1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quán ngữ tình thái trong tác phẩm của ba nhà văn thạch lam, vũ bằng, tô hoài

143 329 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tồn tại của các QNTT với ý nghĩa, vai trò của chúng trong cơ chế giao tiếp liên nhân đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, khảo sát đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa – chức năng của loại đơn vị

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2016

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ NHUNG

QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM

CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trịnh Cẩm Lan

Hà Nội - 2016

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận văn

Phạm Thị Nhung

Trang 4

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Bảng 1.1 Bảng phân loại ngữ cố định theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp 15

Bảng 2.1 Bảng phân loại QNTT dựa vào số lƣợng thành tố cấu tạo 34

Bảng 2.2 Bảng phân loại QNTT dựa vào tổ chức cú pháp 37

Bảng 2.3 Bảng phân loại QNTT dựa vào vị trí phân bố của QNTT trong cấu trúc câu 44

Bảng 3.1 Bảng phân loại QNTT theo đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng 51

Bảng 3.2 Bảng số liệu thống kê, phân loại các QNTT đƣa đẩy 52

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp một số QNTT đƣa đẩy đa giá trị 73

Bảng 3.4 Bảng số liệu thống kê, phân loại các QNTT rào đón 74

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp một số QNTT rào đón đa giá trị 87

Trang 5

v

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài……….4

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Vấn đề tình thái 8

1.1.1 Khái niệm tình thái………6

1.1.1.1 Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học………… 6

1.1.1.2 Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học…… ……… 8

1.2 Quán ngữ tình thái tiếng Việt 12

1.2.1 Vài nét về quán ngữ tiếng Việt………12

1.2.2 Khái niệm quán ngữ tình thái tiếng Việt 18

1.2.3 Một số đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Việt 19

1.2.3.1 Đặc điểm về hình thức 20

1.2.3.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa – chức năng 23

1.3 Tiểu kết Chương 1 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI 33

2.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo quán ngữ tình thái 33

2.1.1 Kết quả thống kê, phân loại 33

2.1.2 Phân tích kết quả 34

2.1.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 2 thành tố (từ) 34

2.1.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạp gồm 3 thành tố (từ) 35

2.1.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 4 thành tố (từ) 36

Trang 6

vi

2.1.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 5 thành tố (từ) 36

2.2 Đặc điểm về tổ chức cú pháp của quán ngữ tính thái 37

2.2.1 Kết quả thống kê, phân loại 37

2.2.2 Phân tích kết quả 38

2.2.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo là một cụm chính phụ 38

2.2.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có hình thức kết cấu khuôn 42

2.2.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái có hình thức kết cấu cụm chủ - vị …… 42

2.3 Đặc điểm về vị trí phân bố của quán ngữ tính thái trong cấu trúc câu 44

2.3.1 Kết quả thống kê, phân loại 44

2.3.2 Phân tích kết quả 44

2.3.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái đứng đầu phát ngôn 45

2.3.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có vị trí cố định ở cuối phát ngôn 46

2.3.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái đứng sau chủ ngữ, trước vị ngữ 47

2.3.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái có vị trí xen kẽ 48

2.4 Tiểu kết Chương 2 50

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA – CHỨC NĂNG CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI 51

3.1 Đặc điểm của các quán ngữ tình thái đưa đẩy trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài 52

3.1.1 Kết quả khảo sát, phân loại 52

3.1.2 Phân tích kết quả 53

3.1.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để đánh giá 53

3.1.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phỏng đoán – giả định 55

3.1.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phủ định - phản bác 61

3.1.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để hỏi 64

3.1.2.5 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để tỏ thái độ thừa nhận – chấp thuận 65

3.1.2.6 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để cảnh báo – nhắc nhở 70

Trang 7

vii

3.1.2.7 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để khơi mào 71

3.2 Đặc điểm của các quán ngữ tình thái rào đón trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài 74

3.2.1 Kết quả khảo sát, phân loại 74

3.2.2 Phân tích kết quả 75

3.2.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về lượng 75

3.2.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về chất 77

3.2.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm quan hệ 81

3.2.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm cách thức 82

3.2.2.5 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến điều kiện và hiệu quả sử dụng hành động ở lời 83

3.2.2.6 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón lịch sự 84

3.3 Tiểu kết Chương 3 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC………95

Trang 8

và trong hoạt động ngôn ngữ, giới nghiên cứu Việt ngữ học quan tâm nhiều đến vấn đề tính tình thái trong ngôn ngữ Đó cũng là lẽ tất yếu bởi không có một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ đánh giá… của người nói đối với điều được nói ra xét trong mối quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp

Như đã biết, một trong những mục đích chính của giao tiếp là trao đổi thông tin Độ phức tạp trong việc xử lí thông tin và hiệu ứng mà phát ngôn tác động đến người nghe đòi hỏi người nói có những thao tác xử lí nhất định về mặt ngôn ngữ Việc sử dụng ngữ điệu hay các phương tiện từ vựng không giống nhau giúp người nói thể hiện các thái độ khác nhau đối với nội dung phát ngôn Các thông tin liên nhân được truyền đạt bên cạnh những thông tin ngôn liệu được gọi là thông tin tình thái nhận thức

Đặc trưng chung nhất của tình thái là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin trong câu với hiện thực và những quan điểm, thái độ của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét trong mối

Trang 9

2

quan hệ với người tiếp nhận, với hoàn cảnh giao tiếp Đặc trưng này được thể hiện qua nhiều cách định nghĩa tình thái khác nhau, tuy rằng ở mỗi tác giả có cách thể hiện khái quát hay cụ thể, tường minh hay hàm ẩn

Quan điểm của Benveniste (1966) xem tình thái là “một phạm trù rộng lớn, nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, những kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, v v.” W Frawley (1992) quan niệm tình thái

là “liên quan đến các thông tin về trạng thái của sự kiện, phản ánh quan hệ về tính hiện thực, sự đánh giá và độ tin cậy của nội dung một biểu thức” [17, tr

84 – 85]

J Lyons (1977) xem “tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”

Theo F Palmer (1986) cho rằng “tình thái là những thông tin ngữ nghĩa

có liên quan đến thái độ hay sự đánh giá của người nói về những gì được nói ra”, sau đó ông viết thêm “tình thái đạo lý lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động do một người nào đó hay do chính người nói thực hiện”

Trong Việt ngữ, vấn đề tình thái cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Tuệ, Phạm Hùng Việt, v v

Chẳng hạn, Hoàng Tuệ đã nhận xét “tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo

ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ” [24, tr 136]

Cao Xuân Hạo cho rằng tình thái của câu được biểu thị trong cấu trúc

cú pháp cơ bản (mà tác giả gọi là cấu trúc Đề – Thuyết)

Trang 10

3

Như vậy, trong bức tranh nghiên cứu về vấn đề tình thái trong ngôn ngữ thì còn có nhiều nét tương đồng và dị biệt giữa các tác giả

Trong số những đơn vị từ vựng biểu đạt thông tin tình thái nhận thức,

có một loại ngữ cố định chuyên biểu thị ý nghĩa tình thái, thường được gọi là quán ngữ tình thái (QNTT) Loại đơn vị này có những nét đặc thù về cấu tạo, chức năng và ngữ nghĩa Sự tồn tại của các QNTT với ý nghĩa, vai trò của chúng trong cơ chế giao tiếp liên nhân đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, khảo sát đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa – chức năng của loại đơn vị này trong ngữ

cảnh giao tiếp cụ thể với đề tài: Quán ngữ tình thái trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra những đặc điểm cơ bản về hình thức và ngữ nghĩa – chức năng của QNTT được sử dụng trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài Từ đó, góp phần thấy được nét đặc trưng trong phong cách giao tiếp, nói năng của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa một số vấn đề về lý thuyết giao tiếp, về tính tình thái trong ngôn ngữ và QNTT với những vấn đề liên quan đến ngữ nghĩa, ngữ dụng của chúng trong ngôn ngữ trong giao tiếp

