Chính vì vậy, việc xem xét và từng bước hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam nhằm đánh giá hiệu q
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 16
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 17
4 Phạm vi nghiên cứu 17
5 Mẫu khảo sát 17
6 Câu hỏi nghiên cứu 18
7 Giả thuyết nghiên cứu 18
8 Phương pháp nghiên cứu 19
9 Kết cấu của Luận văn 19
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ, 21
THẨM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ 21
TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 21
1.1 Thiết chế quản lý 21
1.1.1 Khái niệm thiết chế 21
1.1.2 Khái niệm quản lý 23
1.1.3 Vai trò của thiết chế quản lý 25
1.2 Thẩm định công nghệ 26
1.2.1 Khái niệm thẩm định công nghệ 26
Trang 21.2.3 Vai trò của thẩm định công nghệ 30
1.2.3.1 Vai trò của thẩm định công nghệ dự án đầu tư 32
1.2.3.2 Vai trò của thẩm định công nghệ trong hợp đồng CGCN 34
1.3 Đánh giá tác động của công nghệ 34
1.3.1 Khái niệm đánh giá tác động của công nghệ 34
1.3.2 Tiêu chí đánh giá tác động của công nghệ 36
1.4 Thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 37
1.4.1 Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 37
1.4.2 Công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 38
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2 43
THỰC TRẠNG VỀ THIẾT CHẾ ĐỂ THẨM ĐỊNH TÁC ĐỘNG 43
CỦA CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN 43
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 43
2.1 Thực trạng các dự án đầu tư nước ngoài (có liên quan đến yếu tố công nghệ) tại Việt Nam 43
2.1.1 Tổng quan về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (có liên quan đến yếu tố công nghệ) 43
2.1.2 Đánh giá thực trạng thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 45
2.2 Những bất cập trong việc thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 49
2.2.1 Những bất cập trong quy định pháp luật 51
2.2.2 Những bất cập trong công tác quản lý 55
2.4 Những bất cập trong việc thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ 59
Trang 32.4.1 Bất cập về quyền liên quan đến công nghệ được chuyển giao 59
2.4.2 Bất cập về nội dung chuyển giao công nghệ 62
2.4.3 Bất cập về thời hạn hợp đồng, giá và phương thức thanh toán 66
Tiểu kết chương 2 69
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH THIẾT CHẾ QUẢN LÝ ĐỂ THẨM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 71
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 71
3.1 Kinh nghiệm quốc tế về hình thành thiết chế để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư 71
3.1.1 Kinh nghiệm quốc tế về hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tiêu chuẩn về môi trường của công nghệ 71
3.1.2 Kinh nghiệm về xác định năng lực của tổ chức thẩm định chuyển giao công nghệ 72
3.1.3 Kinh nghiệm của Australia về tiêu chí thẩm định công nghệ 73
3.2 Căn cứ để xây dựng thiết chế thẩm định 76
3.2.1 Căn cứ chính sách, pháp luật 77
3.2.2 Căn cứ về quản lý Nhà nước 81
3.3 Hình thành thiết chế thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 84
3.3.1 Thiết chế thẩm định - tiếp cận từ căn cứ pháp lý 84
3.3.2 Thiết chế thẩm định - tiếp cận từ nội dung thẩm định tác động của công nghệ 89
3.3.3 Thiết chế thẩm định - tiếp cận từ quản lý thẩm định tác động của công nghệ 94
Tiểu kết chương 3 95
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC 103
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội là
cơ quan chủ trì và PGS.TS Trần Văn Hải, Chủ nhiệm nhiệm vụ hợp tác quốc
tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định thư “Nghiên cứu kinh nghiệm
về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, đã cho phép tôi sử dụng tài liệu của nhiệm
vụ để hoàn thành luận văn Đồng thời, tôi bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Trần Văn Hải, người đã tâ ̣n tình hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS Vũ Cao Đàm, TS Đào Thanh Trường cùng Quý Thầy giáo/Cô giáo công tác tại Khoa Khoa ho ̣c quản lý, đã trang bi ̣ cho tôi những kiến thức hữu ích và đã nhiệt tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo , các đồng nghiệp cùng đơn vị công tác đã tạo điều kiện, giúp đỡ để tôi có thể theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ tại Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và Nhân văn Tôi cảm
ơn các chuyên gia, các nhà quản lý, đại diện các đơn vị quản lý, các doanh nghiệp đã trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin, tư liệu phục vụ nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, những người đã luôn đô ̣ng viên , khích lệ tôi trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2016
Tác giả Luận văn
Trang 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Asian Development Bank
Ngân hàng Phát triển châu Á
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CGCN: Chuyển giao công nghệ
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
FDI: Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF: International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ Quốc tế
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
OECD: Organisation for Economic Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
TNCs: Transnational Corporations
Công ty xuyên quốc gia
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quyền liên quan đến công nghệ chuyển giao trong một số Hợp đồng CGCN lần đầu 59Bảng 2.2: Quyền liên quan đến công nghệ chuyển giao trong một số Hợp đồng CGCN bổ sung 60Bảng 2.3: Quyền liên quan đến công nghệ chuyển giao trong một số Hợp đồng trợ giúp kỹ thuật 61Bảng 2.4: Nội dung CGCN trong các Hợp đồng CGCN lần đầu đã khảo sát 62Bảng 2.5: Nội dung CGCN trong các Hợp đồng bổ sung đã khảo sát 65Bảng 2.6: Nội dung CGCN trong các Hợp đồng trợ giúp kỹ thuật đã khảo sát 65Bảng 2.7: Tóm tắt thông tin thời hạn, giá và phương thức thanh toán của các Hợp đồng CGCN lần đầu đã khảo sát 66Bảng 2.8: Tóm tắt thông tin thời hạn, giá và phương thức thanh toán của các hợp đồng đã khảo sát là Hợp đồng bổ sung 67Bảng 2.9: Tóm tắt thông tin thời hạn, giá và phương thức thanh toán của các hợp đồng đã khảo sát là Hợp đồng trợ giúp kỹ thuật 67
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi Đảng và Nhà nước có chính sách mở cửa vào năm 1986 đến nay, thu hút ĐTNN nói chung và FDI nói riêng luôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Do nước ta là một quốc gia đang phát triển, có điểm xuất phát về KH&CN thấp nên việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển để tận dụng ưu thế của nước đi sau nhằm phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất nước là tất yếu Trong những thập kỷ gần đây, ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình này đồng thời tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo nhằm đạt được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 “đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” và đến năm 2020 “cơ bản trở thành nước công nghiệp” [4, tr 11; 10, tr 3] Không chỉ có tác động đối với các nước đang phát triển, ĐTNN
và FDI cũng là những nguồn lực quan trọng để phát triển công nghệ tại những đất nước công nghiệp Vai trò này được thể hiện ở hai khía cạnh chính là CGCN sẵn có từ bên ngoài vào và nghiên cứu, cải tiến phát triển công nghệ
để thích nghi, phù hợp với điều kiện thực tế, tăng hiệu quả sử dụng của công nghệ Đây là mục tiêu quan trọng mà nước tiếp nhận FDI mong đợi từ các nhà ĐTNN Các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh nghiệp FDI tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước [27, tr 40] Ngoài ra, thông qua việc học cách thiết kế, chế tạo từ công nghệ nguồn và cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương, các nước tiếp nhận cũng có thể biến chúng thành những công nghệ của mình Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với phát triển công nghệ ở nước chủ nhà Như vậy, có thể thấy rằng một trong những mục tiêu quan trọng của thu hút ĐTNN là
Trang 9CGCN, kiến thức chuyên môn, bí quyết công nghệ thông qua các dự án FDI [26, tr 22]
