Là một “kho báu văn hóa”, trong đó lưu giữ một khối lượng đáng kể những tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhất là tinh hoa công nghệ làm gốm cổ truyền.Bát Tràng đã khai thác đươ ̣c s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Trang 3XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Tôi đã đọc và đồng ý với nội dung luận văn của học viên
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2016
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS Trương Quang Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn này , tôi đã nhâ ̣n được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô , các anh chị , các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới : - Giáo sư, Tiến sĩ Trương Quang Hải trong suốt quá trình nghiên cứu, thầy đã kiên nhẫn hướng dẫn, trợ giúp và động viên tôi rất nhiều Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học, cũng như kinh nghiệm của thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được những thành tựu và kinh nghiệm quý báu Cùng các thầy cô giáo trong Viê ̣n Viê ̣t Nam ho ̣c và Khoa học phát triển Đại học Quốc Gia Hà Nô ̣i đã tận tình truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
- Xin cảm ơn Bà Nguyễn Thị Thu H oài,Phó Chủ tịch xã Bát Tràng cùng các cán bộ trong xã đã giúp đỡ tôithu thập thông tin, tài liệu và giới thiệu tận tình chi tiết về làng nghề gốm Bát Tràng
- Các nghệ nhân, thợ thủ công và nhân dân tại làng gốm Bát Tràng đã dành thời gian chia sẻ ý kiến và cung cấp thông tin, số liệu Cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
HàNội, ngày 02 tháng 10 năm 2016
Học viên
Đinh Thi ̣ Mai Lan
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luâ ̣n văn : “Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du li ̣ch ở Làng gốm Bát Tràng , Hà Nội” của tôi là công trình nghiên cứu , tìm hiểu về làng nghề gốm sứ Bát Tràng Đây là những kết quả đa ̣t được sau quá trình tìm tòi , khảo sát thực tế, nghiên cứu của chính bản thân tôi Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luâ ̣n văn này là hoàn toàn trung thực Nếu có gì sai pha ̣m cá nhân t ôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
HàNội, ngày 02 tháng 10 năm 2016
Học viên
Đinh Thi ̣ Mai Lan
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH 10
1.1 Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống 10
1.1.1 Nghiên cứu về làng nghề 11
1.1.2 Cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống 13
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch ở làng nghề 15
1.2.1 Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề truyền thống 15
1.2.2.Khái niệm về phát triển du lịch 19
1.2.3 Vai trò của du lịch làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội 19
1.2.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch 20
Kết luận chương 1: 21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH TẠI LÀNG GỐM BÁT TRÀNG 23
2.1 Quá trình hình thành và hoạt động sản xuất gốm sứ ở làng gốm Bát Tràng 23
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 23
2.1.2.Con người, nếp sống và phong tục 25
2.1.3.Bát Tràng - làng quê văn hóa 27
2.1.4.Đánh giá chung về sự phát triển của làng nghề truyền thống làng gốm Bát Tràng giai đoạn 2010- 2015 29
2.1.5.Thực trạng hoạt động sản xuất làng gốm Bát Tràng 32
2.2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống và du lịch tại làng gốm Bát Tràng 38
2.2.1.Các yếu tố ảnh hưởng tới bảo tồn và phát triển du lịch làng gốm Bát Tràng 38
2.2.2.Quá trình bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc của làng nghề 43
Trang 72.2.3.Thực trạng về hoạt động du lịch 44
2.3 Đánh giá về tiềm năng và hạn chế của phát triển du lịch gắn với làng nghề truyền thống tại Bát Tràng 54
2.3.1.Đánh giá về tiềm năng và lợi ích phát triển ở làng gốm Bát Tràng 54
2.3.2.Đánh giá hoạt động bảo tồn và phát triển làng gốm Bát Tràng 65
2.3.3.Hạn chế và nguyên nhân trong quá trình phát triển làng nghề truyền thống ở xã Bát Tràng 68
Kết luận chương 2: 74
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GẮN KẾT PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCHTẠI LÀNG GỐM BÁT TRÀNG 75
3.1 Phương hướng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống gốm Bát Tràng 75
3.1.1.Định hướng bảo tồn và phát triển 75
3.1.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Bát Tràng 80
3.2 Gắn kết phát triển nghề truyền thống với hoạt động du lịch tại làng gốm Bát Tràng 92
3.2.1 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch làng nghề 92
3.2.2 Giải pháp trong thiết kế và tổ chức sản xuất, trưng bày 94
3.2.3 Giải pháp đối với doanh nghiệp tại làng Bát Tràng 95
3.2.4 Giải pháp của Nhà nước tạo điều kiện để phát triển du lịch 97
3.2.5 Giải pháp cho các công ty du lich, các công ty lữ hành 103
Kết luận chương 3: 104
KẾT LUẬN 106
1 Kết luâ ̣n 106
2 Kiến nghi ̣ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT
CSSX Cơ sở sản xuất
DNTN Doanh nghiê ̣p tư nhân
ĐVT Đơn vi ̣ tính
CNH – HĐH Công nghiê ̣p hóa – Hiê ̣n đa ̣i hóa
HTX Hơ ̣p tác xã
KT – XH Kinh tế – xã hội
LNTT Làng nghề truyền thống
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UNWTO Tổ chức Du li ̣ch Thế giới (World Tourism Organization)
WTTC Hô ̣i đồng du li ̣ch và lữ hành thế giới (World Tourism and Travel Council) WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organnization)
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Bảng
Bảng 2.1 Bảng số lượng khách nước ngoài đến địa bàn xã Bát Tràng du lịch 30Bảng 2.2 Phân loa ̣i lao đô ̣ng theo trình đô ̣ ho ̣c vấn làng nghề truyền thống phu ̣c vu ̣
du li ̣ch ở Bát Tràng 33Bảng 2.3 Số lần du khách đến làng nghề truyền thống Bát Tràng 36Bảng 2.4 Mô ̣t số chỉ tiêu về giáo du ̣c vùng kinh tế Đồng bằng Bắc Bô ̣ 38Bảng 3.1 Mức đô ̣ hài lòng của khách du li ̣ch về chất l ượng di ̣ch vu ̣ du li ̣ch ở Làng nghề truyền thống Bát Tràng 100
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1 Kênh tiêu thu ̣ sản phẩm thủ công mỹ nghê ̣ truyền thống 62
Sơ đồ 2.2 Kiến nghi ̣ mô hình quản lý hoa ̣t đô ̣ng sản xuất 71
Sơ đồ 3.1: mối quan hê ̣ giữ a các thành phần trong hoa ̣t đô ̣ng du li ̣ch 103
Trang 10Trong những làng nghề đó có làng nghề Bát Tràng gắn liền với lịch sử của mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến và nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú Làng gốm “Bát Tràng thuộc địa giới hành chính huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội là một làng nghề thủ công nổi tiếng và lâu đời với gần 800 năm tuổi” [56, tr.13].“Làng Bát Tràng có 752 hộ với 2.900 nhân khẩu, trong đó có 1.600 người ở
độ tuổi lao động, 90% tham gia sản xuất và kinh doanh gốm sứ Sản xuất, kinh doanh gốm sứ ở làng nghề chủ yếu theo quy mô hộ gia đình Tuy nhiên, đến nay đã có 52 doanh nghiệp, công ty ra đời”[76]
Làng nghề Bát Tràng - môi trường văn hoá - kinh tế - xã hội, nơi bảo lưu tinh hoa nghệ thuật và kỹ năng làm gốm truyền từ đời này sang đời khác Là một “kho báu văn hóa”, trong đó lưu giữ một khối lượng đáng kể những tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhất là tinh hoa công nghệ làm gốm cổ truyền.Bát Tràng đã khai thác đươ ̣c
sự hấp dẫn, độc đáo của sản phẩm truyền thống của mình tạo ra dấu ấn rất lớn về sản phẩm có nguồn gốc Bát Tràng cho người tiêu dùng, thu hút khách du lịch, đồng thời bước đầu tạo dựng cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ cho hoạt động du lịch làng
Trang 112
nghề Du lịch phát triển giúp các làng nghề khôi phục và phát triển được các giá trị
truyền thống, trong đó có nghề cổ truyền và văn hóa dân gian, tạo dựng được môi trường du lịch văn hóa đồng thời giúp cải thiện tốt hơn các cơ sở h ạ tầng đi kèm với việc bảo vệ môi trường tại làng nghề.Vừa kết hợp làm du li ̣ch mà vẫn bảo