- Thu thập tư liệu là các QNTT và ngữ cảnh sử dụng chúng trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trang 11

4

- Phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa – chức năng của các QNTT đã thu thập được nhằm chỉ ra một số đặc trưng của chung trong ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm

3 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lí luận: luận văn giúp khái quát được những đặc điểm về ngữ

pháp, ngữ nghĩa – chức năng của QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài Thông qua đó, chúng tôi hi vọng kết quả của luận văn có thể làm phong phú thêm những nghiên cứu về phong cách sáng tác của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Về mặt thực tiễn: quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể về QNTT

trong luận văn giúp cho người người Việt giao tiếp với nhau lịch sự và đạt được hiệu quả cao hơn

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các QNTT được sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Thủ pháp thống kê, phân loại: để khảo sát, thống kê, phân loại các QNTT trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

- Phương pháp phân tích và mô tả ngôn ngữ học: là phương pháp chủ

đạo được sử dụng trong luận văn để phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa chức năng của các QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn được

lựa chọn

Trang 12

5

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn dự kiến chia làm 3 chương sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Trong chương này, dựa trên việc tiếp thu và chọn lọc từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, luận văn đưa ra cách hiểu về khái niệm tình thái, vấn đề quán ngữ và quán ngữ tình thái Đồng thời khái lược lại những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa chức năng của QNTT Từ đó có sự phân loại khái quát nhất về QNTT

Chương 2 Đặc điểm hình thức của quán ngữ tình thái trong tác phẩm

của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Dựa trên những ngữ liệu cụ thể, Chương 2 triển khai khảo sát thống kê, phân loại các QNTT rồi dùng phương pháp mô tả, phân tích ngôn ngữ học để chỉ ra những đặc điểm về hình thức của QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng của quán ngữ tình thái

trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trong chương này, luận văn khảo sát, thống kê, phân tích tác dụng, chức năng trong sự hoạt động của QNTT Từ đó rút ra những kết luận khách quan về đặc trưng sử dụng ngôn ngữ và phong cách khi giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trang 13

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Vấn đề tình thái

1.1.1 Khái niệm tình thái

1.1.1.1 Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học

Tình thái (modality), một vấn đề rất rộng và phức tạp, đã được logic học, ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Logic học đi đầu trong nghiên cứu tình thái Ngay từ thời cổ đại, Aristote đã bàn về mệnh đề tình thái, khi đó tình thái gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế Khi đưa tình thái vào câu nói, với tư cách là thành tố định tính cho mệnh đề, các nhà logic học dựa theo các tiêu chí về tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực để phân loại phán đoán Lúc này, tình thái chỉ được nghiên cứu ở phương diện logic học

Đến 1932, việc đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ mới được thể hiện rõ Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique française, Ch Bally đã chủ trương phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của người nói đối với nội dung ấy Trong đó, Ch Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus hoặc modalité để chỉ thái

độ của người nói, tức tình thái [24, tr 734] Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học

V V Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào số những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” và tác giả xem tình thái như phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu hiện những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực” Nội dung thông báo,

có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong

Trang 14

7

quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó Còn theo cách định nghĩa của O B Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu Đối lập với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp (2008) [17, tr 84]) Trong khi đó, tác giả V N Bondarenko thì cho rằng, “tính tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan

hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ

ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)” Một quan điểm rất gần với V N Bondarenko là M V Liapon, tác giả xem “tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo” [24, tr 31]

Ngoài ra, M A K Halliday (1994) cũng có nhiều ý kiến bàn về tính tình thái Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù thức (mood), một mặt lại đặt ra yêu cầu về việc cần phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ Với phạm trù trợ động từ (auxiliaries), tác giả hy vọng sẽ giải thích được những gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tính thì chưa giải quyết trọn vẹn Thành phần thức gồm hai tiểu thành phần: (i) chủ ngữ (subject) là một cụm danh từ, (ii) tác tử hữu định (finite) là một phần của cụm động từ Thành phần hữu định là một trong số ít những tác tử động từ biểu đạt thì (tense) (ví dụ: is, has) hay tình thái (ví dụ: can, must) [13, tr 156]

Đáng chú ý, J R Searle đã dùng lý thuyết hành động ngôn từ để thảo luận những vấn đề về thức và tình thái J R Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động ở lời như sau: xác quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố và biểu lộ Cách tiếp cận vấn đề của J R Searle đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rộng lớn cho việc thảo luận tình thái Bởi với cách tiếp cận này, vai trò của người nói (với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân) được đặc biệt nhấn mạnh

Trang 15

Và ông xem tình thái là “thái độ của người nói đối với nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”

Những quan niệm về tình thái nêu trên đã cho thấy cách giải quyết ý nghĩa của tính tình thái có nhiều điểm khác nhau giữa các tác giả

1.1.1.2 Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học

Hiện nay, trong Việt ngữ học, vấn đề tình thái đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện về tình thái Tình hình này có lẽ vì những nguyên nhân sau:

- Trong một thời gian rất dài, tình thái được xem thuộc lĩnh vực lời nói (parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của F D Saussure Vì tuân thủ sự phân biệt giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không

đề cập tới nó [24, tr 729]

- Cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học còn chưa thống nhất, thậm chí có sự hiểu lầm Cao Xuân Hạo có nhận xét xác đáng như sau: “Hai chữ tình thái nếu có được quan tâm lại thường đi đôi với những định kiến sai lạc Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái tức là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói trong khi phát ngôn” [6, tr 66]

Trang 16

9

Khảo cứu tài liệu, chúng tôi thấy có hai nhóm tác giả đề cập đến vấn đề tình thái, nhóm không trực tiếp quan tâm đến tình thái và nhóm trực tiếp quan tâm đến tình thái Tình hình nghiên cứu lớp này cụ thể như sau:

- Nhóm không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái:

Đây là nhóm các tác giả không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái nhưng trong quá trình xử lý những vấn đề khác họ đã nhắc đến tình thái Tiêu biểu cho nhóm này là các tác giả: Bùi Đức Tịnh (1952), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1968), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1978), Lê Cận, Phan Thiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Hoàng Phê (1987), Đỗ Hữu Châu (1993), Lê Biên (1995), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), v v Điểm chung của các nghiên cứu liên quan đến vấn đề tình thái trong nhóm này thể hiện qua các nội dung sau:

+ Vấn đề tình thái không được chính thức nhắc đến trong các nội dung ngữ pháp, ngữ nghĩa của các công trình nghiên cứu Các tác giả không đề cập đến sự đối lập giữa phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái mà chỉ sắp xếp từ tiếng Việt vào hai lớp từ loại lớn là thực từ và hư từ

+ Khi được xếp vào lớp thực từ hoặc hư từ, những yếu tố tình thái nào được các tác giả này xem là có nghĩa từ vựng thì xếp vào lớp thực từ (như: nỡ, toan, định…), còn những yếu tố còn lại (không có nghĩa từ vựng) thì xếp vào lớp hư từ (như: hả, à, ư, nhỉ…) chứ hoàn toàn không nói đến tư cách tác tử, có vai trò thể hiện

ý nghĩa tình thái trong câu

- Nhóm trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái:

Các tác giả này có chú ý khảo sát vấn đề tình thái ở nhiều phương diện khác nhau, tiêu biểu là các tác giả: Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ (1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1994, 1996, 2003), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2008), v v Quan

Trang 17

10

điểm chung của các tác giả này đều phân biệt rạch ròi hai phạm trù: ngôn liệu và tình thái Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, ở mỗi tác giả có những kiến giải khác nhau, nhiều khi chưa sáng tỏ Dù rằng có những hạn chế nhất định, nhưng những kết quả của những công trình này mang lại là rất lớn, giúp giới Việt ngữ học

có thái độ quan tâm đến vấn đề tình thái Trong đó, đáng chú ý nhất là các tác giả sau đây:

+ Nguyễn Đức Dân (1976) đã bàn đến vấn đề logic – tình thái trong tiếng Việt Sau này (1998) ông đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong logic học Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó tính tất yếu và tính có thể được coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ

+ Từ năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài đi sâu miêu tả, phân tích những phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của một số vị từ tình thái Ông còn phân biệt rõ tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Từ đó, ông cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)” [16, tr 51]

+ Hoàng Tuệ (1988) cho người đọc thấy được những nét khái quát về tình thái khi bàn về thời, thể, tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái Trong đó, ông có phân biệt rõ hai yếu tố khác nhau trong câu tiếng Việt đó là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus)

+ Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của người nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực

tế ngoài ngôn ngữ Nội dung câu nói có thể được khẳng định, được phủ định, được yêu cầu hay bị cấm đoán, được cầu mong hay đề nghị, v v

+ Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy sự đối lập giữa phạm trù tình thái và phạm trù ngôn liệu Tác giả viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề Đây là một sự đối lập được thừa

Trang 18

11

nhận rộng rãi, được coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái là phần định tính cho thông tin miêu tả ấy” [17, tr 85 - 86]

Điểm qua một số quan điểm về tình thái của một số tác giả tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy rằng càng tìm hiểu chi tiết về tình thái thì càng thấy rõ tính phức tạp, gắn với những quan niệm, cách hiểu khác nhau Mặc dù, cách diễn đạt của các tác giả là khác nhau nhưng ở họ đều có điểm chung: thừa nhận tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu

Chắt lọc, khái quát từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi hiểu về tình thái

như sau: Tình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói

đối với nội dung giao tiếp, với người đối thoại hoặc giữa nội dung giao tiếp với mục đích giao tiếp, với các nhân tố khác có liên quan đến sự tình được nêu ra Nó là một trong hai thành phần trọng yếu tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hoá câu, gắn câu với điều kiện giao tiếp hiện thực

1.1.2 Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ

Cùng với sự phong phú của các ý nghĩa tình thái, các phương tiện biểu hiện tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên rất đa dạng Xét về đại thể, có thể chia làm ba

nhóm cơ bản: các phương tiện ngôn điệu, các phương tiện ngữ pháp và các phương

tiện từ vựng Ở những ngôn ngữ có biến đổi hình thái, thức và các hình thái khác

của động từ (như thời, thể) đóng một vai trò quan trọng trong việc biểu hiện tình thái Dĩ nhiên, những ngôn ngữ này cũng huy động các phương tiện khác như ngữ điệu, các phương tiện từ vựng, hoặc phối hợp đồng thời nhiều kiểu phương tiện đó

Trong tiếng Việt, một ngôn ngữ không biến đổi hình thái, ngoài ngữ âm (dùng ngữ điệu để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để nhấn mạnh vào điểm mà người nói cho là cần chú ý) thì các phương tiện từ vựng đóng một vai trò rất quan trọng,

có thể kể ra các nhóm chính:

Trang 19

12

- Các phó từ làm thành phần phụ của vị từ: sẽ, đang, từng, vừa, mới,…

- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, muốn, cố,

đành, được, bị,…

- Các động từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: Tôi e

rằng, tôi nghĩ rằng, tôi sợ rằng,

- Các động từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về

ngôi, về chỉ tố thời,…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…

- Các thán từ: ôi, chao ôi, ồ, eo ôi,…

- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi,

chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…

- Các trợ từ tình thái: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, mới,

đã, chỉ,…

- Các kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì…, giá…thì…, cứ….thì…

Đặc biệt trong đó cũng có các tổ hợp từ kiểu như: nói gì thì nói, nói của đáng

tội, nói khí không phải, nói bỏ ngoài tai,… mà ta thường thấy xuất hiện trong giao

tiếp Đó là những tổ hợp từ, những lối nói đã tạo thành những đơn vị, khối hay khuôn cấu trúc tướng đối ổn định được người nói dùng như một công cụ chức năng của những tác tử tình thái tác động vào nội dung mệnh đề theo một kiểu nào đó Và

chúng tôi tạm gọi những tổ hợp từ trên là quán ngữ tình thái (QNTT) – đối tượng

nghiên cứu của luận văn trên ngữ liệu là ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

1.2 Quán ngữ tình thái tiếng Việt

1.2.1 Vài nét về quán ngữ tiếng Việt

Quán ngữ (QN) là đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm trước hết của các nhà nghiên cứu từ vựng Chính vì thế mà đơn vị này thường được thấy trong công trình nghiên cứu về từ vựng hơn là trong các sách ngữ pháp Bản thân thuật

Trang 20

13

ngữ “QN” được hiểu theo kiểu chiết tự thì “quán” là thói quen Lý do là lớp từ này được sử dụng theo “phản xạ” bản ngữ Với đặc tính “dùng lâu thành quen”, một số

người cũng gọi chung thành ngữ (TN) là QN Trong tác phẩm Ý nghĩa và cấu trúc

ngôn ngữ dịch từ tiếng Nga, nguyên tác tiếng Anh là Meaning and the Structure of language của tác giả người Mỹ Wallace L Chafe, Nguyễn Lai đã dùng từ “QN hoá”

thay cho “TN hoá” ở chương 5 khi dịch thuật ngữ idiomaticization [22]

Nguyễn Văn Tu với công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt [21] đã dành vài trang để nói về khái niệm QN Theo quan niệm của tác giả, QN cũng có tính ổn định vì các thành tố gắn bó với nhau thông qua quá trình “quen dùng” và đưa ra các

ví dụ minh hoạ cho quan điểm của mình: bạn nối khố, anh hùng rơm, gót sắt, kỷ

luật sắt, mua việc, Như vậy, đối với Nguyễn Văn Tu, QN là một kiểu ngữ cố định

mà các tác giả khác gọi là ngữ cố định định danh (theo Vũ Đức Nghiệu)

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa QN là: “Tổ hợp từ cố

định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ các nghĩa của các yếu tố hợp

thành” Từ điển này đưa ra các ví dụ là “lên lớp”, “lên mặt”, “lên tiếng”

Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá thuộc Bộ Giáo dục

và Đào tạo, định nghĩa QN là: “Tổ hợp từ cố định quen dùng mà nghĩa có thể suy ra

từ nghĩa của những yếu tố cấu thành” [23, tr 1364] Tuy nhiên từ điển này không cho ví dụ minh hoạ

Trong sự so sánh với TN, từ định nghĩa của hai từ điển và một số nhà nghiên cứu, chúng tôi có thể rút ra được một kết luận rất có ích cho việc phân biệt QN với

TN, đó là: QN, đứng về mặt từ vựng học, không có nghĩa bóng

Cho đến bây giờ, những định nghĩa mà chúng tôi tìm hiểu được đa phần tập trung ở địa hạt này Đỗ Hữu Châu phát biểu: “Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện

Trang 21

(Gần gũi với cụm từ tự do)

Theo lược đồ, QN là đơn vị phân biệt với TN và qua định nghĩa của tác giả, phân biệt ở đây không chỉ là hình thức của QN mang tính chất của cụm từ tự do cao

mà còn về mặt nghĩa học Trong khi TN có nghĩa bóng và tính biểu trưng thì QN, như quan niệm của Đỗ Hữu Châu, là đơn vị “rỗng” nghĩa vì nó chỉ có chức năng dẫn xuất, đưa đẩy, là đơn vị ngôn ngữ mang tính công cụ nhiều hơn Thật vậy, khi một người muốn bổ sung giữa cái nói rồi với cái định nói nữa, anh ta sử dụng các

“chỉ xuất” diễn ngôn được làm sẵn hoặc để cho người nghe có thể “dự báo”, có thể nắm bắt trước tinh thần phát ngôn, chuyển đổi chủ đề, tránh tình trạng đột ngột, tạo

ý khẳng định, phủ định, tạo hành vi tại lời, v.v

Chia sẻ tinh thần của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp có cùng ý kiến:

“Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó Mỗi phong cách thường

có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ “của đáng tội”, “nói khí vô

phép”, “nói bỏ ngoài tai”, “chẳng nước non gì”, “còn mồ ma”, v.v thường được

dùng trong phong cách hội thoại” [10, tr 101]

Từ định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi phát hiện thêm một đặc

điểm nữa mà sẽ là thiếu sót nếu không đưa vào đặc tính của QN, đó là sự sử dụng

Trang 22

15

lặp đi lặp lại thành quen dùng như một cách nói chuyên dụng Đặc tính này đã

phần nào phản ánh lý do lớp từ này có tên là “QN”

Ví dụ:

(1) .Chúng con đã chả làm cách nào trả ơn bà, ơn mợ được thì chớ, đời nào con

lại dám bê tha điếu thuốc điếu sái để cho cả nhà phải mang tiếng và mợ phải buồn rầu vì con (VB C)

Cụm từ “đời nào” này không chỉ xuất hiện trong phát ngôn trên, của riêng người nói trên mà hầu như nó là một biểu thức được làm sẵn, được tái hiện nhiều lần trong các tình huống tạo phát ngôn dùng để phủ định dứt khoát điều mà người đối thoại có vẻ nửa tin, nửa ngờ và khẳng định là không thể xảy ra được vì vô lý Định nghĩa và sự sắp xếp của Nguyễn Thiện Giáp về ngữ cố định trong đó có QN được thể hiện qua bảng mà tác giả đề nghị sau đây [10, tr 101]:

Có tính nhất thể về

nghĩa

Không có tính nhất thể về nghĩa Chức năng biểu

hiện gợi tả

Ngữ láy đơn nhất Ngữ láy mô hình Cấu tạo bằng

phương thức láy Thành ngữ hòa kết Thành ngữ hợp kết

đẩy, rào đón, nhấn

mạnh, liên kết

Quán ngữ

Bảng 1.1 Phân loại ngữ cố định theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp

Dễ nhận thấy rằng QN trong bảng trên của Nguyễn Thiện Giáp có ba đặc điểm nổi bật:

Trang 23

16

- Có chức năng đưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh, liên kết chứ không có nghĩa định danh (nét khu biệt lớn nhất với các đơn vị ngữ cố định khác)

- Không có tính nhất thể về nghĩa

- Được cấu tạo bằng phương thức ghép

Nhưng như thế nào là “phương thức ghép”? Chắc chắn “ghép” đây không phải theo phương thức cấu tạo của TN, từ ghép hoặc từ láy vì tác giả đã chỉ ra: “Về

ý nghĩa cũng như về hình thức cụm từ trên (tức là quán ngữ - chú thích của người

viết) chẳng khác gì cụm từ tự do nhưng do nội dung của chúng đã trở thành điều

thường xuyên phải cần đến trong sự suy nghĩ và diễn đạt mà chúng được dùng lặp

đi lặp lại như một đơn vị có sẵn” [10, tr.101]

Đặc điểm “không khác gì cụm từ tự do” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định sự khác nhau về hình thái cũng như nội dung của QN với các đơn vị từ vựng khác

Vũ Đức Nghiệu cũng quan niệm: “QN là những cụm từ được lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác nhau Chức năng của

chúng là đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh, hoặc để liên kết trong diễn từ” Ví dụ:

“của đáng tội”, “nói bỏ ngoài tai”, “nói tóm lại”, “kết cục là”, “nói cách khác”,

[18, tr 161] Vũ Đức Nghiệu đã đưa ra một lược đồ để minh họa như sau:

Trang 24

17

Qua lược đồ, chúng ta có thể nhận thấy rằng tác giả dù có ý kiến khác và thuật ngữ khác trong việc phân chia ngữ/cụm từ cố định những tác giả vẫn thống nhất đặt QN vào một vị trí trong hệ thống cụm từ cố định

Hữu Đạt có định nghĩa dựa vào nội hàm của thuật ngữ nên suy ý hơi rộng nhưng những ví dụ tác giả đã đưa ra hoàn toàn phù hợp với lớp QN chúng tôi đang bàn luận: “Theo nghĩa đen “quán” là “quen” Vậy QN là một loại ngữ cố định được

người ta quen dùng Ví dụ: “nói tóm lại”, “kết quả là”, “rốt cuộc”, “nói một cách

khác”, “ nói gọn lại là”, “trước hết”, “đáng chú ý là”, “không chóng thì chày”,

“mặt khác thì” [ ] Như vậy nói khái quát thì QN là loại ngữ cố định được quen

dùng nhưng ít hoặc không có tính hình tượng [9, tr 77]

Ý kiến trên bổ sung cho phần nhận định về QN là chúng có ít hoặc không có

tính hình tượng Thật vậy, với tư cách là đơn vị ngôn ngữ không có nghĩa thực mà

chỉ có nghĩa chuyên dụng thì việc đặt ra vấn đề “hình tượng” hoặc “biểu trưng” là vừa rất khó và cũng không thực tế

Quan niệm này cũng tương đồng với cách giải thích trong các từ điển tiếng Việt mà chúng tôi đã tổng hợp Theo đó, khác với TN, QN có ý nghĩa có thể suy ra

từ các thành tố tạo nên nó một cách trực tiếp Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến này

Ngoài các định nghĩa về thuật ngữ QN mà theo chúng tôi, còn có chỗ mơ hồ

về các ví dụ minh hoạ, hai công trình từ điển tiếng Việt giải thích các QN cụ thể trong mục từ của mình là “cách dùng khẩu ngữ”, hoặc “dùng ở đầu câu”, hoặc

“dùng làm thành phần phụ câu” Ví dụ, Từ điển tiếng Việt đã giải thích: “QN (nói)

của đáng tội là khẩu ngữ, dùng làm phần chêm trong câu Tổ hợp biểu thị sự

chuyển ý để nhằm thanh minh hoặc làm rõ thêm cho điều ít nhiều không hay vừa

nói đến ở trên; và các ví dụ là nói cho đúng ra, cho thoả đáng, thực ra thì”

Nhìn chung, hầu hết các tác giả khi nêu ra quan niệm về quán ngữ thường quan tâm đến hai vấn đề sau:

Trang 25

18

+ Về hình thức, quán ngữ là tổ hợp từ cố định được dùng lặp đi lặp lại

+ Về chức năng, quán ngữ dùng để đưa đẩy, liên kết hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó

1.2.2 Khái niệm quán ngữ tình thái tiếng Việt

Như đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi chọn là những tổ hợp

từ, những lối nói đã tạo thành những đơn vị, khối hay khuôn cấu trúc tương đối ổn định được người nói dùng như một công cụ có chức năng của những tác tử tình thái tác động vào nội dung mệnh đề theo một kiểu nào đó Sở dĩ chúng tôi gọi những tổ hợp này là QNTT bởi về cơ bản chúng cũng có những đặc điểm về hình thức và ý nghĩa của những tổ hợp từ gọi là QN được nhiều người chấp nhận Song, cũng dễ nhận thấy, nội hàm khái niệm QNTT về một phương diện nào đó, theo quan niệm

của chúng tôi, là hẹp hơn so với quan niệm của các nhà từ vựng học

Vì lý do đó, người đọc có thể thấy trong danh sách các QNTT mà chúng tôi thu thập vắng mặt rất nhiều tổ hợp mà mọi người quen gọi là QN nhưng lại có thể thêm nhiều tổ hợp, kết cấu trước nay chưa ai bàn đến và cũng không loại trừ khả năng có những tổ hợp đã được nói đến nhưng lại không được coi là QN Chẳng hạn

các tổ hợp từ kiểu: hình như, có lẽ, tất nhiên, đương nhiên, có khi, vả lại,… mà trước nay các sách ngữ pháp vẫn gọi là phó từ, liên từ Thiết nghĩ đây cũng là điều

dễ hiểu Bởi lẽ, việc gọi những tên khác nhau cho cùng một đối tượng hay ngược lại, những đối tượng khác nhau được xếp vào cùng một khái niệm cũng là điều thường thấy Nó phụ thuộc vào góc độ mà người ta chọn để xem xét đối tượng Ở đây, xin nhấn mạnh lại là tiêu chí đầu tiên và cũng là quan trọng nhất đối với các tổ

hợp từ được chúng tôi tập hợp để nghiên cứu trong luận văn này là khả năng biểu

đạt các ý nghĩa tình thái Dùng khái niệm QN của từ vựng học, thực ra chúng tôi

chỉ muốn nhấn mạnh đến tính chất “khối” tương đối ổn định và quen dùng của chúng mà thôi Và như vậy, chúng tôi rút ra được một số đặc điểm về bản chất của QNTT tiếng Việt như sau:

Trang 26

19

- QNTT là cụm từ cố định (đơn vị có sẵn trong vốn từ vựng của ngôn ngữ)

có tính ổn định tương đối về cấu trúc và thành phần từ vựng cấu tạo nên nó, nhưng ranh giới của lớp từ này với cụm từ tự do (đơn vị cấu tạo tự do trong lời nói) là không rõ ràng, cụ thể

- Về cấu trúc – chức năng tạo câu: QNTT thường có cấu trúc là cụm từ, một

số trường hợp có kết cấu là cụm chủ – vị (chẳng hạn: ai có ngờ đâu, ai có dè

đâu,…) Trong chức năng tạo câu, QNTT tương đương với từ

- Về đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng: ý nghĩa của QNTT tương đương với ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ Là một trong những phương tiện biểu thị tình thái, QNTT có chức năng bày tỏ, bộc lộ sắc thái biểu cảm

Từ những đặc điểm trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu ngắn gọn về QNTT - một

khái niệm cơ bản mà luận văn sử dụng, như sau: QNTT là ngữ cố định, được dùng nhiều

lần thành quen, có tính ổn định tương đối về kết cấu, chúng được dùng để bổ sung một nội dung tình thái nào đó cho câu nói

1.2.3 Một số đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Việt

Cũng như QN, theo cách hiểu thông thường, QNTT là những tổ hợp từ hay lời nói mang tính ổn định được tái hiện nhiều lần do nhu cầu cần thiết của sự giao tiếp Tính thành ngữ và tính ổn định của cấu trúc của QNTT không cao Đặc điểm của cụm từ tự do còn đậm nét trong các cụm từ cố định thuộc loại này Chúng không chỉ là phương tiện liên kết mà đa phần dùng để đưa đẩy, rào đón, dẫn ý, chuyển ý Trong thực tiễn hành ngôn, vai trò của chúng được biểu hiện đa dạng, phong phú Và trong luận văn này chúng tôi muốn nhấn mạnh lại đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là những QNTT có tác dụng làm phương tiện bổ trợ, tác động vào nội dung mệnh đề, vào ý nghĩa của chỉnh thể câu; đưa vào câu những kiểu tình thái đánh giá, biểu cảm khác nhau, gắn câu với hoàn cảnh giao tiếp hiện thực, tạo nên tính sinh động, uyển chuyển và chính xác của câu nói Tóm lược những nghiên

Trang 27

Xét từ góc độ hình thức cấu tạo nội tại của bản thân các QNTT, có thể thấy

chúng là những tổ hợp có độ dài ngắn khác nhau Căn cứ vào số lượng thành tố

tham gia cấu thành tổ hợp, một cách chung nhất có thể phân chúng thành hai

nhóm:

- Nhóm 1: các QNTT có cấu tạo gồm hai thành tố, như: ắt hẳn, biết đâu, chả

trách, có lẽ, hóa ra, lại còn, nghe chừng, quả tình, phải chi, giá mà, thảo nào, thế ra,… Đây là những tổ hợp mà trước nay quan niệm truyền thống nhìn từ góc độ cấu

trúc của câu vẫn gọi là thành phần phụ của câu

- Nhóm 2: các QNTT có cấu tạo từ ba thành tố trở lên Ví dụ: ấy thế mà, của

đáng tội, cực chẳng đã, chưa biết chừng, đến mùa quýt, chẳng đâu vào đâu, bất quá

là cùng, làm cho ra vẻ,…

Căn cứ vào khả năng phân bố vị trí của các QNTT trong câu/ phát ngôn,

chúng ta có thể phân thành:

- Các QNTT ở vị trí cuối câu/ phát ngôn: P cũng nên, P có khác, P không

chừng, P là cái chắc, P là cùng, P quá đi chớ, P thì có,…

Trang 28

21

- Các QNTT ở vị trí đầu câu/ phát ngôn, cho phép dự báo thông tin phát ngôn Đây hầu như là hình thức khá phổ biến của QNTT tiếng Việt và cũng là lí do

chủ yếu chúng được xếp vào hệ thống ngữ cố định Theo đó là các QN: theo tôi thì,

có ngờ đâu là, rõ ràng là, nghe đâu, thấy bảo, hơi sức đâu mà, may mắn thay, thật tình mà nói, thảo nào,…

- Các QNTT ở vị trí linh hoạt:

+ Đầu hoặc cuối câu/ phát ngôn: thôi nào, không biết, …

+ Đầu hoặc giữa câu/ phát ngôn: chắc là, hình như, quả thật, chẳng lẽ,

Dễ dàng nhận thấy cấu trúc của QNTT là một vấn đề cần bàn đến để giúp phân biệt chúng với các cấu trúc của các loại đơn vị khác trong ngữ cố định Theo chúng tôi QNTT khá đa dạng về cấu trúc cú pháp Một số QNTT khi được sử dụng vẫn có thể thêm vào hoặc cắt đi một, hai thành tố một cách rất linh hoạt QNTT khá gần gũi với cụm từ tự do Có nghĩa là có rất nhiều QNTT có cấu trúc chưa hoàn toàn ổn định như các đơn vị cụm từ cố định khác Vì thế những trường hợp này rất khó khái quát đặc điểm về cấu trúc cú pháp của QNTT Tuy nhiên, qua khảo sát của

chúng tôi, nếu căn cứ vào đặc điểm cấu tạo, có thể tạm thời xếp một số QNTT vào

những cấu trúc cơ bản sau:

- QNTT có cấu tạo là những tổ hợp từ có quan hệ đẳng lập:

Ví dụ: chẳng chóng thì chày, qua ngày đoạn tháng, không sớm thì muộn, ngày một

ngày hai, được chăng hay chớ, đến nơi đến chốn, ra đầu ra đũa, cắn rơm cắn cỏ, ra môn ra khoai…

- QNTT có cấu tạo là những tổ hợp từ có quan hệ chính phụ:

Cụm từ chính phụ khác với cụm từ đẳng lập về kết cấu Trong cụm từ chính phụ

có một thành tố trung tâm và một hay nhiều thành tố phụ bổ sung ý nghĩa cho thành

tố trung tâm Căn cứ vào loại từ trung tâm và thành tố phụ, căn cứ vào quan hệ ý nghĩa, quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố với nhau, ta có thể xác lập trong tiếng Việt có các kiểu loại cụm từ khác nhau như cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ,

Trang 29

22

cụm từ tình thái hay tổ hợp từ có kết cấu khuôn Xét về cấu tạo, một số khá lớn, QNTT tiếng Việt là các cụm từ có quan hệ chính phụ

Sau đây là vài hình thức hiện thực tiêu biểu mà chúng tôi quan sát được:

+ QNTT có cấu tạo là tổ hợp từ có động từ làm trung tâm: Một số QNTT có

hình thức là một tổ hợp có động từ nói làm trung tâm, như: nói trộm bóng vía, bỏ

quá cho, nói khí không phải, nói sai đừng chấp, nói bỏ ngoài tai,… Theo Trần

Ngọc Thêm, mô hình này là Động từ + thành tố chỉ cách thức; theo chúng tôi, vì đặc tính siêu ngôn ngữ của QN nên động từ này thường là nói Những QNTT có hình thức này chủ yếu bộc lộ sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra theo yêu cầu của nghi thức giao tiếp để đảm bảo tính lịch sự hay sự kiêng tránh theo

quy ước của cộng đồng Chúng có hiệu lực tạm thời như một lời xin lỗi trước

+ QNTT có cấu tạo là một tổ hợp từ có tính từ làm trung tâm: Các QNTT loại này thường xuất hiện trong các câu cảm mang đậm màu sắc tình thái, chẳng

hạn cực chẳng đã, may mà, may mắn thay, rủi thay, lạ thay,…

Rõ ràng, cấu trúc cú pháp của QNTT tiếng Việt rất đa dạng, phức tạp, ngoại

lệ nhiều hơn quy luật Có lẽ do chúng còn quá gần gũi với các đơn vị là cụm từ tự

do, các thành tố của chúng được thêm vào hay bớt đi đến mức tối giản chỉ còn lại một từ đơn là có thể được Vì vậy cấu trúc của QNTT có thể tồn tại từ nhỏ nhất là từ đơn đến lớn nhất là mệnh đề

Như vậy, tuy có tên là QNTT nhưng trong khi hành chức, các thành tố dụng học này không mang nhiều đặc trưng gần gũi với các đơn vị cụm từ cố định khác Nói cách khác, chúng đã tồn tại vượt ra khỏi hệ thống cụm từ cố định Đây là một vấn đề mà chúng tôi nhận thức rằng vẫn còn gây tranh cãi nên các ý kiến đưa ra của chúng tôi hoàn toàn không phải là những kết luận cuối cùng mà chỉ là những điều có tính gợi mở trong nghiên cứu

Trang 30

23

1.2.3.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa – chức năng

Trên quan điểm chức năng, khi nói đến vấn đề nghĩa, Cao Xuân Hạo đã viết:

“(…) người ta đã từng thấy có thể phân định đơn vị từ, phân chia từ loại, phân biệt thực từ và hư từ…, căn cứ vào những tiêu chí ngữ nghĩa được hiểu một cách đơn giản hóa quá mức nghĩa ở đây chẳng qua là khả năng biểu hiện những sự vật hiện tượng của thế giới hiện thực, không thấy rằng chức năng biểu thị và cương vị ngữ pháp không phải là một, cũng không thấy rằng nghĩa biểu hiện mới chỉ là một trong các bình diện đa dạng của nghĩa Cách quan niệm sơ lược về nghĩa khiến cho phần đông các tác giả không thấy cần biết đến nghĩa logic ngôn từ, ý nghĩa tình thái, giá trị thông báo, giá trị ngôn trung (illocutionnary force), giá trị xuyên ngôn

(perlocutionary force)” [14, tr 5] Theo đó, tác giả đã xếp một số yếu tố biểu thị

tình thái của câu, trong đó có các QNTT, vào cấu trúc Đề - thuyết, với tư cách là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Cao Xuân Hạo đã dành hẳn một chương mục để miêu tả những yếu tố biểu thị tình thái của câu trong cấu trúc cú pháp cơ

bản, gồm những yếu tố tình thái làm thành đề của câu, những yếu tố biểu thị tình

thái được xử lí như một phần thuyết tình thái (được đánh dấu bằng thì hoặc là)

Trang 31

24

Như vậy, qua phân tích và lí giải của Cao Xuân Hạo theo quan điểm của ngữ

pháp chức năng, ta thấy, những QNTT dẫu sao (thì), (thì) lạ thật, đảm nhiệm chức

năng thành phần câu Dù tác giả có gọi đó là siêu đề hay thuyết tình thái và cho là

“cả hai gói câu nói vào một cái khung tình thái” [14, tr 181], nhưng vẫn quả quyết

“Nó hoàn toàn đáp ứng với định nghĩa của một phần Đề: đó là cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết, tức phần còn lại của câu” [14, tr 176]

Trái lại, có tác giả lại xếp lớp từ này vào Tình thái ngữ và cho rằng: “Chúng không tham gia vào cấu trúc cú pháp biểu thị nội dung phản ánh hiện thực khách quan Nó là hình thức thể hiện một trong hai thành phần nghĩa cơ bản của câu, thành phần nghĩa tình thái dụng học Tuy có vai trò quan trọng về nghĩa nhưng tình thái ngữ vẫn không được xem là thành phần chính của câu, bởi lẽ:

- Tình thái ngữ không phải là thành phần ngữ pháp bắt buộc phải có trong câu bình thường để đảm bảo tính hoàn chỉnh, độc lập của câu như chủ ngữ, vị ngữ

- Tình thái ngữ tồn tại theo phương thức đi kèm với cấu trúc cú pháp biểu thị nội dung phản ánh hiện thực” [1, tr 92-94]

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tạm gác sang một bên vấn đề quy

từ loại hay thành phần câu cho những tổ hợp nêu trên Chúng đều được coi là những QNTT (với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ), và chúng tôi sẽ khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của lớp từ này

Trước hết, dựa theo giáo trình Sơ thảo Ngữ pháp chức năng [2, tr 177-179],

chúng tôi xin khái lược một số nét cơ bản về ngữ nghĩa – chức năng của QNTT tiếng Việt như sau:

- Giới thiệu điều được nhận định hay trần thuật như có một giá trị chân lí

tương đối hay một khả năng xác thực hạn chế nào đó: thật ra, kể ra, suy ra, xem ra,

may ra, nhỡ ra (một cái), lẽ ra, lí ra, đằng thằng ra, thiếu chút nữa,…

- Khẳng định tính đương nhiên trong mọi tình huống: dẫu sao (thì)… cũng…,

thế nào cũng…., đằng nào cũng…, đằng nào (mà)…chẳng

Trang 32

25

- Nhận định về một khả năng cùng cực: ít ra thì, giỏi lắm là, may lắm là,

cùng lắm thì, quá lắm thì,…

- Thừa nhận giá trị chân lí của một nhận định được tiền giả định, hoặc nhấn

mạnh giá trị chân lí của nhận định kế theo: quả thật, quả tình, quả tình, phải nói

- Dẫn nhập một khả năng, một phỏng đoán, một nhận định về khả năng: có

thể, có lẽ, hình như, dường như, dẫu như, tưởng như, không loại trừ, không chừng, chưa biết chừng, nghe đâu, nghe nói, không khéo

- Dẫn nhập một sự tình kèm theo một sự đánh giá trong quan hệ với tình

huống: có điều, được (một) cái, khốn nổi, hiềm một nổi, (chỉ) mỗi tội, (chỉ) tiếc cái,

đáng tiếc, đáng buồn, đáng mừng,…

- Nhận định về chân lí đương nhiên của sở thuyết: tất nhiên, (lẽ) đương

nhiên, cố nhiên, hẳn, ắt, chắc chắn, chắc hẳn, chắc đúng, quả thật, vị tất, chưa chắc, không nhất thiết,…

- Nhận định về tính cùng cực của cái sự tình hay khả năng do sở thuyết biểu

thị: hết sức, hay nhất, tốt hơn cả, tệ nhất, đáng tiếc nhất, may lắm, ít nhất,…

- Nhận định về ưu thế (về thực tiễn, về đạo đức) của điều được nói trong

phần tiếp theo: tốt hơn, chẳng thà,…

- Giới thiệu điều sau đó là một điều kiện duy nhất cần thiết: miễn, miễn sao,

chỉ xin một điều, chỉ cốt (sao)…

- Nhận định về tính bất ngờ của điều được nói trong phần tiếp theo: không

ngờ, ai ngờ, ai có dè, ngờ đâu, dè dâu,…

- Dẫn nhập một sự tình mới phát hiện hay có tác dụng giải thích: lẽ ra, hóa

ra, chẳng hóa ra, số là, chả (…) là

Có cái nhìn khái quát hơn, các tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng

Việt” cho rằng: “Chức năng của quán ngữ là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh

hoặc để liên kết trong diễn từ” [18] Như đã trình bày ở trên, QNTT là một trong

Trang 33

26

những phương tiện biểu thị tình thái, QNTT có chức năng bày tỏ, bộc lộ sắc thái biểu cảm Đây là đặc điểm khác hẳn với những QN chỉ dùng trong phong cách khoa

học, có chức năng liên kết Vì vậy, trong các chức năng cơ bản của QN là đưa đẩy,

rào đón, nhấn mạnh hoặc liên kết thì chức năng mang nội dung tình thái đậm nét

chính là chức năng đưa đẩy và rào đón Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, để thấy rõ được đặc điểm về ngữ nghĩa – chức năng của QNTT trong các tác phẩm của

ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài và để thuận lợi hơn trong việc đưa ra những kết luận mang tính khái quát, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu hai chức năng chính của QNTT là chức năng đưa đẩy và chức năng rào đón

a Chức năng đưa đẩy của QNTT

Trong quá trình giao tiếp, người nói và người nghe phải tiếp xúc với nhau và

để duy trì sự tiếp xúc này họ dùng những tín hiệu đưa đẩy Tín hiệu đưa đẩy có nhiệm vụ duy trì hoạt động giao tiếp, làm cho hoạt động giao tiếp tiến hành được bình thường Nói cách khác: “Đưa đẩy là hành động nói ra những lời chỉ nhằm để cho câu chuyện diễn ra dễ dàng, tự nhiên” [19, tr 354] Khi thực hiện hành động đưa đẩy, người nói đang “động viên” người nhận, tạo ra sự thoải mái, thân mật với người nhận, kiểm tra sự chú ý, sự hiểu của người nhận Đưa đẩy chính là hành động thực hiện chức năng chuẩn bị, duy trì và kiểm tra quá trình đối thoại giữa chủ thể phát và chủ thể nhận nhằm đạt được mục đích nhất định do nhân vật giao tiếp đặt

ra

Để thực hiện hành động đưa đẩy, tiếng Việt đã sử dụng các hô ngữ, các quán từ

và QNTT QNTT trong chức năng đưa đẩy là các cụm từ đã được cố định hoá không chứa đựng thông tin miêu tả, thông báo, không thực hiện hành động tại lời mà chỉ nhằm tạo quan hệ đối thoại, thể hiện sự hài lòng của người nói với điều đối phương đưa ra, giảm sự căng thẳng cho cuộc thoại Ví dụ :

(4) SP1 - Bây giờ mày muốn sao?

SP2 - Con phải lên sơn

Trang 34

Như vậy, QNTT trong chức năng đưa đẩy thực hiện nhiệm vụ duy trì cuộc hội thoại, giúp cho cuộc thoại diễn ra dễ dàng chứ không có nhiệm vụ thông tin, miêu tả

b Chức năng rào đón của QNTT

Rào đón là một yếu tố ngôn ngữ thường gặp trong giao tiếp Trong Từ điển

tiếng Việt tác giả Hoàng Phê giải thích: “Rào đón là “nói có tính chất để ngừa trước

những sự hiểu lầm hay phản ứng về điều mình sắp nói” [19, tr 821] “Sự hiểu lầm”

ở đây bao hàm rất nhiều vấn đề: hiểu lầm về nội dung mệnh đề của phát ngôn, hiểu lầm về thái độ, mối quan hệ của các cá nhân trong cuộc hội thoại

Hội thoại vốn diễn tiến theo những nguyên tắc nhất định Theo George Yule thì lời rào đón là “những kiểu diễn đạt mà người nói dùng để ghi nhận rằng họ có nguy cơ là không gắn bó đầy đủ với những nguyên tắc này” [26, tr 79] Những nguyên tắc này tuy không bắt buộc, chặt chẽ như những quy tắc ngữ pháp nhưng bất

cứ người nào muốn trò chuyện bằng lời một cách thành công cũng cần tôn trọng nó

Rào đón là một hiện tượng phức tạp mang đậm thuộc tính tâm lý tinh thần, bản sắc văn hoá Nó sinh động, linh hoạt khó diễn đạt rành rẽ Trong những trường hợp nhất định, yếu tố rào đón được diễn đạt bằng những từ ngữ có tính chất chuyên dụng trong phát ngôn Các từ ngữ đó gọi là các biểu thức rào đón QNTT trong chức năng rào đón chiếm một vị trí lớn trong số các biểu thức rào đón

Xuất phát từ nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice nêu ra năm 1967, người nói có những QNTT rào đón tương ứng Nguyên tắc này được phát biểu một cách

Trang 35

28

tổng quát: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh chị (vào cuộc hội thoại) đúng như

nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích

hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào” [7,

tr 229]

Nguyên tắc này gồm 4 phạm trù: phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù

quan hệ, phạm trù cách thức Mỗi phạm trù ứng với một nguyên tắc mà Grice gọi là

phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan

hệ, phương châm cách thức

- Phương châm về lượng chia thành hai vế:

+ Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc thoại

+ Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi

- Phương châm về chất: được phát biểu tổng quát như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:

+ Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng

+ Đừng nói điều gì mà anh không đủ bằng chứng

- Phương châm quan hệ (quan yếu): Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu (Pertinent) tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

- Phương châm cách thức: dạng tổng quát của phương châm này là: hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:

+ Hãy tránh lối nói tối nghĩa

+ Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa

+ Hãy nói ngắn gọn

+ Hãy nói trật tự

Trang 36

29

Trong Dụng học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp có dành một mục để nói về

“Những lời rào đón trong giao tiếp” [11, tr 131-135] Theo tác giả, lời rào đón các phương châm của Grice giống như những bằng chứng cho phép nó vi phạm một nguyên tắc nào đó và nó là tín hiệu để người nghe có thể hạn chế cách giải thích của mình

Tác giả Diệp Quang Ban trong bài Ứng dụng cách nhìn dụng học vào việc

giải thích một số yếu tố có mặt trong câu – phát ngôn đã viết: “Trong dụng học,

những yếu tố trong phát ngôn có quan hệ đến việc người nói ghi nhận các phương châm nêu trên thì được xét vào số những lời rào đón” [2]

Bên cạnh nguyên tắc cộng tác hội thoại, ta còn thấy một yếu tố khác liên quan

chặt chẽ tới hiện tượng rào đón trong hội thoại, đó là phép lịch sự

Lịch sự trong giao tiếp thường được gọi là lịch sự chiến lược Có hai chiến

lược lịch sự: lịch sự âm tính và lịch sự dương tính

Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận Thể diện

âm tính bao trùm cái gọi là lãnh địa cá nhân, là người nào đó cần được độc lập, tự

do trong hành động Phép lịch sự âm tính có tính lảng tránh có nghĩa là tránh không dùng hành động đe doạ thể diện, hoặc có tính bù đắp, có nghĩa là bù đắp lại những tổn hại về thể diện khi không thể tránh mà bắt buộc phải thực hiện một hành động

đe doạ thể diện nào đó

Lịch sự dương tính là phép lịch sự nhằm hướng vào thể diện dương tính của

người nhận Thể diện dương tính là tổng thể những hình ảnh tự đánh giá cao về mình mà mỗi cá nhân trong xã hội tự xây dựng nên và cố gắng áp đặt cho người xung quanh, buộc họ phải chấp nhận, tôn trọng Phép lịch sự dương tính thực hiện những hành động tôn vinh thể diện người nhận, tỏ ra quan tâm đến người này

Việc sử dụng QNTT rào đón kèm theo nội dung phát ngôn góp phần thể hiện những chiến lược lịch sự âm tính và dương tính trong giao tiếp

Trang 37

30

Như vậy, vấn đề mà luận văn tập trung giải quyết là việc phân tích khía cạnh ngữ nghĩa của các QNTT theo cách tiếp cận của ngữ nghĩa - chức năng Khi phân tích các kiểu nghĩa, luận văn không chỉ sử dụng các tri thức của ngữ nghĩa học truyền thống mà còn tận dụng các kết quả phân tích ngữ nghĩa học gần đây cho vấn

đề đặt ra Với tư cách là một đơn vị biểu đạt ý nghĩa tình thái, các QNTT thường có

ý nghĩa, chức năng riêng Nghĩa của chúng không chỉ thuộc vào nghĩa từ vựng, vào nghĩa ngữ pháp mà còn gắn với ngữ nghĩa – ngữ dụng trong câu Như vậy, nghĩa của chúng không phải là phép cộng cơ giới đơn thuần nghĩa của từng thành tố tạo thành tổ hợp Nói cách khác, mỗi QNTT có thể được xem như là một thể hoàn chỉnh, hoạt động như một khối có sẵn trong đó các thành tố đã ít nhiều mất tính độc lập

Nguồn tư liệu mà chúng tôi hiện có đã cho thấy các QNTT không chỉ phức tạp, đa dạng ở phương diện hình thức mà còn thể hiện rõ nét hơn ở phương tiện nội dung ngữ nghĩa Tuy nhiên, chúng thống nhất với nhau ở một điểm, đó là cùng được người nói sử dụng như một phương tiện, một công cụ tác động vào nội dung mệnh đề nhằm biểu thị những ý nghĩa tình thái nhất định Có thể thấy rằng QNTT

có tầm quan trọng rất lớn trong việc kiến tạo ngữ nghĩa tình thái cho phát ngôn

Cùng với sự phát triển của các bộ môn ngôn ngữ khác, ngữ nghĩa học hiện nay cũng không ngừng có những hướng tìm tòi mới Hiện nay, bên cạnh việc nghiên cứu cấu trúc nghĩa của bản thân từng từ, người ta còn chú ý đến nghĩa của từ trong quan hệ với câu, với phát ngôn Việc xem xét nghĩa của từ còn được đặt trong mối quan hệ của người phát ngôn – chủ thể sử dụng phát ngôn với nội dung của phát ngôn, với thực tiễn, hoàn cảnh nói năng và với người đối thoại Và như đã xác định ở phần trên, công trình này đi theo hướng tìm hiểu ngữ nghĩa – chức năng của QNTT tiếng Việt Áp dụng những khuynh hướng này vào việc nghiên cứu ngữ nghĩa chức năng của QNTT tiếng Việt, chúng tôi hy vọng sẽ mang lại một kết quả nghiên cứu thiết thực gắn với thực tiễn sử dụng chúng thông qua hệ thống ngữ liệu

Trang 38

31

khảo sát là ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trang 39

32

1.3 Tiểu kết Chương 1

1 Nhìn chung ở chương này, chúng tôi đi vào trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu Trong đó, những nét cơ bản, nổi bật về

QN, vấn đề tình thái được làm rõ Trên cơ sở đó luận văn đưa ra cách hiểu

ngắn gọn về QNTT – một khái niệm cơ bản mà luận văn sử dụng: QNTT là ngữ

cố định, được dùng nhiều lần thành quen, có tính ổn định tương đối về kết cấu, chúng được dùng để bổ sung một nội dung tình thái nào đó cho câu nói

2 Đồng thời, luận văn cũng khái lược lại những đặc điểm của QNTT về

hình thức và ngữ nghĩa – chức năng theo quan điểm được nhiều nhà Việt ngữ học chấp nhận Từ đó đưa ra bức tranh khái quát về việc phân loại các QNTT Đây được coi là tiền đề lý luận cơ bản để trong Chương 2 và Chương 3 chúng tôi đi sâu vào phân tích đặc điểm của QNTT dựa trên những ngữ liệu cụ thể trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trang 40

33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI

Trong luận văn này, vận dụng cách hiểu về QNTT và những đặc điểm của chúng như đã nêu ở Chương 1, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ngữ liệu và thống kê được 158 QNTT trong tổng số 79 tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng,

được, có những QNTT chỉ được dùng vài lần, như: ai đời, ai lại bao giờ, âu là,

ấy thế mà, bảo thực, biết đâu đấy, biết đâu được đấy, biết ngay mà, biết rồi đấy, cái trò, chắc hẳn, chẳng nhẽ, chết chửa, chỉ phải cái, chứ còn, chứ đâu, ngược lại có

những QNTT được lặp lại nhiều lần, như: biết đâu, chắc là, có lẽ, đáng lẽ, đáng

nhẽ, có thể, còn gì, được cái, hình như, mà lại, cho mà xem, đấy chứ, mới được, đúng là, cơ mà, kia mà, làm gì,…

2.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo quán ngữ tình thái

2.1.1 Kết quả thống kê, phân loại

Dựa vào tiêu chí số lượng thành tố cấu tạo, chúng tôi đã phân loại 158

QNTT thu được từ ngữ liệu lấy trong tác phẩm của ba nhà văn Kết quả phân loại được thể hiện qua các bảng sau:

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w