1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng việt (trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường trung học cơ sở thạch hòa, thạch thất, hà nội)

115 476 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những tài liệu này, các tác giả trình bày một cách khá bao quát về nội dung, phương pháp dạy học trên các phương diện khác nhau của tiếng Việt, gắn liền với các nội dung đó là các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN KIỀU OANH

KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT

(Trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường THCS Thạch Hòa,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Kiều Oanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đinh Kiều Châu Nhân đây, tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới TS Đinh Kiều Châu- người thầy đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy,cô giáo, những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao vốn kiến thức ngôn ngữ trong thời gian theo học chương trình thạc sĩ ngôn ngữ khóa 2013-2015 tại trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, các em học sinh, những người đã động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Kiều Oanh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

2.1 Tỉ lệ các nhóm lỗi sử dụng động từ 49

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa của luận văn 6

7 Cấu trúc luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 7

1.1 Động từ và động từ trong tiếng Việt 7

1.1.1 Khái niệm động từ 7

1.1.2 Phân loại động từ 8

1.1.3 Vai trò của động từ trong giao tiếp 10

1.1.4 Một vài đặc trưng khác của động từ tiếng Việt 11

1.2 Một số vấn đề về “lỗi” ngôn ngữ 12

1.2.1 Khái niệm “lỗi” ngôn ngữ 12

1.2.2 Quan điểm về phân tích lỗi 14

1.2.3 Lỗi dùng từ trong tiếng Việt 16

1.2.4 Lỗi sử dụng động từ trong tiếng Việt 17

1.3 Một số vấn đề dạy- học từ ngữ trong nhà trường THCS hiện nay 18

1.3.1 Phân phối trong phân môn tiếng Việt 18

1.3.2 Nội dung dạy học từ ngữ 19

1.3.3 Phương pháp quan sát - phân tích ngôn ngữ 20

1.3.4 Vấn đề dạy- học động từ tiếng Việt 22

Trang 6

Chương 2: Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng Việt 26

2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát 26

2.1.1 Phạm vi khảo sát 26

2.1.2 Nội dung khảo sát 26

2.1.3 Phương thức khảo sát 27

2.2 Kết quả khảo sát 28

2.2.1 Sử dụng động từ sai về ngữ âm (chính tả) 29

2.2.3 Sử dụng động từ sai về quan hệ kết hợp 39

2.2.4 Sử dụng động từ sai về phong cách 45

2.2.5 Nhận xét về thực trạng “lỗi” sử dụng động từ 46

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3: Bàn luận và đề xuất 55

3.1 Nguyên nhân 55

3.1.1 Nguyên nhân khách quan 55

3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 60

3.2 Một số đề xuất để cải thiện thực trạng lỗi sử dụng động từ 65

3.2.1 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả sử dụng động từ của học sinh 65

3.2.2 Một số bài tập củng cố về động từ và chữa lỗi sử dụng động từ của học sinh 75

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 98

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dạy- học từ ngữ từ trước đến nay luôn được xác định là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục phổ thông đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn Vai trò của dạy học từ ngữ trong nhà trường được cụ thể hóa bằng những yêu cầu, mục tiêu và phương pháp cụ thể gắn liền với nội dung dạy học này Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả dạy-học từ ngữ chưa đáp ứng được những yêu cầu đã đặt ra Xoay quanh việc dạy và học từ ngữ còn nhiều vấn đề tồn tại trong đó phải kể đến vấn đề về lỗi sử dụng từ ngữ của học sinh trong nhà trường

Vấn đề về lỗi và phương pháp chữa lỗi được không ít nhà ngôn ngữ- giáo dục quan tâm và được trình bày trong nhiều giáo trình, chuyên luận và bài viết Song, một thực tế vẫn tồn tại là lỗi sử dụng từ ngữ vẫn xuất hiện nhiều trong những bài viết của học sinh, đi liền với đó là sự hiểu biết và khả năng nhận diện cũng như vận dụng từ ngữ của học sinh còn chưa cao Thực tế này đòi hỏi những nghiên cứu mang tính thực tiễn, toàn diện và đồng bộ hơn nữa để đưa ra những giải pháp thiết thực giúp cải thiện thực trạng này

Trong hệ thống từ ngữ, xét trên phương diện từ loại, động từ là một trong những đơn vị từ loại cơ bản Động từ có vai trò quan trọng trong giao tiếp và dạy- học từ ngữ ở nhà trường phổ thông Tuy nhiên cũng giống như vấn đề từ ngữ nói chung, (đó là sự am hiểu và khả năng huy động, sử dụng từ ngữ của học sinh còn non kém dẫn đến hạn chế trong hiệu quả giao tiếp) , lỗi

sử dụng động từ của học sinh vẫn tồn tại và thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau đặt ra yêu cầu cần khắc phục

Xuất phát từ thực tế này, luận văn của chúng tôi chọn đề tài: “ Khảo sát

lỗi sử dụng động từ tiếng Việt (trên tư liệu môn Ngữ văn của học sinh trường trung học cơ sở Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội)” với mong muốn tìm hiểu

Trang 8

ngữ là động từ Trên cơ sở những khảo sát cụ thể luận văn hi vọng có thể đưa

ra những giải pháp hướng đến cải thiện hiệu quả dạy- học từ ngữ

Trước tiên, phải kể đến những tài liệu khái quát về dạy học và thực

hành tiếng Việt ở trường phổ thông như “Tiếng Việt thực hành” của Lê A- Bùi Minh Toán- Nguyễn Đăng Ninh [1]; “Tiếng Việt thực hành” của Nguyễn

Minh Thuyết (chủ biên) [37] và một số tập bài giảng và tài liệu tương tự khác của tác giả Nguyễn Đăng Châu [53],… Trong những tài liệu này, các tác giả trình bày một cách khá bao quát về nội dung, phương pháp dạy học trên các phương diện khác nhau của tiếng Việt, gắn liền với các nội dung đó là các loại lỗi thường gặp và các dạng bài tập ứng dụng chữa lỗi cho học sinh Tuy nhiên, nội dung về lỗi và chữa lỗi trong những tài liệu này còn sơ lược

Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu đi vào khảo sát lỗi ngôn ngữ của học sinh trên các phương diện cụ thể khác nhau của ngôn ngữ Về mặt

ngữ pháp, có thể kể đến cuốn “Mấy gợi ý về phân tích và sửa lỗi ngữ pháp

cho học sinh” của Nguyễn Minh Thuyết, “Lỗi ngữ pháp của học sinh, nguyên nhân và cách chữa” của Nguyễn Xuân Khoa” hay Hồ Lê- Lê Trung hoa với

“Sửa lỗi ngữ pháp” Về mặt chính tả, có thể kể đến nghiên cứu của Phan Ngọc với “Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội” và “Mẹo giải nghĩa từ

Trang 9

Việt và chữa các lỗi chính tả liên quan đến từ Hán - Việt Hay Hoàng Phê trên

cơ sở tìm hiểu lỗi chính tả ở cả ba vùng Bắc-Trung- Nam đã biên soạn cuốn

“Chính tả tiếng Việt” dưới dạng một từ điển

Những tư liệu vừa nêu ở trên chính là những tư liệu bổ ích cho việc thực hiện đề tài luận văn của chúng tôi

2.2 Lịch sử nghiên cứu lỗi sử dụng từ ngữ trong dạy- học tiếng Việt

Ngoài những nghiên cứu về lỗi ngữ pháp và lỗi chính tả đã nêu ở phần trên thì cũng có một số nghiên cứu khác tiến hành khảo sát lỗi dùng từ Tiêu

biểu như “Lỗi từ vựng và cách khắc phục” của các tác giả Hồ Lê, Trần Thị

Ngọc Lang, Lê Đình Nghĩa[26] Ở đây, các tác giả đã phân lỗi về từ ngữ thành chín loại từ đó đưa ra cách khắc phục Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn mang tính khái quát mà chưa đi sâu vào làm nổi bật những vấn đề cụ thể về lỗi sử dụng từ ngữ; một số nội dung vẫn bị trùng lặp và chưa đưa ra được giải pháp toàn diện cho những vấn đề các tác giả đã đặt ra