Bên cạnh những tác động tích cực, CGCN qua FDI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho nước chủ nhà tiếp nhận công nghệ, trong đó nổi bật là: công nghệ
cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển, gây
ô nhiễm môi trường, hiện tượng chuyển giá, v.v Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy CGCN qua các dự án FDI ở nước ta trong thời gian qua vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế, giá trị gia tăng không cao, lợi nhuận thu về ít [31, tr 97-102; 32, tr 10-11] FDI chưa hướng mạnh vào khu vực nông nghiệp mà đa phần chỉ tập trung vào khu vực phi nông nghiệp nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa [8, tr 18] Đại đa số công nghệ chuyển giao, trình độ công nghệ
ở mức độ trung bình, một số công nghệ ở mức thấp, lạc hậu, thậm chí cá biệt
có trường hợp chuyển giao là công nghệ thanh lý ở một số nước đầu tư Tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế còn yếu kém do hầu hết các công nghệ sử dụng trong FDI là các công nghệ đã và đang được sử dụng phổ biến ở bản quốc Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố, FDI vào Việt Nam chủ yếu là các lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp, xây dựng và bất động sản; các lĩnh vực khác như nông, lâm, ngư nghiệp, giáo dục và đào tạo, v.v chiếm tỷ lệ rất thấp Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây đã nhận định, mặc dù chính sách thu hút ĐTNN tại Việt Nam luôn được cải thiện trong suốt hai thập kỷ qua theo hướng tiến tới xây dựng một mặt bằng pháp lý và môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi và chủ động sáng tạo cho doanh nghiệp,
đa dạng hóa các hình thức đầu tư và mở rộng các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng trong quá trình thực hiện vẫn nảy sinh và tồn tại nhiều vấn đề chưa thể giải quyết rốt ráo [1, tr 20; 3, tr 41] Ví dụ, thực trạng
Trang 10với mức nội địa hóa 6% đã khiến mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 xuất khẩu ô tô và phụ tùng đạt mức 5-10% tổng sản lượng của ngành khó có thể trở thành hiện thực” Các tác giả cho rằng, nguyên nhân là do nhiều dự án có trình độ lạc hậu và không quan tâm đến hoạt động CGCN Đa số bên giao công nghệ theo kênh FDI có quyền sắp đặt hợp đồng CGCN với các điều khoản có lợi cho bên giao [21, tr 75] Vì lý do này, khâu chuyển giao công nghệ đang là điểm nghẽn lớn nhất trong các dự án FDI tại Việt Nam [1, tr 21]
Tóm lại, không thể phủ nhận ĐTNN hay cụ thể là FDI là kênh chuyển giao công nghệ chủ yếu, tạo cơ hội cho nước ta tiếp nhận được các công nghệ tiên tiến và các ứng dụng công nghệ cao đến từ các nước phát triển Chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và kết hợp với nghiên cứu phát triển công nghệ trong nước sẽ phát huy triệt để hiệu quả kinh tế mang lại
từ khoa học kỹ thuật Từ đó các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận làm chủ các công nghệ cao, tiên tiến và qua tiến trình cải cách, đổi mới, sáng tạo sẽ phát triển được nền công nghệ kỹ thuật cao cho nước nhà Tuy nhiên, thực tế còn tồn tại nhiều bất cập trong thu hút và quản lý FDI Nhiều dự án chưa được thẩm tra, xem xét kỹ dẫn đến chất lượng các dự án chưa cao, công nghệ được chuyển giao vẫn chủ yếu là gia công, lắp ráp và sản xuất giản đơn nhằm tận dụng lợi thế nhân công giá rẻ Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động CGCN theo đúng cam kết của các doanh nghiệp đầu tư FDI chưa được thực hiện, thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương Chính vì vậy, việc xem xét và từng bước hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam nhằm đánh giá hiệu quả của chúng trong các dự án FDI, góp phần nâng cao chất lượng CGCN là việc làm hết sức cần thiết, cần được thực hiện thường xuyên và đồng bộ Các thiết chế quản lý sẽ đáp ứng các loại nhu
Trang 11cầu khác nhau của Nhà nước, cộng đồng xã hội và của các thành viên; điều chỉnh hành vi của các bộ phận trong cộng đồng cũng như của các thành viên; kết hợp hài hoà các bộ phận, bảo đảm sự ổn định của cộng đồng xã hội, phát triển bền vững Qua đó, các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng Về mặt tổ chức, thiết chế quản lý là hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước, đại diện quản lý của tổ chức, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không theo hình thức có tổ chức Đó là phong tục, tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về vấn đề hình thành thiết chế quản lý đối với các dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hầu như chưa có và đang là yêu cầu cấp
thiết từ thực tiễn Kế thừa các nghiên cứu trước đây, luận văn “Hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam” được đề xuất với mục tiêu tìm hiểu
cơ sở lý luận, thực tiễn và đóng góp một số đề xuất liên quan đến thiết chế quản lý, đánh giá tác động của công nghệ chuyển giao trong các dự án FDI tại Việt Nam nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chủ đề thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, trong đó các nghiên cứu được công bố tại nước ngoài gồm có:
- Chen, Y (2007) đã đánh giá tác động của các dự án đầu tư FDI đến đổi mới công nghệ ở cấp độ khu vực trong lãnh thổ Trung Quốc [29; tr 577-596] Nghiên cứu này cho thấy mặc dù FDI được coi là một kênh quan trọng
Trang 12đến năng lực đổi mới khu vực còn hạn chế Tác phẩm đã phân tích mối quan
hệ giữa FDI và năng lực đổi mới khu vực; qua đó chỉ ra rằng: tiếp nhận FDI không hữu ích cho việc nâng cao năng lực đổi mới bản địa, và hơn thế nữa, bản thân FDI lại có thể tác động theo hướng làm giảm đầu tư trong đổi mới và hoạt động nghiên cứu - phát triển nội địa Bên cạnh đó, tác giả đã chứng minh rằng gia tăng nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển nội địa, tăng cường năng lực đổi mới cũng như năng lực hấp thu trong hoạt động kinh doanh nội địa sẽ làm tăng năng lực đổi mới khu vực
- Zhu, Y (2010) đã phân tích hiệu quả về công nghệ trong các dự án đầu tư FDI tại Trung Quốc và cho thấy sự nhân rộng công nghệ từ những dự
án này đã góp phần đáng kể vào việc phát triển công nghiệp ở Trung Quốc [39, tr 178-182] Hiệu ứng khuếch tán đã mang lại tác động tích cực cho nền kinh tế nội địa thông qua các kênh khác nhau như các liên kết giữa nhà cung cấp với công ty sản xuất (backward) và liên kết giữa công ty sản xuất với nhà phân phối (forward); tác động trình diễn hoặc mô phỏng; và biến động của nguồn nhân lực Mặc dù vậy, hiệu quả của lan tỏa công nghệ cũng có thể bị hạn chế và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để sử dụng FDI hiệu quả và hiệu ứng lan tỏa công nghệ tốt hơn đối với cả hoạt động kinh tế vĩ mô và hoạt động kinh doanh nội địa, tác phẩm đã phân tích các giải pháp nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh thương mại tốt hơn; hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ và quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài; nâng cao năng lực hấp thu và đổi mới nội địa; cải thiện tổng thể lực lượng lao động nội địa và phát huy nguồn nhân lực địa phương
Về thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam, đã có các nghiên cứu được công bố trong nước Trước hết, các nghiên cứu về đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm có:
Trang 13- Nguyễn Tấn Vinh (2005), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, Tạp chí Khoa học Chính trị,
số 1, trang 36-43 Trong tác phẩm này, tác giả nhận định FDI là nguồn vốn rất quan trọng cho phát triển kinh tế của Việt Nam nhưng cần quản lý tốt để tránh hậu quả về quy hoạch Theo nghiên cứu này, FDI có thể làm mất cân đối trong cơ cấu đầu tư hoặc các nhà đầu tư nước ngoài dễ rút vốn đi khi gặp biến động trong nước, tạo ra một sự hụt hẫng về vốn đầu tư và đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng tài chính Một ví dụ được dẫn chứng là trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, các liên doanh sau một thời gian hoạt động đã tuyên bố thua lỗ nhưng thực chất công ty mẹ ở nước ngoài vẫn có lãi nhờ bán công nghệ và chiễm lĩnh thị trường Trong khi đó, phía Việt Nam do thiếu vốn nên
