Có nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng này, một trong những nguyên nhân đó là vai trò quản lý nhà nước đối với ngành du lịch ở thị xã Sầm Sơn còn nhiều bất cập, vấn đề quy hoạch và thự
Trang 1-
ĐỖ THỊ NGA
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Ở THỊ XÃ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2016
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ ĐỨC THANH
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội – 2016
Trang 3trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Trang 4giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Đức Thanh,
người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo trong phòng Đào tạo, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt luận văn này Đồng thời xin chân thành cám ơn các cơ quan chuyên môn của thị xã Sầm Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Trang 5DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 5
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững 11
1.2.1 Phát triển bền vững 11
1.2.2 Phát triển du lịch theo hướng bền vững 11
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững trong và ngoài nước 21
1.3.1 Một số điển hình phát triển du lịch không bền vững 21
1.3.2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững 23
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm cho Sầm Sơn 26
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Phương pháp luận 28
2.1.1 Chủ nghĩa duy vậy biện chứng 28
2.1.2 Chủ nghĩa duy vậy lịch sử 29
2.2 Các phương pháp cụ thể 29
2.2.1 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 29
2.2.2 Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử 30
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
2.3.4 Phương pháp thống kê 32
2.3.5 Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp 33
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở THỊ XÃ SẦM SƠN 35
3.1 Điều kiện và tiềm năng cho phát triển du lịch ở thị xã Sầm Sơn Sầm Sơn 35
Trang 62015 44
3.2.1 Thực trạng xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch theo hướngbền vững thị xã Sầm Sơn 44
3.2.2 Ban hành các văn bản pháp quy tạo dựng hành lang pháp lý cho phát triển du lịch theo hướng bền vững thị xã Sầm Sơn 48
3.2.3 Thực trạng xây dựng bộ máy và quản lý cáchoạt động du lịch 51
3.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động du lịch 58
3.3 Đánh giá sự phát triển du lịch ở thị xã Sầm Sơn theo quan điểm phát triển bền vững 60
3.3.1 Những thành công chủ yếu 60
3.3.2 Hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế 68
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở THỊ XÃ SẦM SƠN GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 74
4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn 74
4.1.1 Bối cảnh quốc tế 74
4.1.2 Bối cảnh trong nước 75
4.2 Mục tiêu và quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn 77
4.2.1 Mục tiêu phát triển du lịch Sầm Sơn đến năm 2020 77
4.2.2 Quan điểm phát triển du lịch Sầm Sơn 79
4.3 Một số giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Sầm Sơn 80
4.3.1 Hoàn thiện công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch 80
4.3.2 Giải pháp cho xây dựng cơ chế vận dụng pháp luật và chính sách của nhà nước về phát triển du lịch theo hướng bền vững 82
Trang 7hoạt động du lịch 91
4.3.5 Nhóm các giải pháp điều kiện 92
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 81 AEC Cộng đồng kinh tế ASIAN
4 CN-TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
11 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 9STT Bảng Nội dung Trang
2 Bảng 3.2 Tổng doanh thu du lịch thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2010 – 2015 60
3 Bảng 3.3 Lượng khách du lịch nội địa đến Sầm Sơn giai đoạn
4 Bảng 3.4 So sánh cơ sở lưu trú giai đoạn 2006-2010 và 2011- 2015 63
6 Bảng 3.6 Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ở Sầm Sơn 69
7 Bảng 3.7 Các cơ sở lưu trú phân theo chất lượng dịch vụ năm 2015 70
8 Bảng 4.1 Định hướng phát triển du lịch Sầm Sơn đến năm 2020 79
Trang 101 Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức quản lý du lịch ở thị xã Sầm Sơn 51
2 Hình 3 1 Số lƣợt khách du lịch quốc tế đến Sầm Sơn giai
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tínhcấp thiết của đề tài
Sự phát triển nhanh và mạnh của ngành công nghiệp không khói trong những năm vừa qua đã và đang mang lại nguồn thu quan trọng cho các nền kinh tế Với tiềm năng hết sức to lớn của mình, du lịch được xem là một trong những ngành kinh
tế lớn của thế giới Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành kinh tế khác, bên cạnh sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp này, chúng đang ta phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch gia tăng Đứng trước vấn đề đó đòi hỏi phải tìm ra một con đường phát triển du lịch hợp
lý và hài hòa, sao cho các vấn đề về kinh tế, văn hóa, dân số, xã hội, tài nguyên, môi trường phải được xem xét một cách tổng thể để cùng phát triển, để không cản trở đến sự phát triển của nhau ở hiện tại cũng như trong tương lai Con đường đó chính
là sự phát triển bền vững du lịch theo hướng bền vững
Khu du lịch Sầm Sơn thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa là một trong những khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20 Sầm Sơn có nhiều tiềm năng du lịch, nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa Trong những năm gần đây, Sầm Sơn đã có những đổi mới và chuyển biến tích cực tạo rađiểm nhấn cho một địa danh hấp dẫn đối với du khách Mặt khác, những thay đổi trong cách thức tổ chức và quản lý hoạt động du lịch cũng góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội Sầm Sơn, cũng như ngành kinh tế du lịch Thanh Hóa phát triển, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, tăng thu ngân sách cho nhà nước và mở rộng hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá, phát triển xã hội giữa Sầm Sơn – Thanh Hoá với các tỉnh trong cả nước
Tuy nhiên, du lịch Sầm Sơn vẫn mang tính mùa vụ, chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế về du lịch của thị xã; sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chất lượng dịch
vụ du lịch chưa cao; khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế còn rất ít Tại một số điểm tài nguyên có giá trị, mặc dù đã có được sự đầu tư khai thác, song thời gian
Trang 12qua những giá trị tài nguyên này chưa phát huy được để tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn tương xứng Có nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng này, một trong những nguyên nhân đó là vai trò quản lý nhà nước đối với ngành du lịch ở thị xã Sầm Sơn còn nhiều bất cập, vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch còn nhiều thiếu sót; cơ chế, chính sách phát triển du lịch còn nhiều bất cập, chưa tạo ra môi trường thuận lợi để các chủ thể kinh tế phát triển du lịch,…
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, việc nghiên cứu phát triển du lịch, nhất
là phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn là rất cần thiết và cấp bách Làm sao để vừa phát triển du lịch, vừa bảo tồn, gìn giữ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa địa
phương Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch theo hướng bền
vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
2.1.Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận chung về du lịch, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở thị xã Sầm Sơn Từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị để phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát hoá những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững; kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững và du lịch không bền vững ở một số địa phương trong nước và trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn
- Đánh giá tài nguyên du lịch của khu vực nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch ở thị xã Sầm Sơn một cách bền vững
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Cần phải làm gì và làm như thế nào để phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị
xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn làcác hoạt động phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Phạm vi không gian được giới hạn trong khu vực thị xã
Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong mối liên hệ với các điểm du lịch ở tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh lân cận Để có thêm cơ sở thực tiễn, luận văn nghiên cứu kinh nghiệm phát triển
du lịch không bền vững ở quần đảo Canary (Tây Ban Nha), Pattaya (Thái Lan) và kinh nghiệm du lịch bền vững ở Phong Nha – Kẻ Bàng và Cát Tiên
Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch ở
thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2010 – 2015, đề xuất các giải pháp đến năm 2020
4 Những đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu lý luận chung về phát triển du lịch theo hướng bền vững; nội dung, tiêu chí, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch theo hướng bền vững cấp huyện; kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững và không bền vững của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương trong nước, từ đó rút ra bài học cho phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Sầm Sơn
- Nghiên cứu và xác định được những vấn đề cơ bản trong nội dung phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn bao gồm: xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch; xây dựng cơ chế chính sách vận dụng pháp luật và chính sách phát triển du lịch; xây dựng bộ máy và quản lý các hoạt động du lịch; thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức, quản lý và các hoạt động kinh doanh cấp huyện Từ đó, đánh giá mức độ phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn theo quan điểm phát triển bền vững để tìm ra những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch trên các mặt: kinh tế, xã hội và môi trường;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ và cụ thể đã được nghiên cứu nhằm phát huy những lợi thế và hạnchế bất cập để góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học về phát triển du
lịch theo hướng bền vững Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở
thị xã Sầm Sơn
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Du lịch hiện nay được xem là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của thế giới với tiềm năng kinh tế to lớn Chính vì vậy, hoạt động du lịch được rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học và cả các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên,
mãi đến những năm 80 của Thế kỷ XX, khái niệm “Phát triển bền vững” mới xuất hiện và đến đầu những năm 90, khái niệm về “Du lịch bền vững” mới bắt đầu được
đề cập đến, khi mà các tác động tiêu cực lên môi trường của sự bùng nổ du lịch từ những năm 1960 trở nên rõ rệt hơn Các nghiên cứu về “Du lịch bền vững” cho thấy
Du lịch bền vững không chỉ bảo vệ môi trường, giữ gìn sinh thái mà còn quan tâm đến khả năng duy trì lợi ích kinh tế dài hạn và công bằng xã hội Du lịch bền vững không thể tách rời khỏi tranh luận rộng rãi về phát triển bền vững nói chung và là lĩnh vực tiên phong, là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới nói riêng Trong lĩnh vực học thuật, có thể khái quát thành 4 nhóm nghiên cứu chính liên quan đến đề tài nhưsau:
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về khung lý thuyết cho phát triển du lịch bền vững trên bình diện chung nhất có nghiên cứu của Butler, R W (1993) “Tourism An
evolutionary perspective” (Một khía cạnh tiến hóa của du lịch), cho rằng phát triển
du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài Đây là quan điểm đã nhận được sự
đồng thuận khá cao của các tác giả khác như Murphy (1994)“Tourism and
sustainable development” (Du lịch và phát triển bền vững) Trong khi đó, Machado
(2003) trong nghiên cứu “Capacity Building for Tourism Development in Viet
Nam” (Khả năng xây dựng phát triển du lich ở Việt Nam), nhấn mạnh đến tính bền
vững của các sản phẩm trong phát triển du lịch, ông cho rằng phát triển du lịch bền
Trang 16vững là quá trình phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đóng góp vào sự thỏa mãn các nhu cầu của du khách và cộng đồng tại một điểm đến nhất định; góp phần tăng trưởng kinh tế của quốc gia, khu vực và địa phương mà sự phát triển còn góp phần nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội; đóng góp vào việc giảm sự bất bình đẳng và nghèo đói của cộng đồng tại điểm đến nhất định Cũng nghiên cứu về du lịch bền vững có công
trình của đồng tác giả Larry Dwyer và Deborah Edwards (2010)“Understanding the
Sustainable development of tourism” (Hiểu phát triển bền vững về du lịch), đã trình
bày các kết quả của nghiên cứu được tiến hành giữa các thành viên của công chúng
ở Anh về sự hiểu biết của họ về du lịch bền vững; phản ứng của họ với bốn mục tiêu hành vi du lịch mong muốn và kỳ vọng về vai trò của chính phủ và ngành công nghiệp du lịch trong việc khuyến khích du lịch bền vững Nghiên cứu này cho thấy
sự thiếu nhận thức về du lịch tác động liên quan đến hành vi hàng ngày, cảm giác không có quyền và không sẵn sàng để thực hiện những thay đổi đáng kể đối với hành vi du lịch hiện nay
Ở Việt Nam, phát triển du lịch bền vững đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng, điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững cả về học thuật, thực
tiễn và chính sách Nghiên cứu hệ thống lý luận của du lịch bền vững có công trình điển hình của đồng tác giả Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (2001)“Du lịch bền
vững”, tác phẩm nghiên cứu về sự tương quan tác động nhiều mặt của hoạt động du
lịch đối với môi trường (tự nhiên, xã hội nhân văn và kinh tế), với sự tập trung chú
ý phân tích sâu sắc hơn các tác động xấu do du lịch gây ra Tác giả còn đề xuất định hướng xây dựng các chính sách phát triển du lịch, các biện pháp kiểm soát tác động của môi trường nhằm đạt được du lịch bền vững, phương pháp đánh giá tính bền vững của một lãnh thổ du lịch hay một dự án du lịch bền vững Cùng nghiên cứu lý luận về du lịch bền vững, có đề nghiên cứu cấp Nhà nước của tác giả Phạm Trung
Lương (2002) “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam” Đề tài đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững; xác
Trang 17định những vấn đề cơ bản đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững thông qua phân tích thực trạng phát triển du lịch từ 1992 đến nay và phát triển du lịch từ góc độ khai thác sử dụng tài nguyên và thực trạng môi trường du lịch Đề tài cũng nghiên cứu và phân tích một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch bền vững, qua đó
đề xuất hệ thống các giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện
cụ thể ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý luận nền tảng, quan trọng cho việc phát triển du lịch và du lịch bền vững nói riêng Bên cạnh đó, các công trình này
đã tạo ra khung lý thuyết cho hoạt động nghiên cứu khung pháp lý và chính sách cho
phát triển du lịch ở Việt Nam như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (2011): “Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
Có thể thấy, các công trình trên đều đưa ra những lý thuyết cơ bản về du lịch bền vững làm căn cứ để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về phát triển du lịch bền vững trong các giai đoạn sau đó Tuy nhiên, các công trình trên chưa cho thấy được hết vai trò của phát triển du lịch bền vững Phát triển du lịch bền vững không chỉ đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà còn không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai và du lịch bền vững đóng góp vào giảm các tệ nạn xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giảm tình trạng ô nhiễm môi trường
