cảnh tình và tâm thế của một người lính thời nhục nhằn tao loạn ấy dường như vẫn còn thao thức ở đâu đấy trong tâm hồn của thế hệ chúng tôi Niềm mong ước giản đơn của người lính năm xưa ấy tự như một vết thương sâu thẳm, qua sự thăng hoa của thời gian nay đã thành một vết sẹo
có sức liên tưởng và gợi nhớ không nguôi: “Máu của người nơi hồn tôi cuộn đỏ/ Sẽ một ngày vàng chín lúa đồng ta/Sẽ một ngày từ bùn đất nở ra/Loài chim ấy với lời
ca của chúng/ Và mọi người sẽ rời gươm buông súng/Quay trở về nhà mình/ Mùa
cầy vỡ đầu tiên” (Ta như cỏ trên ngực trần đất nước)
Tình yêu quê hương đất nước còn là nguồn cảm hứng vô tận để Nguyễn Việt Chiến viết lên những vần thơ vô cùng xúc động, tri ân tới những người lính đã ngã xuống, đã hy sinh vì biển đảo, vì nền hòa bình hôm nay của dân tộc:
“Các con đứng như tượng đài quyết tử
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra
Trang 32Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt
Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa”
Lời thơ vừa hào hùng nhưng cũng thật bi tráng biết bao! Tổ quốc mình đã bao lần rướm máu nhưng trong tận cùng của nỗi bi thương ấy, ngọn lửa quật khởi
của dân tộc chưa bao giờ lụi tắt Tổ quốc sinh ra cùng với tượng đài quyết tử
Nguyễn Việt Chiến đã dùng những từ ngữ chỉ huyết thống như “Mẹ - con – cháu – ông – cha” thậm chí là “máu”, để nhấn mạnh mối quan hệ với Tổ quốc, nhân dân sắt son như ruột thịt
Tiếp nối Tổ quốc nhìn từ biển, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã viết tiếp Thêm
một lần Tổ quốc được sinh ra tưởng nhớ các liệt sĩ hy sinh ở vùng biển Gạc Ma
năm 1988 Những vần thơ bi tráng đã tạc nên tượng đài của những người con đất Việt đã nằm xuống trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo: “Các con đứng như tượng đài quyết tử/Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”… Giây phút “quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh” của những người lính đảo được nhà thơ đặc tả như thước phim quay chậm, bằng những hình ảnh hết sức chân thực: “Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma/Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/Máu của anh thấm vào lòng biển thẳm/Để một
lần Tổ quốc được sinh ra” (Thêm một lần tổ quốc được sinh ra) Với mỗi người
Việt Nam, đó là một trang sử bi tráng không bao giờ quên Từ sự kiện cụ thể, nhà thơ đã gợi nhắc đến lịch sử của dân tộc Việt Nam - đất nước mà máu đã thấm vào từng thớ đất, từng trang sử đỏ:
“Có nơi nào như đất nước chúng ta
Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần Tổ quốc được sinh ra”
Đau thương đến vô cùng và tự hào cũng tột độ Những ngày này, khi Trung Quốc đặt giàn khoan HD-981 trên vùng đặc quyền kinh tế biển Việt Nam, nhiều người Việt đã chia sẻ cho nhau những bài hát, vần thơ về biển, đảo Bên cạnh những vần thơ của Nguyễn Việt Chiến còn là những vần thơ của Trần Đăng Khoa trong
bài thơ Đợi mưa trên đảo sinh tồn:
Trang 33“Ôi đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu
Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo
Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão
Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong đập trái tim người”…
hay những vần thơ chất chứa bao nỗi lòng tâm sự của nhà thơ Nguyễn Thế
Kỷ trong Thao thức trường sa: “Trường Sa ơi, ngày mai tàu cập bến/ Ta lại về phố
thị thân thương/ Vòng tay ấm, bữa cơm sum họp/ Và riêng, chung bao chuyện vui buồn/ Biển dẫu yên mà lòng ta lại động/ Lắng tin xa những cơn bão chập chờn/ Bỗng hiển hiện trang sử thời mở cõi/ Máu cha ông còn bầm đỏ hoàng hôn”
Những câu thơ tưởng như rất riêng tư đã mở ra cả một chân trời rộng mở, tình cảm gia đình được lồng vào tình yêu đất nước Nỗi nhớ hậu phương ở đất liền được chuyển thành quyết tâm giữ biển, đảo
Nhà thơ đã bày tỏ quyết tâm của người lính đảo, cũng là của người Việt, nhất
là khi kẻ thù luôn tìm mọi cách xâm phạm chủ quyền biển đảo của ta, bất chấp công ước quốc tế về luật biển và đạo lý con người, chính vì vậy bảo vệ chủ quyền biển đảo không chỉ là nhiệm vụ của các cán bộ, chiến sĩ mà còn của bao ngư dân anh dũng, kiên cường bám biển, giữ vững ngư trường Máu đỏ nhuộm nước biển xanh không chỉ một lần:
“Máu của họ ngân bài ca giữ nước
Để một lần Tổ quốc được sinh ra”
Sức mạnh tổng hòa của dân tộc cứ ngân mãi “bài ca giữ nước” tự ngàn đời, truyền lửa cho những thế hệ mai sau Để rồi mở ra một không gian tươi sáng đầy tinh thần lạc quan:
“Sớm mai này nắng ấm ở Trường Sa
Tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo
Tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”
Đấy không chỉ là niềm tin mà là kết quả tất yếu của sự hy sinh, phấn đấu của bao thế hệ”
Trang 34“Việt Nam ơi! dưới bão táp mưa sa
Người thắp sáng một niềm tin bền bỉ”
“Niềm tin” ấy thắp lửa trong mỗi trái tim người dân đất Việt Hình ảnh những cánh chim bay về từ biển tượng trưng cho anh linh của các liệt sỹ thật là gần gũi mà thiêng liêng, dù mất mát là sự thật, dù đau thương vô cùng to lớn Các anh bất tử trong vòng tay Mẹ Tổ quốc yêu thương… Phép đối lập “Vạn người con quyết tử” với “Một lần Tổ quốc được sinh ra” có sức lay động rất lớn đến lòng người Nó
để lại trong lòng người đọc bao suy nghĩ, day dứt, trăn trở về lương tâm và trách nhiệm, khiến người đọc phải suy ngẫm cái giá của những gì đã có hôm nay!
Không chỉ hôm qua, mà trong những ngày này, những vần thơ đầy xúc cảm
ấy về biển, đảo đã trở thành sợi dây kết nối lòng dân Việt Trường Sa - Hoàng Sa đã trở thành máu thịt của Tổ quốc Và mỗi người Việt luôn ý thức rằng: “Khi giặc đến vạn người con quyết tử/Cho một lần Tổ quốc được sinh ra”
Tổ quốc thật vĩ đại, vừa trừu tượng vừa rất hữu hình, có khi cao cả mênh mang có khi lại thiết thân như hạt lúa, củ khoai, như cây cỏ góc vườn, như hơi thở, giọt máu, Đặc biệt, trong những tình huống đối đầu với nguy cơ bị xâm phạm, tinh thần dân tộc, ý thức về tổ quốc lại trỗi dậy mạnh mẽ, vượt lên trên mọi giá trị khác để trở thành ý nguyện, tâm thức tối cao, bao quát của cả cộng đồng Ở đó, tổ quốc đã gọi tên, đã tập hợp và dẫn dắt con người Việt Nam đến những ứng xử phù hợp, đúng đắn với giá trị thiêng liêng “Gia đình”, “thân phận”, “diện mạo” sẽ ra sao nếu tổ quốc chẳng có ở trong lòng
Vâng, Tổ quốc đã là cội nguồn thiêng liêng, là sức mạnh lớn lao, là lý tưởng cao đẹp Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã nói hộ chúng ta niềm cảm xúc vô hạn đó khi ông đã chân thành tự bạch lòng mình: “Tổ quốc là tiếng mẹ/ Ru ta từ
trong nôi/Qua nhọc nhằn năm tháng/ Nuôi lớn ta thành người” (Tổ quốc là tiếng
mẹ)
2.1.2 Cảm hứng về tình yêu lứa đôi
Dù nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã gặt hái được những thành công nhất định
ở mảng đề tài thế sự viết về biển đảo và Tổ quốc, nhưng chắc chắn rằng ông cũng
Trang 35như tất cả các nhà thơ Việt đương đại không ai có thể cưỡng lại được những phút xao lòng trước cái đẹp của cảnh vật, con người và đất trời cũng như trước nỗi đau của lòng người trắc ẩn Điều ấy không chỉ là duyên cớ mà còn là nguồn cội của cảm hứng nghệ thuật để Nguyễn Việt Chiến viết nên những bài thơ tình chất chứa tình
người
“Em như rừng lạ đêm dài
Hoang vu môi mắt mệt nhoài hồn ta
Em như sông mật phù sa
Ngực ăm ắp thở thịt da mùa màng”
(Sông và rừng)
Có thể nói, Hoa hồng không vỡ là một tập thơ vô cùng đặc sắc về những bài
thơ tình chọn lọc của Nguyễn Việt Chiến Chính tập thơ này đã đưa tên tuổi ông đến gần hơn với những bạn đọc trẻ tuổi, bên cạnh đề tài tổ quốc đầy tính thời sự
Từ bao đời nay, hoa hồng trở thành biểu tượng cho tình yêu Mùi hương quyến rũ, dáng vẻ kiêu sa biến loài hoa này trở tạo ra sự đặc biệt nhất trong các loài hoa Hoa hồng được ví như nữ hoàng của các loài hoa, là loài hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới Từ rất lâu trong lịch sử, hình ảnh hoa hồng đã xuất hiện trong nhiều nên văn hóa, đặc biệt ở một số quốc gia,hoa hồng còn được xem như quốc hoa
Có lẽ vì đã nắm được những ý nghĩa riêng, sự thiêng liêng trong tình yêu từ hoa hồng, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đặt tên cho tập thơ tình nổi tiếng của mình là:
Hoa hồng không vỡ Chính nhà thơ cũng từng chia sẻ đầy cảm xúc: “Hoa hồng
không vỡ” đồng nghĩa với tình yêu luôn thao thức trong trái tim mỗi người Trong cuộc đời thi sĩ của tôi, mỗi người đẹp đi qua đều để lại một câu chuyện tình thú vị Tôi nâng niu những kỷ niệm về họ trong những bài thơ tình lặng lẽ ở phần sâu thẳm nhất của tâm hồn tôi Họ là bến đỗ bình an trong ký ức đầy sóng gió của cuộc đời tôi Họ là vầng trăng mê đắm đêm đêm sưởi ấm tôi bằng thứ ánh sáng mộng mỵ chỉ thấy được trong cõi Liêu trai Họ là sự cứu rỗi đã giúp tôi vượt thoát lên nỗi cô đơn
Trang 36ám ảnh trong chuỗi ngày buồn nản đã qua Họ là một phần quan trọng của tài sản tinh thần trong thi ca tôi…”
Để rồi từ đó, chúng ta như thấy được phần nào cảm hứng tình yêu trong tâm hồn Nguyễn Việt Chiến qua tập thơ tình có thể nói là hay nhất trong sự nghiệp văn chương ông Những gương mặt người lướt qua cuộc đời chàng thi sĩ, bao kỷ niệm, khát vọng mãnh liệt về tình yêu được người con tài hoa nơi xứ Đoài mây trắng bồng
bềnh khắc họa rõ nét qua tập thơ Hoa hồng không vỡ