đã phải bán toàn bộ cổ phần của mình cho phía nước ngoài và như vậy liên doanh đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Đây là một hiện tượng bị chèn ép về mặt kinh tế [27, tr 36-43]
- Lê Xuân Bá và những người khác (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học
Kỹ thuật, Hà Nội Trong tác phẩm này, các tác giả đã kết hợp phương pháp phân tích định tính sử dụng số liệu thống kê thứ cấp và sơ cấp và phương pháp phân tích định lượng để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh
tế Kết quả cho thấy tác động tràn dường như chỉ xuất hiện qua kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh tranh; do vậy phù hợp cho chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ tính linh hoạt cao và dễ thích nghi với môi trường kinh doanh còn nhiều thay đổi trong điều kiện chuyển đổi ở Việt Nam Các tác giả đã đưa ra các nhóm kiến nghị chính về chính sách gồm: đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong xây dựng chính sách đầu tư nước ngoài; cải thiện môi trường đầu tư, tăng sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư
Trang 14FDI; tạo cơ hội cho xuất hiện tác động tràn và tăng khả năng hấp thụ các tác động tràn tích cực của FDI cho các doanh nghiệp trong nước; và thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút các công ty đa quốc gia lớn có tiềm năng về công nghệ cũng như tận dụng tối đa thế mạnh về nghiên cứu và phát triển của các công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam [5, tr 107-110]
- Lê Thanh Tùng (2014), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Asean, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 2, trang 11-17 Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích định lượng tác động FDI đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2000-2012 Tác giả cho rằng để kích thích tăng trưởng kinh tế thì Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI trong thời gian tới nhưng đồng thời phải có chính sách khơi thông, huy động, phát huy nguồn vốn đầu tư trong nước vào phát triển kinh tế vì xét trên bình diện 8 quốc gia ASEAN đã cho thấy đóng góp của nguồn vốn đầu tư trong nước cho tăng trưởng kinh tế cao hơn đóng góp của FDI [25, tr 11-17]
Các nghiên cứu có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm có:
- Đinh Văn Ân (2006), Phân tích chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài trên quan điểm phát triển bền vững, Tạp chí Quản lý Kinh tế, số 8,
trang 11-17 Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung đánh giá kết quả thu được từ thu hút đầu tư nước ngoài dưới góc độ phát triển bền vững trên cơ sở phân tích chính sách quản lý nhà nước hiện hành đối với đầu tư nước ngoài,
về kinh tế - xã hội và môi trường Kết quả phân tích dữ liệu về FDI thực hiện
so với tổng đầu tư toàn xã hội và so với GDP trong giai đoạn 2001-2005 cho thấy ĐTNN đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng không có tác dụng thay thế đầu tư trong nước mà cả hai nguồn đầu tư đều cùng tăng trưởng và đóng góp cho kinh tế chung [4, tr 11-17]
- Đỗ Đức Bình (2009), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam:
Trang 15Những bất cập về chính sách và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kinh tế và Phát
triển, số 145, trang 6-9 Trong tác phẩm này, tác giả đã thực hiện tốt kiểm tra giám sát và xử lý kịp thời những sai phạm và tập trung phát triển hạ tầng một
số vùng, địa phương có lợi thế so sánh để thu hút FDI lấy đà phát triển [7, tr 6-9]
- Đỗ Đức Bình (2013), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Những bất cập về chính sách và giải pháp thúc đẩy, Tạp chí Kinh tế và Phát
triển, số 194, trang 3-9 Trong tác phẩm này, tác giả đã làm rõ việc ban hành đầy đủ, thích hợp hơn các chính sách ưu đãi, khuyến khích và tạo điều kiện hạ tầng tốt nhất để thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao Nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư nhằm thu hút mạnh mẽ FDI, tăng cường thu hút FDI của các đối tác chiến lược các TNC của các quốc gia có trình độ phát triển cao [9, tr 3-9]
- Nguyễn Thị Kim Anh (2014), Đánh giá chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Xã hội Việt Nam, số 3(76),
trang 10-24 Trong tác phẩm này, tác giả đã đánh giá lại chính sách FDI ở Việt Nam từ năm 1988 đến nay Đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách đầu
tư, chính sách thuế, công nghệ nhằm tiếp tục thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI trong thời gian tới [1, tr 10-24]
- Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Thị Như Hoa (2014), Đầu tư trực tiếp nước ngoài và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Xã hội Việt
Nam, số 3(76), trang 25-37 Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam Theo các tác giả này, bản thân các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tuy
có năng lực về vốn nhưng lại phụ thuộc vào công ty mẹ hoặc công ty con ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, vì thế nên tiềm lực về vốn và công nghệ của
Trang 16của doanh nghiệp FDI thấp và năng lực về vốn cũng yếu hơn các doanh nghiệp trong cùng công ty, tập đoàn tại các nước khác trong khu vực [2, tr 25-37]
Tóm lại, các nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước đã thực hiện nhằm đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế; tác động chuyển giao và lan tỏa công nghệ thông qua FDI; tác động đối với việc làm, phát triển nguồn nhân lực; cũng như tác động của FDI đến môi trường và vấn đề phát triển bền vững Nhiều nghiên cứu cho rằng đóng góp lớn nhất của FDI đối với một quốc gia đang phát triển là tác động lan toả công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý hiện đại từ các doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp nội địa thông qua chuyển giao công nghệ, thông qua quá trình di chuyển lao động, quá trình cạnh tranh, học hỏi và đặc biệt là thông qua quá trình liên kết sản xuất công nghiệp phụ trợ Nhiều giải pháp về chính sách đã được đề xuất nhằm góp phần nâng cao năng lực hấp thụ và tăng cường sử dụng hiệu quả FDI nói chung cũng như công nghệ tiếp nhận thông qua FDI nói riêng
Tuy nhiên, các nghiên cứu đã nêu trên chưa bàn đến chủ đề thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI Luận văn
Hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam sẽ tập trung phân tích
những nội dung liên quan đến thiết chế quản lý mà các tác phẩm đã công bố chưa bàn đến
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là đề xuất giải pháp nhằm hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam
Trang 173.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Phân tích cơ sở lý luận về thiết chế quản lý, về công tác thẩm định tác động của công nghệ;
- Phân tích thực trạng việc thẩm định tác động của công nghệ trong các
dự án FDI, và nhận diện các rào cản trong hoạt động quản lý, khảo sát nhu cầu về thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ, đặc biệt là công nghệ trong các dự án FDI tại Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI tại Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu về thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam
- Về không gian: các dự án đầu tư vào Việt Nam
- Về thời gian: nghiên cứu các thiết chế quản lý có liên quan đến công nghệ cho đến thời điểm năm 2015
5 Mẫu khảo sát
Luận văn khảo sát các mẫu như sau:
- Đại diện các tổ chức đầu tư hoặc tiếp nhận đầu tư, bao gồm:
+ Công ty Ô tô TOYOTA Việt Nam
+ Công ty HONDA Việt Nam
+ Công ty GOSHI Thăng Long
+ Công ty Sứ vệ sinh INAX
+ Công ty YAMAHA Việt Nam
+ Công ty TNHH Pataya Việt Nam
Trang 18- Đại diện các nhà quản lý hoạt động chuyển giao hoặc thẩm tra công nghệ: Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công nghệ thuộc Bộ KH&CN;
- Đại diện các đơn vị tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ: Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ thuộc Bộ KH&CN
6 Câu hỏi nghiên cứu
nào để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam?
Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ:
- Hiện trạng về thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI như thế nào?
- Hiện trạng đánh giá, thẩm định công nghệ và tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư FDI như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Để hình thành thiết chế quản lý nhằm
thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại Việt Nam, cần xây dựng: thiết chế quản lý để đánh giá tác động của công nghệ đến môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội và thiết chế quản lý để đánh giá tác động nâng cao năng lực công nghệ của Việt Nam
Giả thuyết nghiên cứu bổ trợ:
- Hiện tại chưa hình thành được thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI;
- Hiện trạng đánh giá, thẩm định công nghệ và tác động của công nghệ
trong các dự án đầu tư FDI, bên cạnh những tác động tích cực, chuyển giao công nghệ qua đầu tư nước ngoài cũng đặt ra nhiều vấn đề cho nước chủ nhà,
Trang 19như: công nghệ cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện của Việt Nam; công nghệ gây ô nhiễm môi trường; hiện tượng chuyển giá lách thuế, v.v
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tổng quan và phân tích, sử dụng các
dữ liệu, số liệu đã được công bố, có liên quan đến tác động của công nghệ trong các dự án FDI tại Việt Nam
- Phương pháp quan sát: nhận xét, đánh giá khách quan về nhu cầu
hình thành thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI tại Việt Nam nhằm mục đích nâng cao hiệu quả tiếp nhận và khai thác công nghệ mới, công nghệ tiên tiến
- Phương pháp điều tra, khảo sát: điều tra, khảo sát nhu cầu về hình
thành thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án FDI tại Việt Nam nhằm mục đích nâng cao hiệu quả tiếp nhận và khai thác công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, cụ thể tại Công ty Ô tô TOYOTA Việt Nam; Công ty HONDA Việt Nam; Công ty GOSHI Thăng Long; Công ty Sứ vệ sinh INAX; Công ty YAMAHA Việt Nam; Công ty TNHH Pataya Việt Nam; Công ty TNHH V Status
- Phương pháp phỏng vấn: tác giả Luận văn đã phỏng vấn đại diện tổ
chức đầu tư và tiếp nhận đầu tư; đại diện nhà quản lý dự án FDI (trong mẫu điều tra, khảo sát) và cán bộ quản lý hoạt động chuyển giao, thẩm tra công nghệ, như Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công nghệ và Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ thuộc Bộ KH&CN
Tác giả liên hệ trước với người được phỏng vấn và gửi câu hỏi phỏng vấn về việc hình thành thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các
dự án FDI tại Việt Nam
9 Kết cấu của Luận văn
Trang 20dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về thiết chế quản lý thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư
- Chương 2 Thực trạng về thiết chế để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
- Chương 3 Giải pháp hình thành thiết chế quản lý để thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ,
THẨM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Thiết chế quản lý
1.1.1 Khái niệm thiết chế
Thiết chế, hay còn gọi là thể chế, là một khái niệm xã hội học phức tạp
và được đề cập theo nhiều cách dưới những góc độ khác nhau như:
- Theo Fichter, J H.: Thiết chế là một hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận và tập trung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng [33, tr 79] Như vậy, thiết chế bao
gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống các quan hệ ổn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội
- Dưới một góc độ khác, cũng theo Fichter, J H.: “Thiết chế là một phần của văn hoá, một đoạn đã được khuôn mẫu hoá trong nếp sống của một dân tộc”, “ những khuôn mẫu tác phong công khai và tiềm ẩn tự biến thành những vai trò xã hội do con người đảm nhiệm và nhiều loại tương quan khác nữa giữa con người với nhau, đứng đầu những tương quan đó là các diễn tiến
xã hội” Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và các vai trò xã hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế” Cuối cùng Fichter khẳng định thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận và tập trung vào sự thoả mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng” [14, tr 106]
- Đưa ra khái niệm trên cơ sở các yếu tố cấu thành thiết chế, các tác giả
Trang 22hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội
- Tương tự như vậy, Gidden, A [35, tr 731] cũng xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”
Một số tác giả khác sử dụng thuật ngữ “thể chế” thay vì “thiết chế” nhưng khái niệm đưa ra là tương đồng Theo những tác giả này, thể chế có thể được hiểu là yếu tố tạo thành khuôn khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ
- Theo Stephen, H.H., Douglass C.N và Barry R.W.: Thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội Nói cách khác, đó là những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình cho những tương tác giữa người với người Thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức [36, tr 288]
- Theo Nguyễn Trần Bạt: Thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội Thể chế, do đó, mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng; nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng cầm quyền đã lựa chọn [6, tr 55]
Quan niệm của tác giả Luận văn:
Trên cơ sở những khái niệm về thiết chế nêu trên, Luận văn sử dụng
khái niệm “thiết chế là tập hợp các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống các quan hệ ổn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội” Trong đó chuẩn mực là tập hợp những mong đợi, yêu cầu, quy tắc đối
với hành vi của các thành viên trong xã hội Chuẩn mực quy định cho mỗi
Trang 23thành viên những việc nào nên làm, không nên làm và cần xử sự như thế nào cho đúng trong mỗi tình huống xã hội
1.1.2 Khái niệm quản lý
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý” do quản lý
là một dạng hoạt động đặc biệt, chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng và luôn vận động, biến đổi, phát triển Theo Trần Ngọc Liêu [17, tr 6] những khái niệm quản lý chính có thể kể đến gồm:
- F.W Taylor (1856-1915) tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ
thuật đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
- H Fayol (1886-1925) tiếp cận quản lý theo quy trình đã quan niệm
rằng: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
- M.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng:
“Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác”
- C.I Barnarrd (1866-1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ
thống cho rằng: “Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin”
- J.H Donnelly, J Gibson và J.M Ivancevich nhấn mạnh tới hiệu quả
sự phối hợp hoạt động của nhiều người và cho rằng: “Quản lý là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động
Trang 24không thể nào đạt được”
- S Robbins quan niệm: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và
sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra”
- H Koontz, C Odonnell và H Weichrich đã nhóm gộp các tiếp cận về quản lý thành các loại:
- Tiếp cận theo kinh nghiệm hoặc theo trường hợp
- Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân
- Tiếp cận theo hành vi nhóm
- Tiếp cận theo hệ thống hợp tác xã hội
- Tiếp cận theo hệ thống kỹ thuật - xã hội
- Tiếp cận theo lý thuyết quyết định
- Tiếp cận hệ thống
- Tiếp cận toán học hoặc “ khoa học quản lý”
- Tiếp cận theo điều kiện hoặc theo tình huống
- Tiếp cận theo các vai trò quản lý
Trang 25Những tiếp cận và quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa dạng và phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn về quản lý
Quan niệm của tác giả Luận văn:
Trên cơ sở tập hợp các khái niệm nêu trên, tác giả Luận văn nhận thấy
khái niệm: “Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi” là một khái
niệm bao quát chung và phù hợp khi xem xét hình thành thiết chế quản lý
1.1.3 Vai trò của thiết chế quản lý
Thiết chế quản lý bao gồm chính sách, chiến lược và pháp luật Thiết chế quản lý là phương thức tổ chức và nguyên tắc vận hành phân hệ chủ thể quản lý được thể hiện bởi hệ thống các vị thế, các vai trò, các chuẩn mực, các giá trị của hệ thống trong việc vận hành hệ thống nhằm đạt tới mục đích và mục tiêu đặt ra của hệ thống Vì vậy, có thể thấy, vai trò cơ bản của thiết chế quản lý là thực hiện các nhiệm vụ quản lý đề ra, bao gồm các vai trò tổ chức, kiểm soát, và điều tiết toàn bộ các hoạt động của hệ thống
Vai trò tổ chức: tạo cơ sở và căn cứ pháp lý (pháp luật, chính sách, cơ
chế quản lý) cho hoạt động đánh giá, thẩm định công nghệ và tác động của công nghệ nhằm đáp ứng tốt các mục tiêu định hướng cũng như các yêu cầu ngày càng cao của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những điều chỉnh tốt về pháp luật liên quan đến CGCN nói chung
và thẩm định công nghệ trong các dự án FDI nói riêng (ban hành Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật bảo vệ môi trường) nhưng tính thực thi chưa cao
Vai trò kiểm soát: nhằm đạt mục tiêu lựa chọn công nghệ phù hợp, hiệu
Trang 26thân công nghệ gây ra cho sức khỏe con người, môi trường (kinh tế, xã hội)
và lợi ích cộng đồng, Đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp thì việc thẩm định tác động của công nghệ chủ yếu hướng tới lợi ích sử dụng công nghệ đem lại, phân tích, lựa chọn công nghệ phù hợp, giảm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm Trong khi đó, chủ thể quản lý nhà nước cần nhìn nhận việc thẩm định tác động của công nghệ ngoài các lợi ích của nhà đầu tư, doanh nghiệp còn phải xem xét dưới nhiều góc độ vĩ mô để bảo đảm công nghệ sử dụng không gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, cộng đồng, nền kinh
tế và xã hội
Vai trò điều tiết hoạt động: sử dụng hệ thống các tiêu chí đã được xây
dựng để đo lường các tác động mà công nghệ đầu tư tạo ra; dự báo những kết quả mà công nghệ đem lại hoặc rủi ro có thể gặp phải khi áp dụng công nghệ;
từ đó đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh những sai lệch, sửa chữa những sai lầm, đảm bảo cho công nghệ được đầu tư theo đúng mục tiêu đã đề ra
Như vậy, thiết chế quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của dự án Thiết chế quản lý cần đáp ứng các yêu cầu khác nhau của Nhà nước, cộng đồng xã hội, và điều chỉnh hành vi của các bộ phận trong cộng đồng
1.2 Thẩm định công nghệ
1.2.1 Khái niệm thẩm định công nghệ
Thuật ngữ “thẩm định công nghệ” được sử dụng lần đầu tiên trong văn bản quản lý Nhà nước về KH&CN tại Thông tư số 1940/1997/TT-BKHCNMT của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) hướng dẫn thẩm định công nghệ các dự án đầu tư trong giai đoạn xem xét cấp giấy phép đầu tư (Thông tư 1940)
Trang 27Thông tư 1940 đưa ra khái niệm: “Thẩm định công nghệ các dự án đầu
tư (gọi tắt là thẩm định công nghệ) được hiểu là quá trình xem xét, đánh giá
sự thích hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với nội dung và các mục tiêu của dự án đầu tư trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Nhà nước tại thời điểm thẩm định dự án để đưa ra kiến nghị về việc cấp giấy phép đầu tư cho dự án” Trên cơ sở Thông tư này, công tác thẩm định công nghệ đã giúp
ngăn chặn được nhiều công nghệ lạc hậu, ẩn mình trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 2000) được ban hành; năm 2002, Thông tư số 55/2002/TT-BKHCNMT về hướng dẫn thẩm định công nghệ và môi trường các dự án đầu
tư (Thông tư 55) đã ra đời thay thế cho Thông tư 1940; trong đó diễn giải
“Thẩm đi ̣nh công nghê ̣ các dự án đầu tư là quá trình xem xét , đánh giá sự phù hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với mục tiêu và nội dung của
dự án đầu tư trên cơ sở cá c chủ trương, chính sách, quy hoạch của Nhà nước tại thời điểm thẩm định” Như vậy, khái niệm về thẩm định công nghệ cơ bản
vẫn được giữ nguyên Việc đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với môi trường gắn với nội dung thẩm định môi trường dự án được bổ sung bằng khái niệm
“Thẩm đi ̣nh môi trường các dự án đầu tư”
Cùng với xu thế phát triển hội nhập quốc tế, các hoạt động đầu tư vào Việt Nam và ra nước ngoài đã được quản lý thống nhất theo Luật đầu tư (2005) Trong Luật đầu tư không đề cập đến vấn đề “thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư” Ngoài ra, Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2006) cũng không đề cập đến khái niệm “thẩm định công nghệ” nhưng thay vào đó là
khái niệm về “giám định công nghệ” Theo đó: “Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của công nghệ đã được chuyển giao so
Trang 28với các chỉ tiêu của công nghệ được quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ” [23, tr 2]
Đến năm 2009, sau quá trình xây dựng, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 10/2009/TT-BKHCN (Thông tư 10) hướng dẫn thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư trên cơ sở căn cứ vào Luật đầu tư, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, Nghị định số 133/2008/NĐ-CP Như vậy, với văn bản này, thuật ngữ mới là “thẩm tra công nghệ” có thể xem như đã được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “thẩm định công nghệ” vì những nội dung liên quan đến
“thẩm tra” hoàn toàn là nội dung “thẩm định” của những văn bản hướng dẫn trước đó
Quan điểm của tác giả Luận văn:
Mặc dù cho đến nay vẫn còn những ý kiến bàn luận về mức độ chặt chẽ của việc sử dụng thuật ngữ “thẩm định” và “thẩm tra” công nghệ trên khía cạnh quản lý; nhưng xét trên khía cạnh nội hàm, bản chất của vấn đề thì khái
niệm “Thẩm định công nghệ là quá trình xem xét, đánh giá sự phù hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với mục tiêu và nội dung của dự án đầu tư trên cơ sở các chủ trương, chính sách, quy hoạch của Nhà nước tại thời điểm thẩm định dự án” là khái niệm phù hợp để tiếp cận, xem xét
1.2.2 Tiêu chí thẩm định công nghệ
Việc ban hành những quy định thẩm định, đánh giá công nghệ với những tiêu chí cụ thể nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực và phát huy tác động tích cực của công nghệ đầu tư trong các dự án FDI đã được quan tâm và không ngừng được điều chỉnh, hoàn thiện trong nhiều năm qua
Trước đây, công nghệ đầu tư được thẩm định theo Pháp lệnh về Chuyển giao công nghệ (CGCN) từ nước ngoài vào Việt Nam của Hội đồng Nhà nước (ban hành năm 1988) Tính đến năm 2015, các tiêu chí thẩm định
đã được quy định trong Luật Chuyển giao công nghệ (ban hành năm 2007);
Trang 29Nghị định số 133/2008/NĐ-CP về các danh mục: công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao, công nghệ cấm chuyển giao; và Thông tư số 10/2009/TT-BKHCN (ban hành năm 2009) về Hướng dẫn thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư Cụ thể các tiêu chí gồm:
Loại hình công nghệ: theo đó xác định công nghệ thuộc Danh mục
công nghệ (khuyến khích chuyển giao, hạn chế chuyển giao hoặc cấm chuyển giao) theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ
Tính phù hợp của công nghệ: yêu cầu các công đoạn trong dây chuyền
công nghệ phải bảo đảm sản xuất, tạo ra được các sản phẩm đã dự kiến cả về
số lượng và chất lượng Đồng thời, dây chuyền công nghệ phải bảo đảm các tiêu chuẩn về tiết kiệm năng lượng, vệ sinh công nghiệp, an toàn lao động và
vệ sinh môi trường
Tính cạnh tranh về trình độ công nghệ: so sánh các phương án công
nghệ nêu trong hồ sơ dự án đầu tư (phân tích, so sánh ưu nhược điểm) và trên
cơ sở xem xét tính hoàn thiện của công nghệ, mức độ tiên tiến của dây chuyền công nghệ, tính thích hợp của công nghệ để nhận xét về phương án công nghệ được lựa chọn Đối với dự án đầu tư trong khu công nghệ cao, công nghệ được lựa chọn của dự án còn phải đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về công nghệ cao
Về tác động của công nghệ đến hiệu quả kinh tế - xã hội: xem xét sự
tác động của công nghệ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, ngành, lĩnh vực (nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của ngành, lĩnh vực, góp phần đổi mới công nghệ sản xuất của địa phương, góp phần làm gia tăng giá trị sản phẩm, tạo ra sản phẩm chủ lực, sản phẩm có thế mạnh của địa phương)
Trang 30Về tác động của công nghệ đến môi trường: xem xét sự tác động của
công nghệ đến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khỏe cộng đồng
Các tiêu chí thẩm định công nghệ đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc kiểm soát tính nhất quán giữa bản thân công nghệ và mục tiêu của
dự án đầu tư mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá, xem xét tính phù hợp của công nghệ đó đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội Các tiêu chí
đã đề cập ở trên là các tiêu chuẩn cơ bản để kiểm định, đánh giá một công nghệ Qua đó, xem xét được các yêu cầu về chất lượng, hiệu quả dự kiến, mức
độ tuân thủ các yêu cầu của dự án và môi trường xung quanh Tuy nhiên, các tiêu chí đó chưa thực sự cụ thể và chi tiết để đánh giá một công nghệ trong dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.3 Vai trò của thẩm định công nghệ
Vai trò của thẩm định công nghệ thể hiện trên các khía cạnh:
- Thẩm định công nghệ thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao hay công nghệ cấm chuyển giao;
- Xem xét nguồn gốc, xuất xứ công nghệ: quốc gia, vùng lãnh thổ, ; tổ chức tạo ra công nghệ (ví dụ doanh nghiệp khởi nguồn, viện nghiên cứu, trường đại học, );
- Xem xét các quyền liên quan đến công nghệ: quyền sở hữu và quyền
sử dụng công nghệ, quyền chuyển giao lại cho bên thứ ba, quyền cải tiến, nhận thông tin về cải tiến công nghệ, quyền phân phối (độc quyền hay không độc quyền), phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ tạo ra, các quyền sở hữu công nghiệp có liên quan đến công nghệ
- Thẩm định trình độ, kỹ thuật công nghệ: xem xét vòng đời công nghệ, tính đồng bộ của thiết bị, xem xét thiết bị, nguyên vật liệu chế tạo phù hợp với dây chuyền sản xuất, suất tiêu hao nguyên liệu, năng lượng cho một đơn vị
Trang 31sản phẩm, tuổi thọ thiết bị, khả năng thay thế, cải tiến, khả năng thuận tiện trong vận hành, quản lý quá trình vận hành công nghệ Thiết bị trong dây chuyền công nghệ được xem xét trên cơ sở thiết bị đó có tính năng, chất lượng phù hợp với yêu cầu của công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng và số lượng như dự kiến Tính đồng bộ của thiết bị trong dây chuyền công nghệ (danh mục các thiết bị của dự án đầu tư phải thể hiện khả năng thực hiện các công đoạn trong dây chuyền công nghệ, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng các sản phẩm) Đặc biệt đối với những dự án đầu tư mà bên nước ngoài tham gia góp vốn bằng thiết bị, thiết bị cần bảo đảm tính đồng bộ
và phù hợp với công nghệ;
- Thẩm định về giá trị của công nghệ, trong đó nhấn mạnh đến chi phí đầu tư, mức đầu tư so với công nghệ tương đương khác, khả năng tài chính (xác định nguồn vốn), yếu tố đầu vào: có nguồn nguyên liệu tại địa phương; nguồn nguyên liệu trong nước (địa phương khác) hoặc có hợp đồng nhập khẩu đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất, yếu tố đầu ra cho sản phẩm: có thị trường ổn định hoặc có hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định
- Thẩm định về hiệu quả kinh tế: đánh giá các chỉ tiêu kinh tế của dự án
như thời gian hoàn vốn, tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate Of Return), được biểu hiện bằng mức lãi suất mà nếu dùng nó để quy đổi dòng
tiền tệ của dự án thì giá trị hiện tại thực thu nhập bằng giá trị hiện tại thực chi,
dự báo nhu cầu thị trường (trong và ngoài nước) có tính đến các sản phẩm cùng loại, độ tin cậy của dự báo, dự báo thị phần của sản phẩm do công nghệ tạo ra, tỷ lệ xuất khẩu Khả năng cạnh tranh (về chất lượng, mẫu mã, giá thành) của sản phẩm do công nghệ tạo ra;
- Thẩm định hiệu quả xã hội: khả năng sử dụng lao động, tác động lan
Trang 32phương, ngành, lĩnh vực (nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của ngành, lĩnh vực, góp phần đổi mới công nghệ sản xuất của địa phương, góp phần làm gia tăng giá trị sản phẩm, tạo ra sản phẩm chủ lực, sản phẩm có thế mạnh của địa phương)
- Thẩm định về an toàn và môi trường: khí thải, nước thải và chất thải rắn, vị trí dự án, diện tích sử dụng đất phù hợp với quy mô dự án, mức độ rủi
ro và các giải pháp phòng ngừa, khắc phục sự cố, các giải pháp xử lý môi trường giảm thiểu tác động, đạt các chỉ tiêu phù hợp với tiêu chuẩn về môi trường
Xin lưu ý khi mô tả đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ của công nghệ được chuyển giao có một số ngoại lệ, ví dụ rất khó xác định công nghệ thuộc mức lạc hậu hay thuộc mức tiên tiến vì không có các tiêu chí
để đánh giá, mặt khác có thể đánh giá công nghệ thuộc mức độ cao (công nghệ cao) khi dựa trên tiêu chí chúng thuộc danh mục “công nghệ cao”, ví dụ Công nghệ vũ trụ, Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin, Công nghệ vật liệu mới, Công nghệ tự động hóa, Nhưng không có sự phân định rõ ràng một loại công nghệ nào đó thuộc loại công nghệ cao khi dựa vào tiêu chí thời điểm ra đời
Vai trò của thẩm định công nghệ thể hiện trên 2 khía cạnh:
1.2.3.1 Vai trò của thẩm định công nghệ dự án đầu tư
Là hoạt động để xác định mức độ đạt được về mặt công nghệ của Dự án đầu tư đã triển khai trong thực tế tại thời điểm giám định so với nội dung công nghệ nêu trong dự án đầu tư đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư hoặc quyết định đầu tư
Vai trò của thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư thể hiện:
- Thẩm định sự phù hợp và tính đồng bộ của máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất so với yêu cầu nêu trong Hồ sơ Dự án
Trang 33- Thẩm định chất lượng thực tế của máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất so với các tiêu chí đã nêu trong Hồ sơ Dự án: công suất huy động thực tế so với công suất thiết kế, các tính năng công nghệ cơ bản (đặc trưng) của máy móc, thiết bị để tạo ra sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng quy định như: độ chính xác gia công, độ tinh khiết chế biến,…; tính tiên tiến của dây chuyền sản xuất, tỷ lệ thiết bị tiên tiến, hiện đại, mức độ cơ giới hóa, tự động hóa sản xuất, xuất xứ của thiết bị (nước sản xuất, hãng sản xuất), năm sản xuất, thực trạng kỹ thuật của máy móc, thiết bị, thời gian đã qua sử dụng và chất lượng còn lại (đối với thiết bị đã qua sử dụng), ; chi phí (hoặc định mức tiêu hao) năng lượng cho một đơn vị sản phẩm, chi phí (hoặc định mức tiêu hao) nguyên, vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, tính an toàn, mức độ gây ô nhiễm môi trường
Đối với dự án đầu tư có liệt kê danh sách máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng dự kiến nhập khẩu, thẩm định các nội dung:
- Xem xét mức độ cũ của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ (năm sản xuất, thời gian đã sử dụng, thời gian sử dụng còn lại, );
- Nguồn gốc, xuất xứ của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ;
- Xem xét sự phù hợp của các đặc tính kỹ thuật chính của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng với các quy định về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường
- Thẩm định về tài liệu, thông tin và thiết kế kỹ thuật: đánh giá sự phù hợp và đầy đủ của các tài liệu, hồ sơ kỹ thuật, thông tin công nghệ, tài liệu thiết kế kỹ thuật đảm bảo yêu cầu sản xuất, vận hành máy móc thiết bị, thông tin về tính năng an toàn và sức khoẻ đối với người sử đụng công nghệ, cộng đồng và môi trường xung quanh, mức độ đáp ứng thông tin (tin học hoá) phục
vụ sản xuất và quản lý
Trang 34- Thẩm định về trình độ nguồn nhân lực
1.2.3.2 Vai trò của thẩm định công nghệ trong hợp đồng CGCN
Là hoạt động để xác định mức độ đạt được của công nghệ đã chuyển giao theo Hợp đồng chuyển giao công nghệ trên thực tế tại thời điểm giám định so với các nội dung của Hợp đồng đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đăng ký
Vai trò của thẩm định công nghệ qua việc:
- Thẩm định chất lượng sản phẩm được sản xuất nhờ việc áp dụng công nghệ được chuyển giao so với tiêu chuẩn chất lượng đã thỏa thuận
- Đánh giá về mức độ hoàn thành các nội dung công nghệ được chuyển giao so với nội dung đã nêu trong Hợp đồng chuyển giao công nghệ (số lượng, chất lượng): bí quyết, thông tin công nghệ, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ,
sơ đồ công nghệ, phần mềm máy tính, ; các giải pháp hợp lý hóa sản xuất,
đổi mới công nghệ, các đối tượng sở hữu công nghiệp, các dịch vụ hỗ trợ
chuyển giao công nghệ (chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo)
- Xem xét, đánh giá trên thực tế về số lượng, chất lượng chuyên gia, chất lượng nhân viên trước và sau đào tạo, kết quả đạt được sau khi được hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo
- Thời gian hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo thực tế so với dự kiến
- Tính toán các chi phí cần phải thanh toán cho chuyển giao công nghệ
so với mức phí các bên thỏa thuận và đã được xác nhận đăng ký
1.3 Đánh giá tác động của công nghệ
1.3.1 Khái niệm đánh giá tác động của công nghệ
Đánh giá tác động của công nghệ là quá trình xác định những kết quả hoặc hậu quả có khả năng xảy ra do nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng công nghệ đang được xem xét Các “tác động” còn là những điểm khác biệt
Trang 35xuất hiện giữa hai trường hợp sử dụng và không sử dụng công nghệ đó
Đánh giá tác động của công nghệ là sự đánh giá khả năng ảnh hưởng tích cực - tiêu cực của một công nghệ được đề xuất đến các yếu tố khác trong mối quan hệ trên các khía cạnh tự nhiên, kinh tế và xã hội
Theo Alan, L.P.: “đánh giá công nghệ” có sự giao thoa đáng kể và thậm chí bao trùm lên việc “đánh giá tác động”; do vậy thuật ngữ “đánh giá công nghệ” thường được sử dụng nhiều hơn [28, tr 136]
Tương tự như vậy, David, C [30, tr 8] cũng cho rằng: do bản thân
“tác động” là yếu tố nội tại cơ bản cần tiếp cận khi “đánh giá công nghệ”; bất kỳ hoạt động “đánh giá” nào trên thực tế cũng phải bao gồm cả việc
“đánh giá tác động” Vì vậy có thể lập luận hoạt động đánh giá công nghệ bao hàm cả việc đánh giá tác động của công nghệ Vì vậy, David sử dụng
thuật ngữ “đánh giá công nghệ” như một dạng viết tắt của thuật ngữ “đánh giá tác động công nghệ”
Trong Luật Chuyển giao công nghệ của nước ta (ban hành năm 2006)
có đề cập khái niệm “Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ”
Như vậy, rõ ràng “đánh giá tác động của công nghệ” đã được hàm chứa trong hoạt động “đánh giá công nghệ” Đánh giá tác động của công nghệ là một hợp phần của hoạt động “đánh giá công nghệ”
Quan niệm của tác giả Luận văn:
Đánh giá tác động của công nghệ là một tập hợp các bước logic hỗ trợ cho việc xem xét những hiệu quả và rủi ro mà công nghệ mang lại hoặc gây
ra Đánh giá tác động của công nghệ không phải là một bước thực hiện trong hoặc sau khi thực hiện dự án đầu tư; đây là một quá trình liên tục mà thời điểm thực hiện phải được đặt làm trọng tâm ngay từ giai đoạn xem xét hồ sơ
Trang 361.3.2 Tiêu chí đánh giá tác động của công nghệ
Để tiến hành đánh giá các tác động và ảnh hưởng của công nghệ cần sử dụng các tiêu chí chi tiết để có thể đo lường, tính toán hoặc dự báo được các kết quả Trên thực tế, khi đánh giá tác động của công nghệ phải xem xét nhiều yếu tố khác nhau do tương tác giữa công nghệ với các yếu tố môi trường xung quanh rất phức tạp Vì vậy, các tiêu chí đề ra trong các trường hợp khác nhau thường không hoàn toàn giống nhau nhưng nhìn chung chúng liên quan đến các nhóm tiêu chí chung như sau:
Nhóm các tiêu chí liên quan đến kinh tế: tính khả thi về kinh tế, hiệu
quả kinh tế do áp dụng công nghệ mang lại, tổng giá đầu tư của thiết bị, công nghệ, suất đầu tư, chi phí vận hành, chi phí nhân công vận hành, chi phí bảo hành, bảo trì, thời gian và chi phí khấu hao, chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ,
Nhóm các tiêu chí liên quan đến xã hội: khả năng tạo thêm công ăn
việc làm, tăng thu nhập, giảm nhẹ sức lao động, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đào tạo, nâng cao nhận thức cộng đồng,
Nhóm các tiêu chí liên quan đến môi trường: khả năng tiết kiệm tài
nguyên, khả năng giảm thiểu ô nhiễm , khả năng đạt các tiêu chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế , các tác động đến chất lượng môi trường xung quanh, khả năng gây ra các tác động tới sức khoẻ
công nhân và người dân xung quanh,
Nhóm các tiêu chí liên quan đến năng lực kỹ thuật, công nghệ: xuất xứ
công nghệ, xuất xứ của thiết bị, tính đồng bộ của công nghệ, mức độ tự động hoá của công nghệ, thiết bị, mức độ linh hoạt trong sử dụng công nghệ, mức
độ tiên tiến của công nghệ đề xuất so với công nghệ hiện hữu (nếu có),
Các tiêu chí khác: khả năng nhân rộng, tính bền vững, tồn tại và phát
triển
Trang 37Dựa trên các kết quả và giá trị đã xác định được của mỗi tiêu chí đối với từng yếu tố, tiến hành so sánh với các tiêu chuẩn quy định (nếu có), hoặc lượng hóa các ảnh hưởng này để có cơ sở kết luận Tuy nhiên, do công nghệ mang tính đặc thù về tính mới, tính cải tiến với các giá trị khác nhau như giá trị khoa học, giá trị kinh tế, giá trị xã hội, ; đồng thời có tính tác động cả trong khoảng thời gian ngắn hạn và dài hạn nên việc đánh giá các hoạt động này theo những tiêu chí phù hợp phản ánh các nhân tố tổng hợp từ đầu vào, quá trình và đầu ra của công nghệ phải được dựa trên đặc điểm của các loại hình công nghệ cụ thể
1.4 Thiết chế thẩm định tác động của công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.4.1 Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong bốn loại hình dự
án ĐTNN gồm: dự án tài trợ phát triển chính thức; dự án vay vốn tín dụng quốc tế; dự án đầu tư gián tiếp; và dự án đầu tư trực tiếp
Theo định nghĩa của IMF (1993) và OECD (1996): “dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một dự án đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư”[38, tr 246]
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB) thì “dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dự án đầu tư thực hiện nhằm đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc mục đích kiểm soát hoạt động kinh doanh tại một nền kinh kế bên ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư” [40, tr 346]
Ngay từ năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được ban hành Tuy nhiên, trong văn bản luật này mới chỉ đề cập khái niệm “đầu tư nước ngoài” Luật sửa đổi năm 1990 và 1992 cũng chưa bổ sung khái niệm về
Trang 38Đến năm 1996, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong điểm 1 điều
2, đã đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này
Luật đầu tư (năm 2005) đã quy định bao quát về hoạt động đầu tư tại Việt Nam (bao gồm cả hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) và đầu tư
từ Việt Nam ra nước ngoài Trong văn bản này:
- “Đầu tư trực tiếp” được định nghĩa là hình thức đầu tư do nhà đầu tư
bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
- “Đầu tư nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu
tư
Như vậy, tổng hợp cả hai khái niệm có thể thấy dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là dự án mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Tuy nhiên trong Luật đầu tư ban hành năm 2014, một bộ luật được xem
là có tính đổi mới toàn diện và tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, lại không đưa ra khái niệm cụ thể về “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Trong văn bản pháp luật này, chỉ còn khái niệm “dự án đầu tư” và “nhà đầu tư nước ngoài”
1.4.2 Công nghệ trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Công nghệ trong các dự án FDI là công nghệ được đầu tư hoặc chuyển giao trong quá trình thực hiện dự án FDI Đây là lợi ích căn bản trong lộ trình phát triển dài hạn và đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam
Các dự án FDI lớn thường được thực hiện chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Do vậy, công nghệ trong dự án FDI thường được
Trang 39chuyển giao theo các hình thức sau [37, tr 15-17]:
- CGCN theo chiều ngang: là chuyển giao giữa các doanh nghiệp Thực chất là quá trình nhân rộng các công nghệ về mặt số lượng, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ Hình thức này thường áp dụng đối với công nghệ đã được làm chủ và đứng vững trên thị trường cạnh tranh
- CGCN theo chiều dọc: là chuyển giao từ khu vực nghiên cứu và triển khai vào khu vực sản xuất Chuyển giao dọc có ưu điểm là mang đến một công nghệ hoàn toàn mới
Thực tế ở nước ta, công nghệ trong dự án FDI hầu hết được chuyển giao theo chiều ngang Trong hình thức chuyển giao dọc, thông thường chỉ có công nghệ sản xuất hoặc phần cứng được chuyển giao và chỉ chuyển giao một lần Trong khi đó, công nghệ chuyển giao trong dự án FDI theo chiều ngang bao gồm cả công nghệ sản xuất và tri thức quản lý, kinh doanh kèm theo máy móc thiết bị (phần cứng) Đối với các TNCs, thông thường việc thực hiện chuyển giao trọn gói tất cả công nghệ và tư bản (phần mềm và phần cứng) và được gọi chung là chuyển giao các nguồn lực kinh doanh Trong trường hợp này, công nghệ được chuyển giao qua FDI là hình thức chuyển giao trong nội
bộ TNCs (từ công ty mẹ sang công ty con)
Xét về mối quan hệ giữa giá trị kỹ thuật và kinh tế, những công nghệ được chuyển giao theo các dự án FDI thường là công nghệ được đưa vào theo lợi ích của nhà đầu tư, mà thường không phải theo nhu cầu đổi mới công nghệ
do phía Việt Nam chủ động đưa ra Do vậy, vẫn còn có một số tồn tại như:
- Công nghệ cũ được lựa chọn do giá rẻ, sử dụng nhiều lao động và dễ
sử dụng Mặt khác, các công nghệ này lại kém sức cạnh tranh, năng suất thấp Trên thực tế, không ít công nghệ chuyển giao vào các nước đang phát triển qua FDI không phù hợp, hiệu quả không cao Các công nghệ này được sản
Trang 40nguồn nguyên liệu được chuẩn hoá, trong khi các nước đang phát triển lại không đáp ứng được những yêu cầu này Hơn nữa, sự khác biệt về điều kiện khí hậu là yếu tố làm hao mòn nhanh chóng thiết bị công nghệ và khó sử dụng
ở nước tiếp nhận công nghệ Ngoài ra, khả năng hạn chế về cung cấp các dịch
vụ kỹ thuật và phụ tùng thay thế ở các nước đang phát triển cũng là những khó khăn trong tiếp nhận công nghệ nước ngoài Các đặc điểm này làm giảm hiệu quả sử dụng công nghệ
- Thông thường các nhà ĐTNN đến từ các nước phát triển, do yêu cầu chặt chẽ trong các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường ở các nước phát triển, họ đã tìm cách chuyển các công nghệ gây ô nhiễm môi trường cao sang khai thác ở các nước đang phát triển Mặt khác, các dự án FDI chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp sản xuất hoặc khai thác tài nguyên Vì thế mặc dù các chủ dự án FDI và các cơ quan hữu trách của nước chủ nhà tăng cường các biện pháp bảo
vệ môi trường nhưng cũng không loại bỏ được tình trạng ô nhiễm môi trường nước chủ nhà Đây là vấn đề khá phổ biến ở các nước đang phát triển
- Giá cả công nghệ cao hơn giá thực tế là hiện tượng phổ biến trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển Do các nước này bị hạn chế về vốn, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm đàm phán, nên các nhà ĐTNN thường tính giá công nghệ cao hơn giá thị trường Trong nhiều trường hợp, giá cả công nghệ “phần cứng” bình thường nhưng “phần mềm” lại quá cao Cách tính này làm tăng phần giá trị vốn góp của bên nước ngoài hoặc giảm phần lợi nhuận chịu thuế của họ
- Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) rất hạn chế chuyển giao những công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao cho các chi nhánh của công ty ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật hoặc mất bản quyền công nghệ do việc bắt chước, cải biến hoặc nhái lại công nghệ của các công ty nước chủ nhà Mặc dù, lý do mà các TNCs thường đưa ra, không CGCN mới là do nước chủ nhà còn chưa đáp