Nhóm thứ hai, nghiên cứu về tiêu chí đánh giá du lịch bền vững, cũng đã
có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể có thể kể đến như: "Managing
Sustainable Tourism : Indicators for Better Decisions” (Quản lý du lịch bền vững :
Các chỉ số cho các quyết định tốt hơn) của Manning Edward (1992); “Statistical
Indicators Needed to Monitor Sustainable Travel and Tourism Development”(Các
chỉ số thống kê cần thiết để giám sát du lịch và phát triển du lịch bền vững), của World Travel and Tourism Council (1993) Điển hình có công trình của Ted
Manning (2000) “Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinations”
(Các chỉ tiêu phát triển bền vững cho điểm du lịch), nghiên cứu sâu rộng về các chỉ
Trang 18số về phát triển du lịch bền vững trên toàn thế giới Công trình nghiên cứu là tài nguyên toàn diện nhất về chủ đề này, kết quả của một nghiên cứu sâu rộng bao gồm
62 chuyên gia từ hơn 20 quốc gia Công trình mô tả trên 40 vấn đề bền vững lớn, từ việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên (chất thải, nước, năng lượng, vv), để kiểm soát sự hài lòng của khách du lịch và cộng đồng sở tại, bảo tồn di sản văn hóa, tính mùa vụ, rò rỉ kinh tế, hoặc thay đổi khí hậu Đối với mỗi vấn đề, chỉ số và kỹ thuật đo lường được gợi ý với các nguồn thông tin thực tế và ví dụ, nghiên cứu cũng
có chứa một số thủ tục để xây dựng các chỉ đích đến cụ thể, việc sử dụng chúng trong chính sách du lịch và quy trình lập kế hoạch, cũng như các ứng dụng trong các loại đích khác nhau (ví dụ như ven biển, đô thị, du lịch sinh thái, cộng đồng nhỏ) Nhiều ví dụ và 25 trường hợp nghiên cứu toàn diện cung cấp một loạt các kinh nghiệm tại các công ty, địa điểm, cấp quốc gia và khu vực từ tất cả các châu lục UNWTO tổ chức một loạt các hội thảo khu vực và quốc gia về chỉ tiêu du lịch bền vững để đào tạo các quan chức du lịch và các chuyên gia về ứng dụng của họ
Nhóm thứ ba, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững tại một số địa bàn cụ thể, có các công trình như đề tài luận
án Tiến sĩ kinh tế “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha – Kẻ Bàng” của Trần
Tiến Dũng (2007) Luận án đã phân tích các quan niệm về hệ thống đánh giá về du lịch bền vững, các kinh nghiệm du lịch bền vững và không bền vững trên thế giới
và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững Phong Nha – Kẻ Bàng Đây là luận án về du lịch bền vững ở một vùng du lịch cụ thể, có tính đặc trưng Các quan niệm về du lịch bền vững và không bền vững là điểm mới của nghiên cứu này, tuy nhiên, các chỉ tiêu đánh giá vẫn chưa được tác giả quan tâm sâu sắc Gần đây có
luận án Tiến sĩ Kinh tế“Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả
Nguyễn Văn Đông (2013),đây là nghiên cứu công phu về phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa – Vũng Tàu Tác giả đưa ra các quan niệm mới về du lịch bền vững, phân tích các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững và đưa ra các bộ tiêu chí phân tích, đánh giá du lịch bền vững; sử dụng các phương pháp nghiên cứu và mô hình định lượng để đánh giá sự phát triển du lịch bền vững qua các bộ tiêu chí đã đưa ra trên địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, nội dung phát triển du lịch bền vững tác giả đưa
Trang 19ra còn chưa thực sự phù hợp; các bộ tiêu chỉ mà tác giả đưa ra vẫn còn sự mâu thuẫn, một số tiêu chí chưa phù hợp và thống nhất với nhau
Ngoài ra còn một số luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về phát triển
du lịch bền vững ở nhiều địa phương như: “Phát triển du lịch bền vững Bình Thuận”, luận án tiến sỹ của tác giả La Nữ Ánh Vân (2013);luận án “Một số giải pháp phát triển
du lịch bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” của tác giả Đoàn Liêng Diễm
(2009), trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; luận văn “Phát triển du lịch theo
hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình” của Lâm Thị Hồng Loan (2014);…
Bên cạnh đó, phát triển du lịch bền vững còn là chủ đề thảo luận của các cuộc hội thảo quốc tế và trong nước như Hội thảo quốc tế về Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế (tháng 5/1997), Hội thảo về Du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998)…
Nhóm thứ tư, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ở thị xã Sầm Sơn,
có một số nghiên cứu như: luận văn thạc sỹ của Lê Thị Diễm Hương (2006) "Sầm
Sơn - phát triển du lịch bền vững", luận văn đã nêu lên được những điều kiện cơ
bản và đặt ra một số giải pháp để phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn Tuy nhiên, các giải pháp đặt ra để phát triển du lịch theo hướng bền vững chưa bám sát được các nguyên tắc và tiêu chí về phát triển bền vững ở cả 3 mặt: kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên môi trường Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn
Thanh (2013) "Nâng cao hiệu quả quản lý các di tích lịch sử trên địa bàn thị xã
Sầm Sơn" Trên cơ sở thực trạng các di tích trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, tác giả đã
đề xuất các giải pháp quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của các di tích trong phục vụ du lịch Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở việc đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các di tích lịch sử từ góc độ của chính quyền địa phương
* Những kết quả đạt được trong các công trình nghiên cứu
Thứ nhất, từ nhiều cách tiếp cận và góc độ khác nhau, với những phương
pháp và phạm vi nghiên cứu cụ thể, các nhà khoa học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về phát triển du lịch bền vững Qua việc tổng hợp, phân tích, khái quát để đưa ra định nghĩa về phát triển du lịch bền vững có thể rút ra được nội hàm cơ bản,
Trang 20các nguyên tắc, nội dung phát triển du lịch bền vững cũng chưa bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Thứ hai, thông qua việc sử dụng các luận cứ khoa học vào quá trình khảo sát,
nghiên cứu thực tiễn, các công trình đã phân tích thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và một số đia phương cụ thể nói riêng Cùng với việc chỉ ra những thành tựu và hạn chế, những ưu điểm và khuyết điểm, các công trình còn luận giải những nguyên nhân sâu xa của nó, và qua đó, đưa ra các khuyến nghị, đề xuất phương hướng cơ bản và các nhóm giải pháp cụ thể để phát triển du lịch theo hướng bền vững nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ ba, mỗi địa phương, vùng miền có những đặc điểm riêng nên cùng với
việc nghiên cứu về phát triển du lịch nói chung, những nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ngày càng được chú trọng Từ việc khảo cứu các đặc thù về điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, tập quán,…các nghiên cứu đã góp phần đưa ra những nhận thức đa chiều và cập nhật về thực trạng phát triển du lịch ở các địa phương, trong đó có thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đây là một nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp, có giá trị to lớn đối với đề tài này
* Những khoảng trống nghiên cứu
- Các công trình đã nghiên cứu một cách hệ thống về khái niệm, nội dung cũng như các tiêu chí đánh giá du lịch bền vững, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững cấp huyện, cũng như xây dựng nội dung
và các tiêu chí đánh giá du lịch bền vững trên địa bàn cấp huyện.Đây là những gợi
mở nghiên cứu và hướng tiếp cận cho luận văn
- Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch Sầm Sơn, nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa dưới góc độ kinh tế chính trị Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, du lịch phát triển và cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi phải có sự thay đổi trong chính sách, giải pháp phát triển nền kinh tế nói chung, du lịch nói riêng