Đặc biệt hơn nữa, tinh ý một chút, chúng ta có thể thấy con số 99 bài, tác giả khéo léo đưa vào tập thơ Không chỉ am hiểu về biểu tượng hoa hồng, nhà thơ còn thể hiện cảm hứng tình yêu mình thông qua con số 99 Biểu tượng số 99 lồng vào tập thơ mang tên loài hoa hồng như một sự nhắn nhủ về một thứ khát khao, tình yêu không bao giờ phai nhạt Nó vĩnh cửu như con số 99 đó Hơn nữa, con số này còn thể hiện những ký ức được gìn giữ 99 bông hồng dành cho những người thực sự mong mỏi tình yêu đến mức cháy bỏng
Một điều dễ dàng nhận ra, bài thơ Hoa hồng không vỡ trở thành linh hồn của
cả tập thơ này Bởi lẽ, bài thơ đó được nhà văn gửi gắm nhiều tâm tư nhất, mọi điều đẹp nhất trong tình yêu để nó trở thành cái tên gọi của cả một tập thơ
Hình ảnh người con gái trong tâm tưởng nhà thơ hiện lên mới đẹp làm sao
Vẻ đẹp đến ngôn từ cũng đành phải bất lực Cách nói về người phụ nữ như vậy phần nào chứng tỏ tác giả là một người khá duy mỹ trong cách phác họa lên nhân vật của mình Tuy rằng, hình ảnh hiện lên đó phảng phất những nỗi buồn khó tả Để rồi, ông đưa ra một câu hỏi tu từ: “Em có phải cội nguồn xưa nước mắt” Những điều đó tạo nên một nét chấm phá rất riêng đối với hình tượng người phụ nữ biểu trưng cho tình yêu trong ông
Cô gái đó lại được tác giả vẽ lên trong bài thơ mang màu sắc mùa thu Điều
đó chứng tỏ nhà thơ mang nặng một tâm hồn đầy hoài niệm Mùa thu được Nguyễn Việt Chiến chọn khác với nhiều nhà thơ khác Tuy có chút man mác buồn:
“Em là nắng cuối thu, chiều tóc hát
Giọt thu nào vàng ấm những môi say
Trang 37Có thành phố lung linh trong giọt cát
Màu nắng em chập choạng xé mưa ngày”
(Tình ca)
Đây là mùa thu đến từ những ký ức Đẹp một cách lạ lùng Cái nắng nhẹ cuối mát dịu Màu nắng được tác giả đưa vào để “chập choạng xé mưa ngày” Có một điều chúng ta chắc hẳn dễ dàng nhận thấy, nhiều nhà thơ viết những bản tình ca cho tình yêu thường chọn hình ảnh thu Mặc dù bên cạnh đó, thi ca cho tình yêu về mùa xuân, mùa hè, mùa đông rất nhiều nhưng mùa thu có lẽ là nhiều hơn cả, và chất chứa nhiều tâm trạng Có lẽ trong bốn mùa, thu là mùa gần với tâm hồn người nghệ
sĩ hơn cả, nó tác động mạnh tới xúc cảm thẩm mỹ của người nghệ sĩ Mỗi cơn gió lành lạnh của mùa thu hoang hoải thổi khiến con người ta gần nhau hơn, dễ cảm nhau hơn, quyến luyến nhau hơn…
Thu cũng là mùa khiến tình yêu mong manh hơn, bởi cảnh sinh tình, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ nên thơ thu thường mang một nỗi buồn mênh mang:
“Thu héo nấc thành những tiếng khô/ Một vì sao lạ mọc phương mô?/ Người thơ
chưa thấy ra đời nhỉ?/ Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?” (Cuối thu- Hàn Mặc Tử)
Hay có chăng chút vui tươi cũng chỉ như những đốm nắng vàng ruộm cuối thu lao xao bên thềm trong cơn gió lạnh đầu đông chực ùa đến Để thi sĩ chợt thốt lên:
“Chao ôi! Thu đã tới rồi sao?/ Thu trước vừa qua mới độ nào!/ Mới độ nào đây, hoa rạn vỡ/ Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao/…/ Thu đến đây! Chừ, mới nói răng?/ Chừ đây, buồn giận biết bao ngăn?/ Tìm cho những cánh hoa đang rụng/ Tôi kiếm
trong hoa chút sắc tàn!…” (Thu của Chế Lan Viên)
Hoặc nếu như Xuân Diệu chọn hình ảnh “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”
để gọi mùa thu về thì Lưu Trọng Lư vẽ lên bức tranh từ tiếng lòng bằng sự chuyển đổi âm thanh: “Em không nghe mùa thu/ Lá thu rơi xào xạc/ Con nai vàng ngơ
ngác/ Đạp trên lá vàng rơi” (Tiếng thu)
Không chỉ có mùa thu, Nguyễn Việt Chiến còn đưa hình ảnh trăng, gió, biển để nói
về thứ cảm hứng với người con gái trong tâm tưởng này
“Em mọc dậy - vầng trăng đêm ngực thở
Trang 38Gió phập phồng mây áo xõa tung ra
Biển trắng đập gối trăng lên cát vỡ
Sóng chập chờn môi ấm những bờ xa”
(Tình ca)
Có thể thấy rằng, đây trở thành những hình ảnh hết sức đặc trưng trong thơ tình Việt Nam Điều đó được đưa vào bởi sức tạo hình của nó rất lớn Mọi thứ dường như được Nguyễn Việt Chiến đưa vào trong thơ một cách hết sức lô gic Ngọn sóng biểu trưng cho khát vọng vô bờ trong tình yêu Có thể thấy rõ một điều,
trong bài thơ Hoa hồng không vỡ, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã gửi hết vào đó
những gì mãnh liệt, rung cảm nhất
Tuy nhiên, một bài thơ khác đặc trưng cho tập thơ này phải kể đến bài thơ
Mưa tháng Giêng Mưa tháng Giêng được nhà thơ Nguyễn Việt Chiến sáng tác vào
đầu năm 1992, trong tiết mưa xuân đặc trưng của vùng Bắc bộ Bài thơ mỏng mảnh, buồn buồn và chầm chậm như tiếng chuông chùa rơi đều đều trong hơi xuân đặc trưng của miền Bắc
Năm 1994, nhạc sĩ Việt Hùng đọc được bài thơ Mưa tháng Giêng trên báo Văn nghệ, thấy hay nên đã phổ nhạc thành bài hát Mưa tháng Giêng Đến năm
1996, ca sĩ Mỹ Hạnh là người đầu tiên trình bày ca khúc này
Có lẽ, không có miền nào ở Việt Nam lại có cái tiết mưa xuân trong tháng giêng đặc trưng như không gian của Bắc Bộ Đó là một bức tranh mưa xuân mỏng manh đầy sương khói, nhưng cũng lồng ghép hơi thở của thiền định, xuyên qua những xúc cảm chân thành của nhà thơ trước thiên nhiên vạn vật, bằng ngôn ngữ văn học miêu tả chắt lọc:
“Tháng giêng mưa dưới bến
Mỏng mai cô lái đò
Mắt mưa em lúng liếng
Trói tôi bằng vu vơ ”
Với ngôn từ tinh tế, chọn lọc, cứ bảng lảng một không gian huyền hoặc, ngọt ngào, bài thơ mang cái ngọt lạnh của ngày đông tháng giá thấm vào da thịt, thẳm
Trang 39vào tâm can con người Miêu tà cảnh vật từ xa đến gần, cuối cùng đọng lại ở hình ảnh con người - “em”, Nguyễn Việt Chiến xóa bớt đi cái lạnh giá của không gian, đem hơi ấm tình người lại cho thơ Cảnh ấy, người ấy gợi lên trong lòng thi nhân một tình yêu nhẹ nhàng, dịu ngọt
Nguyễn Việt Chiến không dùng một từ “yêu” nào, nhưng lại làm cho người đọc thấy yêu biết bao cảnh, người của đất nước mình Để cuối cùng, nhà thơ nói rằng “Thơ mình - sương khói thôi” – đây là một thông điệp mà thi nhân gửi tới người đọc: Dù có làm gì, thì so với cuộc sống, sự đóng góp của mỗi người rất nhỏ
bé, cũng chỉ là sự điểm tô cho cuộc sống như là “sương khói thôi” Và như vậy, đủ thấy trách nhiệm của Nguyễn Việt Chiến đối với cuộc đời này lớn lao biết nhường nào Chính vì hòa được niềm riêng của cá nhân vào vận chung của đất nước, cho dù cuộc đời vần xoay thế nào, cái khăng khăng đeo bám vào cuộc đời nhà thơ là tình yêu Tổ quốc, là trách nhiệm cao với cuộc sống
Mưa tháng Giêng đặc sắc ở chỗ ngoài chất thơ ra còn giàu tính nhạc Nhạc sĩ
Việt Hùng đã đưa gần như nguyên vẹn bài thơ vào nhạc, chỉ bỏ đoạn cuối gồm 4 câu Để thoát khỏi tác giả thơ, Việt Hùng đã khôn khéo dựa vào âm hưởng của dân
ca Trung bộ tạo nên giai điệu cho một ca khúc có lời thơ nói về không gian Bắc bộ
Sự “lệch pha” này khiến cho nhạc sĩ có khẳ năng “dẫn dắt” câu từ của thơ đi theo hướng phát triển của âm nhạc chứ không bị chạy theo thơ Tuy vậy, thơ và nhạc vẫn
có sự tương đồng, bởi dân ca miền Trung cũng có cái man mác, nhẹ nhàng, buồn
thoảng, hợp với giọng điệu thơ trong Mưa tháng giêng
Ngoài ra, Nguyễn Việt Chiến còn đưa tư tưởng con người trở thành cát bụi
trong tình yêu thông qua bài thơ Cát đợi Trong Kinh thánh, con người là cát bụi trước sự huyền diệu vô cùng vô tận của Thượng đế Trong bài Cát đợi, cũng tư
tưởng chủ đề: Cát bụi nhưng đời hơn và do đó cao cả hơn: Con người là cát bụi
trong đêm của tình yêu Như vậy, với bài Cát đợi của Nguyễn Việt Chiến, không
nhất thiết phải có sự rùng mình trước Thượng đế, con người mới cảm thấy thân phận cát bụi của mình Còn gì đau và cô đơn hơn thế, đến mức chỉ có cát là có thể
Trang 40hiểu được nỗi niềm của nhà thơ: “Cô đơn xuống một đò đầy/Tôi chờ em phía bên này mùa đông/Cát còn bay trắng bến sông/Người còn đi trắng mùa mong ước này”
Tứ thơ này chưa từng có trong thơ ca thế giới Sự trở đi trở lại của những mô – típ của chiều và đêm, đò và trăng, cát và tôi…, sự đồng nhất giữa tôi và cát (“Tôi hoang vu, cát hoang vu”), giữa cát và thơ (“Câu thơ như cát mỗi chiều”), giữa thơ
và tôi (“Tôi cầm cả chính tôi lên/ Câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu”), giữa tôi
và em (“Đêm không còn ấm như ngày có em”)…sự giao hoà giữa những mô- típ này đã tạo ra cho cấu trúc bài thơ một sự thống nhất hữu cơ tuyệt vời, hiếm thấy trong thơ Việt
Khác với những bài thơ khác, hình ảnh trăng, sóng nhằm thể hiện cảm hứng tình yêu của Nguyễn Việt Chiến trong bài thơ này hoàn toàn có sự khác lạ đáng kể Một không gian, màu sắc ảm đạm hơn hẳn
Hình ảnh trăng còn xuất hiện thêm một lần khác nhưng mang tính biểu trưng
mới lạ trong bài Tiếng trăng Trong tận cùng của cảm giác cô đơn, của cái ý nghĩ
bắt buộc phải chia tay nhói lên, nhà thơ nghe thấy ảo ảnh của một tiếng động: Tiếng rơi, tiếng bàn chân, tiếng trăng, tiếng lá vỡ…Cái không gian hư ảo của cuộc chia ly xuất hiện với nhịp chậm, buồn, rời rạc ở đầu bài thơ cứ vỡ ra dần, theo hai mảnh, mỗi người ôm một khối tâm tư… Để rồi không gian ấy vỡ òa ra ở cuối: “Tiếng trăng như lá vỡ nghe thật buồn” Đó chính là cấu tứ của bài thơ Sự chuyển vận của tâm trạng hai nhân vật trữ tình anh và em cứ âm thầm, với những hành động rời rạc,
cơ hồ như vô nghĩa:
“Quờ tay gặp cỏ dưới chân
Em ngồi bứt hết hoàng hôn của chiều
Thở dài gặp ánh trăng gieo
Anh buồn đếm được bao nhiêu sao rồi”
Có hai người trong một không gian, không gian ấy từ “Hoàng hôn của chiều” mau chóng ngả về đêm với “ánh trăng gieo” với “bao nhiêu sao” của bầu trời Họ đã ngồi dường như lâu lắm, nhưng chẳng ai chú ý tới không gian, mỗi người đuổi theo một khung trời riêng và hành động của họ chỉ là cái cớ để che núp