Trong cuốn “Từ điển lỗi dùng từ” do Hà Quang Năng chủ biên[28], tác

giả đã xác định năm dạng lỗi cơ bản như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai

ý nghĩa, dùng lặp từ, dùng thừa từ và thiếu từ, dùng từ sai phong cách và sai

từ loại Từ đó, các tác giả đưa ra biện pháp khắc phục các loại lỗi đó Đây là tài liệu hữu ích cho học sinh trong việc mở rộng vốn từ và cho giáo viên trong việc rèn luyện từ ngữ cho học sinh

“Rèn luyện kỹ năng dùng từ và kỹ năng về chính tả” cũng được đề cập

đến trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn

Văn Hiệp [37] Các tác giả đã khái quát thành ba loại lỗi dùng từ chính: lỗi thông thường về dùng từ trong văn bản, lỗi chính tả, lỗi về quy tắc viết hoa và quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài Gắn liền với các loại lỗi đó là các bài tập khắc phục

“Tiếng Việt thực hành” của tác giả Lê A [1] cũng đưa ra các yêu cầu

Trang 10

như đã nêu ở trên, do tính bao quát của tài liệu mà nội dung về lỗi sử dụng từ ngữ còn khá đơn giản và sơ lược

Sau này, vấn đề phân tích và chữa lỗi ngôn ngữ được nghiên cứu sâu hơn trên nhiều vấn đề và bình diện khác nhau trong các luận văn và luận án nhưng lại hầu như tập trung chủ yếu trong ứng dụng dạy- học tiếng Việt như một ngoại ngữ mà ít quan tâm đến vấn đề dạy- học bản ngữ

Kế thừa những nghiên cứu trên, luận văn tiếp tục triển khai nghiên cứu lỗi

về mặt từ ngữ trên một loại từ cụ thể hơn là động từ Trên cơ sở những khảo sát

cụ thể luận văn hướng tới đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề

Động từ cùng với danh từ là những từ loại quan trọng của ngôn ngữ Tuy nhiên, những nghiên cứu về lỗi sử dụng động từ trong dạy và học tiếng Việt còn sơ lược và thường đặt trong những nghiên cứu về lỗi sử dụng từ ngữ nói chung Những nghiên cứu độc lập về lỗi sử dụng động từ tiếng Việt cũng như những nghiên cứu về lỗi của các nhóm từ ngữ cụ thể trong nhà trường phổ thông còn rất hiếm

Vì vậy, nghiên cứu lỗi sử dụng động từ tiếng Việt của học sinh phổ thông là một hướng tiếp cận mang tính cụ thể hơn nối tiếp những nghiên cứu trước đây về lỗi ngôn ngữ trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông Trên đây là những nét sơ lược nhất về lịch sử nghiên cứu lỗi ngôn ngữ trong dạy học tiếng Việt nói chung và lịch sử nghiên cứu lỗi sử dụng động từ nói riêng Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trình bày ở trên là cơ sở

lý luận để chúng tôi thực hiện đề tài của mình

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lỗi sử dụng động từ tiếng Việt của học sinh trung học cơ sở (THCS)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Luận văn tập trung nghiên cứu lỗi sử dụng động từ tiếng Việt trên cứ liệu môn Ngữ văn của học sinh trường THCS Thach Hòa (các cứ liệu cụ thể xin trình bày chi tiết ở chương 3)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

để giúp nâng cao hiệu quả dạy và học từ ngữ trong nhà trường

4.2 Nhiệm vụ nghiên cúu

- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý thuyết liên quan đến lỗi và việc giải quyết

các vấn đề lỗi của học sinh

- Thống kê, phân loại, miêu tả và phân tích các loại lỗi liên quan đến việc

sử dụng động từ của học sinh

- Bước đầu chỉ ra những nguyên nhân, đề xuất giải pháp sửa chữa và cách

khắc phục

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê số lượng các lỗi xuất hiện trong các bài viết của học sinh sau đó tiến hành phân loại thành các nhóm lỗi

trên những phương diện cụ thể

- Phương pháp phỏng vấn thực địa: phỏng vấn ngẫu nhiên một số đối tượng khảo sát và giáo viên ngữ văn trong trường, thông qua đó lý giải một số

hiện tượng liên quan

- Phương pháp miêu tả và phương pháp phân tích lỗi của ngôn ngữ học ứng dụng: trên cơ sở miêu tả các loại lỗi, tiến hành phân tích cụ thể theo từng

Trang 12

6 Ý nghĩa của luận văn

- Việc khảo sát, nghiên cứu và phân tích lỗi sử dụng động tiếng Việt của học sinh trường THCS Thạch Hòa góp phần làm rõ hơn thực trạng lỗi sử dụng

động từ nói riêng và sử dụng từ ngữ nói chung của học sinh THCS hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo giúp ích cho việc dạy và học nhóm từ loại này, từ đó hướng đến việc nâng cao hiệu

quả sử dụng động từ nói riêng và từ ngữ nói chung cho học sinh THCS

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn của chúng tôi bao gồm

ba chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

- Chương 2: Khảo sát một số lỗi sử dụng động từ tiếng Việt

- Chương 3: Bàn luận và đề xuất

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.1 Động từ và động từ trong tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm động từ

Động từ là một từ loại tương đối phức tạp trong hệ thống ngôn ngữ Chính vì thế, trong nghiên cứu từ loại tiếng Việt, vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về động từ Khái niệm động từ cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhưng về cơ bản khái niệm này được xác định trên ba phương diện : ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp

Trong sách giáo khoa “Ngữ văn 6” [5], động từ được định nghĩa là những từ chỉ hoạt động trạng thái của sự vật, thường kết hợp với những từ đã,

sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, chớ, đừng… để tạo thành cụm động từ Chức vụ

điển hình của động từ là vị ngữ [5;146]

Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban, động từ được định nghĩa cụ thể hơn là “những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá

trình” Ý nghĩa đó thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể, được

khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian Động từ thường có các phụ từ đi kèm để biểu thị ý nghĩa quan hệ

có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với các đặc trưng vận động của quá trình trong không gian và trong thời gian Động từ có khả năng đảm nhận nhiều chức vụ ngữ pháp trong câu trong đó chức năng quan trọng nhất là làm vị ngữ giúp nó đối lập với danh từ [3;103-104]

Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Viêt: từ loại I &II”

[14;126-134] khi định nghĩa về động từ tiếng Việt, tác giả nhấn mạnh ý nghĩa vận động (ở bậc khái quát nhất) trong quan hệ với thực thể và thời gian của động từ Tác giả cũng đề cập đến khả năng kết hợp của động từ với sự thể

Trang 14

Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (dành cho sinh viên các trường

cao đẳng sư phạm) [39] động từ được định nghĩa tương tự như trong sách

giáo khoa (SGK) lớp 6 nhưng được triển khai một cách sâu hơn và hệ thống hơn trên cả ba phương diện: ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ

cú pháp

Để phù hợp và thuận tiện cho sự triển khai của đề tài, luận văn của

chúng tôi xin lấy định nghĩa trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” [39] làm

cơ sở trong quá trình thực hiện đề tài của mình: động từ, về ý nghĩa ngữ pháp,

là những từ có ý nghĩa ngữ pháp khái quát là chỉ hoạt động, trạng thái Về khả năng kết hợp, chúng có khả năng kết hợp với các phó từ, đặc biệt là phó từ chỉ mệnh lệnh Về chức vụ ngữ pháp, nó có thể đảm nhận nhiều chức vụ ngữ pháp khác nhau trong đó chức năng điển hình của nó là làm vị ngữ [39;35]

1.1.2 Phân loại động từ

Việc phân loại động từ trong tiếng Việt từ trước đến nay luôn gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu, chưa có một quan điểm thống nhất về việc phân loại động từ Ở đây, chúng tôi chỉ xin trình bày một số quan điểm tiêu biểu về phân loại động từ tiếng Việt

Trước hết, về cách phân loại đơn giản nhất được trình bày trong

chương trình phổ thông mà cụ thể là trong sách Ngữ văn 6 [5;146], động từ

tiếng Việt được chia ra làm 2 loại:

- Động từ tình thái (thường đòi hỏi các động từ khác đi kèm)

- Động từ chỉ hoạt động, trạng thái (không đòi hỏi động từ khác đi kèm)

+ Động từ chỉ hoạt động ( trả lời cho câu hỏi làm gì?)

+ Động từ chỉ trạng thái ( trả lời cho câu hỏi làm sao? Thế nào?)

Trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban- Hoàng

Trung Thông [3;104-114] thì động từ lại được phân chia dựa theo tiêu chí về

Trang 15

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Đinh Văn Đức [14] tác giả không

đưa ra tiêu chí cũng như phân loại cụ thể mà tập trung làm rõ một số vấn đề tồn tại khi nhận diện và phân loại của một vài tiểu loại động từ cơ bản trong tiếng Việt: động từ nội động và động từ ngoại động; động từ tình thái - ngữ pháp; động từ chuyển động; động từ tổng hợp

Trong giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt do Bùi Minh Toán chủ biên

[39;36-42], các tác giả đưa ra hai tiêu chí phân loại động từ: dựa vào khả năng dùng độc lập trong câu và theo sự chi phối của các thành tố đi sau Vì hai tiêu chí này đều có đặc điểm chung là đều căn cứ vào quan hệ giữa động từ với các thành tố phụ đi sau, nên các tác giả đã căn cứ vào cả hai tiêu chí này để phân chia động từ thành các loại như sau:

- Các động từ thường không dùng độc lập làm thành phần câu mà phải dùng với một từ hoặc cụm từ đi sau, gồm có:

+ Động từ tình thái;

+ Động từ chỉ sự biến hóa;

+ Động từ chỉ diễn tiến của hoạt động;

Trang 16

- Các động từ độc lập: có khả năng dùng một mình trong một chức năng cú pháp của câu:

+ Nội động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái tự thân, không tác động đến một đối tượng nào khác và không thể có thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự tác động Nội động từ bao gồm các nhóm nhỏ sau: động từ chỉ tư thế; chỉ

sự di chuyển; chỉ quá trình; chỉ trạng thái tâm lí, sinh lý; chỉ trạng thái tồn tại

+ Ngoại động từ là những từ có chuyển đến tác động đến một đối tượng nào đó và thường đòi hỏi có thành tố chỉ đối tượng chịu sự tác động Ngoại động từ được chia thành các nhóm nhỏ sau: động từ tác động; động từ chỉ sự

di chuyển đối tượng trong không gian; các động từ chỉ sự phát nhận; động từ chỉ sự kết nối các đối tượng; động từ chỉ hoạt động sai khiến, cầu khiến; động

từ chỉ hoạt động đánh giá giữa các đối tượng và các động từ chỉ hoạt động cảm giác, tri giác, nhận thức, nói năng

Tuy nhiên, do sự phức tạp của động từ nên sự phân loại động từ chỉ mang tính chất tương đối và tiêu biểu, vẫn còn những sự trùng lặp nhất định của một vài động từ ở trong một vài tiểu nhóm khác nhau Để phù hợp với đối tượng khảo sát là học sinh THCS, chúng tôi bám sát cách phân loại trong

“Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt” [39] đã nêu ở trên trong quá trình khảo sát

và phân tích lỗi sử dụng động từ của học sinh

1.1.3 Vai trò của động từ trong giao tiếp

Trong ngôn ngữ cũng như trong giao tiếp, động từ có vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò của động từ được Nguyễn Kim Thản khẳng định trong

cuốn Động từ tiếng Việt [35;7]: “động từ là một loại từ phức tạp nhất, chiếm

địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của ngôn ngữ” Nó

được thể hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, về số lượng, nó chiếm một số lượng lớn trong hệ thống từ loại của một ngôn ngữ, chỉ đứng sau danh từ

Trang 17

Thứ hai, về tần suất xuất hiện trong câu chiếm tỉ lệ lớn, theo thống kê của Nguyễn Kim Thản [35;7] thì số câu có vị ngữ là động từ chiếm 88%, là tính từ chiếm 4% và danh từ là 8% Ngoài ra động từ còn xuất hiện với nhiều chức năng khác trong câu

Thứ ba, về quan hệ với các thành tố khác trong câu, động từ đóng vai trò là trung tâm của các mối quan hệ giữa chủ thể với các yếu tố khác như đối tượng, hoàn cảnh, thời gian…

Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của động từ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Chính vì thế, việc học tập và rèn luyện động từ trong chương trình phổ thông là một việc thực sự cần thiết

1.1.4 Một vài đặc trưng khác của động từ tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính với những đặc trưng tiêu biểu mang tính loại hình khu biệt với các loại hình ngôn ngữ khác trên thế giới Những đặc trưng này chi phối các thành tố khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ của tiếng Việt trong đó có động từ Một trong các biểu hiện mang tính loại hinh của động từ là các phạm trù ngữ pháp liên quan: thời; dạng

1.1.4.1 Phạm trù thời

Phạm trù thời là khái niệm dùng để chỉ sự định vị các sự kiện trên dòng thời gian trong đó có một sự kiện (thường là tại thời điểm nói) được lấy làm chuẩn Phạm trù thời thường được thể hiện bằng các phương thức khác nhau trong các loại hình khác nhau Ở các ngôn ngữ biến hình, thời thường được thể hiện thông qua sự biến đổi dạng thức của động từ Còn trong tiếng Việt, động từ không biến đổi dạng thức để thể hiện ý nghĩa thời mà thể hiện thông qua các phụ từ đi kèm với động từ Chính vì thế mà động từ tiếng Việt được coi là không có phạm trù thời theo đúng nghĩa của nó

Các phụ từ có khả năng thể hiện ý nghĩa thời trong tiếng Việt là: đã,

Trang 18

cạnh khả năng biểu thị ý nghĩa thời thì chúng còn có thể biểu thị ý nghĩa từ loại riêng của nó mà ở đây thiên về ý nghĩa tình thái Trong một số trường hợp, tùy thuộc vào mục đích và ngữ cảnh phát ngôn mà ý nghĩa thời có thể mất đi thay vào đó là ý nghĩa tính thái

1.1.4.2 Phạm trù dạng

Phạm trù dạng là sự biểu thị mối quan hệ giữa chủ thể và hành động thông qua các dạng thức khác nhau của động từ mà thông qua đó ta xác định được chủ ngữ ngữ pháp là tác nhân gây ra hành động hay là đối tượng chịu sự tác động của chính hành động đó Trong một ngôn ngữ thường phân biệt hai dạng của động từ: dạng chủ động (chủ ngữ là tác nhân) và dạng bị động (chủ ngữ là đối tượng)

Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên không tồn tại các dạng

thức khác nhau của động từ mà theo Đinh Văn Đức [14;168] “tiếng Việt

không có phạm trù dạng” mà chỉ có “ý nghĩa tiếp thụ” Ý nghĩa tiếp thụ của

động từ được thể hiện bằng phương tiện hư từ thông qua các từ: bị, được, phải

Vì là một hư từ, nên những từ biểu thị ý nghĩa tiếp thụ cũng có khả năng biểu thị ý nghĩa tình thái, và trong nhiều trường hợp ý nghĩa tình thái có khả năng lấn át ý nghĩa tiếp thụ

Trên đây, luận văn chúng tôi vừa trình bày một số nội dung lý thuyết liên quan đến động từ tiếng Việt Đây chính là cơ sở để chúng tôi triển khai những nghiên cứu tiếp theo về đối tượng của mình

1.2 Một số vấn đề về “lỗi” ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm “lỗi” ngôn ngữ

Nghiên cứu lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhưng phải đến khi lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Chomsky ra đời thì việc nghiên cứu lỗi ngôn ngữ mới có một bước phát triển mới Khái niệm lỗi ngôn ngữ cũng được các nhà ngôn ngữ học đưa ra trong nghiên cứu về dạy ngoại

ngữ S.P Corder định nghĩa lỗi“là kết quả của sự thể hiện không thành

Trang 19

công…Lỗi không phải là một vấn đề phải vượt qua hay là những cái gì sai trái, hay là điều đáng xấu hổ phải xóa bỏ Thực ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiến lược mà người học đã sử dụng

để học một ngoại ngữ Lỗi cung cấp cho chúng ta những sự hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu về quá rình học một ngoại ngữ”

[dẫn theo 22; 7]

Trong Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng của Nhà xuất bản Longman

năm 1985 định nghĩa về lỗi như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc

viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc là chưa đầy đủ” [dẫn theo 22;8]

Còn theo Hendrickson lỗi “là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt

hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể chấp nhận được bởi vì cách sử dụng không hợp lí của chúng hoặc là sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường” [dẫn theo 22;8]

Trong luận văn của mình, chúng tôi bám sát vào định nghĩa của Hendrickson làm cơ sở để nhận diện và phân tích lỗi

Một điểm khác mà các nhà ngôn ngữ học ứng dụng cũng lưu ý chúng ta khi nói về khái niệm lỗi ngôn ngữ là chỉ ra sự khác nhau của hai khái niệm

"lỗi" (error) và "lầm" (mistake) Theo các nhà ngôn ngữ học này thì “lỗi” xuất hiện do tri thức về ngôn ngữ đích (ngôn ngữ được học) còn hạn chế và mang tính thường xuyên tạo thành hệ thống trong khi “lầm” xuất hiện do những yếu

tố tâm sinh lý như mệt mỏi, lơ đãng, nói nhịu và có tính ngẫu nhiên, không thường xuyên và không tạo thành hệ thống [dẫn theo 27;13]

Trong luận văn của mình, do sự chi phối của phạm vi khảo sát cũng như phương thức khảo sát mà chúng tôi thực hiện nên chúng tôi không thể

Trang 20

sử dụng thuật ngữ lỗi ngôn ngữ cho toàn bộ những hiện tượng ngôn ngữ mà chúng tôi dẫn ra

1.2.2 Quan điểm về phân tích lỗi

Như đã nói ở trên, nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm

30 của thế kỷ XX và trải qua nhiều giai đoạn phán triển với những khuynh hướng khác nhau Dưới đây, chúng tôi xin khái quát ba lý thuyết cơ bản trong lịch sử nghiên cứu lỗi ngôn ngữ

1.2.2.2 Khuynh hướng phân tích đối chiếu

Khuynh hướng phân tích đối chiếu ra đời vào những năm 40 và kéo dài đến những năm 60 của thế kỷ XX với những cái tên như C Fries, R.Lado… Khuynh hướng này có một số những đặc trưng sau:

Trang 21

Thứ nhất, khuynh hướng này dựa trên quan điểm của lý thuyết hành vi coi việc thụ đắc ngôn ngữ là hình thành một thói quen

Thư hai, khuynh hướng này cũng giống như lý thuyết hành vi cho rằng lỗi xuất hiện do chuyển di tiêu cực của quá trình giao thoa hai ngôn ngữ mà không có những nguyên nhân khác

Thứ ba, khuynh hướng này cũng cho rằng lỗi là sự thể hiện không thành công và cần phải loại trừ

Thứ tư, khuynh hướng này so sánh hai hệ thống ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ

và ngôn ngữ thứ hai) để tìm ra những điểm khác nhau nhằm tiên đoán và ngăn chặn lỗi

1.2.2.3 Khuynh hướng phân tích lỗi

Khuynh hướng phân tích lỗi ra đời vào cuối những năm 60 với những cái tên tiêu biểu S.P Corder, Selinker, William Nemser, E.Tarone… Khuynh hướng phân tích lỗi đi vào nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra hay là quá trình xác định sự tác động, bản chất và nguyên nhân cũng như kết quả của việc học ngôn ngữ không hiệu quả

Khuynh hướng phân tích lỗi cho rằng lỗi là cái gì đó “không thể thiếu

được” vì mắc lỗi có thể được coi là một cách thức mà người học dùng thụ đắc

ngôn ngữ đặc biệt là trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai

Khuynh hướng phân tích lỗi được S P Corder khái quát thành ba giai đoạn: nhận diện lỗi; miêu tả lỗi; giải thích lỗi

Nhận diện lỗi là việc người dạy đặt giả định rằng tất cả các câu của người học đều có thể sai sau đó xác minh giả định đó là đúng hay sai Ở giai đoạn này, chúng ta có ba loại lỗi: lỗi trước hệ thống; lỗi sau hệ thống; lỗi hệ thống

Trong giai đoạn miêu tả lỗi giáo viên cần chỉ cho người học thấy được những lỗi mà họ đã mắc phải thông qua so sánh hai câu sai và đúng đã tạo

Trang 22

Giải thích lỗi có thể thực hiện theo hai cách: theo lý thuyết hành vi coi

đó là những chuyển di tiêu cực của tiếng mẹ đẻ hoặc coi nó là một bộ phận tất yếu của quá trình tri nhận ngôn ngữ

Theo khuynh hướng phân tích lỗi, có hai cách phân loại:

- Phân loại lỗi dựa vào nguồn gốc có lỗi giao thoa và lỗi tự ngữ đích

- Phân loại lỗi dựa vào các đơn vị ngữ pháp: cách thức tiến hành là đi miêu tả ngữ pháp của các lỗi Đây là cách phân loại mà các công trình thực nghiệm về phân tích lỗi thường tiến hành Luận văn của chúng tôi cũng triển khai theo hướng phân loại lỗi này

Nguyên nhân mắc lỗi theo khuynh hướng phân tích lỗi xuất phát từ chiến lược của người học bao gồm chiến lược học và chiến lược giao tiếp Chiến lược học bao gồm chuyển di và vượt tuyến Chuyển di là chiến lược mà người học vận dụng những tri thức của tiếng mẹ đẻ vào để học ngôn ngữ đích Vượt tuyến là việc người học sử dụng những tri thức đã có hoặc tri thức suy đoán trong quá trình tri nhận ngôn ngữ để phát triển năng lực ngôn ngữ của mình dẫn đến vượt ra khỏi phạm vi của ngôn ngữ

Trên đây là một vài khái quát về các khuynh hướng nghiên cứu lỗi ngôn ngữ Trong đó, chúng tôi nghiêng về những giả thuyết của khuynh hướng phân tích lỗi và coi đây là cơ sở lý thuyết trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

1.2.3 Lỗi dùng từ trong tiếng Việt

Vận dụng một cách linh hoạt định nghĩa về lỗi nêu ở phần trên, theo mục đích của luận văn là khảo sát lỗi sử dụng động từ của học sinh THCS

chúng tôi sử dụng khái niệm có tính chất làm việc như sau: lỗi sử dụng từ ngữ

trong tiếng Việt có thể hiểu là việc sử dụng một đơn vị từ ngữ nào đó mà giáo viên dạy tiếng Việt cho là sai hoặc chưa hợp lý trên một phương diện nào đó

Trong giáo trình Tiếng Việt thực hành [1;188-198], các tác giả đã đưa

Trang 23

- Dùng từ đúng âm thanh và hình thức cấu tạo

- Dùng từ phải đúng về nghĩa

- Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp

- Dùng từ phải đúng với phong cách ngôn ngữ của văn bản

- Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản

- Dùng từ phải tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công thức

Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đã khái quát thành 4 loại lỗi dùng từ chủ yếu:

- Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ

- Lỗi về nghĩa của từ

- Lỗi về kết hợp từ

- Lỗi về phong cách

Luận văn của chúng tôi, trong quá trình khảo sát và mô tả lỗi sử dụng động từ của học sinh cũng bám sát vào cách phân loại này để tiến hành mô tả thực trạng lỗi sử dụng động từ của học sinh

1.2.4 Lỗi sử dụng động từ trong tiếng Việt

Như đã trình bày ở trên, khi tiến hành khảo sát lỗi sử dụng động từ trong tiếng Việt của học sinh trường THCS Thạch Hòa, chúng tôi cũng phân loại dựa trên bốn nhóm lỗi chính: về ngữ âm (chính tả); về ý nghĩa; về kết hợp

và về phong cách Trên cơ sở đó đi sâu vào xác định những nhóm lỗi phổ biến

mà học sinh mắc phải và làm nổi bật từng nhóm lỗi cụ thể với những đặc trưng điển hình của nó

- Lỗi về ngữ âm (chính tả) : ở đây chúng tôi xác định chủ yếu là những lỗi thuần về mặt ngữ âm của động từ

- Lỗi về ngữ nghĩa thể hiện trên các phương diện sau:

Trang 24

+ Sử dụng động từ sai về mặt ngữ âm dẫn đến sai về ý nghĩa

- Lỗi về kết hợp:

+ Kết hợp không đúng bản chất ngữ pháp của động từ

+ Kết hợp không đúng quan hệ ngữ nghĩa của động từ

+ Dùng thiếu hoặc thừa hoặc lặp từ

+ Sử dụng từ không phù hợp về từ loại

- Lỗi về phong cách

+ Sử dụng động từ sáo rỗng

+ Sử dụng động từ không đúng với phong cách ngôn ngữ văn bản

Những nội dung này sẽ được chúng tôi triển khai cụ thể và chi tiết hơn trong chương hai của luận văn

1.3 Một số vấn đề dạy- học từ ngữ trong nhà trường THCS hiện nay

1.3.1 Phân phối trong phân môn tiếng Việt

Trong chương trình tiểu học, về cơ bản, học sinh đã được làm quen với hầu hết các khái niệm cơ bản về từ ngữ trên cả phương diện từ vựng và từ loại Đến chương trình THCS, các nội dung về từ ngữ tiếp tục củng cố và hoàn thiện hơn phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh trong giai đoạn này

Cụ thể, trong phân phối chương trình THCS chúng tôi thống kê được có 47 tiết học về từ ngữ trên tổng số 560 tiết của bộ môn Ngữ văn bao gồm cả nội dung lý thuyết và thưc hành:

Trang 25

ở mức nhận diện các đơn vị kiến thức mà học sinh chưa được tìm hiểu sâu và rèn luyện những kỹ năng tương ứng một cách thành thạo, dẫn đến hiệu quả dạy- học chưa cao

1.3.2 Nội dung dạy học từ ngữ

1.3.2.1 Định hướng xây dựng nội dung dạy- học từ ngữ

Định hướng xây dựng nội dung dạy học từ ngữ ở phổ thông được khái

quát trong “Phương pháp dạy học tiếng Việt” [41;93-94] trên hai phương diện sau:

- Kế thừa và nâng cao tri thức kỹ năng từ vựng:

+ Thống nhất với tri thức cấp dưới nhưng không lặp lại các tri thức cấp dưới + Mở rộng, đào sâu những tri thức đã học

+ Tăng thêm những tri thức và kỹ năng mới

1.3.2.2 Nội dung dạy học từ ngữ

Nội dung dạy học từ ngữ trong chương trình THCS bao gồm 4 nội dung chủ yếu sau:

- Kiến thức về từ vựng: khái niệm từ, cấu tạo từ, vấn đề về nghĩa của

từ vựng, một số đơn vị từ vựng đáng chú ý trong tiếng Việt

Trang 26

Trong mỗi một tiết về lý thuyết từ ngữ đều có những yêu cầu cụ thể vể kiến thức, kỹ năng và thái độ Tuy nhiên yêu cầu về kiến thức vẫn được chú trọng hơn cả Do cấu trúc một bài học vẫn nặng về lý thuyết dẫn đến kỹ năng chưa được chú trọng

Về cơ bản, việc thực hiện nội dung chương trình chưa đáp ứng được những định hướng cũng như mục tiêu đặt ra khi xây dựng chương trình

1.3.2.3 Phương pháp cơ bản trong dạy học từ ngữ hiện nay

Nội dung dạy học từ ngữ là một bộ phận của phân môn tiếng Việt trong nhà trường Chính vì thế, về cơ bản, phương pháp dạy học từ ngữ là sự vận dụng của các phương pháp dạy học tiếng Việt trong nhà trường Các phương pháp này được cụ thể hóa thành các thủ pháp và hình thức dạy học khác nhau Dưới đây, chúng tôi xin được trình bày một số phương pháp dạy học từ ngữ

cụ thể đi kèm với nó là các thủ pháp và hình thức tổ chức dạy học từ ngữ phổ biến hiện nay

1.3.2.4 Phương pháp thông báo – giải thích

Phương pháp thông báo giải thích là phương pháp truyền thống trong dạy và học nói chung Hiện nay, phương pháp này không còn đáp ứng được những yêu cầu mới trong dạy và học Tuy nhiên, không phải vì thế mà xóa bỏ

nó Đối với một số nội dung kiến thức cũng như một số đối tượng cụ thể, phương pháp này vẫn bộc lộ được những ưu điểm của nó

Trong dạy và học từ ngữ, phương pháp này thường được dùng trong dạy và học lý thuyết từ ngữ Nhưng giáo viên không nên lạm dụng nhằm tránh tình trạng tạo thói quen thụ động trong học tập của học sinh mà phải vận dụng kết hợp với các phương pháp và các công cụ hỗ trợ khác

1.3.3 Phương pháp quan sát - phân tích ngôn ngữ

Phương pháp quan sát - phân tích ngôn ngữ là phương pháp dạy học gắn với quan điểm giáo dục hiện đại, quan điểm truyền động [52], thông qua

Trang 27

Phương pháp này bao gồm các biện pháp phối hợp với nhau: phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa logic, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi tìm, tổng hợp qui nạp bài học và thực hành củng cố: đi từ những ví dụ cụ thể đến đặc điểm và từ đó rút ra quy luật của hiện tượng ngôn ngữ

Phương pháp này có thể áp dụng trong dạy học cả lý thuyết và thực hành từ ngữ Nó giúp phát huy hiệu quả tính tích cực và chủ động lĩnh hội tri thức của học sinh Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi ở giáo viên những kỹ năng nhất định trong phân tích ngôn ngữ cũng như sự chuẩn bị tỉ mỉ, công phu

1.3.3.1 Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Phương pháp rèn luyện theo mẫu là cách dạy học mô phỏng, bắt chước một cách có ý thức một mô hình ngôn ngữ nào đó Thông qua đó giúp học sinh vận dụng mô hình ngôn ngữ đó vào hoạt động giao tiếp của mình Phương pháp này cũng có thể áp dụng trong cả dạy học lý thuyết và thực hành

từ ngữ

Khi dạy học lý thuyết thì ta có thể sử dụng các mẫu tích cực trên cơ sở

đó giúp học sinh rút ra nhưng đặc điểm về từ ngữ Khi dạy thực hành ngôn ngữ, mẫu có thể là cả những mẫu tiêu cực mà thông qua đó giáo viên và học sinh có thể phân tích củng cố kiến thức, rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn nội dung kiến thức được học đó

1.3.3.2 Phương pháp giao tiếp

Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy học đưa hoạt động dạy học vào trong môi trường giao tiếp Thông qua đó học sinh vừa lĩnh hội tri thức ngôn ngữ một cách có hệ thống vừa phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh

Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy học theo quan điểm giáo dục hiện đại Ở phương pháp này, người học là trung tâm và là chủ thể nhận thức của hoạt động dạy học Giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn, điều chỉnh

Trang 28

Các phương pháp này còn được thể hiện cụ thể thành các thủ pháp: phân tích và tổng hợp; so sánh đối chiếu; khái quát hoá; quy loại và phân loại; tạo tình huống có vấn đề và các hình thức: hình thức diễn giảng; hình thức đàm thoại; hình thức đọc sách giáo khoa và các phương tiện, công cụ hỗ trợ khác

Trên đây là một số phương pháp dạy học từ ngữ cơ bản và phổ biến hiện nay Trong thực tế, mỗi giáo viên lại có sự vận dụng linh hoạt những phương pháp cũng như thủ pháp và hình thức tổ chức dạy học trên hoặc tìm tòi thêm những phương pháp giáo dục mới thích hợp với từng nội dung dạy học và thế mạnh của giáo viên để đạt hiệu quả cao nhất

1.3.4 Vấn đề dạy- học động từ tiếng Việt

Động từ với tư cách là một từ loại tiếng Việt được đưa vào chương trình

Ngữ văn THCS cụ thể là trong SGK Ngữ văn 6 với thời lượng là 2 tiết: động từ và

cụm động từ Thời lượng này còn hạn hẹp so với nội dung của bài học

Mỗi tiết học bao gồm nội dung về lý thuyết và các bài tập thực hành Tuy nhiên, nội dung về lý thuyết về cơ bản chiếm đa số thời lượng của tiết học vì dung lượng của nội dung này khá nhiều và hàn lâm nên việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh còn bị xem nhẹ

Việc giảng dạy động từ tiếng Việt hiện nay hầu hết vẫn diễn ra theo hình thức thầy nói, trò nghe mà không có sự tìm tòi và vận dụng những phương pháp đặc thù của bài học làm cho tiết học trôi qua nặng nề, học sinh tiếp thu kiến thức một cách gò ép, không hiểu bản chất vấn đề và không thể vận dụng vào thực tế giao tiếp

Động từ là một từ loại quan trọng và khá phức tạp trong tiếng Việt chính vì vậy, việc học sinh chỉ nắm được bề mặt của nó với tư cách là một người bản ngữ biết sử dụng tiếng mẹ đẻ mà không hiểu sâu sắc về nó, chưa biết dùng thế nào cho hay cho đúng, có thể tránh được những lỗi trong sử dụng động từ thì việc dạy và học động từ tiếng Việt chưa thực sự đạt hiệu quả

Trang 29

1.3.5 Những định hướng mới trong dạy học từ ngữ

1.3.5.1 Những hạn chế trong dạy học từ ngữ hiện nay

Bên cạnh những tồn tại chung của việc dạy học ngữ văn thì theo chúng tôi, một trong những hạn chế lớn nhất của việc dạy học từ ngữ hiện nay là chưa quan tâm đến tính đặc thù của nội dung dạy học này Thể hiện ở những phương diện sau đây:

- Không có sự phân hóa cụ thể mục tiêu cũng như cách tổ chức nội

dung bài học theo đặc thù của nội dung dạy học từ ngữ , chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra với nội dung dạy học này

- Không có hệ thống phương pháp đặc thù cho việc dạy học nội dung

từ ngữ dẫn đến hiệu quả giờ học chưa cao

- Bỏ qua hoặc xem nhẹ những thao tác được coi là then chốt trong

dạy học từ ngữ như thao tác rèn luyện và chữa lỗi ngôn ngữ

Những hạn chế này tồn tại từ rất lâu trong hoạt động dạy học ngữ văn của chúng ta Muốn nâng cao hiểu quả dạy học thì cần phải lấy tính đặc thù của từng nội dung dạy học làm cơ sở cho việc tổ chức nội dung và hoạt động dạy học

1.3.5.2 Những định hướng mới trong dạy học từ ngữ giai đoạn tới

Trên cơ sở những định hướng mới trong xây dựng chương trình và nội dung dạy học ngữ văn nói chung và tiếng Việt nói riêng trong giai đoạn sau

2015 của Đỗ Ngọc Thống [55] và những hạn chế nêu ra ở trên, chúng tôi rút

ra một vài định hướng mới trong việc xây dựng chương trình cũng như việc dạy- học từ ngữ ở nhà trường như sau:

- Lấy mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp của học sinh làm trọng tâm để định hướng cho việc xây dựng chương trình

Trang 30

- Bám sát đặc thù của nội dung dạy học từ ngữ để xây dựng những nội dung dạy học trong những bài học cụ thể và lựa chọn những phương pháp dạy học thích hợp

- Giáo viên phải linh hoạt, quan tâm đến đặc điểm về năng lực, nhu cầu của người học cũng như những yêu cầu đặc thù của từng nội dung dạy học để

tổ chức hoạt động dạy học của mình

Chúng tôi vừa trình bày một vài những nét sơ lược nhất về vấn đề dạy- học từ ngữ ở trường phổ thông trên cả nội dung, phương pháp cũng như những định hướng mới trong thời gian tới Đây là cơ sở để chúng tôi triển khai những nội dung tiếp theo của luận văn

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận văn của chúng tôi dựa vào những nghiên cứu

về động từ tiếng Việt, lý thuyết phân tích lỗi ngôn ngữ và một số tổng kết sơ lược về tình hình dạy - học từ ngữ trong nhà trường hiện nay để đưa ra những

cơ sở lí thuyết cơ bản cho việc tiếp cận và làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của mình Cụ thể là:

Dựa trên những nghiên cứu về động từ và động từ tiếng Việt, luận văn làm rõ khái niệm, cách phân loại và vai trò cũng như một số đặc trưng tiêu biểu khác của động từ tiếng Việt

Cũng theo đó, từ việc chỉ ra những khuynh hướng nghiên cứu lỗi ngôn ngữ, chúng tôi cố gắng hệ thống hóa các cách nhận định về lỗi ngôn ngữ và khái niệm về lỗi Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định khuynh hướng phân tích lỗi là cơ sở lý thuyết phù hợp để tiến hành các khảo sát, phân tích cũng như xác định nguyên nhân tạo lỗi trong quá trình học và rèn luyện ngôn ngữ (bản ngữ) của học sinh, điều sẽ được làm rõ trong chương tiếp theo

Trang 32

Chương 2: Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng Việt 2.1 Một số nội dung liên quan đến khảo sát

2.1.1 Phạm vi khảo sát

Luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát trong phạm vi nội dung chương trình Ngữ văn ở nhà trường THCS mà cụ thể là trong những bài kiểm tra một tiết, kiểm tra học kỳ của học sinh cùng phiếu khảo sát, phỏng vấn thực

tế do chúng tôi thực hiện

Tuy nhiên, do khuôn khổ có giới hạn của luận văn, khảo sát của chúng tôi không thể thực hiện trên toàn bộ cấp học THCS mà chỉ triển khai cụ thể vào một nhóm đối tượng là học sinh lớp 9 trường THCS Thạch Hòa

Khảo sát của chúng tôi được thực hiện trên tổng số 97 học sinh trong

độ tuổi từ 13- 14, là độ tuổi mà năng lực sử dụng tiếng Việt với tư cách là một người bản ngữ của các em về cơ bản đã hoàn thiện, có thể vận dụng một cách linh hoạt tiếng Việt trong mọi tình huống giao tiếp hằng ngày Giới hạn phạm

vi khảo sát vào nhóm học sinh này giúp luận văn của chúng tôi có cái nhìn tập trung hơn về thực trạng lỗi sử dụng động từ tiếng Việt của học sinh THCS Thạch Hòa, qua đó cũng thấy rõ hơn thực tế hiệu quả của việc dạy- học tiếng Việt trong nhà trường hiện nay

2.1.2 Nội dung khảo sát

Luận văn khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng Việt trên một số nội dung

cơ bản sau:

- Những lỗi sử dụng động từ mà học sinh thường mắc phải trong các văn bản do chính các em tạo lập: số lượng lỗi, những phương diện mắc lỗi, sự thể hiện lỗi trong văn bản thực tế

- Kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lý các bài tập thực tế về động từ trên các phương diện: xác định hình thức ngữ âm đúng của động từ; nhận diện động từ với các từ loại khác có cùng hình thức ngữ âm; xác định

Trang 33

- Thái độ của học sinh đối với việc học các nội dung của phân môn tiếng Việt cũng như việc phát hiện và sửa lỗi sử dụng động từ trong quá trình tạo lập văn bản Nội dung này được thực hiện chủ yếu trên cơ sở những câu hỏi phỏng vấn đối với học sinh

Đây là ba nội dung cơ bản mà luận văn của chúng tôi muốn làm rõ trong việc thực hiện những khảo sát của mình Trong đó, hai nội dung đầu liên quan trực tiếp tới thực trạng lỗi sử dụng động từ trong nhà trường mà chúng tôi sẽ làm rõ trong chương hai Nội dung thứ ba chúng tôi sẽ nói đến một cách cụ thể hơn trong chương ba

2.1.3 Phương thức khảo sát

Những nội dung mà khảo sát vừa nêu ở trên được chúng tôi thực hiện thông qua ba phương thức khảo sát sau:

- Khảo sát qua những bài viết thực tế của học sinh : chúng tôi tiến

hành thu thập những bài kiểm tra một tiết; kiểm tra học kỳ môn Ngữ văn của nhóm học sinh mà chúng tôi lựa chọn khảo sát: bao gồm 2 bài kiểm tra một

tiết phần văn học và hai bài kiểm tra học kỳ với tổng số 330 bài viết Khảo sát

trên những bài viết thực tế của học sinh là khảo sát trọng tâm của luận văn, là

cơ sở để chúng tôi tiến hành triển khai các nội dung có liên quan

- Khảo sát bằng phiếu khảo sát: chúng tôi tiến hành xây dựng hai

phiếu khảo sát với tổng số 180 phiếu dưới dạng các bài tập về động từ trên cơ

sở những lỗi mà học sinh thường mắc phải trong những bài viết của mình Những khảo sát này bổ sung thêm tư liệu cho luận văn đồng thời cũng cho chúng tôi cái nhìn đầy đủ hơn về lỗi sử dụng động từ của học sinh qua đó thể hiện năng lực sử dụng ngôn ngữ trong phạm vi môn học của học sinh

- Khảo sát bằng phỏng vấn: khảo sát này được thực hiện trên cả hai đối tượng là giáo viên và học sinh với tổng thời lượng là 18 phút thu âm Bao gồm sáu câu hỏi phỏng vấn đối với ba giáo viên Ngữ văn trong nhà trường về các

Trang 34

hỏi phỏng vấn đối với tám học sinh được lựa chọn ngẫu nhiên trong các lớp

khác nhau nhằm đánh giá sự nhận thức cũng như thái độ của các em với nội dung dạy và học động từ trên lớp

Từ ba phương thức khảo sát trên, luận văn của chúng tôi đã thu được những kết quả thực tế về thực trạng lỗi sử dụng động từ của học sinh một cách cụ thể với nhiều biểu hiện khác nhau Kết quả ấy được chúng tôi tổng hợp và mô tả trong phần tiếp sau đây

2.2 Kết quả khảo sát

Căn cứ vào cơ sở lý thuyết mà luận văn đưa ra ở chương một cùng với những ngữ liệu thực tế thu thập được, luận văn của chúng tôi đã tiến hành phân loại lỗi sử dụng động từ thành bốn nhóm chính:

Ngoài ra, trong quá trình trình bày kết quả khảo sát của luận văn, chúng tôi có đưa ra những ngữ liệu thực tế ở đây chúng tôi tạm gọi là những mẫu lời nói có chứa lỗi sử dụng động từ Trong những ngữ liệu đó, có những ngữ liệu không chỉ có những lỗi về sử dụng động từ mà còn có những lỗi ngôn ngữ khác, tuy nhiên, để phục vụ cho đề tài của mình, chúng tôi xin phép không đề cập đến mà chỉ tập trung vào làm nổi bật những lỗi về sử dụng động từ

Trang 35

42 Thông qua chuyện ngắn Nguyễn Minh Châu muốn nói với chúng ta

nên chánh xa những điều vòng vèo trùng trình

43 Không chỉ nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông mà còn nhận ra

sự tần tảo lam lũ của người vợ 20 năm trung sống với anh

Xét ba mẫu lời nói ở ví dụ trên, ta thấy, những động từ in đậm đều bị

người viết nhầm lẫn giữa hai phụ âm đầu tr/ch dẫn đến sai hình thức ngữ âm của

động từ: từng chải/ từng trải ; chánh xa /tránh xa; trung sống/ chung sống

- D/gi/r

Ví dụ 1 [PL1;99-107]

5 Qua một trận mưa các hàng cây đã được rửa rội hết các bụi bẩn làm

cho mọi thứ được sạch đẹp hơn

52 Từng giọt long lanh dơi

93 Không những thế họ còn tham gia dúp đỡ nhân dân như đào đê,

đắp đê, trồng trọt

Xét các từ in đậm trong ví dụ trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy những

từ này đều bị viết sai hình thức ngữ âm mà cụ thể là lẫn lỗn giữa các phụ âm

đầu gi/r/d Như ở ví dụ 5, hình thức đúng của từ rửa rội phải là rửa dội; ở ví

dụ 52, hình thức ngữ âm đúng của dơi là rơi; còn ở ví dụ 93, từ dúp đỡ có hình thức ngữ âm đúng là giúp đỡ

Trang 36

1 Thầy giáo …ục học sinh tập thể …ục

2 Cô ấy …e …ấu những nỗi tủi hờn tận sâu trong đáy lòng

3 Người nông dân …eo mừng vì …eo xong chỗ mống mà hợp tác xã

giao cho

Đây là bài tập nhằm đánh giá khả năng phân biệt hình thức ngữ âm của

một số từ có phụ âm đầu là gi/r/d Kết quả khảo sát chúng tôi thu được, đối

với mẫu lời nói số 1, ta có tỉ lệ số phiếu trả lời sai trên tổng số phiếu khảo sát thu về là 17/85 phiếu, mẫu lời nói số 2 là 15/85 phiếu và mẫu lời nói số 3 là 5/85 phiếu Tỉ lệ này cho chúng ta thấy có một bộ phận không nhỏ học sinh không thể nhận diện một cách rõ ràng hình thức ngữ âm đúng của động từ

- L/n

Ví dụ [PL1;99-107]

78 Từ mọc được đảo lên từ đầu câu thơ gợi nên một sức sống vươn lên

chỗi dậy mạnh mẽ

97 Khi đất nước đang bị nâm nguy họ- cùng là thế hệ trẻ Việt Nam

xung phong bảo vệ tổ quốc

100 Những từ ngữ ơi, cho đã bộc nộ trực tiếp cuộc trò chuyện với

thiên nhiên của người xứ Huế

Xét các mẫu lời nói trong ví dụ trên, ta thấy, người viết ở đây đã không

phân biệt được hình thức ngữ âm của các động từ có phụ âm đầu là l/n Cụ thể,

ở mẫu lời nói số 7, người viết lẫn lộn giữa hai từ nâm nguy/lâm nguy Ở mẫu lời nói số 78, người viết đã viết sai hình thức ngữ âm của động từ gợi nên và chỗi dậy Hình thức ngữ âm đúng của hai từ này phải là gợi lên và trỗi dậy Còn ở mẫu số 100, là hai từ bộc nộ/bộc lộ

- s/x

- Ví dụ [ PL1,99-107]:

Trang 37

14 Ánh nắng này chỉ nhè nhẹ xoi xuống trần gian tạo ra một khoảng

trời thoáng đãng trong lành mát dịu

44 Cốt truyện như một sợ chỉ đỏ xuyên xuốt tình huống gặp gỡ đầy bất ngờ

của ông họa sĩ già, cô kỹ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác khí tượng

62 Ngày xưa khi tổ quốc bị xâm lăng thì các thanh niên các chàng trai

to khỏe và các cô gái đã tự sung phong lên đường đi chiến đấu để bảo vệ tổ

quốc không bị xâm lược

Xét các động từ in đậm trong ví dụ trên, ta thấy những từ này đều bị

người viết viết sai phụ âm đầu của những tiếng bắt đầu bằng s/x: soi/xoi; xuyên suốt/xuyên xuốt; xung phong /sung phong

Ví dụ 2 [PL2;108]: câu 1, phiếu khảo sát số 1:

Trong bài tập này, chúng tôi đưa ra hình thức ngữ âm khác nhau của bảy động từ sau:

Kết quả mà chúng tôi thu được, đối với động từ dàn trải, số phiếu trả

lời đúng trên tổng số phiếu thu về, bao gồm cả những phiếu bị bỏ trống toàn

bộ hoặc bỏ trống một phần nội dung câu hỏi là 35/87; giành giật là 45/87, che giấu 55/87; trằn trọc là 49/87, trăn trở 28/87 và giày xéo là 12/87; chà sát là 21/87 Kết quả này cho chúng ta thấy một tình trạng chung là học sinh

Trang 38

Từ những kết quả vừa trình bày ở trên, chúng ta có thể kết luận hiện tượng lẫn lộn ngữ âm của các động từ bắt đầu bằng các cặp phụ âm như nêu ở trên không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là một hiện tượng phổ biến trong quá trình tạo lập văn bản của học sinh trường Thạch Hòa Một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là sự ảnh hưởng của đặc điểm ngữ âm địa phương Bên cạnh đó còn nguyên nhân khác mang tính bản chất là bản thân học sinh không nắm vững về những từ vựng mà mình sử dụng, chưa

ý thức đúng đắn về việc phân biệt hình thức ngữ âm của các từ dẫn đến sử dụng sai các cặp phụ âm

b) Các lỗi phụ âm đầu khác

Ví dụ[ PL1;99-107]

1 Khổ thơ cuối của bài “sang thu “ của Hữu Thỉnh không chỉ là hình

ảnh thiên nhiên rất gợi mà còn là những suy nghẫm của nhà thơ về con

người và cuộc đời

74 Khi đồng bào miền Trung gặp lũ lụt chúng ta đã khuyên góp tiền

bạc quần áo, sách vở cho người dân ở đó nhằm động viên họ giúp họ vượt qua khó khan

87 Hình ảnh một bong hoa mọc giữa dòng sông không ngợi lên sự lẻ

loi đơn độc một mình

Xét mẫu lời nói số 1, ta thấy, người viết viết sai hình thức ngữ âm của

từ suy nghẫm/ suy ngẫm Ở mẫu lời nói số 74, người viết viết sai từ quyên góp thành khuyên góp Trong khi đó ở mẫu lời nói số 87, người viết lại viết sai phụ âm đầu của từ gợi lên thành ngợi lên

Như vậy, có thể thấy, những lỗi về phụ âm đầu của ngữ âm trong phạm

vi khảo sát của đề tài tập trung chủ yếu vào những cặp phụ âm đầu thường gặp trong tiếng Việt như đã trình bày cụ thể ở trên Nhưng lỗi về phụ âm đầu khác hầu hết cũng chỉ xoay quanh những phụ âm có những mối liên hệ nhất

Trang 39

để phân biệt với nhau trong những ngữ cảnh nhất định nhưng do người dùng không nắm chắc dẫn đến sử dụng sai hoặc lẫn lộn giữa các cặp phụ âm này

2.2.1.2 Về phần vần

Ví dụ [PL1;99-107]:

37 Bến quê neo động của cuộc đời mỗi người

64 Được kể theo ngôi thứ nhất bộ lộ rõ phẩm chất của các cô gái

thanh niên xung phong

96 Quả thật thiên nhiên mùa xuân hào phóng cho mỗi người biết đón

nhọn nó

Xét những động từ in đậm trong ví dụ trên, ta có thể thấy, những động

từ in đậm này đều bị viết sai phần vần, ta có thể khôi phục lại như sau: neo động→ neo đậu; bộ lộ→bộc lộ; đón nhọn→đón nhận

Từ kết quả khảo sát của chúng tôi, có thể thấy, những lỗi về phần vẫn chủ yếu do hai nguyên nhân sau: người viết không nắm chắc hình thức ngữ

âm của từ hoặc do sự cẩu thả trong quá trình tạo lập câu và văn bản

2.2.1.3 Về thanh điệu

Ví dụ [PL1;99-107]:

81 Những giọt long lanh đó có thể là tiếng hát của chim cô đọng lại, rơi

trên những tán lá cây khiên nhà thơ muốn đưa tay ra hứng lấy

56 Mùa xuân nho nhỏ la một sáng tác độc đáo của Thanh Hải

30 Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào nhưng để giao thông luôn thông xuột nên các cô nên các cô luôn sẵn sàng ra trận địa

Xét những mẫu lời nói được đưa ra ở ví dụ trên, ta có thể nhận thấy, những động từ in đậm đều mắc lỗi về mặt thanh điệu Ở ví dụ số 81, ta có thể

thấy động từ in đậm khiên- là từ dùng sai của động từ khiến Còn ở mẫu lời nói số 30, động từ thông xuột là động từ bị dùng sai của từ thông suốt, ở

Trang 40

điệu ở đây, theo chúng tôi, chủ yếu là do sự cẩu thả của người viết trong quá trình tạo lập văn bản

Qua những kết quả vừa trình bày ở trên, ta thấy, những lỗi sử dụng động từ về mặt ngữ âm tồn tại khá phổ biến và trên tất cả các bộ phận ngữ âm cấu thành từ: phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu Trong đó, đáng chú ý hơn

cả là những lỗi về phụ âm đầu

2.2.2 Sử dụng động từ sai về mặt ngữ nghĩa

2.2.2.1 Dùng từ sai nghĩa hoặc lẫn lộn nghĩa giữa các từ

Ví dụ 1 [PL1;99-107]:

48 Mở đầu là những câu thơ gắn bó với tình yêu thương của cha mẹ

57 Mùa xuân là danh từ chỉ khái niệm trừu tượng kết hợp với tính từ

nho nhỏ cho ta chứng nhận mùa xuân dường như có hình khối có thể xờ mó

cầm nắm được

111 Thanh niên thời nay được sống trong bình yên, một cuộc sống

không có đấu tranh tất cả là nhờ thế hệ ông cha ta đã đổ máu anh dũng hi

sinh trên chiến trường

Xét những mẫu lời nói ở ví dụ trên, ta có thể thấy, nếu bỏ qua những vấn đề về diễn đạt và chính tả trong các mẫu lời nói này, thì những từ in đậm đặt trong quan hệ về nghĩa với các thành tố khác trong mẫu lời nói đều có sự khập khiễng và chưa biểu đạt được nội dung phù hợp với mẫu lời nói

Đối với mẫu lời nói số 48, động từ in đậm gắn bó chỉ quan hệ mật thiết

khó tách rời giữa các đối tượng được nói đến Ý nghĩa này không phù hợp với nội dung của phát ngôn Ở đây, phải sử dụng động từ có ý nghĩa biểu thị quan

hệ đi đôi không tách rời của các đối tượng là động từ gắn liền

Còn trong mẫu lời nói số 57, động từ in đậm chứng nhận có ý nghĩa

biểu niệm là chỉ sự xác định là đúng sự thật trên giấy tờ Người viết phải sử

dụng động từ cảm nhận- chỉ sự nhận biết bằng cảm tính, giác quan mới

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2  Bảng thống kê một số kết quả liên quan đến - Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng việt (trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường trung học cơ sở thạch hòa, thạch thất, hà nội)
2.2 Bảng thống kê một số kết quả liên quan đến (Trang 4)
Bảng 2.1. Tỉ lệ số bài kiểm tra có lỗi sử dụng động từ và không có lỗi sử - Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng việt (trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường trung học cơ sở thạch hòa, thạch thất, hà nội)
Bảng 2.1. Tỉ lệ số bài kiểm tra có lỗi sử dụng động từ và không có lỗi sử (Trang 52)
Hình thức hoạt động theo nhóm là một hình thức tổ chức của phương  pháp dạy học hiện đại - Khảo sát lỗi sử dụng động từ tiếng việt (trên tư liệu môn ngữ văn của học sinh trường trung học cơ sở thạch hòa, thạch thất, hà nội)
Hình th ức hoạt động theo nhóm là một hình thức tổ chức của phương pháp dạy học hiện đại (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w