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn thị xã Sầm Sơn để nghiên cứu phát triển du lịch trên quan điểm phát triển bền vững Đề tài luận văn nghiên cứu không trùng với các
Trang 21nghiên cứu trước đây về lĩnh vực này Hơn nữa, trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, thị xã Sầm Sơn đã có nhiều sự thay đổi tích cực và tiêu cực ảnh hướng đến sự phát triển du lịch Vì vậy, một nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển du lịch
ở Sầm Sơn trong thời gian vừa qua và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Sầm Sơn trong giai đoạn 2016 – 2020 là cần thiết
1.2 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” được biết đến từ những năm 70 của thế kỷ
XX Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận
ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội Chính vì thế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức
ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế
hệ tương lai” Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Ba trụ cột phát triển bền vững được xác định là: Thứ nhất, bền vững về mặt
kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an toàn, chất
lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển con người,
bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi
thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi
trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống
1.2.2 Phát triển du lịch theo hướng bền vững
1.2.2.1 Khái niệm phát triển du lịch theo hướng bền vững
Theo quan điểm của nhiều học giả trên thế giới cho rằng du lịch bền vững là
“hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu
đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời
Trang 22tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn
Hiếu, 2001, trang 25)
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới - WTO đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2001, trang 26)
Như vậy có thể coi Phát triển du lịch bền vững là một nhánh của Phát triển
bền vững đã được Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay
Uỷ ban Brudtlant) xác định năm 1987 Tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác,
sự phát triển bền vững chung của khu vực
“Du lịch bền vững” ở Việt Nam là một khái niệm còn mới Tuy nhiên, nhận
thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã bước đầu được hình thành Điều đó được thể hiện bằng việc một số loại hình du lịch thân thiện với môi trường
đã xuất hiện ở Việt Nam với các tên gọi như: du lịch sinh thái, du lịch xanh Nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững có một số cuộc nghiên cứu đã chỉ ra tác động của du lịch trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường, xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố được coi là không bền vững và các yếu tố được coi
là bền vững trong phát triển du lịch
Trang 23Tùy thuộc vào đặc điểm của khu du lịch để sử dụng các yếu tố để đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch Tuy nhiên, hiện nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều cho
rằng: “Phát triển du lịch theo hướng bền vững là hoạt động khai thác có quản lý
các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa
để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”
Tóm lại, cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về phát triển du lịch theo hướng bền vững, vì thế việc đi đến một quan điểm thống nhất là một yêu cầu cấp thiết Cụ thể, phát triển du lịch theo hướng bền vững cần hướng tới: (1) đóng góp vào sự thỏa mãn các nhu cầu của du khách và cộng đồng tại một điểm đến nhất định; (2) đóng góp và việc giảm sự bất bình đẳng và nghèo đói của cộng đồng tại điểm đến nhất định; (3) hỗ trợ cộng đồng tại điểm cảm thấy được tự do, được tiếp cận với các dịch vụ du lịch tốt hơn, giảm các tệ nạn xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giảm tình trạng ô nhiễm môi trường; (4) không chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế của quốc gia, khu vực và địa phương mà sự phát triển còn góp phần nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội; (5) không chỉ chú ý đạt được các mục tiêu trên trong một thời kỳ nhất định mà còn không ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ tương lai
1.2.2.2 Nội dung phát triển du lịchtheo hướng bền vững cấp huyện
* Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch cấp huyện
Quy hoạch là một trong những nội dung quan trọng đầu tiên để đảm bảo phát triển du lịch bền vững Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch là cơ sở quan trọng để thúc đẩy du lịch phát triển bền vững, nó tác động tích cực đối với việc định hướng đầu tư Phát triển theo quy hoạch góp phần phát huy tối đa nguồn lực đầu tư,
Trang 24hệ thống khách sạn, nhà hàng và các công trình phục vụ cho du lịch sẽ được đầu tư xây dựng đúng hướng, tạo nên sự đồng bộ của cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch
Chiến lược phát triển ngành du lịch trên địa bàn một địa phương quyết định những phương hướng phát triển lâu dài, nội dung cơ bản của nó là: Hệ thống các quan điểm phát triển; các hướng phát triển, các mục tiêu phát triển, các nhiệm vụ và chính sách lớn cần thực hiện Do đó, nội dung quy hoạch tổng thể phải xác định và thể hiện được tầm nhìn dài hạn, đánh giá sát thực những lợi thế so sánh để khai thác tối đa nguồn lực thúc đẩy phát triển du lịch Những mục tiêu, chỉ tiêu phát triển du lịch theo hướng bền vững cấp huyện phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh
và triển vọng phát triển của ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,
và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởnước ta
Để xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch cấp huyện, trước hết chính quyền cấp huyện cần xác định, đánh giá những nguồn lực, tiềm năng và lợi thế của địa phương trong việc phát triển du lịch Tiếp đó, cần xác định được nhu cầu của khách du lịch để đưa ra chiến lược phát triển du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và bối cảnh phát triển du lịch của tỉnh cũng như của cả nước Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch của đất nước và của tỉnh, chính quyền cấp huyện lập quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển du lịch cho từng giai đoạn, phù hợp điều kiện nguồn lực và tiềm năng, lợi thế về du lịch Quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch cấp huyện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải công bố, công khai rộng rãi để nhân dân
và các cơ quan liên quan được biết
* Xây dựng cơ chế vận dụng pháp luật và chính sách phát triển du lịch cấp huyện
Để khai thác tốt các nguồn lực, lợi thế, tiềm năng phát triển du lịch địa phương Chính quyền địa phươngcấp huyện cần xây dựng chính sách có tính chất đặc thù trên cơ sở khung pháp lý chung của nhà nước và của tỉnh Chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch phải được cụ thể hóa bằng những văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, xem quyết định đầu tư
Trang 25Đầu tư vào lĩnh vực du lịch đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, cho nên tùy điều kiện cụ thể của địa phương mà xác định cơ chế ưu đãi cho phù hợp Chính sách ban hành vừa phải bảo đảm nguyên tắc không trái với khung pháp
lý chung trong lĩnh vực du lịch, vừa tạo sự thông thoáng, hấp dẫn các nhà đầu tư
Địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế và nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, nhưng nếu không có chính sách phù hợp thì không thể thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch có tính chất quyết định đến sự phát triển nhanh hay chậm của ngành du lịch địa phương Do vậy, cần chú trọng đến việc thu hút đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp có năng lực quản lý điều hành và năng lực tài chính mạnh đầu tư vào lĩnh vực du lịch
Đối với sự phát triển của ngành du lịch trên địa bàn huyện, các văn bản và chính sách sau đây có tác động trực tiếp: Luật Du lịch, Luật Đầu tư, các chính sách của tỉnh như: chính sách ưu đãi đầu tư; chính sách tài chính – tín dụng, chính sách
hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng ngành du lịch; chính sách hỗ trợ xúc tiến du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch và đào tạo nguồn nhân lực du lịch; chính sách đất đai; chính sách giá cả các dịch vụ cấu thành sản phẩm du lịch,…
* Xây dựng tổ chức bộ máy và quản lý phát triển du lịch cấp huyện
Tổ chức, điều hành các hoạt động du lịch là thực hiện chức năng tổ chức điều hành sự phát triển của ngành du lịchtrên địa bàn huyện Nhiệm vụ của tổ chức điều hành là phải lái sự phát triển du lịch đi đúng hướng Ở đây có nghĩa là đi đúng theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được vạch ra; cũng có nghĩa là phải phát triển theo đúng quy định của luật pháp hiện hành Do đó cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Tổ chức hệ thống đối tượng quản lý Sản phẩm du lịch được tạo ra do sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên
du lịch Do đó, để có hoạt động du lịch phải khai thác các tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch không chỉ là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố văn hoá lịch sử mà nó là kết hợp của cảnh quan thiên nhiên yếu tố văn hoá lịch sử với thành quả lao động
Trang 26sáng tạo của con người Do vậy, việc đầu tiên là phải quy hoạch tốt hệ thống các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch
- Tổ chức và điều hành hệ thống chủ thể quản lý Đối với ngành du lịch cấp huyện có các vấn đề sau cần quan tâm: Đầu tiên là bộ máy quản lý phải tương xứng với nhiệm vụ; thứ đến, là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành du lịch
- Vận hành sự hoạt động của đối tượng và chủ thể quản lý Mục đích của việc quản lý vận hành là: một, bảo đảm các hoạt động ăn khớp, thông suốt từ đầu đến cuối; hai, tốc độ hoạt động ở mức tích cực nhất; ba, hoạt động đúng hướng (không chệch khỏi quỹ đạo đã định)
Ngoài các nội dung trong tổ chức, điều hành đã nêu, thì việc bảo đảm cơ sở
hạ tầng cho sự phát triển du lịch là một nội dung mà công tác tổ chức, điều hành cần đặc biệt quan tâm
* Thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức, quản lý và các hoạt động kinh doanh cấp huyện
Nội dung này bao gồm tổng thể các hoạt động của chính quyền địa phương nhằm phát hiện và xử lý những sai sót, những vi phạm cản trở ngành du lịch ở địa phương phát triển mạnh mẽ và đúng hướng
Kiểm tra có thể hiểu là hoạt động thường xuyên của cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới, hoặc kiểm tra cụ thể một vấn đề nào đó Hoạt động kiểm tra Nhà nước về các hoạt động du lịch bao gồm: kiểm tra của cơ quan Nhà nước thẩm quyền chung, kiểm tra chức năng và kiểm tra nội bộ Kiểm tra của các cơ quan thẩm quyền chung tiến hành qua các hình thức: nghe báo cáo và đánh giá báo cáo của đối tượng
bị kiểm tra, tự tổ chức các đoàn kiểm tra về từng vấn đề Kiểm tra chức năng do cơ quan quản lý ngành thực hiện Thông qua các hình thức kể trên có thể đánh giá chuẩn xác và xác định những can thiệp cần thiết của Nhà nước vào sự phát triển của hoạt động du lịch ở địa phương
1.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới du lịch theo hướng bền vững
a Nguồn tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử
Trang 27dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo lập ra sự hấp dẫn du khách
Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch thiên nhiên.Tài nguyên du lịch thiên nhiên như: đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản, tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển.Tài nguyên nhân văn gồm: hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội là yếu
tố cơ bản để phát triển du lịch
b Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu được, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch và nó có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách du lịch đến với địa điểm du lịch nó bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải; mạng lưới thông tin liên lạc và internet; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
c Chất lượngnguồn nhân lực ngành du lịch
Là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của du lịch Chất lượng công tác kinh doanh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng hay không bởi vì lao động làm việc trong du lịch không những thực hiện công tác chuyên môn về du lịch của mình họ còn thực hiện nhiệm vụ quan trọng là trao đổi văn hoá, giao tiếp với du khách tạo cho du khách có cảm giác hứng khởi trong lúc du lịch
d Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch
Các yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch bao gồm mức thu nhập, trình
độ văn hoá, thời gian rỗi
Thứ nhất, trình độ văn hoá: khi nhận thức của con người càng cao thì việc họ thích thú với khám phá thế giới, thiên nhiên, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi ngày càng tăng về nhu cầu, động cơ đi du lịch tăng lên Theo một số cuộc điều tra cho thấy: nếu người chủ gia đình có trình độ văn hoá ở mức trung học thì tỷ lệ đi du lịch là 65%, trình
độ cao đẳng tỷ lệ này là 75% , trình độ đai học thì tỉ lệ này lên tới 85%
Thứ hai, mức thu nhập (hay điều kiện sống): đây là nhân tố quan trọng
để phát triển du lịch Khi thu nhập của người dân tăng lên thì ngoài việc chi
Trang 28tiêu cho cơm ăn áo mặc thì họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ trong đó có cả việc đi du lịch
Cuối cùng là thời gian rỗi: phần lớn mọi người đi du lịch khi họ rảnh rỗi (ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, cuối tuần ) Vì vậy nhân tố này cũng rất quan trọng để phát triển du lịch
e Đường lối chính sách phát triển du lịch
Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch bền vững, với một đường lối chính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển Đường lối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung, đường lối phát triển kinh tế - xã hội vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội
f Tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho du lịch phát triển bền vững hơn Sự tham gia của cộng đồng dân cư không những tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư mà còn tăng tính trách nhiệm trong việc phát triển du lịch Việc tham gia này là hết sức cần thiết và không thể thiếu được
1.2.2.4 Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịchtheo hướng bền vững
Có nhiều tiêu chí đánh giá phát triển du lịch theo hướng bền vững, tuy nhiên, trong phạm vi phát triển du lịch cấp huyện, luận văn sử dụng các tiêu chí sau:
* Các tiêu chí về kinh tế
- Chỉ tiêu khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển du lịch Để đánh giá được tính phát triển bền vững hay không thì chỉ tiêu khách du lịch phải tăng trưởng liên tục năm này qua năm khác Trong chỉ tiêu khách du lịch, ngoài số lượng tuyệt đối về khách, các chỉ tiêu khác cần phải tính đến trong quá trình phát triển bền vững đó là số ngày lưu trú trung bình, số khách quay trở lại, khả năng thanh toán, mức độ hài lòng của khách…
- Chỉ tiêu thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội ngành du lịch: Thu nhập du lịch (của một địa phương nào đó) bao gồm tất cả các khoản thu được do khách du lịch chi trả (khi đến địa phương đó) cho dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận chuyển
Trang 29khách du lịch (không kể vận chuyển quốc tế); các dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác Đối với ngành du lịch, việc tăng trưởng thường xuyên, liên tục của chỉ tiêu GDP không những chỉ đảm bảo cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, mà còn cho thấy vị trí của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
- Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch (bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển, các khu du lịch, các văn phòng lữ hành, các cơ sở dịch vụ bổ sung khác…) là thước đo phản ánh trình độ phát triển của ngành du lịch Sự phát triển cả về