vê ̣ các nét văn hóa truyền thống trong làng nghề Tuy nhiên, nếu xét một cách tổng quát hoạt động sản xuất và du lịch làng nghề vẫn còn nhiều hạn chế, làng nghề chưa có những biện pháp tiếp thị, quảng bá về chiều sâu để thu hút khách hàng và khách
du lịch, hay “một làng nghề truyền thống vắng khách vì gặp phải những sự cố nhầm
lẫn” (Pháp Luật số 27 ngày 10/3/2016)[1] Hiê ̣n nay Bát Tràng phát triển theo
hướng tự phát nên khai thác không hiệu quả triệt để tiềm năng du lịch cũng như những giá trị văn hóa - xã hội của làng nghề.Doanh thu chủ yếu đến từ bán các sản phẩm thủ công, Bát Tràng mới chủ yếu chỉ là nơi sản xuất ra các sản phẩm nổi tiếng được biết đến trên thị trường mà chưa được khai thác ở khía cạnh không gian văn hóa, các hoạt động nhằm giúp du khách có được các trải nghiệm cũng chưa được quan tâm đúng mức.Làng gốm Bát Tràng có tiềm năng to lớn về mă ̣t du lịchnhưng người làm kinh doanh lại bị lúng túng k hi xác đi ̣nh kh ách hàng mục tiêu của mình Thực trạng cho thấy làng nghề Bát Tràng hiện nay gă ̣p khó khăn khi hướng tới những đối tượng khách hàng có yêu cầu khắt khe về chất lượngvà mẫu mã như đối tươ ̣ng khách quốc tế ( ví dụ như khách du lịch nước ngoài, khách du lịch có thu nhập cao hay xuất khẩu đi cá c nước Châu Âu như trước kia ).Làng nghề truyền thống Bát Tràng nên có những xem xét, cân nhắc để phát triển dịch vụ du lịch làng nghề dành cho đối tượng sinh viên
Bát Tràng đã thành công rất nhiều trong việc khôi phục lại làng nghề truyền thống và còn hứa hẹn sẽ“là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra thu nhập cho mọi loại đối tượng, tính chất lao động không phức tạp , chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với các nề n kinh tế khác Nó có vị trí , vai trò đáng kể trong kinh tế vùng , đi ̣a phương” (Bạch Thị L an Anh, 2010, trang 201), nhờ những sản phẩm gốm sứ đầy tính sáng tạo về chất lượng cũng như mẫu mã mới [2].Nếu để những tồn tại nhỏ làm hạn chế khả năng phát triển của Bát Tràng thì thật đáng tiếc chúng ta cần tạo ra
Trang 123
động lực để thực hiện lời dạy của Bác Hồ, khi Người về thăm làng gốm Bát Tràng ngày 20/02/1959: “ Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một trong những làng kiểu mẫu ở nước Việt Nam mới, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]
Xuất phát từ những lí do trên học viên đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng gốm Bát Tràng - Hà Nội” nhằm tìm hiểu về làng nghề truyền Bát Tràng, phản ánh thực trạng sản xuất hàng thủ công
ở làng nghề và ý nghĩa đối với việc phát triển du lịch, đánh giá tiềm năng phát triển
du lịch của làng nghề truyền thống Bát Tràng , từ đó đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, dựa vào những lợi thế có sẵn để phát triển du lịch làng nghề truyền thống Bát Tràng
2 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài luận văn là làm rõ được thực trạng và đề xuất các giải pháp gắn kết phát triển nghề thủ công truyền thống với hoạt động du lịch tại làng gốm Bát Tràng
Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triền nghề làm gốm ở Bát Tràng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn gắn với hoạt động du lịch
Làng nghề truyền thống Việt Nam đã và đang có những đóng góp không nhỏ cho đời sống của người dân nói riêng và cho sự phát triền chung của cả đất nước Do vâ ̣y , không thể phủ nhâ ̣n vai trò và những đóng góp quan tro ̣ng mà
làng nghề truyền thống Việt Nam mang lại Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế , làng nghề truyền thống đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế chung của đất nước
Trang 13như: Cuốn sách “Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV – XIX ”, Sách do Trung tâm Hợp
tác Nghiên cứu Việt Nam (nay là Viện Việt Nam học và khoa học phát triển) phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, biên soạn và xuất bản, tác giả: GS Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc, nhà xuất bản Thế giới,
Hà Nội Sau Lời mở đầu, sách có 2 phần giới thiệu về trung tâm sản xuất gốm Bát Tràng của Bắc Việt Nam từ thế thế kỷ XIV - XIX Phần 1: gồm 3 bài viết của 3 tác giả: Lịch sử hình thành và phát triển làng gốm Bát Tràng Quy trình sản xuất đồ gốm Bát Tràng Đặc điểm đồ gốm men Bát Tràng Phần 2: Sách có 83 trang ảnh màu và đen trắng, lựa chọn những loại hình, hoa văn và minh văn tiêu biểu của đồ gốm Bát Tràng, 28 trang bản vẽ hoa văn và 4 trang ảnh chụp bản dập hoa văn trên giấy dó Nguồn gốc sưu tập chủ yếu là các bảo tàng, trong đó nhiều nhất là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Ngoài ra, sách còn có bảng Chữ viết tắt, Bản đồ xã Bát Tràng và phụ lục bài viết Bát Tràng và buôn bán gốm ở quần đảo Đông Nam Á của Kerry Nguyen
Long Cuốn sách “Khám phá các làng nghề ở Việt Nam” giới thiệu hơn 40 làng
nghề của Hà Nội và khu vực Hà Tây (cũ) do các tác giả Sylvie Fanchette và Nicholas Stedman thực hiện từ năm 2003, một cuốn cẩm nang mới vô cùng dày dặn
Trang 145
và đầy đủ thông tin về các làng nghề, vừa ra mắt bạn đọc với ba ấn bản bằng tiếng Việt, Anh, Pháp Một trong nhóm tác giả này, Nicholas Stedman, nhà nghiên cứu, giáo viên tiếng Anh, người có tới 10 năm gắn bó với Việt Nam, đã có cuộc trao đổi
chung quanh cuốn sách Theo bài “Gốm cổ Việt Nam” - tập san Nghiên cứu Huế
tập Bốn năm 2002, trang 274 Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 995 năm Thăng
Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2005, tr295-tr299 Báo cáo tốt nghiệp “Phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng gốm bát tràng” tác giả Nguyễn Đức Thọ thực hiện năm 2008 Đề tài “Nâng cao hiệu quả khai thác du lịch tại làng nghề truyền thống Bát Tràng – Hà Nội” do sinh viên Lê Thủy Linh hoàn thành năm
2011 Tác giả Đỗ Việt Hùng với đề tài“Phát triển làng nghề truyền thống gắn với
du lịch ở Hà Nội (qua khảo sát nghiên cứu hai làng nghề: làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng) luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2012 Đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại công ty cổ phần bảo tồn và phát triển du lịch Bát Tràng”do tác giả Đào Thị Vân Anh thực hiện năm 2015 Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu, tạp chí viết về đề tài này
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Trang 156
giữa xưa – nay, giữa tích cực – không tích cực để có thể tìm ra xu hướng phát triển chung của làng
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Như đã trình bày, luâ ̣n văn mong muốn tìm hiểu mô ̣t cách có hê ̣ thống xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của làng gốm sứ Bát Tràng Do vâ ̣y thay vì áp dụng m ột phương pháp nghiên cứu của 1 chuyên ngành cố đi ̣nh , trong nghiên cứu này tác giả áp du ̣ng nhiều phương pháp nghiên cứu của nhiều chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau Trong quá trình thực hiên nghiên cứu tác giả đã sử du ̣ng từ ng phương pháp vào từng vấn đề nghiên cứu mô ̣t cách thích hợp và cần thiết
Trong đó dựa trên cơ sở cách tiếp câ ̣n liên ngành theo nhiều hướng khác nhau như vâ ̣y, tác giả sẽ vận dụng phương pháp nghiên cứu khu vực để làm hướ ng nghiên cứu chủ đa ̣o Tác giả xem xét làng như một không gian lịch sử văn hóa từ đó với các t iếp câ ̣n khu v ực học để có nhìn nhận vấn đề mang tính tổng hợp và toàn diê ̣n về làng nghề truyền thống trong quá trình phát triển của nó Đồng thời cách tiếp câ ̣n này cũng giúp tác giá xây dựng la ̣i được bức tranh toàn cảnh về làng nghề truyền thống trong quá trình phát triển song hành cùng li ̣ch sử Viê ̣t Nam
Để tìm hiểu về làng nghề gốm sứ Bá t Tràng , tác giả tiến hành nghiên cứu thực đi ̣a, điền dã để tiếp câ ̣n mô ̣t cách chủ đô ̣ng , trực quan, kiểm tra, đánh giá mô ̣t cách xác thực để có thể có tầm nhìn toàn diện về các đối tượng nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu vấn đề và điền dã thực đi ̣a, tác giả sử dụng phương pháp sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu : Thu thâ ̣p, tổng hợp và phân tích tài liệu là những khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Đây là phương pháp cần thiết trong việc tiếp cận với vấn đề/đối tươ ̣ng nghiên cứu từ quá khứ đã qua Bên ca ̣nh đó , thông qua tổng quan tài liê ̣u tác giả cũng có thể tham khảo các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước , câ ̣p nhâ ̣t những vấn đề mang tính chất vĩ mô hay tiếp câ ̣n với nguồn tư liê ̣u của các học giả nước ngoài Phương pháp này khắc phu ̣c được nhiều ha ̣n chế của nghiên cứu về mă ̣t thời gian, không gian và đi ̣a điểm Từ đó tác giả tiến hành phân loa ̣i tài liê ̣u , phân tích dữ liê ̣u phát hiê ̣n ra vấn đề tro ̣ng tâm và những
Trang 162, 3,4 và thôn 5 Các thông tin thu thập dựa trên bảng hỏi hộ gia đình thiết kế sẵn ( nô ̣i dung cu ̣ thể của bảng hỏi hô ̣ gia đình tác giả trình bày trong phần phụ lục 3) Về cách cho ̣n mẫu , dựa trên danh sách các hô ̣ có sẵn do UBND
xã Bát Trà ng và bac Hà Văn Lâm đại diện cho 5 thôn cung cấp, tác giả tiến hành lựa chọn mẫu nghiên cứu Tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 50 hô ̣ gia đình trên tổng số 782 hô ̣ ta ̣i 5 thônvà tiến hành phỏng vấn với 50 hô ̣ gia đình vừa sản xuất vừa kinh doanh bán hàng , tác giả lựa chọn thêm 5 hô ̣ gia đình trong danh sách thay thế Phương án này đề phòng trường hợp vì các lý do chủ quan và khách quan trong quá trình nghiên cứu tác giả không tiếp câ ̣n được các hộ gia đì nh trong danh sách chính thức sẽ có danh sách các hô ̣ thay thế
đề đảm bảo tiến hành phỏng vấn đủ số lượng mẫu lựa chọn
Phương phát phỏng vấn sâu : là một trong những phương pháp được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu hiê ̣ n nay, đă ̣c biê ̣t là trong viê ̣c thu thâ ̣p các ý kiến đối với cá nhân và vấn đề đượctìm hiểu kỹ Thông qua viê ̣c phỏng vấn trực tiếp cá nhâ ̣n sẽ có nhiều thuâ ̣n lợi trong viê ̣c thu được thông tin trực tiếp từ đối tượng, ý kiến thu nhâ ̣n được có tính xác thực Cụ thể, trong nghiên cứu về làng gốm Bát tràng , tác giả tiến hành phỏng vấn sâu : Đa ̣i diê ̣n chính quyền đi ̣a phương , các sở ban ngành , cơ quan quản lý , đa ̣i diê ̣n doanh nghiê ̣p/cơ sở sản xuất gốm
Phương pháp thảo luâ ̣n nhóm : khác với phương pháp phỏng vấn sâu hướng tới mô ̣t đối tượng - cá nhận nhất định, thao luâ ̣n nhóm la ̣i hướng đối tượng - nhóm riêng Nhóm định danh có những điểm tương đồng về địa vị , về nghề
Trang 178
nghiê ̣p, về giới tính hay về những tiêu chí nhất đi ̣nh phù hợp với vấn đề nghiên cứu Thông tin thu thâ ̣p được qua thảo luâ ̣n nhóm không còn là ý kiến cá nhân nữa mà đây là ý kiến thống nhất của 1 nhóm Cụ thể trong nghiên cứu làng nghề gốm sứ Bát Tràng tác giả tiến hành thảo luâ ̣n nhóm đối với hai nhóm: nhóm doanh nghiệp/cơ sở sản xuất gốm và nhóm hô ̣ gia đình
Phương pháp phân tích điểm ma ̣nh – điểm yếu, cơ hội – thách thức (SWOT): SWOT là mô ̣t phương pháp hữu hiê ̣u để phân tích những điểm ma ̣nh – điểm yếu của mô ̣t vấn đề / hiê ̣n tượng Trong nghiên cứu về làng nghề gốm sứ Bát Tràng, học viên đã sử du ̣ng phương pháp SOWT để tìm hiểu , đánh giá về nhưng điểm ma ̣nh – điểm yếu , cơ hô ̣i – thách thức, khó khăn của làng nghề trong bối cảnh kinh tế hiện nay
Phương pháp điều tra thực địa : Sử dụng song hành cùng các phương pháp khác trong suốt quá trình nghiên cứu tại thực địa Đặc biệt trong quá trình khảo cứu về địa bàn nghiên cứu làng Bát Tràng, điều kiê ̣n tự nhiên, điều kiê ̣n sản xuất, quy trình chế tác các sản phẩm gốm sứ , quá trình thảo luận , phỏng vấn đối với cán bô ̣ đi ̣a phương và hô ̣ gia đình
Phương pháp xử lý dữ liê ̣u SPSS : Số liê ̣u thu thâ ̣p được từ bảng hỏi phỏng vấn hô ̣ gia đình được nhâ ̣p và x ử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS , phiên bản 16.0
4.4 Nguồn tư liệu
Tiến hành nghiên cứu về làng nghề gốm Bát Tràng học viên đã tìm kiếm và sưu tầm tất cả các tài liệu liên quan đến làng nghề truyền thống nói chung và làng gốm Bát Tràng nói riêng Trong đó có các công trình là công trình nghiên cứu, các
đề tài khoa học về làng nghề Việt Nam Các tài liệu liên quan cụ thể như:
Trong quá trình nghiên cứu thực địa học viên đã thu được rất nhiều nguồn tài liệu hữu ích từ tài liệu điểm, phỏng vấn hộ gia đình, đại diện công ty, khách du lịch, tài liệu truyền miệng của các cụ cao tuổi, các nghệ nhân về nguồn gốc cũng như quá trình hình thành, các bước tạo nên sản phẩm, thăng trầm trong sự phát triển của làng gốm
Trang 189
Nhóm Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị Đại hội Đảng và Nhà nước như:
- Văn kiện, Nghị quyết, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về định hướng phát triển làng nghề truyền thống;
- Văn kiện, Nghị quyết của Đảng bộ xã Bát Tràng, các báo cáo tổng kết hàng năm của Đảng ủy, UBND xã;
Các báo cáo thống kê của Sở Công thương, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Hà Nội, báo Pháp Luật;
Các bài viết trên tạp chí nghiên cứu về sản phẩm ở lang gốm Bát Tràng;
Các bài viết về các Đền, Đình, nhà thờ họ trong cụm di tích lịch sử làng gốm Bát Tràng;
Tranh ảnh về làng gốm;
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận được chia làm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lí luận về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
- Chương II: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du li ̣ch ta ̣i làng gốm Bát Tràng
- Chương III: Phương hướng và giải pháp gắn kết phát triển nghề truyền thống với hoa ̣t đô ̣ng du lịch tại làng gốm Bát Tràng
Trang 1910
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNGGẮN VỚI DU LỊCH 1.1 Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống
Nhìn chung, quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Lúc đầu sự phát triển đó từ một gia đình hoặc vài gia đình có nguồn gốc tại làng hoặc cũng có thể nguồn gốc từ nơi khác đến, sau đó sẽ truyền cho cả họ và lan ra cả làng Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy ước như: không truyền nghề cho người làng khác, không truyền nghề cho con gái, hoặc uống rượu ăn thề không để lộ bí quyết… Trải qua một thời gian dài lịch sử phát triển, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ và tồn tại, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời Vì vậy, quan niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống có nhiều ý kiến khác nhau
Về lý thuyết, đề tài dựa trên cơ sở các lý thuyết về làng nghề, du lịch, du lịch làng nghề và những lợi ích của phát triển hình thức du lịch này tới cộng đồng địa phương Các lý thuyết này được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả trong lĩnh vực du lịch, các bài tạp chí về việc phát triển thành công du lịch làng nghề truyền thống của các nước trên thế giới Từ đó luận văn sẽ chỉ ra sự cần thiết nên phát triển làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề truyền thống tại làng gốm Bát Tràng
Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu sẽ đánh giá thực trạng kinh tế và văn hóa tại Bát Tràng, phân tích những những lợi thế của Bát Tràng trong việc phát triển làng nghề và du lịch, chỉ ra những mặt còn hạn chế trong cơ chế quản lý và phát triển làng nghề và du lịch tại Bát Tràng Ngoài ra, luận văn còn thực hiện một số khảo sát
và thí nghiệm cá nhân để đưa ra kết quả thực tiễn Những cuộc khảo sát này được
sự tham gia của người dân địa phương và những du khách đến tham quan Bát Tràng, kết quả của khảo sát đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết luận về thực trạng phát triển làng nghề và du lịch tại Bát Tràng, từ đó đề xuất một số giải pháp về phát triển du lịch tại làng gốm Bát Tràng
Trang 20Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Với quan niệm này thì làng nghề đó hiện nay còn không nhiều Ví dụ như nghề gốm chỉ có ở Bát Tràng (Hà Nội), Phù Lãng (Bắc Ninh), … Đó là những làng thuần nhất không làm ruộng, còn đa số vừa làm ruộng, vừa làm nghề, ở đây thủ công nghiệp đối với họ chỉ là nghề phụ để tăng thêm thu nhập mà thôi
Quan niệm thứ hai, đi ̣nh nghĩa của nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công.Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nghề nông Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng quê của mình” [80,tr 13]
Quan niệm này về làng nghề như vậy vẫn chưa đủ Không phải bất cứ làng nào có vài ba lò rèn hay dăm ba gia đình làm nghề mộc, nghề khảm… đều là làng nghề Để xác định làng đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao động hay
số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với tổng thu nhập của thôn (làng)
Trong quan niệm khác của giáo sư Trần Quốc Vượng thì: “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan
Trang 21mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển cùng ăn, làm việc Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể vừa phất triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phương”[64]
Xem xét định nghĩa làng nghề ở góc độ kinh tế, theo Dương Bá Phượng trong cuốn“ Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá” thì“ làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập, thu nhập từ các nghế đó chiếm
tỷ trọng cao trong tổng giá trị của toàn làng”[58]
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền thống
và làng nghề mới Trong làng nghề sẽ có loại làng chỉ có một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ ưu thế có trong làng Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh
Vậy, làng nghề là gì? Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng Luâ ̣n văn đi vào tìm hiểu làng nghề truyền thống nhằm chỉ ra những nét độc đáo trong cách thức tạo ra sản phẩm của làng nghề truyền thống, tạo điểm nhấn cho sản phẩm du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch
Trang 2213
1.1.2 Cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống
1.1.2.1 Quan niệm về làng nghề truyền thống
Theo tác giả Mai Thế Hởn, “làng nghề được quan niệm là một cụm dân cư sinh sống trong thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp
để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng” [46, tr.11-13]
Khi nói tới một làng nghề thủ công truyền thống thì không chỉ chú ý tới từng mặt đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt trong cả không gian, thời gian nghĩa là quan tâm tới tính hệ thống, toàn diện của làng nghề, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, phương pháp, mỹ thuật và kỹ thuật Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội hoặc là kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa
và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những hương ước, chế độ gia tộc cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú làng xóm của họ
Làng nghề theo quan niệm của tác giả Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hà và Vũ Văn Phúc là “những làng có tuyệt đại đa dân số làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế
hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề Cùng với thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc”[46, tr.13-15]
Để xác định một làng nghề là làng nghề truyền thống thì cần có những tiêu thức sau:
Trang 2314
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên
so với tổng số hộ và lao động của làng
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, từ những cách tiếp cận trên, có thể định nghĩa làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường
là nhiều thế hệ Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và
đã trở thành hàng hóa trên thị trường
1.1.2.2 Khái niệm về làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Từ khái niệm làng nghề truyền thống đề cập ở trên, có thể hiểu làng nghề truyền thống phục vụ du lịch là có một không gian lãnh thổ nông thôn mang đậm nét văn hóa, lịch sử, có các nghệ nhân tiêu biểu thực hiện tổ chức sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống, đồng thời các làng nghề này còn cung cấp các dịch vụ phục vụ và thu hút khách du lịch Cần phân biệt rõ sự khác nhau cơ bản giữa làng nghề truyền thống thông thường hay làng nghề thương mại và làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở chỗ làng nghề truyền thống phục vụ du lịch có lợi thế thu hút khách du lịch (có giá trị văn hóa lịch sử, thuận tiện về mặt vị trí địa lý…)
và các dịch vụ phục vụ du lịch (trưng bày, bán hàng, biểu diễn quy trình sản xuất, hướng dẫn tham quan…)
Trang 2415
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch ở làng nghề
1.2.1 Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề truyền thống
1.2.1.1.Khái niệm về du lịch
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất
Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa , Canada diễn ra vào 2003
du li ̣ch được đi ̣nh nghĩa như sau : “Du li ̣ch là hoa ̣t đô ̣ng của con người đi tới mô ̣t nơi ngoài môi trường thường xuyên ( nơi ở thường xuyên của mình ), trong mô ̣t khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm t iền trong phạm vi tới thăm [105,tr.19]
Trong cuốn tạp chí phát triển cộng đồng có trích dẫn ý kiến của Ông Michael Coltman (Mỹ) thì du lịch được định nghĩa là : “ Du li ̣ch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm : du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở ta ̣i và chính quyền nơi đón khách du li ̣ch”[88,tr.18] Trong cuốn Giáo trình kinh tế du lịch có định nghĩa mà theo Khoa Du li ̣ch và Khách sạn (Trường đa ̣i ho ̣c kinh tế Quốc dân Hà Nô ̣i ) đã đưa ra đi ̣nh nghĩa tổng
hơ ̣p những lý luận và thực tiễn của Thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây :
“Du li ̣ch là mô ̣t ngành kinh doanh bao gồm các hoa ̣t đô ̣ng tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và di ̣ch vu ̣ của những doanh nghiê ̣p , nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú , ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị – xã
hô ̣i thiết thực cho nước làm du li ̣ch và cho bản thân doanh nghiê ̣p” [31,tr.20]
Tại Điều 4 Luâ ̣t Du lich Viê ̣t Nam 2005 đi ̣nh nghĩa về du li ̣ch và hoa ̣t đô ̣ng du lịch như sau: “Du li ̣ch là các hoa ̣t đô ̣ng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
Trang 2516
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”; “Hoa ̣t đô ̣ng du li ̣ch là hoa ̣t
đô ̣ng của khách du li ̣ch, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” [59.tr.10]
1.2.1.2 Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hoá Do vậy khi xem xét khái niệm du lịch làng nghề truyền thống, trước tiên phải đi từ khái niệm
du lịch văn hoá Du lịch văn hoá là loại hình du lịch đưa du khách tới tham quan và thẩm nhận các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể ở các địa phương trên các miền đất nước Còn trong Luật du lịch Việt Nam, định nghĩa về du lịch văn hoá như sau: “
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” Các loại hình du lịch văn hoá gồm: Du lịch tham quan, nghiên cứu - Du lịch lễ hội - Du lịch làng nghề - Du lịch làng bản - Du lịch tôn giáo, tín ngưỡng - Du lịch phong tục, tập quán
và đất nước, góp phần tôn vinh, bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa và tăng cường vai trò kinh tế của làng nghề
Theo Phạm Quốc Sử:“Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại một làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch sử văn hóa, phong tục, lễ hội ), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông qua những nghệ nhân tài giỏi Đến với mỗi làng nghề, du khách sẽ được khám phá và thẩm nhận những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa độc đáo, mang tính đặc thù địa phương Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công nghệ do các thợ thủ công thực hiện, du khách có thể tìm hiểu sâu hơn về truyền thống công nghệ ở các
Trang 2617
nghệ nhân, có thể mua đồ lưu niệm là những sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, có thể tìm kiếm các cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh ( nếu là du khách thương gia), đồng thời đó cũng là dịp để du khách lấy lại cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra Thông qua chuyến viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống ( bởi tính điển hình của làng nghề), và có thể hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam” [65, tr19,20]
1.2.1.4 Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề truyền thống vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta Làng nghề truyền thống là nơi chứa đựng những kho tàng kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống Đó chính là phần văn hoá phi vật thể Ngoài ra, làng nghề truyền thống còn có các giá trị văn hoá vật thể như: đình, chùa, các di tích liên quan trực tiếp tới các làng nghề, các sản phẩm thủ công truyền thống Khách du lịch đến đây để tìm hiểu các giá trị văn hoá truyền thống đó cho nên du lịch làng nghề truyền thống được xếp vào loại hình du lịch văn hoá Từ đó, có thể hiểu Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch văn hoá
mà qua đó khách du lịch được thẩm nhận các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó Du lịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa Du lịch làng nghề truyền thống đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều du khách trong
và ngoài nước Xu hướng hiện đại ngày nay cuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Nhu cầu đi du lịch về những miền nông thôn, làng nghề truyền thống ngày càng cao, khi đã hiểu thế nào là du lịch văn hóa thì rất dễ đển biết du lịch làng nghề truyền thống khi mà
du khách du lịch đến đây chính là để tìm hiểu các giá trị văn hóa đó Vì vậy mà du lịch làng nghề truyền thống được xếp vào loại hình du lịch văn hóa Từ đó ta có thể hiểu du lịch làng nghề truyền thống như sau: “Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du khách được thẩm nhận các giá trị văn
Trang 2718
hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó”
a Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Xu hướng ngày nay con người đi du lịch hướng về các giá trị văn hóa cổ xưa, việc phát triển du lịch làng nghề là vô cùng cần thiết vì nó sẽ mang lại rất nhiều thuận lợi cho cả hoạt động du lịch và sự phát triển của làng nghề Phát triển du lịch làng nghề đem lại lợi nhuận cho địa phương đó, giải quyết được công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động tại chỗ, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần bảo tồn, phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, giữ lại những nét đẹp văn hóa độc đáo có một không hai của dân tộc Làng nghề truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quý giá, để phát triển được du lịch làng nghề truyền thống cần có những điều kiện nhất định Trước hết phải có những điều kiện tồn tại và phát triển làng nghề:
- Thuận tiện cho việc giao thương: đây là yếu tố quan trọng để một làng nghề có thể phát triển vì gần đường giao thông sẽ thuận lợi cho việc vận chuyển, thông thương giữa làng nghề và các vùng khác
- Gần nguồn nguyên liệu để có thể liên tục phát triển sản xuất
- Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng Muốn du lịch làng nghề truyền thống phát triển cần những điều kiện sau:
- Làng nghề đó phải có sản phẩm độc đáo, đặc trưng
- Gần các danh lam thắng cảnh để có thể kết nối tour du lịch - Phải có các cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch
b Đặc điểm của loại hình du lịch làng nghề truyền thống
Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch văn hoá giúp cho du khách thẩm nhận các giá trị của bản sắc văn hoá dân tộc ở tại các địa phương Thông qua loại hình du lịch này, các sản phảm thủ công sản xuất tại làng nghề sẽ được xuất khẩu tại chỗ, góp phần phát triển kinh tế địa phương và nâng cao mức sống của cư dân địa phương Du lịch làng nghề truyền thống chủ yếu là tham quan, mua sắm (shopping tour), tìm hiểu, giao lưu, ký kết các hợp đồng kinh tế mà ít có
Trang 2819
các loại hình lưu trú và nghỉ dưỡng khác
Phía trên đã trình bày những lý thuyết chung về làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về làng nghề truyền thống, mối liên hệ giữa làng nghề truyền thống với phát triển du lịch và tầm quan trọng của việc khôi phục, giữ gìn, phát triển làng nghề Trường hợp cụ thể sẽ là làng gốm Bát Tràng
Trong quan điểm triết học, phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng
đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Trong khái niệm này, phát triển phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện
1.2.2.2 Khái niệm về phát triển du lịch
Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
1.2.3 Vai trò của du lịch làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển du lịch làng nghề làm gia tăng thu nhập quốc dân cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của thị trường bởiphát triển du lịch là quá trình tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân Và góp phần vào việc tăng tổng GDP Ngoài ra, trong quá trình đầu tư phát triển các loại hình du lịch, khi các đầu vào áp
Trang 29Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vì các quốc gia có nguồn dự trữ tài nguyên dồi dào và sẵn có để sử dụng cho du lịch mới tạo tiền đề để phát triển ngành, còn mức độ đầu tư và sự hình thành vốn cố định của nền kinh tế sẽ có vai trò quan trọng hơn nhiều Đầu tư vào các hoạt động phát triển du lịch đang được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm,khả năng sinh lợi nhuận cao
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch
Các điều kiện tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch là: địa hình đa dạng; khí hậu ôn hoà; động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi
Các chính sách du lịch chủ yếu của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương trong quản lý và phát triển du lịch tác động vào sản phẩm du lịch bao gồm: chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; chính sách phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; chính sách xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch; chính sách về vốn; chính sách thị trường; chính sách nghiên cứu khoa học, công nghệ du lịch và môi trường; chính sách cải cách hành chính
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của du khách Sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa
Trang 3021
phương luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ
và hiện đại với các cầu cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe nhìn hiện đại Hệ thống điện nước đầy đủ phân bố tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội Mạng lưới cung cấp các dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, tài chính, thương mại, quảng cáo….) phát triển rộng khắp, đã dạng và có chất lượng cao Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình phát triển kinh doanh Nó là yếu tố đảm bảo về điều kiện cho họat động sản xuất kinh doanh được thực hiện Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh để có thể hoạt động đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Ngành du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó
Tình hình chính trị - xã hội, du lịch của đất nước, địa phươngtrong thực tế mang vai trò rất quan tro ̣ng , sự ổn định chính trị và xã hội được một số nghiên cứu coi như là một đặc điểm của sản phẩm du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cầu của nhiều phân đoạn thị trường du lịch Thường những nước hay cso ba ̣o loa ̣n xảy ra sẽ ít phát triển du lịch hơn những nước ổn định về chính trị
Phát triển du lịch cũng có những điểm mạnh mà có thể được vận dụng để giành được lợi thế trên thị trường lao động đó là nguồn nhân lực Hoạt động này hiện được xem là năng động, linh hoạt và tạo nhiều cơ hội việc làm trong các cộng đồng dân cư khu vực
Kết luận chương 1:
Qua nghiên cứu chương 1, tác giả muốn tập trung vào những vấn đề sau:
Nêu các khái niệm về làng nghề, khái niệm về phát triển làng nghề, các khái niệm về chiến lược và tầm nhìn, thống nhất về chuỗi giá trị sản xuất để từ đó xác định được vấn đề cần tập trung nghiên cứu
Trang 3122
Nội dung chiến lược được xây dựng đa dạng với các loại hình khác nhau, phù hợp với từng ngành nghề riêng biệt Vì vậy ở chương 2, tác giả tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng để có được một chiến lược và giải pháp mang tính tổng quan
Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển làng nghề truyền thống trong mô hình kinh tế thị trường như hiện nay
Trong các chương 2 và chương 3 tiếp theo, tác giả tập trung phân tích thực trạng sản xuất - kinh doanh tại các làng nghề truyền thống chung trong cả nước và đặc biệt là thực trạng sản xuất – kinh doanh tại làng nghề truyền thống Gốm Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp nhằm phát triển hơn nữa thương hiệu cũng như đẩy mạnh việc đưa sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước của Gốm Bát Tràng
Trang 3223
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
GẮN VỚI DU LỊCH TẠI LÀNG GỐM BÁT TRÀNG 2.1 Quá trình hình thành và hoạt động sản xuất gốm ở làng gốm Bát Tràng
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trong cuốn “Quê gốm Bát Tràng” có nhắc tới cuốn sách Đại Việt sử ký toàn thư có nói đến vụ lụt lội xảy ra vào tháng bảy năm Nhâm Thìn, năm thứ mười hai niên hiệu Thiệu Phong nhà Trần (1352) “nước sông lớn tràn lan, vỡ đê Bát - Khối, lúa má bị ngập…” Đê Bát - Khối ở đây chính là đê Bát Tràng và Cự Khối Cũng trong sách này ghi vào tháng mười hai năm Bính Thìn, năm thứ tư niên hiệu Long Khánh (1376), vua Trần Nhân Tông mang mười hai vạn quân có đi qua “bến sông
xã Bát” Trong “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi cũng có nhắc đến làng gốm Bát Tràng: “Làng gốm Bát Tràng làm đồ bát chén”, “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang - hai làng ấy chuyên cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là bảy mươi bộ bát đĩa, hai trăm tấm vải thâm”[75]
Tuy nhiên, theo dân gian truyền lại thì làng gốm Bát Tràng có thể ra đời sớm hơn
Chưa tính đến gốm Bát Tràng, gốm Việt Nam nói chung với những dấu vết
đã tìm được thì các nhà khảo cổ học cho biết chúng có niên đại từ hơn 6.000 năm trước Đến giai đoạn gốm men Đại Việt (thế kỷ XI trở đi) thì trên đất nước ta đã hình thành nhiều trung tâm gốm: Hà Bắc, Thanh Hóa, Thăng Long, Đà Nẵng…
Trong thế kỷ XV, dưới triều Lê (1428-1527) và thế kỷ XVI (1527-1592) làng gốm Bát Tràng trở nên phát đạt, chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp cởi mở hơn, không chủ trương “ức thương” như thời kỳ trước nên kinh tế hàng hóa có điều kiện phát triển thuận lợi Sản phẩm gốm Bát Tràng cũng phong phú và được lưu thông rộng rãi
Thế kỷ XVI – XVII, vào thời gian này gốm Bát Tràng phát triển trong bối cảnh kinh tế mới của đất nước và khu vực Sau những phát kiến địa lý cuối thế
kỷ XV, nhiều nước phát triển của Tây Âu như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,
Trang 3324
Pháp… tràn sang phương Đông, đua nhau lập công ty, xây dựng căn cứ để buôn
bán với khu vực này
Nhà Minh ở Trung Quốc sau khi thành lập (1371) có chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài, làm cho việc xuất khẩu gốm nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế, từ đó tạo điều kiện cho gốm Việt Nam mở rộng thị trường ở Đông Nam Á Đến năm 1644, nhà Thanh lại thi hành chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài Chính trong thời gian này, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có gốm không bị hàng Trung Quốc cạnh tranh, lại có điều kiện phát triển hơn
Chính bối cảnh trên đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Việt Nam, thế kỷ XVI - XVII là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu trong đó ở phía Bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu Trong khi đó Bát Tràng có may mắn nằm bên bờ sông Nhị, ở khoảng giữa Thăng Long và phố Hiến - hai đô thị, hai trung tâm mậu dịch lớn nhất thời bấy giờ, trên đường thủy nối liền hai đô thị này, là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài
Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng bởi bối cảnh li ̣ch sử nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những sản phẩm đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây dựng - những sản phẩm thiết yếu cho mọi tầng lớp xã hội từ quí tộc đến dân thường
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường Bên cạnh những hộ sản xuất cá thể, đã xuất hiện một số chủ lò giàu có
Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đến năm 1957, các cá nhân là địa chủ ở đây
đã góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh, sản xuất đồ gốm dân dụng phục vụ xã hội Năm 1958, khi nhà nước có chính sách công tư hợp doanh thì công ty được chuyển đổi thành xí nghiệp sứ Bát Tràng với số công nhân có lúc lên tới 1.250 người Với cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thực hành, sáng tạo trên cơ sở sự cần cù, chịu khó Từ đó mà một thế hệ có tay nghề gốm vững chãi được hình thành Cũng trong thời gian này, các xí nghiệp và hợp tác xã
Trang 3425
liên tục ra đời: xí nghiệp X51, X54, hợp tác xã Hợp Thành, Hưng Hà, Hợp Lực… Bên cạnh những nghệ nhân có tiếng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn, Nguyễn Văn Cổn…
Từ 1986 trở đi, trong công cuộc đổi mới chung của cả nước, làng gốm Bát Tràng đã có nhiều chuyển biến lớn theo xu hướng kinh tế thị trường Phổ biến ở Bát Tràng hiện nay là những đơn vị sản xuất theo qui mô hộ gia đình Xã Bát Tràng ngày nay bao gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao, là một trung tâm gốm lớn của nước ta Sản phẩm gốm Bát Tràng ngày càng phong phú đa dạng, có mặt trên thị trường cả nước từ Bắc chí Nam, được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu
2.1.2 Con người, nếp sống và phong tục
Là một làng nghề cổ truyền có lịch sử nhiều thế kỷ nên nếp sống người dân làng Bát Tràng mang dấu ấn nghề nghiệp đậm nét Nằm ở ngoài đê, ngay bên mé nước sông Hồng, Bát Tràng đã trải qua nhiều phen thay đổi Mỗi lần con nước dâng
to thì phù sa lại bồi đắp cho Bát Tràng một lớp đất màu mỡ Thế nhưng mỗi khi dòng thay đổi thì nó lại cuốn theo biết bao nhiêu đồi bãi, nhà cửa
Bát Tràng là một xã thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội, có hai thôn Bát Tràng
và Giang Cao, là một khu sản xuất và kinh doanh gốm lâu đời và nổi tiếng ở Việt Nam Diện tích toàn khu là 164 ha, năm 1989, số dân toàn khu là 4964 người với
1170 hộ Đầu năm 2002, dân số toàn khu là 6655 người với 1628 hộ (Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc, 1995, tr 18; Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã Bát Tràng, 2002, tr 9)
Vì đất đai chật hẹp nên người dân Bát Tràng phải tận dụng từng tấc đất để vừa làm nhà ở, vừa dựng lò sản xuất Năm 1958, khi tiến hành xây dựng công trình Bắc- Hưng - Hải, người ta đã phát hiện được dấu tích của bể nước, sân gạch, lò gốm chìm sâu dưới lòng đất tới 12- 13 m Vì đất đai chật hẹp như thế nên người Bát Tràng có câu "Sống ở chật, chết chôn nhờ" (Đến nay xã Bát Tràng vẫn còn một nghĩa trang chôn nhờ trên đất Thuận Tốn, xã Đa Tốn) Mở đầu hương ước của làng, người dân làng Bát đã nêu cao tình làng nghĩa xóm, đạo lý sống ở đời:
“Lấy nhân đức khuyên bảo nhau chớ kể giàu nghèo
Trang 3526
Lấy điều phải làm lẽ sống, phải luôn tự sửa mình Đối xử với nhau theo lẽ tục không nên lấn lướt Hoạn nạn giúp nhau không được manh tâm chiếm đoạt.”
Dẫu rằng những người thợ gốm chỉ được xếp vào hạng thứ hai trong làng (sau các quan văn võ và những người giàu có), nhưng hàng năm vào tháng hai âm lịch, ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ ra đình một con trâu tơ thật béo, thui vàng, đặt trên chiếc bàn lớn, kèm theo là sáu mâm cỗ và bốn mâm xôi Khi lễ xong cỗ được hạ xuống chia đều cho các vách (hạng) cùng nhau ăn uống vui vẻ Đối với việc ma chay, làng lập ra “Hội nghĩa” không phân biệt giàu nghèo, nghề nghiệp, tuổi tác Hàng tháng, hội quy định mỗi người đóng góp vài đồng kẽm làm quỹ để lo việc đèn hương, phúng viếng người quá cố Gia đình nào có việc hiếu nếu cần, đến mời sẽ có người đến khênh giúp Làng lại có quy định mỗi đám tang đều phải vác hai tấm biển đi trước, nếu là đàn ông thì viết hai chữ Nho “Trung tín” bằng vôi trắng, còn đàn bà thì viết hai chữ “Trinh thuận” Người nào khi sống mắc phải những lỗi lầm thì hai tấm biển để trắng Đây là hình thức giáo dục tế nhị đối với mọi người trong trong làng xóm, cộng đồng Riêng đối với người thợ gốm, họ có tập tục thể hiện tính nghề nghiệp và cảm động Con dao mây là vật tuỳ thân rất gần gũi với đàn ông làng gốm Bát Tràng Khi sống họ luôn mang bên mình, khi qua đời thì hầu như người thợ gốm nào cũng dặn con cháu hãy chôn theo mình con dao thân thiết ấy Còn về cưới xin, xưa kia ở Bát Tràng, phần nhiều trai gái trong làng lấy nhau để nghề nghiệp không bị lộ ra ngoài Cũng có trường hợp con trai làng lấy vợ ở các xã lân cận, nhưng con gái làng Bát lấy chồng là con trai làng khác là điều hiếm thấy Lệ làng quy định, con gái lấy chồng làng phải nộp cheo 50 viên gạch, còn lấy con trai làng khác, số lượng nộp tăng gấp đôi Làng thu gạch để lát đường hoặc tu sửa đình, miếu,
Vào thời cuối Lê, làng Bát Tràng đã có 20 họ Cùng với sản xuất gốm, làm ruộng, buôn bán, việc học ở làng cũng được người dân hết sức coi trọng Trong hơn
5 thế kỷ, dưới thời học chữ Nho, Bát Tràng có 364 người đỗ đạt, trong đó có Trạng nguyên Giáp Hải (1506-1586), 8 người đậu tiến sĩ cùng nhiều quan võ
Trang 3627
Ban đầu, làng chỉ có một ngôi miếu nhỏ làm bằng tranh tre ở ngoài bãi sông Năm 1720, đình được làm với quy mô lớn Cột đình bằng gỗ lim người ôm không hết vòng tay Trong kháng chiến, đình đã bị bom Mỹ phá hủy Năm 1993, dân làng
đã góp tiền của dựng lại đình theo kiến trúc truyền thống Tại đình còn giữ được một số đồ tế khí như ngai thờ, bát bửu, chuông đồng, kiệu bát cống, hai biển gỗ tạo vào thời Minh Mạng, cùng nhiều hoành phi, câu đối cỡ lớn Đình Bát Tràng còn giữ được 50 đạo sắc phong thần có niên đại thời Lê, thời Tây Sơn, thời Nguyễn
Bát Tràng là một điểm tụ cư, vì thế ngoài Thành hoàng bản địa, nhân dân nơi khác đến cũng rước thành hoàng cũ của mình đến thờ Đó là thần Bạch Mã Đại vương; Trang Thuận Nghi Dung; Phan Đại tướng…
2.1.3.1 Những công trình kiến trúc văn hiến
Như mọi làng quê Việt Nam xưa, tại Bát Tràng có văn chỉ, đình, chùa, đền, miếu khang trang Dường như, những công trình kiến trúc ấy là những dấu hiệu chứng minh về một làng quê văn hiến Nơi đó chẳng những là niềm tự hào, là nơi thiêng liêng
để gửi gắm những ước mơ, khát vọng của mỗi người dân mà còn là nơi mọi người cùng tham gia những sinh hoạt cộng đồng với hội hè đình đám hàng năm
a Đình Bát Tràng:
Là một trong những ngôi đình lớn của xứ Kinh Bắc xưa, đình Bát Tràng không thờ tổ nghề mà thờ Lục vị Thành hoàng Theo bài “Tạo đình kí” thì Đình được làm lại, lợp ngói với qui mô đồ sộ vào tháng Chạp năm Canh Tý (1720) niên hiệu Bảo Thái đời vua Lê Dụ Tông Đình xây dựng theo kiểu chữ Nhị, phía trong là tòa Đại bái gồm năm gian hai chái, cột đình được làm bằng những cây gỗ lim to, các gian bên được lát bục gỗ để làm chỗ ngồi Địa thế của ngôi Đình rất đẹp, trông
ra dòng sông Nhị mênh mông, xa xa là núi Tam Đảo, Ba Vì Trải qua bao cơn dâu
bể, hiện nay Đình không còn nguyên vẹn như xưa, nhân dân Bát Tràng nhiều lần sửa sang để lấy nơi thờ cúng
Đình Bát Tràng được chia làm năm nóc:
- Nóc Ninh Tràng thờ Hán Cao Tổ và Lữ Hậu
Trang 3728
- Nóc Bảo Ninh thờ Cai Minh Chinh tự đại vương
- Nóc Đông Hội thờ Phan Đại Tướng
- Nóc Kỳ Thiện thờ Hộ Quốc Thần
- Nóc Đoài thờ thần Bạch Mã
Hiện nay, đình Bát Tràng còn giữ được hơn năm mươi đạo sắc của các thời
Lê - Tây Sơn và thời Nguyễn phong cho các Thần hoàng Xưa nhất là đạo sắc thời
Lê Cảnh Hưng Đặc biệt có nhiều đạo sắc của đời Quang Trung Đây là những di vật vô cùng quí giá mà đình Bát Tràng còn lưu giữ được
b Văn chỉ Bát Tràng:
Văn chỉ Bát Tràng được dựng ở phía sau đình Bát Tràng Trên Tam quan văn chỉ có ba chữ lớn bằng đá “Ngưỡng di cao” (trông lên vời vợi) Văn chỉ có kiến trúc theo kiểu chữ “Nhị” đều dựng năm gian Bức Hoành Phi bằng gỗ sơn son thếp vàng, ở tiền tế có hai chữ “Văn hội” (hội của làng văn) Trong văn chỉ có bệ thờ Đức Khổng Tử và bảy mươi hai vị học trò Bên trên bệ là bức hoành phi có dòng chữ “Thiên địa đồng lưu” (trời đất cùng luân chuyển)
Trước kia, mỗi khi hội họp làng văn, các quan viên coi việc ở Văn Chỉ lại đem hai bức trướng vóc có ghi đủ họ tên 364 vị khoa bảng của làng treo lên vị trí trang trọng để mọi người chiêm ngưỡng Đây chẳng những biểu hiện nét tự hào riêng của nhân dân Bát Tràng mà còn là nguồn động viên, khuyến khích các thế hệ con cháu chuyên tâm học hành tấn tới
c Đình Giang Cao và chùa Kim Trúc
Đình Giang Cao hiện chỉ còn tòa tiền tế, tòa hậu cung không còn nữa Trên nền cũ của hậu cung, dân làng đã dựng lại vài gian để thờ cúng Đình thờ ai và được xây dựng từ bao giờ tới nay không còn đủ tư liệu để khảo cứu
Chùa Kim Trúc là ngôi chùa chính của làng Bát Tràng Chùa nằm bên cửa sông Nhị Đáng tiếc nay chùa không còn nữa, tuy nhiên theo những gì được truyền lại thì chùa đã từng có kiến trúc với qui mô rất lớn
d Chùa Bảo Minh và chùa Tiêu Dao
Trang 3829
Chùa Bảo Minh xưa kia được dựng ở ngoài bãi sau làng, trên nền của hàng trăm ngôi mộ vô chủ Nay chùa không còn, chỉ còn một quả chuông đồng, trên có bốn chữ lớn “Bảo Minh tự chung” (chuông chùa Bảo Minh) Chuông cao gần một mét được đúc vào tháng Chạp năm Ất Mão (1795) năm thứ ba niên hiệu Cảnh Thịnh Đây là một hiện vật quí, góp thêm vào khối di sản văn hóa của thời Tây Sơn
Chùa Tiêu Dao nằm ở địa phận thôn Giang Cao Kiến trúc chùa xưa không còn, trên nền cũ của chùa hiện nay là trường Trung học cơ sở Bát Tràng Tương truyền, chùa xưa có qui mô to lớn, xây dựng trên nền đất cao, địa thế đẹp, trông về hướng Nam Hiện vật duy nhất còn lại của ngôi chùa là quả chuông đồng, đúc vào tháng ba năm Giáp Thân (1824), năm thứ ba niên hiệu Minh Mệnh Nội dung bài minh văn trên chuông cho biết do thời thế loạn lạc, lại thêm gió táp mưa sa lâu ngày nên chùa đổ nát, sau có một số thiện nam tín nữ trong làng đã đóng góp tiền của để sửa sang lại chùa
2.1.4 Đánh giá chung về sự phát triển của làng nghề truyền thống làng gốm Bát Tràng giai đoạn 2010- 2015
Gốm Bát Tràng nổi tiếng khắp cả nước Nhưng sản phẩm nào có dấu ấn riêng của Bát Tràng, chỉ có ở Bát Tràng mà không đâu khác, khách nhìn vào là nhận
ra ngay gốm Bát Tràng thì vẫn chưa có câu trả lời Ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung thì hiện nay, các tour du lịch gắn với làng nghề đều còn mang tính tự phát, điều này ảnh hưởng tới công tác quản lý và bảo vệ di sản, di tích của làng nghề, đưa công tác quản lý vào thế thụ động
Hiện nay, trên địa bàn xã Bát Tràng (Gia Lâm) có hơn 1.000 lò gốm lớn, nhỏ Sản phẩm gốm của Bát Tràng không chỉ thu hút khách du lịch trong nước, mà cả khách du lịch nước ngoài mỗi khi đến Hà Nội Theo Ban quản lý chợ gốm Bát Tràng, trung bình hàng tháng, chợ gốm Bát Tràng đón 25-30 nghìn lượt khách trong nước, 5-6 nghìn lượt khách quốc tế Mặc dù năm 2010 - 2015, được coi là năm khó khăn của nền kinh tế, nhiều làng nghề đều rơi vào hoàn cảnh khó khăn, sản xuất giảm sút, nhưng tại khu vực chợ gốm Bát Tràng khách đến tham quan vẫn khá tập nập, cho dù không phải là ngày cuối tuần Từ khách nội thành tới khách du lịch ở
Trang 3930
các tỉnh khác, và tất nhiên, không thể vắng những du khách nước ngoài Chị Nga, một người bán hàng tại khu vực chợ gốm Bát Tràng cho biết: “Lượng khách đến tham quan chợ gốm từ Tết ra đến giờ vẫn đông lắm, cả khách nước ngoài, khách các nơi khác đến, rồi học sinh, sinh viên các trường đại học cũng đi xe bus đến”
Bảng 2.1Bảng số lượng khách nước ngoài đến địa bàn xã Bát Tràng du lịch
(UBND xã Bát Tràng cấp)
Mấy năm trở lại đây, Bát Tràng còn mở thêm dịch vụ để du khách tham quan trực tiếp một số xưởng sản xuất, tham gia trực tiếp vào một số công đoạn sản xuất
và đã thu hút được nhiều du khách Thú chơi vẽ gốm ở Bát Tràng đã và đang là một thú chơi độc đáo, hấp dẫn trí tò mò của bất kỳ du khách nào có dịp ghé qua
Theo lời kể của các chủ xưởng gốm: Thú chơi vẽ gốm mới được người dân đưa vào hoạt động 8 năm trở lại đây Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, hoạt động này đã thu hút một số lượng lớn khách du lịch tham gia, nhất là các bạn trẻ Vẽ gốm, nặn gốm không những giúp du khách hiểu hơn về những công đoạn của việc làm gốm, mà còn giúp du khách tiếp cận với nghệ thuật làm gốm theo cách riêng của mỗi người Không chỉ thu hút các em học sinh, sinh viên… trò chơi vẽ, nặn gốm còn thu hút rất nhiều du khách quốc tế
Trang 4031
Các làng nghề trên địa bàn Hà Nội có mật độ lớn, nằm dọc các trục đường giao thông và gắn liền với những di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, nên rất thuận lợi cho các công ty du lịch lữ hành đầu tư, xây dựng những tour, tuyến du lịch Thời gian qua, nhiều công ty du lịch lữ hành của Hà Nội và các tỉnh bạn đã triển khai các tour đưa du khách đến tham quan các điểm du lịch làng nghề nổi tiếng Tuy nhiên, theo đánh giá, hiện việc phát triển các tour du lịch làng nghề trên địa bàn Thủ đô còn nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, giao thông yếu kém, phong cách phục vụ không chu đáo, thiếu sự chuyên nghiệp…
Bên cạnh đó, thuyết trình viên tại làng nghề gốm Bát Tràng vừa thiếu lại yếu Mặt khác, sản phẩm tại các làng nghề Bát Tràng còn sơ sài về chủng loại và mẫu
mã việc phát triển làng nghề gắn với du lịch đã tạo ra một hình thức xuất khẩu tại chỗ hữu hiệu, góp phần quảng bá hình ảnh làng nghề, sản phẩm làng nghề ở khắp mọi nơi Song, chỉ vì sản phẩm của Bát Tràng còn sơ sài, không làm mới chủng loại mẫu mã, chất liệu nên 2-3 năm trở lại đây, thị trường xuất khẩu cũng đã bị thu hẹp đáng kể
Theo bà Phạm Thị Thu Hoài - Phó chủ tịch xã Bát Tràng chia sẻ “Mục tiêu của giai đoạn 2016-2020 là phát triển bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với du lịch” Nhưng thực tế ở thời gian hiện tại là mặc dù phát triển du lịch làng nghề được
ưu tiên trong chiến lược phát triển du lịch làng gốm Bát Tràng, nhưng chúng ta vẫn còn ít kinh nghiệm trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị làng nghề truyền thống, văn hóa cư dân bản địa và xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn Điểm chung của các làng nghề là thường nằm ở trung tâm hoặc gần đô thị lớn, trục giao thông đường bộ, đường sông, do đó rất thuận tiện cho việc xây dựng tuyến du lịch làng nghề Một số tỉnh, thành phố, trong đó có Hà Nội đang triển khai mạnh loại hình du lịch này nhưng hiệu quả chưa cao Những làng nghề đã thu hút nhiều
du khách chỉ mang tính tự phát Nguyên nhân chính là các ban, ngành liên quan thiếu sự phối hợp cần thiết trong xây dựng, quy hoạch du lịch làng nghề
Tuy nhiên làng nghề gốm Bát Tràng chưa có những điều kiện để trình diễn, dịch vụ nhằm phục vụ khách tham quan đang còn khá nghèo nàn Sự tham gia của