số lượng, chủng loại và chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, một mặt đáp ứng được mọi nhu cầu của mọi đối tượng khách, mặt khác góp phần quan trọng vào việc hấp dẫn, thu hút khách, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành
- Chỉ tiêu nguồn nhân lực du lịch: du lịch là một ngành có nhu cầu cao đối với đội ngũ nguồn lao động sống Chất lượng đội ngũ lao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng của các chỉ tiêu du lịch khác Như vậy, chất lượng đội ngũ lao động được đào tạo không chỉ là yếu tố thu hút khách, nâng cao uy tín của ngành, của đất nước mà còn là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững
* Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường
- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: chỉ tiêu về số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư bảo tồn và tôn tạo được coi là một trong số các tiêu chí cơ bản của sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch về mặt tài nguyên - môi trường Theo tổ chức Du lịch Thế giới, nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì hoạt động du lịch được xem là trong trạng thái phát triển bền vững
- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch: việc xây dựng quy hoạch du lịch làm căn cứ cho việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các dự án phát triển du lịch làm căn cứ cho việc triển khai thực hiện các kế hoạch, các dự án phát triển cụ thể đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch
Trang 30- Áp lực lên môi trường - tài nguyên tại các khu, điểm du lịch: vấn đề môi trường tại các khu, điểm du lịch cần được coi trọng trong quá trình phát triển du lịch nhằm đạt tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên các nguồn tài nguyên và môi trường được thông qua các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu các chất thải; mức độ kiểm soát các hoạt động phát triển du lịch; mức độ đầu tư bảo tồn và duy trì tính đa dạng sinh học Vấn đề quản lý áp lực lên tài nguyên môi trường tại các khu, điểm du lịch cũng liên quan đến khả năng sức chứa Đó là việc quản lý số lượng khách đến không vượt quá khả năng đáp ứng về tài nguyên và không làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các hệ sinh thái trong khu vực
* Các tiêu chí về xã hội
Trong phát triển du lịch bền vững đòi hỏi ngành du lịch phải có những đóng góp cụ thể cho quá trình phát triển của toàn xã hội: tạo công ăn việc làm cho người lao động; tham gia xoá đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; chia sẻ lợi ích từ các hoạt động du lịch, đảm bảo sự công bằng trong phát triển
- Mức độ phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ: Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ còn có ý nghĩa cao về mặt xã hội, tạo điều kiện để một bộ phận người lao động ở địa phương có công ăn việc làm, cải thiện chất lượng cuộc sống nâng cao dân trí…
- Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: du lịch là một ngành kinh tế mang tính xã hội hoá cao, vì vậy các hoạt động phát triển du lịch có tác động mạnh
mẽ nhiều mặt của đời sống xã hội của hoạt động du lịch vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực Để đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội, vấn đề đặt ra là các tác động tiêu cực (không thể tránh khỏi) đến xã hội từ các hoạt động phát triển du lịch cần phải được kiểm soát và quản lý Nhiều vấn đề xã hội còn tồn tại hiện nay ở một chừng mực nào đó liên quan đến phát triển du lịch (ma tuý, nạn mại dâm, hoạt động sòng bạc không kiểm soát, người lang thang níu kéo ăn xin khách du lịch và nhiều vấn đề xã hội khác)
- Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch: để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững, cần có sự ủng hộ và hợp
Trang 31tác của cộng đồng dân cư địa phương - chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch Nếu có được sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng thì chính họ sẽ là người bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường Do vậy mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư đối với các hoạt động du lịch sẽ phản ánh mức độ bền vững của du lịch trong quá trình phát triển
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững trong và ngoài nước
1.3.1 Một số điển hình phát triển du lịch không bền vững
1.3.1.1 Phát triển du lịch ở Pattaya (Thái Lan)
Pattaya là một thành phố của Thái Lan nằm bên bờ biển phía Đông bên vịnh Thái Lan, đây là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất của Thái Lan
Trong gần ba thập kỷ từ năm 1970, Pattaya đã đầu tư xây dựng từ hơn 400 lên đến gần 25.000 phòng khách sạn Với việc ồ ạt phát triển các cơ sở lưu trú trong một thời gian ngắn tại một địa điểm đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực Biển trở nên rất ô nhiễm và Uỷ ban Môi trường quốc gia Thái Lan đã phải đưa ra tuyên bố là việc tắm biển ở đây không an toàn vào năm 1989 Cùng với đó là các đặc điểm tự nhiên khác bị phá huỷ một cách nghiêm trọng, sự đánh mất cây cối, động vật hoang
dã, làm cho môi trường trở nên khô cằn Sự phát triển không có quy hoạch đó đã kéo theo sự ùn tắc về giao thông, thiếu nước sinh hoạt, xung đột về chính trị và cả
về mặt xã hội ngày càng gia tăng làm gây cản trở cho sự phát triển du lịch bền vững Khung cảnh tự nhiên của khu du lịch bị mất đi, độ hấp dẫn khách du lịch giảm sút Những nguyên nhân đó đã làm cho nhiều du khách không muốn đến với Pattaya và đến năm 1989 thì hầu như không có khách du lịch nào muốn quay trở lại với địa điểm du lịch này nữa Với những giải pháp hữu hiệu được đưa ra vào năm
1993 nhằm giải quyết các vấn đề trên thì xu hướng phát triển mới dần bị đẩy lùi và
số lượng khách đã có dấu hiệu tăng trở lại
Một trong những nguyên nhân chính đánh mất sự nổi tiếng của khu du lịch Pattaya đó chính là sự suy thoái về mặt môi trường, ô nhiễm, sự phá huỷ môi trường
tự nhiên, sạt lở, đánh mất cây cối, động vật hoang dã Vấn đề đặt ra ở đây là phải nhận thức được vấn đề phát triển du lịch phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường,
Trang 32cảnh quan du lịch Mọi sự phát triển du lịch tách rời vấn đề môi trường đều dẫn đến thất bại Để du lịch phát triển bền vững thì phải có chính sách phát triển du lịch hợp
lý, phải kết hợp giữa việc phát triển du lịch với viêc bảo vệ môi trường, cảnh quan khu du lịch
1.3.1.2 Phát triển du lịch ở đảo Canary (Tây Ban Nha)
Đảo Canary gồm 7 đảo và một số đảo nhỏ ở Đại Tây Dương, cách Tây Ban Nha lục địa khoảng 1.500 km, nổi tiếng là trung tâm đa dạng sinh học với sự tập trung của nhiều loài sinh vật biển, có nhiều cảnh quan đẹp, phong phú, khí hậu lý tưởng Điều đó đã giúp cho nơi đây trở thành điểm đến quen thuộc của du khách Châu Âu Ở đây du lịch được phát triển khá sớm bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 với một
số ít du khách Châu Âu đến đây vì lý do chữa bệnh Từ năm 1900 với 8.000 du khách thì đến năm 1975 thì quần đảo Canary đã đón được 2 triệu khách và con số
đó tiếp tục tăng nhanh, vào năm 1990 là 7,4 triệu khách và 13 triệu khách vào năm
1999 Ngành du lịch dịch vụ chiếm gần 80% tổng thu nhập của nền kinh tế Điều đó cho thấy, nền kinh tế ở đây phụ thuộc vào du lịch quá nhiều
Sự phát triển nhanh của du lịch ở Canary nhưng không có những quy hoạch phát triển cở sở hạ tầng du lịch một cách hợp lý đã dẫn đến việc quá tải du lịch Quá trình xây dựng bất hợp lý đó đã kéo theo sự mất kiểm soát trong phân bổ nguồn nước sinh hoạt, phân bổ công việc của các nhân tố khác, tắc nghẽn giao thông Sự gia tăng xây dựng không có quy hoạch hợp lý ở Canary đã tạo ra áp lực về đất đai Cùng với đó là sự đầu tư ồ ạt của người nước ngoài vào nơi đây đã tạo ra môi trường không tốt cho dân cư địa phương và cư dân địa phương đang dần dần trở thành những người thiểu số
Sự phát triển quá nóng ở quần đảo Canary đã cho thấy tính chất không bền vững trong quá phát triển du lịch Cùng với lượng du khách đông là việc thải ra hàng triệu tấn rác thải, ô nhiễm không khí do quá nhiều các phương tiện chuyên trở Mức độ khai thác du lịch bất hợp pháp ngày càng gia tăng do người dân chạy theo lợi nhuận đã làm cho cảnh quan nơi đây xuống cấp nghiêm trọng Kinh nghiệm rút
ra từ quần đảo Canary đó là cần phải xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển
Trang 33du lịch ở từng thời kỳ phát triển, cùng với đó là có chính sách bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
1.3.2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn để phát triển du lịch theo hướng bền vững còn hạn chế Chúng ta chưa có được một chiến lược, một chính sách cấp quốc gia để phát triển các mô hình du lịch theo hướng bền vững trên phạm vi cả nước cũng như chưa có được mô hình điểm, điển hình để phát triển du lịch theo hướng bền vững sau đó nhân rộng ra ở quy mô lớn hơn Tuy nhiên, trong những năm gần đây, theo xu thế phát triển chung của khu vực và trên thế giới, ở nước ta đã có một số nghiên cứu ứng dụng mô hình điểm ở quy mô nhỏ liên quan đến phát triển du lịchtheo hướng bền vững như mô hình phát triển du lịch du lịch cộng đồng, du lịch khám phá, du lịch văn hóa
1.3.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướngbền vững ở Phong Nha Kẻ Bàng
Khu Phong Nha-Kẻ Bàng nằm trong vùng sinh thái Bắc Trường Sơn thuộc địa phận các huyện Bố Trạch, Minh Hoá, Quảng Ninh; được đánh giá là một trong
238 sinh thái quan trọng trên toàn cầu, với các dãy núi đá vôi phát triển hầu nhu liên tục Khu Phong Nha-Kẻ Bàng có một quần thể hơn 300 hang động lớn nhỏ phong phú, kỳ vỹ được mệnh danh là “Vương quốc hang động”, nơi tiềm ẩn nhiều điều kỳ
lạ hấp dẫn, là thiên đường cho các nhà khoa học hang động, các nhà thám hiểm và
du lịch.Trong những năm qua, Khu du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng đã trở thành địa chỉ yêu thích của du khách Số lượng khách du lịch đến tham quan Phong Nha ngày càng đông, nhất là từ khi Vườn quôc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di Sản Thiên Nhiên Thế Giới
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng khách du lịch thì cơ sở vật chất ở Phong Nha - Kẻ Bàng phục vụ du khách cũng được nâng cấp, cải thiện, môi trường đã được quan tâm, giữ gìn, chất lượng phục vụ du lịch được nâng lên một bước và sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch Điều đó đã giúp cho Phong Nha - Kẻ Bàng được sự hài lòng của du khách khi đến đây Du lịch ở Phong Nha - Kẻ Bàng còn góp phần quan trọng trong giải quyết công
Trang 34ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế xã hội Các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch như mại dâm, ma tuý, tội phạm không có chiều hướng gia tăng và luôn nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền địa phương
Tuy vậy, với lượng lớn du khách đến vớn Phong Nha - Kẻ Bàng và tăng nhanh trong mỗi năm thì Phong Nha - Kẻ Bàng phải đối mặt với một lượng rác thải rất lớn, môi trường du lịch sinh thái bị ảnh hưởng rất lớn, thời gian lưu trú ngắn (bình quân 1 ngày/khách), hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp Trước những tồn tại trên uỷ ban nhân dân Tỉnh đã chỉ đạo Sở du lịch tỉnh Quảng Bình phối hợp với các ngành và các tổ chức liên quan từng bước tháo gỡ vướng mắc như việc đưa ra chính sách hước hoạt động du lịch vào bảo tồn, tôn tạo; phát triển nhiều loại hình du lịch để tăng thời gian lưu trú của khách du lịch; chính sách khuyến khích đầu tư; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách hỗ trợ người dân sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, sản phẩm truyền thống; đặc biệt là chính sách hỗ trợ, ổn định cuộc sống cho những người dân tộc thiểu số sinh sống trong địa bàn khu du lịch, vận động họ tham gia tích cực vào các hoạt động du lịch bằng cách sản xuất sản phẩm truyền thống để bán cho du khách, giúp giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, tạo cuộc sống ổn định cho người dân và quan trọng hơn là nâng cao trách nhiệm về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên của người dân
1.3.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Cát Tiên
Cát Tiên là vùng đất nằm ở nơi tận cùng về phía nam của tỉnh Lâm Đồng Năm
2001, Vườn quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ
411 và là khu dự trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam Là vùng đất có nhiều khó khăn so với các địa phương khác của Lâm Đồng; tuy vậy, vùng đất nơi tận cùng này vẫn có những lợi thế nhất định về du lịch, Đảng bộ và chính quyền Cát Tiên đã năm được những lợi thế này để phát huy du lịch Cát Tiên một cách mạnh mẽ
Hai thế mạnh lớn nhất của du lịch Cát Tiên là du lịch sinh thái và du lịch văn hóa Cụ thể hơn, đó là du lịch sinh thái mang tính khám phá thiên nhiên hoang
Trang 35dã; du lịch văn hóa - lịch sử - khảo cổ, du lịch văn hóa - truyền thống lịch sử, du lịch văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa tộc người Nhận thức được điều này, chính quyền Cát Tiên đã có nhiều chính sách, chiến lược để tận dụng lợi thế của mình nhằm phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Từ những năm 2000, Cát Tiên đặt ra mục tiêu:“Phát huy tối đa mọi nguồn lực để phát triển KT-XH nhanh và bền vững; đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm thu hẹp khoảng cách thu nhập bình quân đầu người so với bình quân toàn tỉnh
và cả nước Đặc biệt, Huyện cũng đã đặt ra mục tiêu là khai thác có hiệu quả và phát huy tiềm năng thế mạnh của Huyện về lợi thế nông nghiệp với trọng tâm là phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, công nghiệp chế biến từ nguyên liệu tại chỗ; phát triển du lịch và dịch vụ ” Cả giai đoạn phát triển 2011 - 2015, việc chuẩn bị một nền tảng để du lịch phát triển của Cát Tiên là khá chu tất Một trong 5 khâu đột phá của Huyện ở cả giai đoạn vừa rồi, Cát Tiên xác định và đã thực hiện khá tốt đó là: “Đầu tư kết cấu hạ tầng gắn với xây dựng nông thôn mới và thực hiện xóa đói, giảm nghèo, chỉnh trang đô thị, tạo tiền đề cho phát triển dịch vụ
- du lịch” Cùng đó, Huyện cũng đã “Tập trung đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề, giải quyết việc làm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phục
vụ dịch vụ - du lịch”
Theo định hướng phát triển, đến năm 2020, du lịch sẽ thực sự trở thành một trong những ngành kinh tế trong cơ cấu kinh tế của Huyện Trong việc phát huy lợi thế này, Cát Tiên xác định sẽ gắn kết phát triển du lịch Cát Tiên với sự phát triển của TP Bảo Lộc, nhất là sự phát triển du lịch Bảo Lộc, và với các địa phương khác trong khu vực; xây dựng các tuyến du lịch sinh thái và nghiên cứu hệ động vật và thực vật tại Vườn quốc gia Cát Tiên, tuyến du lịch dọc sông Đồng Nai, tuyến du lịch lịch sử văn hóa tại khu di tích Khu ủy Khu VI (xã Đức Phổ và Phước Cát I), tuyến du lịch tâm linh hang Thoát Y Vũ Đó là chưa kể hạ tầng phát triển du lịch
mà Cát Tiên đã thực hiện xong là đầu tư tôn tạo và đề nghị công nhận khu di chỉ khảo cổ học Cát Tiên là di tích quốc gia đặc biệt
Trang 36Mục đích của mô hình phát triển du lịch sinh thái Cát Tiên của Ban quản lý vườn quốc gia Cát Tiên là đưa khách du lịch gần gũi với thiên nhiên để khám phá
và nghiên cứu những giá trị của thiên nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc Mạ, S’tiêng, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ các giá trị đó Các sản phẩm du lịch đang được khai thác ở đây là du lịch sinh thái, dã ngoại, tham quan, nghiên cứu, mạo hiểm
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm cho Sầm Sơn
Từ những kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững của Phong Nha - Kẻ Bàng, của Cát Tiên và sự phát triển du lịch không bền vững của Pattaya, của đảo Canary có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn cho phát triển bền vững tại các khu du lịch nói chung và du lịch Sầm Sơn nói riêng như sau:
- Chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư cũng như các doanh nghiệp cần nhận thức về vị ví quan trọng của phát triển du lịch bền vững, những đóng góp của ngành du lịch vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển là tiền đề và là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch
- Cần quy hoạch hợp lý phát triển du lịch, xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết, liên kết các tổ chức ban ngành liên quan để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch Đây là kinh nghiệm được rút ra từ sự phát triển du lịch không bền vững của quần đảo Canary
- Hài hòa các tiêu chí phát triển du lịch bền vững (du lịch sinh thái, du lịch xanh, đảm bảo hài hòa kinh tế - xã hội – môi trường) Khai thác phải đi đôi bảo vệ, bảo tồn
- Thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương, tích cực cải thiện môi trường xung quanh khu du lịch
- Phát triển đa dạng hóa các loại hình du lịch Với việc đa dạng hóa các loại hình du lịch, Phong Nha – Kẻ Bàng đã thu hút được nhiều hơn lượng khách du lịch cũng như kéo dài thời gian lưu trú của du khách
Trang 37- Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và cảnh quan khu du lịch Tích cực phát triển các ngành nghề địa phương phục vụ du lịch, việc khai thác và phát triển các ngành nghề truyền thống phục vụ du lịch cũng chính là cách làm du lịch bền vững Điều này đã được chính quyền Cát Tiên vận dụng hiệu quả trong việc phát triển du lịch của địa phương
Trang 38Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
2.1.1 Chủ nghĩa duy vậy biện chứng
Phép biện chứng duy vật là phương pháp cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin được sử dụng với nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có ngành kinh tế chính trị Phương pháp này đòi hỏi khi xem xét các hiện tượng, sự vật kinh tế trong mối quan hệ chung và tác động lẫn nhau trong sự vận động không ngừng, trong đó sự tích lũy về lượng sẽ dẫn tới biến đổi về chất
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn đã xem xét quá trình phát triển của du lịch ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ 2010 đến nay để thấy được quá trình vận động và phát triển của ngành du lịch trên địa bàn này Sự phát triển đó phải luôn đặt trong mối quan hệ giữa 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường, các mặt này vận động và tương tác lẫn nhau, luôn thay đổi theo thời gian Mỗi mặt muốn phát triển, hoàn thiện lại phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau: cơ chế chính sách, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên,…
Để đưa ra một số quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của du lịch theo hướng bền vững, luận văn xuất phát từ thực trạng phát triển du lịchqua phân tích ở chương 3; xuất phát từ mối quan hệ phát triển du lịch trong không gian du lịch vùng Bắc Trung bộ và xuất phát từ chiều hướng phát triển du lịch Đồng thời để đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Sầm Sơn một cách khách quan, luân văn đã xem xét, phân tích gắn với điều kiện lịch sử cụ thể Đưa ra các giải pháp phải dựa trên cơ sở chính sách phát triển, điều kiện kinh tế xã hội của Thị
xã, của Tỉnh Tóm lại, các quan điểm, biện pháp đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương và bối cảnh phát triển chung của tỉnh Thanh Hóa cũng như của Việt Nam.Trong một phạm vi hẹp, có thể hiểu khi điều kiện kinh tế - xã hội của Thị xã thay đổi thì sự phát triển du lịch theo hướng bền vững cũng có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể của Thị xã
Trang 392.1.2 Chủ nghĩa duy vậy lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác là thành tựu vĩ đại của tư tưởng khoa học và thực chất của quan niệm duy vật lịch sử về lịch sử là những vấn đề mang tính nguyên lý Vận dụng phương pháp này, khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải xuất phát từ hiện thực khách quan, xây dựng những kết luận và khái quát trên cơ sở nghiên cứu các hoạt động kinh tế - xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định
Vận dụng phương pháp này trong luận văn tức là nghiên cứu phát triển du lịch theo hướngbền vững ở Sầm Sơn cần dựa trên thực tiễn phát triển du lịch ở thị
xã trong những điều kiện nhất định.Khi đề xuất những quan điểm, giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn phải xuất phát từ điều kiện, lịch sử, những ưu thế của Sầm Sơn và thực tế phát triển du lịch để đưa ra những giải pháp phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch chung của tỉnh và của cả nước.Trong một phạm vi hẹp, có thể hiểukhi điều kiện kinh tế xã hội của thị xã thay đổi thì sự phát triển du lịch theo hướng bền vững cũng có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể của thị xã
2.2 Các phương pháp cụ thể
2.2.1 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học Kinh tế chính trị Phương pháp trừu tượng hoá khoa học đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiênvà tạm thờiđể xem xét những cái cốt lõi, ổn định, điển hình lặp đi lặp lại, trên cơ sở đó nằm được bản chất hiện tượng, quá trình kinh tế tiến tới khái quát và xây dựng phạm trù, quy luật phản ánh bản chất đó
Để đảm bảo thành công của phương pháp trừu tượng hóa, cần phải quán triệt những yêu cầu bắt buộc: (i) quan điểm hệ thống, toàn diện trong nhận thức và ứng
xử đối với hiện tượng, quá trình kinh tế; (ii) thống nhất giữa cái chung và cái riêng; (iii) thống nhất giữa logic và lịch sử; (iv) từ cụ thể tới trừu tượng phải được bổ sung bằng quá trình ngược lại từ trừu tượng tới cụ thể.Mác coi quá trình đi từ cụ thể tới trừu tượng, rồi lại từ trừu tượng đến cụ thể là “phương pháp khoa học đúng đắn”
Trang 40Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu phát triển du lịch, luận văn giữ lại những yếu tố bản chất trong phân tích thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, từ đó mới có thể đánh giá đúng thực trạng phát triển của du lịchở thị xã, và thấy được xu hướng, quá trình vận động và phát triển của du lịch theo hướng bền vững
2.2.2 Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử
* Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng theo đúng trật
tự thời gian như nó đã từng diễn ra trong quá khứ (phát sinh, phát triển và kết thúc)
Là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng lịch
sử theo một trình tự liên tục và nhiều góc cạnh, nhiều mặt trong mối liên hệ với các
sự vật, hiện tượng khác Phương pháp lịch sử xem xét rất kỹ các điều kiện xuất hiện
và hình thành ra nó, làm rõ quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện của các sự vật hiện tượng Đồng thời, đặt quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ nhiều sự vật hiện tượng tác động qua lại, thúc đẩy hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình vận động của chúng
Đề tài đã vận dụng phương pháp này để nghiên cứu phát triển du lịch ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa qua các thời kỳ, giai đoạn gắn với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của thị xã, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển du lịch theo hướng bền vững trong thời gian tới
Đây là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển du lịch bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo một trình tự liên tục và nhiều mặt Sử dụng phương pháp này yêu cầu phải đảm bảo tính liên tục về thời gian, làm rõ các điều kiện, các vấn đề, các chính sách, chủ trương, các nhân tố… có ảnh hưởng đến
sự phát triển của du lịch bền vững Đồng thời, đặt vấn đề phát triển du lịch bền vững trong quan hệ tương tác qua lại, thúc đẩy hoặc cản trở lẫn nhau trong quá trình phát triển Bằng phương pháp này có thể cho ta thấy được bức tranh toàn diện về vấn đề phát triển du lịchtheo hướng bền vững ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa