Tài liệu khoa học nghiên cứu về vương quốc cổ Champa, Phù Nam và nền văn hóa của hai quốc gia này tuy có thể xem là một kho tàng đồ sộ nếu tính về số lượng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Champa, Phù Nam là hai vương quốc cổ hùng mạnh trong quá khứ với một nền
văn hóa rực rỡ nhưng đã dần tàn lụi theo thời gian cùng với những công trình đền tháp
kỳ bí Tài liệu khoa học nghiên cứu về vương quốc cổ Champa, Phù Nam và nền văn
hóa của hai quốc gia này tuy có thể xem là một kho tàng đồ sộ nếu tính về số lượng,
nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ và đã nảy sinh những bất đồng của các
nhà nghiên cứu trong cùng ngành lẫn khác ngành; do quan điểm chính trị, xã hội khác
nhau mà có lúc dẫn đến đối đầu gay gắt Một trong những nguyên nhân chính là do
hiện nay chưa tìm thấy nguồn sử liệu chính thống của vương quốc Champa, Phù Nam
Các nhà nghiên cứu phải dựa trên ba nguồn tư liệu chính là bi ký, các ghi chép đến từ
bên ngoài (châu Âu, Ấn Độ, Ả Rập và nhất là của Đại Việt và Trung Hoa – nhưng
chúng rất rời rạc và mơ hồ) và các nghiên cứu khảo cổ học
Là tập bài giảng dành cho sinh viên chuyên ngành nên cách viết trong tập bài
giảng này dành cho sinh viên đã có ít nhiều hiểu biết cơ sở về lịch sử Champa, Phù
Nam; qua đó sẽ được tiếp cận với những quan điểm đánh giá khác nhau về lịch sử, văn
hóa Champa, Phù Nam của nhiều học giả nghiên cứu trong và ngoài nước
Tập bài giảng Vương quốc cổ Champa, Phù Nam gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát về lịch sử vương quốc Champa
Chương 2: Văn hóa Champa
Chương 3: Vương quốc Phù Nam – lịch sử và văn hóa
Kết cấu trong mỗi chương được trình bày theo một trình tự thống nhất Đó là
những kiến thức cơ bản, toàn diện, về lịch sử, văn hóa của Champa, Phù Nam Bao
trùm toàn bộ là các nội dung lớn như: tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở
mỗi giai đoạn
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện tập bài giảng Vương quốc
cổ Champa, Phù Nam
TÁC GIẢ
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHAMPA 5
1.1.Văn hóa Sa Huỳnh và các vấn đề lịch sử 5
1.1.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu 5
1.1.2 Đặc điểm, niên đại của văn hóa Sa Huỳnh 6
1.1.3 Những mối quan hệ văn hóa 8
1.1.4 Con người và cuộc sống 9
1.2.Sự hình thành vương quốc Champa 12
1.2.1 Các nguồn sử liệu 12
1.2.2 Sự hình thành vương quốc cổ Champa 18
1.3 Sự phát triển và suy vong của vương quốc Champa thống nhất 24
1.3.1 Những vương triều tiêu biểu (Gangaragia, Panđuranga, Inđrapura, Vijaya) 24
1.3.2 Thời kỳ khủng hoảng và suy vong (thế kỷ XIV – thế kỷ XIX) 54
1.3.3 Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội 63
CÂU HỎI ÔN TẬP 79
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA CHAMPA 80
2.1 Kế thừa và phát huy văn hóa Sa Huỳnh 80
2.2 Sự tiếp xúc, tiếp biến, quan hệ với văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa và khu vực Đông Nam Á 80
2.3 Những thành tố cơ bản của văn hóa Champa 84
2.3.1 Ngôn ngữ, chữ viết 84
2.3.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 85
2.3.3 Kiến trúc, điêu khắc 98
CÂU HỎI ÔN TẬP 103
CHƯƠNG 3: VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM - LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA 104
3.1 Nam Bộ thời tiền sử và sơ sử 104
3.1.1 Văn hóa sông Đồng Nai thời tiền sử và sơ sử 104
3.1.2 Nam Bộ thời tiền sơ sử 105
3.2 Vương quốc Phù Nam 108
3.2.1.Đất nước và con người qua sử sách cổ 108
3.2.2.Sự thành lập vương quốc Phù Nam 111
3.2.3.Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I – thế kỷ IV 114
3.3 Sự khủng hoảng và suy vong của Phù Nam 126
3.3.1 Phù Nam suy vong và sự hình thành Chân Lạp 126
Trang 43.3.2 Thủy Chân Lạp và “tiền Ăngco” 129
3.4 Khái quát về kinh tế, xã hội Phù Nam 132
3.4.1 Kinh tế Phù Nam 132
3.4.2 Tình hình chính trị - xã hội Phù Nam 146
3.5 Văn hóa Phù Nam 149
3.5.1 Đời sống vật chất 149
3.5.2.Đời sống tinh thần 151
3.5.3 Văn bia Phù Nam 152
3.5.4 Tín ngưỡng, tôn giáo 153
3.5.5 Nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc Phù Nam 155
CÂU HỎI ÔN TẬP 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 5CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHAMPA 1.1.Văn hóa Sa Huỳnh và các vấn đề lịch sử
1.1.1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Sa Huỳnh được nhà khảo cổ người Pháp M Vinet phát hiện lần đầu tiên vào năm 1909 khi ông tìm thấy bên đầm An Khê, một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi một số lượng lớn quan tài bằng chum (khoảng 200 chiếc)1 Người ta gọi Di tích khảo cổ đó là Kho Chum Sa Huỳnh Các cuộc khai quật vào nhiều năm khác nhau tại di tích gò Ma Vương hay còn gọi là Long Thạnh Đức Phổ nơi được xem
là có niên đại sớm nhất của nền văn hóa Sa Hùynh, đã đem lại những đánh giá xác đáng và quan trọng về nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển văn hóa Sa Huỳnh Hàng trăm di chỉ của nền văn hóa này đã được tìm thấy khắp các tỉnh ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận và lan cả sang một số địa bàn lân cận Từ
đó, các cuộc khai quật tiếp theo của các nhà khoa học trong và ngoài nước đem lại những kết quả khá bất ngờ Tuy nhiên, phải đến những năm sau 1975 cho đến nay, những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học Việt Nam mới được tiến hành một cách toàn diện
Các cuộc khai quật được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, dọc duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ mà nhiều nhất là địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Theo đó, các lần khai quật lớn ở đây lần lượt là: Năm 1976 khai quật tại Gò Ma Vương (Phổ Khánh-Đức Phổ); năm 1997 khai quật tại xóm Ốc (Lý Sơn); năm 2000 tại suối Chình (Lý Sơn); năm 2005 tại Bình Đông (Bình Sơn) và năm 2009 tại xã Đức Thắng (Mộ Đức) Hiện vật tìm thấy qua những lần khai quật cho phép tái hiện không gian văn hóa Sa Huỳnh rộng lớn hơn nhiều so với hình dung của các nhà khảo cổ học Pháp trước đây Các cuộc khai quật này đã phát hiện sự tồn tại của một giai đoạn văn hóa sớm, liền trước, tiền thân của Sa Huỳnh cổ điển, mà ngày nay được định danh là giai đoạn tiền Sa Huỳnh hoặc Sa Huỳnh sớm
Phát hiện có ý nghĩa khoa học này cho phép khẳng định văn hóa Sa Huỳnh mà người Pháp tìm thấy và định danh có nguồn gốc bản địa, phát sinh, phát triển ngay trên dải đất từ Quảng Bình đến Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, một số hải đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam và có thể rộng hơn, trên nhiều vùng của bán đảo Đông Dương Với sự phân bố khá đậm đặc và liên tục những di chỉ, hiện vật của một nền văn hóa có quan hệ với các nền văn hóa tồn tại đồng đại và không gian giao thoa, tiếp cận mà không phải du nhập từ nơi khác đến Những kết quả khai quật, nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Pháp và Việt Nam, đã có thể cho chúng ta hình dung một số nét cơ bản về đời sống, sinh hoạt, tín ngưỡng của cư dân Sa Huỳnh Đó là những nhóm người đã biết
sử dụng các công cụ, đồ trang sức, vũ khí bằng đá, xương động vật, thủy tinh, mã não, gốm…, kể cả các công cụ bằng đồng thau và sắt sớm; biết đánh cá để làm thức ăn, biết làm đẹp cho mình bằng những vật trang sức phong phú, chú ý tạo dáng cho các vật dụng, sáng tạo nhiều dạng hoa văn độc đáo, giàu tính thẩm mỹ, đặc biệt là trên đồ gốm
1 Năm 1909, trong niên giám của Viện Viễn Đông Bác Cổ đăng thông tin: Phát hiện một kho chum khoảng 200 chiếc nằm cách mặt đất không sâu, trong một cồn cát ven vùng biển Sa Huỳnh
Trang 6Trong quá trình nghiên cứu về nền văn hóa Sa Huỳnh, đáng chú ý là vào những năm 90 của thế kỷ XX, việc phát hiện và khai quật cụm di tích Giồng Cá Vồ - Giồng Phệt (thuộc huyện Cần Giờ - TPHCM) đã gây “chấn động” giới khảo cổ học và sử học Đó là những bãi mộ chum lớn với hiện vật vô cùng phong phú, đa dạng về chất liệu cũng như loại hình Đồ tuỳ táng gồm có kiếm sắt, dao sắt, khuyên tai, hạt chuỗi thuỷ tinh, hạt chuỗi vàng, khuyên tai vàng Và cuối năm 2008 đầu năm 2009 mới đây, một cuộc khai quật khảo cổ ở di tích Bãi Cọi (xã Xuân Viên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã phát hiện những hiện vật đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh như khuyên tai hình hai đầu thú, mộ bình, mộ nồi chôn đứng, mộ chum và rất nhiều hiện vật gốm như chum, vò, bát bồng, nắp nón cụt, khuyên tai ba mấu bằng thuỷ tinh và đất nung, đặc biệt là chiếc chum mai táng hình trái đào Chính những phát hiện này cho thấy, dù
đã tròn một thế kỷ phát hiện và nghiên cứu, nhưng văn hóa Sa Huỳnh vẫn luôn tiềm ẩn những bất ngờ, không những thú vị mà còn là thách thức với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong và ngoài nước
Bên cạnh những phát hiện mới, những năm gần đây, nhiều cuộc khai quật khảo
cổ học đã được tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Champa Trong nhiều di tích, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm vừa mang đặc điểm của gốm Sa Huỳnh và cả đặc điểm gốm Champa Đây
là nguồn tư liệu quan trọng để chứng minh con đường phát triển từ văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra từ thư tịch cổ một
số “yếu tố Sa Huỳnh” trong xã hội và văn hóa Champa
Từ không gian và thời gian, trên cơ sở những tư liệu khảo cổ học, đến nay có thể cho rằng Nhà nước Champa là sự tiếp nối văn hóa Sa Huỳnh, được hình thành trên cốt lõi văn hóa Sa Huỳnh dưới ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa ngoại sinh Đông Sơn - Việt cổ, Trung Hoa và Ấn Độ
1.1.2 Đặc điểm, niên đại của văn hóa Sa Huỳnh
Trung tâm hay đỉnh cao của văn hóa thời đại kim khí Việt Nam ở miền Trung (từ Đèo Ngang đến Đồng Nai) được gọi theo tên một địa điểm khảo cổ học ven biển tỉnh Quảng Ngãi Đó là nền văn hóa Sa Huỳnh Nền văn hóa này có quan hệ gốc gác với các nền văn hóa hậu kỳ đá mới, sơ kỳ thời đại đồng thau ven biển như văn hóa Bàu Tró, Hoa Lộc, Hạ Long, nhất là văn hóa Bàu Tró, có không gian phân bố cận kề với văn hóa Sa Huỳnh
Văn hóa Sa Huỳnh tồn tại từ sơ kỳ thời đại đồng thau (hơn 4000 năm cách ngày nay) cho tới sơ kỳ thời đại sắt sớm (những thế kỷ VII-VI TCN tới thế kỷ I-II) Dù cho còn nhiều ý kiến về các giai đoạn sớm, muộn của nền văn hóa này, song hầu như các nhà nghiên cứu đều thống nhất là giữa các nhóm di tích của cả ba giai đoạn sơ, trung
kỳ (thời đại đồng thau) và hậu kỳ (sơ kỳ thời đại sắt) đều có những đặc trưng chung
Thời điểm kết thúc của văn hóa Sa Huỳnh, dựa trên những niên đại C14 ở một
số khu mộ và những hiện vật văn hóa Hán có thể chấp nhận niên đại muộn nhất của các di tích là thế kỷ I, II Trong quá trình hình thành và phát triển, văn hóa Sa Huỳnh còn có những quan hệ cội nguồn hay giao lưu với những văn hóa hậu kỳ đá mới - sơ
kỳ đồng thau của miền cao nguyên Ngoài ra còn có những mối giao lưu rộng rãi với các cư dân kim khí Ðông Nam Á hải đảo và lục địa
Trang 7Một đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Sa Huỳnh là hình thức mai táng bằng chum gốm suốt từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn (ngoại trừ mộ huyệt đất ở Bình Châu - Quảng Ngãi) Nguồn gốc của hình thức mai táng này đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu
và đã phát hiện nhiều khu mộ - những bãi mộ chum rộng lớn, nhiều tầng lớp với những loại hình vò hình cầu, hình trứng, hình trụ có kích thước lớn nắp đậy hình nón cụt hay lồng bàn, phân bố lẻ tẻ hay thành cụm Ngoại trừ một vài chum còn vết tích xương răng trẻ em, hầu như các chum chỉ có đồ tùy táng, cát trắng và ít than tro có thể
do hỏa táng, có thể do hình thức mộ tượng trưng
Ở những giai đoạn sớm và giữa, đồng thau đã được cư dân Sa Huỳnh sử dụng
để chế tác công cụ và vũ khí Sang tới giai đoạn cuối, đồ sắt chiếm lĩnh về cả số lượng
và chất lượng Nét độc đáo của cư dân Sa Huỳnh là kỹ thuật chế tạo đồ sắt (chủ yếu bằng phương pháp rèn) Nếu thống kê các đồ sắt Sa Huỳnh đã được phát hiện đến nay thì số lượng lên tới hàng trăm chiếc, chủng loại đa dạng gồm rựa, dao quắm, giáo, mai, liềm, thuổng, kiếm ngắn, qua v.v Ðặt trong tương quan với các trung tâm văn hóa Ðông Sơn ở phía bắc, văn hóa Ðồng Nai ở phía nam, số lượng và sự phổ biến rộng rãi của đồ sắt của văn hóa Sa Huỳnh nhiều hơn hẳn
Cùng với việc đạt đến trình độ cao của kỹ thuật chế tạo sắt (cả việc đúc gang),
cư dân văn hóa Sa Huỳnh còn đạt đến bước phát triển cao với các nghề se sợi, dệt vải, chế tạo gốm, làm đồ trang sức Cư dân văn hóa Sa Huỳnh ưa dùng đồ trang sức (vòng, nhẫn, khuyên tai v.v.) bằng thủy tinh, mã não, đá, gốm, nephrit Chất liệu được ưa thích nhất là mã não (mã não được nhập từ nơi khác đến vì trên địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh không có nguyên liệu này) Khuyên tai (hay bùa đeo) hai đầu thú và
ba mấu là một chế phẩm Sa Huỳnh đặc thù Trong một số di tích đương đại của văn hóa Ðông Sơn và trên những đất như: Phi-lip-pin, Thái Lan v.v cũng tìm thấy những khuyên tai này Ðó là bằng chứng của sự lan tỏa ảnh hưởng của văn hóa Sa Huỳnh Cư dân văn hóa Sa Huỳnh còn biết nấu cát làm thủy tinh và dùng thủy tinh để chế tạo đồ trang sức (hạt cườm, hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai ba mấu hai đầu thú v.v.) Từ đây
đồ trang sức thủy tinh lan ra cả phía bắc và vào phương nam Văn hóa Sa Huỳnh là sản phẩm của những cư dân nông nghiệp trồng lúa ở những đồng bằng ven biển cồn bàu Tuy vậy, nền kinh tế của họ là nền kinh tế đa thành phần, họ sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Ðông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn với Ấn Ðộ, với Trung Hoa Ðặc biệt ở giai đoạn cuối, nghề buôn bán bằng đường biển rất phát triển Ở ven biển miền Trung, vào những thế kỷ trước, đã hình thành một số tiền cảng thị hay cảng thị sơ khai Mật độ phân bố di tích cũng như quy mô lớn của các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh là chứng cớ của sự quần tụ đông đúc dân cư; sự phong phú về kiểu loại, số lượng của các loại hình hiện vật từ nhiều chất liệu là dấu hiệu về sức sản xuất mạnh mẽ của cư dân văn hóa này, đều chứng tỏ ở giai đoạn cuối đã hình thành một nhà nước sơ khai Sự trùng hợp về địa bàn phân bố, của niên đại kết thúc, của văn hóa Sa Huỳnh và niên đại mở đầu của văn minh Champa cũng như sự nối tiếp của một số loại hình hiện vật đặc biệt là đồ gốm và đồ trang sức, của táng thức, của các ngành nghề kinh tế cho thấy nhà nước Champa là sự tiếp nối của nhà nước Sa Huỳnh Nhà nước Champa được hình thành trên cốt lõi của văn hóa Sa Huỳnh dưới ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa ngoại sinh, sự “Ấn Ðộ hóa” ban đầu chỉ xảy ra ở lớp mặt của văn hóa (tôn giáo) và ở tầng lớp trên của xã hội
Trang 81.1.3 Những mối quan hệ văn hóa
Văn hoá Đông Sơn và văn hoá Sa Huỳnh là hai nền văn hoá tiêu biểu ở Việt Nam song song tồn tại và phát triển Trong quá trình phát triển, cả hai nền văn hoá đều
đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào thời kỳ đầu của sơ kỳ thời đại đồ sắt ở bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á Trong quá trình phát triển của mình, cả hai nền văn hoá này đã có những mối liên hệ giao lưu, trao đổi Vì vậy, nghiên cứu và tìm hiểu sự giao lưu văn hoá của chúng vào thời sơ sử cũng là để góp phần tìm hiểu những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước
Địa bàn phân bố của văn hoá Đông Sơn chủ yếu là nằm trên lãnh thổ khu vực phía Bắc Việt Nam Điểm cuối của văn hoá Đông Sơn về phía Nam với biên giới là Đèo Ngang cũng là gianh giới của 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình Còn địa bàn phân bố của văn hoá Sa Huỳnh kéo dài từ tỉnh Thừa Thiên- Huế đến tỉnh Bình Thuận Tỉnh Quảng Bình được xác định là vùng đệm và giao thoa giữa 2 nền văn hoá nói trên
Những cuộc khai quật khảo cổ học trong những thập niên gần đây với những di tích và di vật thu thập được cho thấy rằng đã có sự giao lưu nhất định giữa 2 nền văn hoá Đông Sơn và Sa Huỳnh Tuy nhiên cũng dựa vào dấu vết và những hiện vật thu được trong các hố khai quật, có thể thấy rằng sự giao lưu văn hoá Đông Sơn vào địa bàn văn hoá Sa Huỳnh là đậm nét hơn so với chiều ngược lại
Chứng tích về sự giao lưu này là việc phát hiện kiểu táng thức mộ huyệt đất Đông Sơn lần đầu tiên được biết tới ở khu mộ Bình Châu (xã Bình Châu- Bình Sơn- Quảng Ngãi) Khi khai quật ở Bình Châu, các nhà khảo cổ học đã rất ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện loại hình mộ đất trên địa bàn trung tâm của văn hoá Sa Huỳnh Chúng ta biết rằng loại hình mộ đất là một trong những kiểu táng thức chính của cư dân Đông Sơn, còn trong văn hoá Sa Huỳnh mộ vò mới là kiểu mộ táng truyền thống của người Sa Huỳnh ở sơ kỳ thời đại đồ sắt Việc mộ táng Đông Sơn có mặt trong lòng văn hoá Sa Huỳnh xét về khả năng mức độ quan hệ giữa 2 cộng đồng người có thể giả thiết rằng một nhóm người thuộc bộ lạc Đông Sơn đã cộng cư trên địa bàn miền Trung nước ta Khi sinh sống trên mảnh đất mới, họ đã mang theo rất nhiều đồ dùng trong sinh hoạt và mang theo cả phong tục chôn cất người đã khuất
Năm 2005 các nhà khảo cổ đã khai quật di chỉ khảo cổ học ở Gò Quê, thuộc xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Những tư liệu mới thu thập được ở Gò Quê là những chứng cứ vật chất để khẳng định thêm về sự có mặt của văn hoá Đông Sơn trên địa bàn sa Huỳnh Những hiện vật thu được trong lần khai quật này là bộ sưu tập hiện vật bằng đồng mang nhiều yếu tố đặc trưng Đông Sơn Bộ sưu tập hiện vật tìm được trong đợt khai quật này gồm 24 hiện vật trong đó có: 8 rìu, 3 giáo, 1 dao găm, một tấm che ngực, 10 khuy và một hiện vật hình móc Đặc biệt, có 2 hiện vật mang cả 2 yếu tố kim loại là sắt và đồng Đó là 1 giáo và 1 gươm, cả 2 hiện vật này đều có chuôi bằng đồng và lưỡi bằng sắt Những hiện vật bằng đồng có yếu tố đặc trưng Đông Sơn như: 2 chiếc Rìu đồng hình chữ nhật, có họng tra cán hình thang hay chữ nhật dẹt, có lỗ thủng ở 2 bên mặt lưỡi để hãm cán, hoa văn gân nổi trang trí theo băng gồm 2 đoạn thẳng song song gần họng, bên trong có các đoạn gạch chéo điển hình của Đông Sơn Rìu đồng xoè cân có họng xẻ rãnh hình đuôi cá, một mặt lưỡi cong vồng, một mặt lõm Trong 3 chiếc giáo đồng tìm được ở đây, có 1 chiếc hình lá mía rõ ràng là hiện vật quen thuộc của cư dân Đông Sơn Tấm che ngực bằng đồng còn có tên gọi khác là hộ tâm phiến có hình gần vuông, 4 góc có 4 lỗ thủng để xuyên
Trang 9dây Đặc biệt giữa một bên mặt của tấm che ngực có trang trí hoa văn hình chữ X nổi, gồm nhiều hoạ tiết cong tròn bên trong hệt như các tấm che ngực đã tìm được của văn hoá Đông Sơn Hiện vật bằng đồng khá đặc biệt tìm được là 10 chiếc khuy áo giống với khuy hiện đại, có 4 lỗ thủng để luồn chỉ khâu vào vải 1 hiện vật hình móc hiện nay chưa
rõ chức năng
Sự giao lưu văn hoá Sa Huỳnh vào văn hoá Đông Sơn mờ nhạt hơn chiều ngược lại, nhưng không phải là không có cho dù số lượng hiện vật của văn hoá Sa Huỳnh ít hơn nhiều so với hiện vật của văn hoá Đông Sơn ở Sa Huỳnh Bằng chứng của sự giao lưu này được bắt đầu ngay từ thời văn hoá tiền Đông Sơn Ở địa điểm bãi Phôi Phối (Nghi Xuân- Hà Tĩnh), đã phát hiện được loại khuyên tai hình đỉa bằng đất nung có nguồn gốc từ địa điểm Bình Châu và Bầu Trám II (Quảng Ngãi) của văn hoá Sa Huỳnh
có mặt trên địa bàn văn hoá Đông Sơn Loại bình gốm con tiện là loại bình gốm đặc trưng ở địa điểm Bình Châu thuộc văn hoá Sa Huỳnh, chúng ta đã gặp một tiêu bản loại này trong mộ táng ở địa điểm Quỳ Chử (Thanh Hoá) Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn, những tín hiệu đầu tiên về văn hoá Sa Huỳnh có sự giao lưu ra phía Bắc là các nhà khảo
cổ học đã tìm thấy một chiếc khuyên tai hai đầu thú (một sản phẩm đặc trưng của nền văn hoá Sa Huỳnh) ở Xuân An- Nghi Xuân- Hà Tĩnh Chúng ta biết rằng, Hà Tĩnh là địa bàn giới hạn cuối cùng về phía Nam của văn hoá Đông Sơn
Văn hoá Đông Sơn và Văn hoá Sa Huỳnh là hai nền văn hoá tiêu biểu ở Việt Nam có cùng thời gian tồn tại Hai nền văn hoá này có nguồn gốc từ những nền tảng chung của các văn hoá thời đại đá - đồng trong khu vực Chúng có con đường phát triển riêng, độc lập Song trong quá trình phát triển của mình từ thời đại đồng thau đến
sơ kỳ thời đại đồ sắt, hai nền văn hoá này đã có những mối liên hệ, giao lưu, trao đổi nhiều chiều với nhau Trong quá trình đó, cả hai nền văn hoá đều đã tiếp nhận những yếu tố văn hoá ngoại sinh và bản địa hoá các yếu tố văn hoá đó làm phong phú thêm sắc thái văn hoá của mình Trong quá trình phát triển, cả hai nền văn hoá đều đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào thời kỳ đầu của sơ kỳ thời đại đồ sắt ở bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á Những thành tựu rực rỡ của nền văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc
là cơ sở vật chất quan trọng dẫn đến sự phân hoá giai cấp sâu sắc và là tiền đề quan trọng để hình thành Nhà nước sơ khai ở khu vực này, Nhà nước Văn Lang của người Việt cổ Và, những thành tựu rực rỡ của nền văn hoá Sa Huỳnh ở ven biển miền Trung Việt Nam có thể cũng là những tiền đề vật chất không thể thiếu được cho sự hình thành nước Lâm Ấp tiền thân của Vương quốc Champa vào những năm cuối của thế
kỷ II Ngày nay, cả hai nền văn hoá này đã hoà cùng dòng chảy của văn hoá Việt Nam Bởi vậy, nghiên cứu và tìm hiểu sự giao lưu văn hoá của hai nền văn hoá này vào thời
sơ sử cũng là để góp phần tìm hiểu những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong buổi đầu thời dựng nước
1.1.4 Con người và cuộc sống
Trồng trọt
Dân cư cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định cư chủ yếu dọc hai bên vùng đất thấp thuộc các con sông dọc bờ biển miền Trung Việt Nam, trải dài từ Quảng Bình cho đến Phú Yên Họ thuộc một nguồn gốc văn minh lúa nước Đông Nam Á Những dụng
cụ bằng sắt như cuốc, dao, kiếm, lao, đục, xà beng đã được tìm thấy ở đây Đồ gốm lớn với hoa văn đẹp, cùng với kỹ thuật dùng bàn xoay, những đồ gốm dùng để đựng
Trang 10các vật dụng và sản phẩm nông nghiệp, đánh cá và cả mai táng người chết Phần đất
miền Trung bao gồm xứ Quảng còn là nơi tụ hội và giao tiếp văn hoá Tây Đông, giữa miền núi và miền biển và đồng bằng xứ Quảng đã từng là nơi hội tụ văn hoá, kết tinh văn minh, dựng lên nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng Lúa hai mùa, tằm tám lứa, tơ mỗi năm được sử sách chép đến sớm nhất là đồng bằng xứ Quảng, trung tâm của nền văn hoá Sa Huỳnh Sách sử có nói đến người Chàm trồng hai vụ lúa và để thích ứng với thời tiết, người Chàm đã tìm ra giống lúa chịu hạn gieo trồng vào đầu mùa khô, để đầu mùa mưa thì lúa chín Sử sách gọi là mùa Chiêm Cũng do hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt khô hạn nên cư dân cổ Sa Huỳnh và Chàm đã đào cả một hệ thống giếng lấy nước tưới cho cây trồng nên giới nghiên cứu ghi nhận một nền văn hoá
gọi là “văn hoá Giếng Chàm cổ”
Đánh cá và đi biển
Trước năm 1975, các nhà khảo cổ trên thế giới mới chỉ biết đến văn hóa Sa Huỳnh qua hoạt động của cư dân đi biển Họ chỉ lên đất liền đặt mai táng người chết trong những mộ chum Những mộ chum được tìm thấy ở Palavan (Philippines), Bondontaphet (Thái Lan), Sa Huỳnh (Việt Nam) Sau năm 1975 các nhà khảo cổ Việt Nam đã bỏ nhiều công sức tim hiểu, nghiên cứu nền văn hóa này và bước đầu đã có những đóng góp quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về nền văn hóa Sa Huỳnh Đặc biệt trong những năm gần đây, tại Hội An, các nhà nghiên cứu khảo cổ đã phát hiện nhiều di chỉ cư trú của người Sa Huỳnh với nhiều hiện vật
phong phú và đa dạng Các phát hiện cho thấy người Sa Huỳnh cổ là những cư dân
nông nghiệp, và đi biển chỉ là một trong những sinh hoạt của họ Các đồng tiền Ngũ Thủ và Vương Mãng (đầu thế kỷ thứ 1 TCN), các gương đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán có trong các mộ chum chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa cùng với sự giao thương khá phát triển Người Chàm đã biết khai thác trầm hương, quế, ngà voi, sừng tê, dầu rái, ngọc, vàng trên núi, hồ tiêu trên đồi, biết làm ruộng hai mùa ở đồng bằng hẹp Minh Kinh và Ô Chân Họ đã trồng cau, dừa và trồng dâu nuôi tằm “một năm tám lứa” từ trước sau kỷ nguyên Dương lịch Họ biết làm thuyền to gọi
là nốc (bàu) và thuyền nhỏ (ghe) Hai cảng Cửa Việt, Cửa Tùng đã từng là hải cảng quốc tế từ lâu trước khi Lâm Ấp thành lập nhưng phồn thịnh nhất là thời vương quốc Champa cùng thời với triều Đường (Trung Quốc) Người Chàm biết đánh cá biển và buôn bán đường biển trên vùng Đông Nam Á, từ ven biển Trung quốc xuống tới Ấn
Độ Dương
Đồ trang sức và kỹ thuật làm thủy tinh
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy, ở những khu mộ táng của văn hóa Sa Huỳnh, các
bộ hạt chuỗi giá trị ở Lai Nghi Trong khi rây bằng sàng phát hiện được hơn 8.600 hạt cườm bằng thủy tinh màu xanh, vàng hoặc nâu có đường kính 1-3 mm Ngoài bộ hạt chuỗi gồm khoảng 1.500 hạt bằng đá mã não, achat, crystal, amethyst, nephrite và bằng vàng - còn có 4 khuyên tai bằng vàng Người văn hóa Sa Huỳnh ở Lai Nghi nhiều nhất thích sự dụng loại đá ngọc mã não làm đồ trang sức Hơn 15 hình dạng hạt chuỗi khác nhau đươc chế tác - có lẽ bằng đá mã não đến từ khu vực Myanma hoặc Ấn
Độ Trong tổng số 1.136 hạt chuỗi bằng đá mã não tìm thấy ở Lai Nghi có 3 chiếc rất đặc biệt: chiếc thứ nhất có hình con chim nước, chiếc thứ hai có hình con hổ hoặc sư
tử và chiếc thứ ba là hạt chuỗi khắc Cả 3 hạt chuỗi này được phát hiện trong 3 mộ
Trang 11chum khác nhau cùng với nhiều đồ tùy táng quý khác có niên đại vào thế kỷ I – II TCN Những di vật hiếm thấy khác ở miền Trung Việt Nam được kể đến là hai cái
gương bằng đồng của thời kỳ Tây Hán Thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của
văn hóa Sa Huỳnh Các cư dân dùng cát trắng để nấu thủy tinh làm bát lọ và đặc biệt những chuỗi hạt trang sức bằng thủy tinh mà sử sách Trung Quốc gọi là “Lưu li” gốc
từ chữ Phạn là verulia từ đầu công nguyên Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới Chúng không những đa dạng về kiểu dáng mà còn phong phú về màu sắc như xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím, đỏ và nâu Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ
gọi là chén lưu ly với một sự trân trọng và khâm phục
Nổi bật trong những vật trang sức của người Sa Huỳnh là khuyên tai ba mấu dành cho phụ nữ và khuyên tai hai đầu thú của nam giới Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cường tráng của nam giới Những vật trang sức chế tác từ đá, mã não và thủy tinh có thể nói là những tinh hoa đặc sắc nhất mà nền văn minh này sáng tạo ra và được phổ biến khắp vùng Đông Nam Á Người ta đã tìm thấy khuyên tai ba mấu và
khuyên tai hai đầu thú ở Thái Lan, Malaysia, Philippines và Đài Loan
Đồ gốm
Người Sa Huỳnh cổ rất khéo tay và có mỹ cảm tuyệt vời Các đồ gốm gia dụng đều đợc tạo dáng thanh nhã, cân đối, hoa văn phong phú, sinh động thể hiện một tâm
hồn tinh tế và giàu xúc cảm Trong gốm Sa Huỳnh, các đồ đựng như bát, bình có chân
đế, có thân gãy ở vai hay đáy, chiếm tỷ lệ lớn Mẫu gốm thường gặp là vàng đỏ, nhiều khi có vệt đen bóng, có hoa văn chữ S có đệm tam giác, những đường chấm hay đường
in dấu răng vỏ sò Trong các di chỉ mộ táng, phổ biến là mộ chum, trong chum chứa nhiều đồ trang sức bằng đồng, đá quý, thủy tinh, đặc biệt là loại khuyên tai ba mấu nhọn và khuyên tai hai đầu thú Các đặc trưng đó của văn hóa Sa Huỳnh cũng đã tìm được ở các di chỉ trong lưu vực sông Đồng Nai Có nơi còn có những đặc trưng xưa
hơn, mà khảo cổ học gọi là văn hóa thời tiền Sa Huỳnh
Xã hội Sa Huỳnh
Cách đây gần 3000 năm, trên lưu vực sông Đồng Nai mà lãnh thổ Lâm Đồng là thượng nguồn, đã có những bộ lạc sinh sống với một nền văn hóa đồng - sắt đã phát triển và có đặc trưng riêng Có thể nói, các bộ lạc này là tiền thân của các dân tộc bản địa Sách lịch sử Việt Nam (Phan Huy Lê chủ biên) cho biết, bấy giờ trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh có hai bộ lạc sinh sống Bộ lạc Cau (chữ Phạn là Kramuka vam'sa)
cư trú vùng Phú Yên, Khánh Hòa- Ninh Thuận - Bình Thuận trở vào, và bộ lạc Dừa (chữ Phạn là Narikela vam'sa) ở vùng Bình Định, Quảng Nam ngày nay Bộ lạc Dừa từ thế kỷ đầu TCN bị nhà Hán đô hộ (cùng thời kỳ với nước Âu Lạc) và đặt tên là huyện Tượng Lâm Năm 190- 193, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi người Hán, lập nên nước Lâm Ấp (theo tên gọi của thư tịch cổ Trung Hoa) Bộ lạc Cau, khoảng đầu công nguyên, đã hình thành một tiểu vương quốc riêng có tên là Panduranga (tên Phạn) hay Pan-Rãn (tiếng Chăm cổ), về sau gọi là Champa, có địa bàn từ Nha Trang - Phan Rang, Phan Thiết ngày nay Từ sự ra đời nói trên của dân tộc Chăm và nhà nước của họ, cho thấy ở Nam Trung bộ, Việt Nam thời ấy, đã có hai cộng đồng lớn: cộng đồng người Chăm với ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay-Polynesia cư trú vùng
Trang 12ven biển và cộng đồng với ngữ hệ Môn - Khơme (Mạ, Cơ Ho, M'Nông), cư trú vùng
núi và Tây Nguyên
Tập tục tín ngưỡng
Tập tục độc đáo của cư dân Sa Huỳnh chính là tập tục chôn người quá cố trong các chum lớn, có những chiếu chum cao đến 1,2 m Chum được làm từ vật liệu đất đèn hay đất có màu đỏ và được nung khá tốt Người chết được táng trong chum với tư thế ngồi bó gối - như một hiện tượng được sống tiếp với thế giới cõi âm Đồ tùy táng theo người chết tùy thuộc vào sự giàu có hay nghèo khó của người chết mà có nhiều hay ít
hiện vật được chôn theo Người Sa Huỳnh cổ rất “sành điệu” và khá duyên dáng trong các đồ trang sức làm bằng đá quý và đá bán quý cung như pha lê nhiều màu sắc
Người Sa Huỳnh cổ theo tính ngưỡng thờ mẫu (mẹ, bà) và còn tồn tại cho đến ngày nay ở các dân tộc Chăm, các cư dân bản địa Tây Nguyên Tuy theo đạo Hồi nhưng đã biến cải thành đạo Bani mang bản sắc văn hoá truyền thống Champa thờ thần linh và ông bà tiên tổ Đồng bào Chàm ăn tết vào đầu năm nhằm ngày 19 tháng 4 Dương lịch và 2 lễ hội lớn hàng năm là lễ hội Katê tháng 7 lịch Champa để nhớ ơn trời đất, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu và tưởng nhớ các vị vua tài đức của họ Lễ hội Chabur âm tính vào tháng 9 để dâng cúng các nữ Thần như nữ thần Pô Inư Nagar còn gọi là Thiên Y A Na là bà chúa xứ của đồng bào Chàm Đặc biệt là sự đối lập giữa Nam Thần qua lễ hội Katê và Nữ thần với lễ hội Chabur cùng những ý niệm trời đất, cha mẹ, đực cái… thể hiện triết thuyết âm dương dịch biến luận của người Việt cổ còn lưu giữ mãi tới ngày nay Đồng bào Chàm còn lưu lại một nền văn hoá cổ với những vần thơ dân gian, những bi ký sử thi văn học, những giai thoại truyền kỳ lịch sử cùng với nghệ thuật điêu khắc, tạc tượng tinh vi, sống động của truyền thống của người Môn-Việt thời cổ đại
Sự phát triển của nền văn hóa Sa Huỳnh là cơ sở quan trọng để hình thành quốc
gia cổ ở khu vực miền Trung Việt Nam ngày nay
1.2.Sự hình thành vương quốc Champa
1.2.1 Các nguồn sử liệu
Lịch sử vương quốc Champa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính:
* Các di tích còn lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn
nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá
Những chứng tích phong phú và đa dạng, phản ánh khá toàn diện về vương quốc Champa thì thể hiện tập trung tại các khu di tích đền tháp Champa
Khu vực Quảng Bình – Quảng Trị – Thừa Thiên Huế: hiện biết khoảng 30 di tích văn hóa Champa, tập trung thành từng nhóm ở bờ nam sông Gianh tiêu biểu là thành Cao Lao Hạ, những minh văn trong hang động Phong Nha ở Quảng Bình Nhóm ven sông Thạch Hãn của đồng bằng Quảng Trị có Cổ thành, tháp Hà Trung Nhóm ở đồng bằng Thừa Thiên Huế: thành Lồi, tháp Liễu Cốc, tháp Vân Trạch Hòa, tháp Mỹ Khánh…
Khu vực Quảng Nam – Quảng Ngãi: đây được xem là vùng trung tâm của vương quốc Champa Tại đây tập trung những di tích quan trọng và lớn nhất, với nhiều
Trang 13loại hình di tích nhất Đó là khu di tích Trà Kiệu (xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), ở đây còn dấu tích của thành cổ, nơi cư trú… được các nhà nghiên cứu cho rằng đây là kinh thành Sư Tử Sinhapura Xung quanh Trà Kiệu gần đây đã phát hiện và khai quật nhiều di chỉ cư trú hay phế tích kiến trúc như Gò Cấm, Chùa Vua, Triền Trang, Chiêm Sơn Đông, Chiêm Sơn Tây Thánh địa Mỹ Sơn – trung tâm tôn giáo lớn nhất của người Chăm – là một khu đền tháp tập trung trong một thung lũng, cách Trà Kiệu khoảng 20km về phía Tây Hiện nay khu di tích này còn khoảng 70 đền tháp khá nguyên vẹn và rất nhiều đền tháp bị hư hỏng do thời gian và chiến tranh Trung tâm Phật giáo Đồng Dương và là kinh thành Inđrapura của vương quốc Champa trong thế kỷ IX – X Tại đây còn dấu tích tường thành, đền tháp, di tích cư trú, nhiều tượng Phật giáo bằng đồng nổi tiếng đã được phát hiện tại đây
Ngoài các trung tâm trên, khu vực Quảng Nam - Quảng Ngãi còn có các di tích: Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An (Quảng Nam), thành Châu Sa, di tích Chánh Lộ, Khánh Vân, An Tập, Cổ Lũy phần lớn còn lại là phế tích (Quảng Ngãi)
Khu vực Bình Định: Là một kinh đô của người Chăm trong gần 5 thế kỷ, từ thế
kỷ XI – XV, vì vậy ở đây có tới 4 di tích thành cổ (Thị Nại, Thành Tra, Đồ Bàn, Chánh Mân), hàng chục đền tháp khá nguyên vẹn như khu tháp Bánh Ít, Dương Long, Hưng Thạnh… và nhiều phế tích đền tháp khác Ngoài ra, Bình Định còn nổi tiếng với trung tâm sản xuất gốm Gò Sành
Khu vực Phú Yên – Khánh Hòa: Các di tích ở hạ lưu sông Đà Rằng thuộc đồng bằng Tuy Hòa là Tháp Nhạn và Thành Hồ cùng với hàng chục phế tích khác Nổi tiếng
là khu tháp Pô Nagar ở Nha Trang – được coi là thánh địa phía Nam của Champa và đến nay vẫn còn thờ Thiên Yana – một tín ngưỡng cổ của người Chăm
Khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận: có nhiều di tích từ niên đại sớm đến muộn, như Hòa Lai, Pô khaung Garai, Pô Romê ở Ninh Thuận; Pô Đam, Phú Hài ở Bình Thuận… Nơi đây hiện là địa bàn cư trú chính của người Chăm nên các khu đền tháp vẫn là nơi để người Chăm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo
Khu vực Tây Nguyên có một số di tích đền tháp và phế tích Champa ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum nhưng niên đại khá muộn
Chứng tích phổ biến và tiêu biểu nhất của vương quốc Champa là những kiến trúc đền tháp có mặt ở tất cả các khu vực và trong mọi giai đoạn lịch sử Trải qua hàng chục thế kỷ nhiều nhóm đền tháp đã trở nên hoang phế, không còn đầy đủ các công trình tạo lập thành một tổng thể như khi mới khởi dựng, mà hầu như chỉ còn lại một công trình đứng đơn lẻ, nhất là các di tích ven biển miền Trung Thật ra các nhóm đền tháp Champa bao giờ cũng có một nhóm, một tổng thể hoàn chỉnh phản ánh vũ trụ quan Ấn Độ Theo đó vũ trụ có hình vuông, chung quanh có núi và đại dương bao bọc, chính giữa là một trục xuyên đến mặt trời Đền thờ Ấn Độ giáo thể hiện rõ vũ trụ quan này với khuôn viên được quy định vuông vắn, tường bao quanh xây cao, vuông góc với nhau tượng trưng là núi Các công trình trong tổng thể được bố cục theo một đường trục chạy giữa, hướng chính là hướng đông – hướng của thần thánh, của sự sinh sôi nảy nở Cũng do hạn chế về địa hình nên có nhóm tháp quay về hướng khác như nhóm Pô Tằm quay về phía tây nam, các nhóm A, G, E, F ở Mỹ Sơn quay về phía tây – còn được coi là quay về phía ngôi đền đá B1, trung tâm của thánh địa
Trung tâm của một nhóm đền tháp bao giờ cũng là một đền thờ lớn kalan được xây dựng lớn nhất, quy mô nhất Kiến trúc này có mặt bằng cơ bản hình vuông, bốn
Trang 14hướng có 4 cửa, nhưng chỉ có một cửa ra vào mở theo hướng chính của cả nhóm đền tháp là hướng đông, còn các cửa khác là cửa giả xây nhô ra trên mặt các bức tường Một Kalan thường có ba phần: đế, thân và mái tượng trưng cho ba thế giới: trần tục (bhurloka), tâm linh (Bhurvaloka) và thần linh (Svarloka) Các tầng và các mặt tường kalan được trang trí bởi nhiều đề tài, mô típ trang trí ngay trên gạch xây dựng hoặc bằng đá sa thạch Phần chân đế trang trí các đồ án hoa lá, hình voi, sư tử, những vòm cuốn nhỏ chạm hình tượng kala - makara hoặc các cảnh vũ nữ apsara và nhạc công Trước thế kỷ X phần chân đế kalan hoàn toàn bằng gạch Những kalan có niên đại muộn hơn thường gắn ốp các thành phần bằng đá sa thạch
Phần thân kalan: bề mặt ngoài trang trí bằng những trụ áp tường, mỗi mặt tường thường có 5 trụ áp tường mà trụ chính giữa bị cửa giả che khuất Trong ô cửa giả bao giờ cũng có phù điêu hình người đứng cầu nguyện với hai tay chắp trước ngực hay cầm một bông sen Tiếp giáp thân và mái là diềm mái là những đường gờ cong lồi hoặc lõm chạm khắc các băng hoa dây Bốn góc diềm mái gặp nhau gắn những vật trang trí góc bằng đá hình ngọn lửa hay hình tượng makara, apsara
Mái kalan có ba tầng và một đỉnh, tầng trên là thu nhỏ của tầng dưới với đầy đủ các thành phần như cửa giả, trụ áp tường, diềm mái… Trên tầng mái có đặt nhiều tượng, phù điêu đá tạo hình các con vật cưỡi của các vị thần Ấn Độ giáo (ngỗng thần Hamsa, chim thần Garoda, bò thần Nandin…) Các góc của tầng thứ nhất và thứ hai dựng bốn tháp góc Tầng cuối cùng không có tháp trang trí góc mà đỡ một chóp đá lớn (àmalaka) tượng trưng cho đỉnh núi Kailàsa – nơi cư ngụ của thần Siva Trước kia các chóp đá này thường dát bọc vàng bạc để chứng tỏ lòng thành kính và sự tôn quý
Khác biệt với kiến trúc nhiều tôn giáo khác, đền thờ Ấn Độ giáo có nội thất nhỏ kiểu mật thất Tường Kalan cũng như những đền tháp Champa khác nói chung rất dày khoảng 1m Mặt tường trong của phần thân tháp xây phẳng, 3 phía Bắc, Nam, Tây có những khám nhỏ để đèn Phần vòm mái được hình thành bởi các viên gạch xây so le nhô ra nhô dần ra để thu lại ở đỉnh nóc Kiểu mái vòm này được coi là một sáng tạo trong kết cấu gạch của người Chăm cổ Nội thất kalan chỉ vừa đủ để một đài thờ bằng
đá ở chính giữa, có khi là tượng một vị thần nhưng phổ biến là bộ linga – yoni Đài thờ
có 3 phần: đế – bệ yoni – và linga, đây là biểu tượng chính của thần Siva
Các kalan Champa phần lớn ảnh hưởng các đền tháp ở miền nam Ấn Độ với các tầng trên là sự thu nhỏ của tầng dưới Ngoại lệ có một số nhóm mang phong cách miền bắc Ấn Độ như nhóm tháp Bằng An (Quảng Nam), Hưng Thạnh (Bình Định), Dương Long (Bình Định) có hình vòm cong
Ngoài kalan chính trong khuôn viên vòng tường bao còn có các kalan nhỏ ở 4 góc, là đền thờ các vị thần phương hướng Các đền tháp hướng đông, tây, bắc là sự thu nhỏ về kích thước, quy mô và cấu trúc của kalan chính Đền tháp phía nam đặc biệt hơn cả, nó có mặt bằng hình chữ nhật, nội thất rộng rãi, có tường ngăn chia làm 2 phòng Đây là kho lễ vật và có thêm chức năng là nơi chuẩn bị thức ăn dâng cúng trong lễ hội nên gọi là tháp hỏa hay tháp bếp Cửa ra vào của tháp này bao giờ cũng
mở về hướng bắc (lệch về tây) – hướng của thần tài lộc Mặt tường đông và tây có cửa
sổ có những chấn song bằng đá hình con tiện Mặt tường phía nam của tháp này xây kín, trang trí bằng các trụ áp tường Đền tháp phía nam có 2 tầng nhưng phần mái cong hình thuyền với hai mũi thuyền vươn cao, trang trí đẹp khiến nó trở thành một kiến
Trang 15trúc được chú ý hơn những đền tháp góc còn lại Mặt khác, trên thực tế hầu như các đền tháp góc khác đã bị hư hỏng chỉ còn lại đền tháp phía nam
Nằm ở bức tường phía đông và thẳng với trục kalan chính là tháp cổng có hai cửa đối diện, tuy hình thức tương tự kalan nhưng đơn giản hơn vì chức năng là cổng chính dẫn vào khu đền thờ Thẳng trên trục này và nằm ngoài tường bao còn có tháp nhà, một kiến trúc hình chữ nhật khá dài Đây là nơi tĩnh tâm cầu nguyện của tín đồ trước khi vào hành lễ trong khu đền tháp chính Vì vậy tháp nhà có nội thất rộng rãi và thoáng, cửa mở hai hướng đông tây, tường phía bắc nam trổ nhiều cửa sổ Mái lợp bằng ngói trên cấu kiện gỗ Ở một số nhóm đền tháp lớn còn có tháp bia, mặt bằng hình vuông, mở cửa ra vào ở cả 4 phía, có chức năng che một tấm bia đá
Tuy nhiên vẫn có một số nhóm đền tháp có bố cục khác, như nhóm Chiên Đàn, Khương Mỹ (Quảng Nam), Dương Long (Bình Định), Hòa Lai (Ninh Thuận) Mỗi nhóm có 3 kalan chính lớn gần bằng nhau, đứng cạnh nhau theo trục bắc Nam, cửa vẫn
mở về hướng đông Đây là những nhóm đền tháp thờ cả 3 vị thần Brama, Visnu và Siva Phế tích và dấu vết còn lại cho biết các nhóm đền tháp này cũng có các công trình phụ trợ như trên
Di vật trong văn hóa Champa vô cùng phong phú và đa dạng về chất liệu và loại hình Từ những tác phẩm điêu khắc trên đá sa thạch, trên gạch, gốm, những bức tượng đồng đến những đồ thờ cúng và trang sức bằng vàng bạc… Tuy nhiên, gắn liền một cách hữu cơ với kiến trúc đền tháp là những tác phẩm điêu khắc trên đá, trên gạch xây dựng, thể hiện dưới hai loại hình: (1) các tác phẩm điêu khắc độc lập dùng để trang trí hay thờ cúng; và (2) các tác phẩm điêu khắc mang chức năng liên kết tham gia vào công trình kiến trúc tháp (tấm lá nhĩ, trụ cửa, mi cửa) Kiến trúc đền tháp quy định nội dung và hình thức thể hiện của điêu khắc, ngược lại, điêu khắc góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa của việc xây dựng các công trình đền tháp Điêu khắc Champa phổ biến trên chất liệu đá Silic màu xám, độ cứng cao, bề mặt thô và đá Granit màu xám xanh, thớ mịn Kích thước hiện vật thường lớn Phần lớn di vật điêu khắc Champa là dạng phù điêu nổi cao gần như tượng tròn, dù thể hiện nội dung, hình tượng nào thì vẫn mang tính hiện thực sâu sắc, nghệ thuật tả chân dung sinh động, tượng người và động vật đạt trình độ cao về giải phẫu sinh học, đề cao đặc điểm nhân chủng trong tượng người và các vị thần được nhân hóa Điêu khắc Champa còn phản ánh hiện thực xã hội từ cuộc sống sinh hoạt đời thường đến những nghi lễ tôn giáo của vương quốc Champa
* Các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt
vị thủ lĩnh được xác định rõ ràng, có tên Sri Mara, được viết bằng chữ Hán là Phạm
Sư Mạn, còn tôn giáo thời kỳ đó là Đạo Phật Quan điểm đó được thịnh hành đến tận năm 1969, khi Jean Filliozat cho rằng tước vị Mara có lẽ có nguồn gốc từ một tước vị hoàng gia Pandyan, còn nội dung của tấm bi ký có thể cũng chỉ ẩn ý Ấn Độ giáo như
Trang 16là Phật giáo mà thôi Cách xử lý như vậy dường như cho thấy bia Võ Cạnh có thể
không được coi là thuộc Phù Nam, hoặc Champa, và chắc chắn không thuộc Lâm Ấp
Tuy nhiên ngày nay William Southworth đã lôi cuốn sự chú ý đến những đặc điểm nhất định của nội dung bi ký, có vẻ thể hiện xã hội Nam Đảo; nếu lập luận ấy đứng vững thì có thể hoàn trả lại cho một thực thể Chăm tấm bi ký đầu tiên đó, mặc dù
nó không thuộc Lâm Ấp Như Southworth đã lưu ý, đoạn dịch dưới đây của Filliozat
và Claude Jacques: “Tác giả của tấm bi ký này có lẽ không hề là hậu duệ của Sri Mara,
mà là một người con rể đã kết hôn với dòng tộc mẫu hệ thống trị Trọng tâm then chốt của dòng tộc này rõ ràng là người con gái của cháu nội Sri Mara, mà tác giả của tấm bi
ký xuất thân từ gia đình đó, còn nội dung tấm bi ký đã cho thấy tôn ty mẫu hệ này”2
Có nghĩa là loại vật quyên cúng này được mô tả trong bi ký là “rất thông thường trong các xã hội mẫu hệ”, và tấm bi ký “chủ yếu được thúc đẩy bởi các mối quan tâm xã hội bản địa” Cái tên Sri Mara có thể vẫn thuộc về nguồn gốc Tamil như Filliozat đề xuất – mà người Chăm học được trong các chuyến hải hành đến Ấn Độ và
sử dụng cái tên Nha Trang, như Southworth đã mô tả, là một cảng “trên tuyến thương mại chính qua Đông Nam Á” từ Ấn Độ đến bắc Việt Nam và nam Trung Quốc, “tạo ra một bối cảnh lịch sử và địa lý hợp lý cho việc dựng bia Võ Cạnh” Tấm bia được coi là
cổ xưa thứ hai, thế kỷ IV, sau Võ Cạnh là một văn bản cổ ngữ Chăm thuộc Đông Yên Châu, gần Trà Kiệu Được phát hiện tại vùng Thu Bồn, không xa Mỹ Sơn, đây cũng là loại văn bản cổ nhất của bất cứ cổ ngữ Nam Đảo hoặc Đông Nam Á nào
Cả hai tấm bia sớm này đều biệt lập và có thể không thuộc vào số còn lại, những tấm bia còn sót lại không được phân bố hoàn toàn phù hợp với các di tích vật chất Nhóm bia có nội dung mạch lạc nhất gắn liền với sự phát triển sớm của lưu vực sông Thu Bồn, di chỉ Mỹ Sơn, đồng thời chỉ có những văn bản biệt lập ở nơi khác Từ thế kỷ V-VIII có 20 bi ký tất cả đều bằng chữ Phạn, trừ hai bia ở Mỹ Sơn hoặc gần đó Theo các thống kê của Southworth thì 19 bi ký với 279 dòng văn bản ở Quảng Nam, với 12 bi ký và 258 dòng ở Mỹ Sơn, nhưng chỉ có ba bi ký với 13 dòng ở nơi khác Sau đó từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX, khoảng 774 đến 854, có một nhóm 8 bia mạch lạc nhất ở phía Nam Hầu hết các bia này đều ở Phan Rang, chỉ có vài cái ở Nha Trang; 5 tấm bia hòan toàn, hoặc một phần, viết bằng chữ Chăm Tiếp theo, từ 875 đến
965, có 25 bi ký được coi là thuộc triều Inđrapura/Đồng Dương, lại ở phía bắc vùng Thu Bồn, nhưng riêng biệt khỏi Mỹ Sơn Các bi ký này đều phác họa một khu vực rõ ràng từ Quảng Nam đến Quảng Bình và chỉ có loại cổ tự trong các văn tập đã được công bố phát hiện ở phía bắc Huế Bốn bi ký nhóm này ở phía Nam và 16 bi ký hoàn toàn hoặc một phần thuộc chữ Chăm Một bi ký có nhiều cổ tự Chăm hơn cả, và có lẽ liên quan là bia Mỹ Sơn, có niên đại năm 991
Về sau các bi ký này phân bố khá đồng đều giữa Bắc và Nam cho đến đầu thế kỷ XIII, sau đó có 32 bia được phát ở phía Nam, và chỉ có sáu bia ở Mỹ Sơn, niên đại muộn nhất là năm 1263 Sau năm 991, trong số 75 bia đã biết cho đến cái cuối cùng năm 1456 thì chỉ có 5 cái bằng chữ Phạn, tất cả đều trước năm 1263, và số còn lại là chữ Chăm Trong cùng giai đoạn có 18 bia Mỹ Sơn tính đến chiếc cuối cùng được định niên đại
1263 và một bia khác từ cuối thế kỷ XII, hai trăm năm sau khi các vua Champa, theo
2 Michael Vickery, https://nghiencuulichsu.com/2013/08/29/nhin-lai-lich-su-champa/Nhìn lại lịch sử Champa
Trang 17Maspéro, được cho là chuyển về phía nam đến Vijaya do sức ép của người Việt, một hoàn cảnh buộc phải xem xét lại các mối quan hệ giữa hai chính thể này
Thật khác thường là Bình Định/Quy Nhơn mặc dù rõ ràng có tầm quan trọng như hệ thống tháp gạch đã chứng tỏ và rõ ràng các nguồn tư liệu Champa và Campuchia đều chú ý đến nó, nhưng ở đây lại chỉ thấy có 7 bi ký rất ngắn – tất cả đều muộn màng, và chỉ có một bi ký có nhiều giá trị lịch sử hơn cả (C53 and C54/1178-
1278, C58/1259, C55/1265, C52, C47/1401, C56/1456) Tất cả các bi ký chủ yếu của các nhà cai trị được cho là đã kiểm soát Bình Định trước thế kỷ XIII đều được chạm khắc tại Mỹ Sơn
Một tập hợp các bi ký chi tiết và mạch lạc nhất, chí ít là có một chục văn bản, liên quan đến các mối quan hệ của các thế kỷ XI – XIII, hầu như hoàn toàn là chiến tranh với Campuchia Công trình đầu tiên về các bi ký Champa bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX Abel Bergaigne bắt đầu tổng hợp các thông tin từ các bi ký từ năm 1888, và công
bố các văn bản Phạn ngữ năm 1893 Công trình đầu tiên về các bi ký Chăm ngữ là của Étienne Aymonier năm 1891 Sau đó, trong một loạt bài viết, Louis Finot đã xử lý cả các bi ký Chăm ngữ và Phạn ngữ, bằng cách biến đổi một số vấn đề diễn giải về sau của Aymonier Vẫn còn những vấn đề về việc giải thích theo nghĩa đen một số văn bản Chăm ngữ Vì hầu hết các bi ký được Aymonier xử lý trong bài viết năm 1891, nhưng ông đã không công bố chính văn bản đó, và cũng không hề đưa ra một bản dịch đầy
đủ, mà chỉ tóm tắt các chi tiết quan trọng Rõ ràng là một số bi ký vẫn cần có những diễn giải mới, để rồi cuối cùng, nó đã thu hút được sự chú ý của một nhà Chăm học tài năng Khi Louis Finot tiếp tục công việc công bố và dịch các bi ký Chăm, ông luôn chọn các văn bản mà Aymonier không xử lý; và vì ông không phải là một chuyên gia
về ngôn ngữ, nên không thể chấp nhận toàn bộ các bản dịch của ông mà không đặt câu hỏi Vì chất lượng không chắc chắn của các bản dịch cổ ngữ Chăm, nhất là công trình của Aymonier, và của cả Finot nữa, nên tất cả các diễn giải về các sự kiện lịch sử dựa vào đó đều phải được trình bày bằng cách thông báo trước rằng để có được những bản dịch tốt hơn thì buộc phải xem xét lại một số chi tiết
Gần đây đã có một công trình mới của Anne-Valérie Shweyer về các bi ký Champa được sử dụng làm hướng dẫn cho tất cả các xuất bản phẩm Nó có ý liệt kê toàn bộ các bi ký đã được công bố theo trật tự niên đại, đã được hiệu chỉnh với các cột ghi số đăng ký, vị trí, tên người và tên các thần được đề cập và các công bố khác liên quan 18 Ngoài công trình của Shweyer, không có một nghiên cứu nguyên bản nào mới về các bi ký Chăm trước năm 1920, và danh mục tư liệu chuẩn về các bi ký Champa, cả Chăm ngữ và Phạn ngữ, đều có niên đại từ 1923
* Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các
văn bản khác liên quan còn lại
Các nguồn sử liệu Trung Quốc được Maspéro sử dụng là các bộ sử sách chính thức của các triều đại dẫn từ Văn hiến Thông khảo của Mã Đoan Lâm, do Hervey de Saint-Denys dịch ra tiếng Pháp
Các nguồn sử liệu Việt Nam đã được sử dụng để viết lịch sử Champa gồm
có Ðại Việt sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, và Việt sử lược
Trang 18Đối với khu vực đang được đề cập, các sử sách Trung Quốc và Việt Nam thường bắt đầu bằng việc tham chiếu vào một chính thể có tên gọi là Lâm Ấp, nằm ở phía nam Giao Chỉ, các tỉnh của Việt Nam được coi là dưới quyền quản lý của Trung Quốc; trước hết nó được ghi chú bằng cái tên đó vào những năm 220 – 230, và dẫn chiếu cuối cùng xuất hiện năm 757 Lâm Ấp là một vùng có vấn đề vì các hoạt động gây hấn chống lại Giao Châu ở phía bắc Sau khi Lâm Ấp biến mất khỏi các ghi chép của Trung Quốc thì các sử sách chính thức của Trung Quốc trong một thế kỷ thỉnh thoảng có nhắc đến một chính thể có tên gọi là Hoàn Vương, rõ ràng là thuộc vùng Lâm Ấp, cho đến giữa thế kỷ thứ 9 người ta vẫn nhận là Champa bằng tên gọi Chiêm Thành, “Thành của người Chăm”
Xuyên suốt thời kỳ Lâm Ấp cho đến giữa thế kỷ VII, tức là một thế kỷ trước khi cái tên đó biến mất – các thủ lĩnh Lâm Ấp trong các sử sách Trung Quốc có tước vị Fan và sau đó là những cái tên có từ một đến ba âm tiết, với thủ lĩnh cuối cùng, Phạm Trấn Long, xuất hiện trong khoảng năm 645 Nói chung không thể đồng nhất một cách hợp lý những cái tên Fan với tên của những người trị vì trong các bi kí Champa đương thời, mặc dù Maspéro đã thử và sau đó các nhà sử học đã đi theo Vào giữa thế kỷ thứ VIII đến cuối thế kỷ IX, khi tất cả các bi ký đều ở phía Nam thì người Trung Quốc không ghi các tước vị Fan và các tham chiếu của họ về Hoàn Vương không cho biết tên những người trị vì của chính thể đó dưới bất kỳ dạng thức nào
Những cái tên trong các sử sách Trung Quốc và Việt Nam rõ ràng có thể quy vào những người trị vì Champa bắt đầu từ những năm 860 và tiếp tục – dù có khoảng trống lớn – đến cuối thế kỷ XII, sau đó trong khoảng gần một trăm năm dưới sự can thiệp của người Angkor vào Champa, rõ ràng là người Việt và người Trung Quốc đã ít chú ý đến nó Các nguồn sử liệu đó bắt đầu lại cho thấy những cái tên của những người trị vì Champa từ đầu thế kỷ XIV và tiếp tục qua một vài thập kỷ cho đến khi không còn bi ký Champa nữa Như Stein đã nhấn mạnh, không thể đồng nhất hầu hết những cái tên trong các văn bản Trung Quốc và Việt Nam với những cái tên trong các
bi ký Hầu hết những cái tên trong các bi ký là các tước vị có chữ varma Trong toàn
bộ lịch sử Champa từ varma đầu tiên, có lẽ vào thế kỷ thứ IV, đến năm 1471, chỉ có bốn trường hợp được phiên âm bằng chữ Hán, mà tất cả đều thuộc thế kỷ VI-VII, và rất ít thấy trường hợp trong đó các yếu tố phiên âm chữ Hán khác có thể đồng nhất với một tước vị địa phương nào
1.2.2 Sự hình thành vương quốc cổ Champa
1.2.2.1 Lịch sử hình thành Champa theo truyền thuyết
Trong dân gian Champa cho rằng: từ trong chốn hồng hoang, dân tộc Champa sống rải rác thành nhiều nhóm khác nhau trong cảnh sống tiêu sơ mộc mạc của thời cổ đại Trên thượng giới có một thần Nữ tuyệt thế giai nhân, có nhiều quyền năng biến hóa đã giáng thế xuống vùng đất dân tộc Champa sinh sống tại núi “Trầm Hương” người Champa gọi là “Chơk Ghlâu” tức núi Ðại An Nha Trang tỉnh Khánh Hòa ngày nay Nữ Thiên Thần này là Pô Inư Nagar – Tuy là Nữ Thần linh hiển và tài giởi phi phàm nhưng khi giáng trần, Pô Inư Nagar vẫn hành sử quyền năng theo phương cách thế tục Là người Champa sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc đã nghe mẹ ru bằng câu ca dao Champa từ lúc nằm nôi và trầm mình trong môi trường văn hóa dân tộc, trong tín ngưỡng dân gian Champa, được nghe những câu chuyện “bất thành văn”
Trang 19nhưng truyền khẩu từ đời này sang đời khác về việc dựng nước và giữ nước của người xưa có lẽ dân tộc Champa trân trọng nhất là nhân vật truyền thuyết Pô Inư Nagar một bậc “hiền mẫu” của dân tộc Champa
Bà ngao du sơn thủy, quan sát toàn vùng dân cư Champa sinh sống Bà chứng kiến tận mắt cảnh đời kham khổ lầm than của vạn lớp dân Champa, Bà liền gom dân lại thành làng xóm, tổ chức gia đình xã hội theo chế độ mẫu hệ, xây dựng non sông gấm vóc cho dân tộc Champa Bà dạy quần chúng về cách thức trồng lúa, lập hệ thống
đê điền tưới tiêu; hướng dẫn cư dân vùng biển đóng ghe đan lưới để hành nghề dánh
cá và hòa mình vào biển cả Dạy dân chúng biết xây dựng nhà cửa, chỉ dạy dùng dược thảo để chữa bệnh và phương cách cúng bái thần linh Vừa khai hóa dân tộc, xây dựng
xã hội, vừa xây dựng một quốc gia nông nghiệp đơn thuần và sơ khai với một xã hội
ấm êm, thanh bình cho dân tộc Vì Bà có công tạo dựng non sông gấm vóc Champa, cai quản dân lành với tất cả tình thương của một người mẹ đối với con cái, nên trong truyền thuyết dân gian Champa tôn xưng Pô Inư Nagar là “Thần mẹ của xứ sở” chứ không tôn xưng Bà là vua Champa Pô Inư Nagar có công khai hóa dân tộc và tạo dựng ra non sông gấm vóc Champa, nên vào thế kỷ thứ IX, Vua Harivarman I đã xây đền tháp và tạc tượng để thờ Bà, đó là Tháp Pô Inư Nagar, người Việt gọi là Tháp Thần Nữ Thiên Y Ana tọa lạc trên ngọn đồi gần xóm Bóng và biển Nha Trang Cũng trên đồi này trước đây hồi thế kỷ thứ VII và thứ VIII có xây 02 cụm Tháp nữa và trong cụm Tháp này có một pho tượng bằng vàng Năm 774, quân binh Mã Lai quấy nhiễu vùng Kauthara (Nha Trang) phá hủy ngọn Tháp và cướp đi Tượng vàng quí giá này Mười năm sau tức vào năm 784 ngôi Tháp bị phá hủy mới được xây lại với pho tượng bằng đá chung quanh các tầng Tháp, ở mỗi gốc tường của Tháp có hình vũ nữ Apsara
và bò Thần Nandin Những người dân sống chung quanh đồi Tháp rất tin vào sự linh hiển của Nữ Thần Pô Inư Nagar và thường hay đến cúng bái mỗi khi họ muốn cầu xin những phước lành nào đó về việc làm ăn sinh sống kể cả bệnh tật ốm đau Ngoài quần thể Tháp Pô Inư Nagar (Tháp Bà) Nha Trang, tại một số địa phương khác cũng lập những miếu thờ Nữ Thần như các thôn Hữu Ðức ở Huyện Ninh Phước, Thôn Bình Nghĩa thuộc Huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Tại Bình Thuận có Thôn Lạc Trị thuộc Huyện Tuy Phong, thôn Quản Mía thuộc huyện Bắc Bình; ngoài ra người ta còn thấy một số chùa người Hoa Kiều tại các địa phương thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có thờ Thần Nữ Thiên Y A Na tức Pô Inư Nagar Champa Ðối với truyền thuyết về tổ tiên Champa do đâu mà ra, cũng như truyền thuyết về ai có công khai hóa dân tộc và khai sáng ra đất nước Champa tuy không phải là câu chuyện hoàn toàn có thật, không có chứng cứ khoa học làm nền tảng, nhưng nó là bóng dáng của trình tự lịch
sử dân tộc Champa, là chất xúc tác làm cho mọi người đồng chủng quây quần về nguồn cội tổ tiên, nó đem lại sự hợp nhất giữa tiền nhân và muôn ngàn thế hệ cùng màu da thớ thịt nối tiếp, nó đem lại tính tự hào dân tộc làm cho con cháu quây về một mối
Trên đất nước Champa cổ trước đây đã xẩy ra nhiều cuộc chiến khốc liệt; khi trường kỳ, lúc âm thầm, có khi chớp nhoáng với Trung Hoa, Ðại Việt, Châu Lạp, Java (Nam Dương), Mông Cổ, nhất là những cuộc chiến trường kỳ giữa Trung Quốc và Champa Năm 605 đoàn quân viễn chinh Trung Hoa, dưới sự tổng chỉ huy của Tướng Lưu Khương sang xâm chiếm Champa đánh phá Khú Túc (vùng Thừa Thiên) và Kinh Thành Trà Kiệu (Quảng Nam), tàn phá kinh thành cướp bốc tài sản và thiêu hủy tất cả những tài liệu chính sử từ ngày đầu lập quốc và những cuộc chiến kế tiếp với các quốc
Trang 20gia nêu trên đã tiến những trung tâm văn khố và sử liệu Champa thành những đóng tro tàn
Do đó muốn tìm hiểu tiến trình lập quốc Champa từ cội nguồn cho đến ngày suy vong, các nhà nghiên cứu khoa học phải bằng vào những sử liệu thành văn của một số quốc gia lân cận có liên quan với Champa trước đây như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Ðại Việt, Châu Lạp và những thành tựu khoa học về ngành ngôn ngữ học, về khảo cổ học để soi sáng
1.2.2.2 Lịch sử hình thành Champa theo ngôn ngữ học
Các nhà khoa học Phương Tây nghiên cứu về cội nguồn dân tộc Champa theo phương diện ngôn ngữ học, đã xếp loại dân tộc Champa thuộc nhóm gia đình ngữ học
Mã Lai đa đảo (Malayo Polynesian) hay một danh xưng khác gọi là nhóm gia đình ngôn ngữ Nam đảo (Austronesian) Nhóm ngữ hệ Mã Lai Ða đảo bao gồm mấy trăm ngôn ngữ tập trung trong một khoảng không gian rộng lớn bao gồm các ngôn ngữ lục địa Ðông Nam Á – Mã Lai và Champa, toàn bộ ngôn ngữ Phi Luật Tân và cả ngôn ngữ của Madagascar ngoài khơi Châu Phi
Vì cùng nhóm với ngữ hệ Nam đảo (Austronesian) nên ngôn ngữ Mã Lai và ngôn ngữ Champa có nhiều tiếng rất tương đồng với nhau và nhất là đã có một quá trình giao lưu văn hóa và bang giao lịch sử trước đây, khi Champa chưa mất tên trên địa bàn sinh hoạt chính trị Ðông Dương
Trên lãnh địa của Vương Quốc Champa cổ, tức miền Trung của Việt Nam ngày nay, tiếng Champa và các sắc tộc Hroi, Raglai, Churu, Jarai Radhé, Banar, Stieng v.v thuộc hệ ngữ Nam đảo hay là Mã Lai Ða đảo (Malayo – Polynesian) và được khoa ngôn ngữ học gọi chung là nhánh ngôn ngữ Champa (The Chamic Langreceges) Trong nhánh ngôn ngữ này lại chia thành hai nhánh:
Nhánh thứ nhất gồm ngôn ngữ Chăm, Hroi, Raglai, Churu một nhánh phía Nam Champa
Nhánh thứ hai gồm Radhé, Jarai, Banar, Koho là nhánh phía Bắc thuộc lãnh địa Champa
Sự phân chia ngữ hệ Nam đảo của các sắc tộc tại Champa thành hai dòng Nam Bắc này, cho chúng ta thấy phù hợp với truyền thuyết về nguồn gốc hình thành quốc gia Champa từ hai thị tộc khác nhau:
- Thị tộc Nam còn gọi là dòng Cau (Pinăng), người Champa gọi là “Tâu Thih”; trong bi ký Phạn ngữ ghi là Kramuka Vams’a
- Thị tộc Bắc còn gọi là dòng Dừa (Liu), người Champa gọi là “Tâu Chơk”, trong bi ký Phạn ngữ ghi: Narikela Vams’a
Hai thị tộc Bắc Nam, người Champa gọi là “Tâu Chơk” và Tâu Thih ngày nay người ta còn tìm thấy xuất hiện trong lễ hội múa lớn gọi là “Rija” Praung” của người Champa ngày nay
Qua những sự kiện nêu trên, đã gợi mở cho ta thấy cội nguồn lập quốc Champa khởi đầu, gồm hai thị tộc trấn thủ 2 vùng khác nhau, bất hòa với nhau trước khi đem đến một quốc gia Champa thống nhất và ổn định
Trang 211.2.2.3 Lịch sử hình thành Champa theo sử liệu Trung Hoa
Theo sách Thủy kinh chú, vào cuối thời Hậu Hán (190-193) , người Trung Hoa thường nói đến một dân tộc ở huyện Tượng Lâm về phía Nam của Nam Việt mà người Hán gọi là người “Man” thường nổi lên đấu tranh chống lại sự tàn bạo của chế độ phong kiến nhà Hán Sau một thế kỷ liên tục nổi dậy, cộng đồng dân cư ở huyện Tượng Lâm này tuyên bố độc lập và khai sáng ra đất nước Lâm Ấp do Khu Liên làm thủ lãnh và xưng vương Tên nước Lâm Ấp là tiền thân của Champa sau này Ðây là giai đoạn đầu lập quốc; còn sau này khi đất nước Champa được tổ chức quy củ rồi, giữa Trung Hoa và Champa cũng có giai đoạn bang giao tốt đẹp, cũng có lúc Champa phải triều cống, có lúc chiến tranh khốc liệt giữa hai quốc gia vì tham vọng thôn tính của Trung Hoa Cột đồng Mã Viện là mốc ranh giới đầu tiên giữa nhà Hán và dân cư gốc Nam Đảo Sự kiện này chứng minh các nhóm dân cư gốc người Việt theo nhà Hán sinh sống trên phần đất phía nam quận Nhật Nam rất e ngại những cuộc tấn công của người Nam Đảo từ phía nam Về địa điểm của cột đồng, sử cổ Trung Hoa như Hậu Hán thư và Thủy Kinh chú cho rằng nó nằm ở phần lãnh thổ cực nam của nhà Hán (quận Nhật Nam) ở huyện Cửu Phong (tỉnh Quảng Trị ngày nay) Những nguồn sử khác như Tấn thư, Nam thư và Lương thư cũng cho rằng cột đồng được dựng lên ở phía nam huyện Tượng Lâm (phía bắc Thừa Thiên-Huế) Tân Đường thư thì cho rằng cột đồng được dựng lên ở phía nam Quảng Châu
Sau biến cố Hai Bà Trưng, tình hình chính trị ở phía nam huyện Tượng Lâm, luôn dao động Mùa hè năm 100, hơn 2.000 dân Tượng Lâm nổi lên phá đồn, đốt thành, giết một số quan quân cai trị Chính quyền đô hộ phải huy động quân của các quận huyện khác đến dẹp, giết được chủ tướng, cuộc nổi loạn mới tạm yên Từ đó chính quyền nhà Hán không dám ức hiếp một cách thô bạo dân cư tại đây nhưng đặt vùng đất này dưới quyền cai trị trực tiếp, do một binh trưởng sứ cầm đầu, đề phòng những cuộc nổi loạn sau này Để lấy lòng dân cư địa phương, quan quân nhà Hán tổ chức phát chẩn cho dân nghèo, miễn thuế hai năm Mục đích của chính sách cai trị trực tiếp này là thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vải lụa) càng nhiều càng tốt Thuế và phẩm vật triều cống
do những lãnh chúa địa phương thay mặt nhà Hán thu của dân Như vậy, nhà Hán vừa
có thu nhập vừa không hao tốn ngân quỹ, lại duy trì được ảnh hưởng trên vùng đất đó,
bù lại lãnh chúa địa phương được sắc phong và được bảo vệ khi bị tấn công.Theo sử liệu cổ của Trung Hoa (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện) ghi lại thì người huyện Tượng Lâm luôn chống đối lại chính sách cai trị của nhà Hán và thường tranh chấp lẫn nhau về quyền cai trị tại vùng đất này Tượng Lâm ở quá xa chính quốc nên sự cai trị trực tiếp của những quan đô hộ và binh lực nhà Hán làm hao tốn công quỹ mà lợi ích chính trị và kinh tế không cao, do đó đã rất lơ là Năm 136, khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống lại sự cai trị của nhà Hán và đánh chiếm huyện Tượng Lâm, họ đốt thành và giết trưởng lại (huyện trưởng) Năm sau thứ sử Giao Chỉ
là Phàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp nhưng thất bại Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quân Tượng Lâm chống lại và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận, quan quân Đông Hán phải rút lui khỏi huyện Tượng Lâm Năm 138, Giả Xương, quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân dẹp những cuộc nổi loạn ở huyện Tượng Lâm Sau gần một năm, tất cả đều thất bại, và họ còn bị quân địa phương bao vây hơn cả năm trời Từ đó nhà Hán mất tin
Trang 22tưởng ở đám quan quân địa phương và chỉ tin dùng quan quân từ Trung Hoa đưa xuống Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, Dương, Duyên, Dự xuống đàn áp cuộc nổi dậy Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, nhà Hán sai một tướng khác là Lý Cố mang viện binh tiếp trợ nhưng Lý Cố viện các lý do để hoãn binh Cuộc tiến quân bị dừng lại Kế sách của Lý Cố là: (1) Ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm; (2)Tránh can thiệp bằng quân sự vào tranh chấp cục bộ của người địa phương;(3) Chỉ để lại một quan lại người địa phương thay mặt thiên triều cai trị; (4) Vấn đề lãnh đạo địa phương để cho người địa phương chọn lấy, người thắng cuộc được thiên triều tấn phong; (5) Quan cai trị địa phương phải là một lãnh chúa thần phục thiên triều; (6)Tước Vương Hầu (dành cho người nhà Hán) và Liệt Thổ (người địa phương) Để thực hiện mưu kế này, nhà Hán phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân; cả hai có nhiệm vụ thu thuế và nhận phẩm vật từ những quan lại được nhà Hán tấn phong Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn dân thường của Nhật Nam và Tượng Lâm qui thuận Hán triều Năm 144, dân quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại nổi lên chống lại ách cai trị của nhà Hán, nhưng bị thứ sử Hạ Phương đánh bại Năm 157, Chu Đạt cùng với dân chúng Cửu Chân nổi lên giết huyện lệnh Cự Phong và thái thú Nghê Thức chiếm quyền lãnh đạo Sự kết hợp tự nhiên giữa dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây nhiều bối rối cho các quan quân cai trị Dưới sự chỉ huy của đô
úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng, quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân, phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả lại Trong ba năm, từ 157 đến 160, quân Tượng Lâm (khoảng 20.000 người) tiến lên đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam Vài năm sau, năm 178, Lương Long cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất
từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam; năm 181 Hán vương cử Lã Đại mang quân sang đánh dẹp.Đến đời Hán Sơ Bình (190-193), nhân nội tình Trung Hoa rối loạn, dân Tượng Lâm, phối hợp với dân 2 quận Cửu Chân và Nhật Nam, nổi lên đánh đuổi quân Hán và giành thắng lợi
Năm 192, tiểu vương quốc Champa đầu tiên phía bắc ra đời, dưới tên gọi Lâm
Ấp dưới sự lãnh đạo của Khu Liên Tiểu vương quốc này mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía bắc và phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành
ở phía nam Năm 190, người Tượng Lâm nổi lên giết thứ sử Chu Phù và chiếm huyện thành Vài năm sau, năm 192, dân cư Tượng Lâm lại nổi lên giết huyện lệnh (huyện trưởng) và tôn Khu Liên, con một quan công tào (xã trưởng) địa phương, lên làm vua Khu Liên lấy một phần lãnh thổ cực nam của quận Nhật Nam - huyện Tượng Lâm – thành lập một vương quốc riêng: Lâm Ấp
Cho đến nay gần như không một sử gia Việt Nam nào quan tâm đến biến cố Lâm Ấp Có lẽ nhiều người cho rằng Lâm Ấp không quan trọng vì không dính líu gì, nếu không muốn nói là thù địch, với người Việt Nam Tuy nhiên, cuộc nổi dậy của người Lâm Ấp là của chính dân tộc Việt Nam, người Việt cổ, vào thời đó Lâm Ấp là một biến cố lịch sử trọng đại, mở đầu giai đoạn đấu tranh giành độc lập của những dân tộc bị đặt dưới ách đô hộ của người Hán Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, một lãnh thổ đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của thiên triều đã tự tách ra và tuyên
bố độc lập Sự kiện này trái với nguyên tắc tổ chức chính quyền của người Hoa, vì từ thế kỷ thứ 2 TCN trở đi, dưới thời nhà Hán, nguyên tắc trung ương tập quyền đã là nền
Trang 23tảng của các chính sách cai trị của người Trung Hoa, không có ngoại lệ Giao Chỉ thời
đó là một phần lãnh thổ Trung Hoa, các quan cai trị đều do thiên triều trực tiếp chỉ định, mọi ý đồ ly khai hay tự trị đều bị trừng trị Mục đích của chính sách trung ương tập quyền này là giữ gìn và bảo vệ sự toàn vẹn giống nòi, người Hán không chấp nhận bất cứ một pha trộn tạp chủng ngoài chủng tộc Hán với nhau
Khi thành lập vương quốc riêng, có lẽ Khu Liên không có ý định tách rời ảnh hưởng văn minh và văn hóa Trung Hoa, nhưng với thời gian quyết tâm tách khỏi quỹ đạo Trung Hoa ngày càng rõ nét Sở dĩ có sự đoạn tuyệt này là vì tổ chức chính trị xã hội của người Hoa không còn phù hợp với nền tảng chính trị xã hội Champa nữa
Vào thời kỳ này, thương nhân và tu sĩ Ấn Độ đã giao tiếp mật thiết với người Champa sinh sống ven biển miền Trung Khi ở lại chờ thuận buồm xuôi gió trở về quê
cũ, những người Ấn này đã truyền cho giới quí tộc địa phương văn minh và văn hóa của họ, và đương nhiên truyền luôn cả cách thức tổ chức xã hội Khác với người Hoa,
tổ chức xã hội của người Ấn dựa trên nguyên tắc tản quyền và phân quyền, phù hợp với nếp sống và ước nguyện tự trị của người địa phương nên rất được ưa chuộng Đặc điểm của người Ấn là không dùng bạo lực để áp đặt văn hóa hay uy quyền chính trị của mình trên những xã hội khác, kém hơn, mà để các thân hào địa phương tự nguyện làm thay, sau khi hấp thụ văn minh và văn hóa của họ Tranh chấp văn hóa Trung Hoa
và Ấn Độ trong nội bộ Champa ngã ngũ sau khi Khu Liên qua đời, chữ Phạn cổ (sanscrit, một loại chữ viết xuất phát từ miền nam Ấn Độ cách đây hơn 2.000 năm) trở thành chữ viết chính thức của các triều vương Các bi ký tìm được trong giai đoạn này đều khắc bằng chữ Phạn Quốc thư trao đổi của Champa với Trung Hoa thời đó được viết bằng chữ “Hồ” (chữ của nước Hồ Tôn Tinh, tức chữ Phạn) thay vì chữ Hán Văn hóa Ấn Độ, từ phía Nam đưa lên, trở thành văn hóa của toàn vương quốc Champa Đạo Bà La Môn và đạo Phật được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, lấn át ảnh hưởng đạo Khổng và đạo Lão của văn hóa Trung Hoa để lại trong vương quốc Cũng nên biết thờ cúng ông bà là tín ngưỡng dân gian của người bản địa, Kinh hay Chăm, do
đó rất được kính trọng, giáo lý và nghi lễ các tôn giáo khác phải thích hợp nếu muốn được ủng hộ
Về chính trị, các vị vua Champa đều gán ghép tên mình với một thần linh, thường là với Siva (còn gọi là Isvara) để có độc quyền cai trị Uy quyền vua thể hiện qua cái lọng màu trắng mà dân gian không được dùng Phụ tá nhà vua là các quan lại trung ương và địa phương, được phân chia thành ba hạng: đứng đầu là hai vị tôn quan (senapati và tapatica-hai tể tướng võ và văn), kế là thuộc quan gồm ba hạng: luân đa đinh (dandavaso bhatah-tướng chỉ huy cấm vệ), ca luân trí đế (danay pinang, quan hầu trầu) và ất tha già lan (yuvaraja-kế vương), sau cùng là ngoại quan (quan lại địa phương) Quân lực Lâm Ấp khoảng từ 40 đến 50.000 người, gồm kỵ binh, tượng binh
và thủy binh, Triều đình Trung Hoa có lẽ cũng muốn chấm dứt tình trạng tranh chấp văn hóa và chính trị kéo dài quá lâu này nên đã chấp nhận sự ly khai một cách miễn cưỡng, họ đặt tên quốc gia mới này là Lâm Ấp, thay vì Hồ Tôn Tinh hay Tượng Lâm như trước kia, và duy trì mối quan hệ tốt để nhận càng nhiều phẩm vật triều cống càng tốt
Về danh xưng, Lâm Ấp chỉ là sự biến nghĩa cua chữ Tượng Lâm Đối với nhà Đông Hán, danh xưng Lâm Ấp là một khinh miệt của nhà Hán, vì đó chỉ là một phần đất nhỏ không quan trọng ở vùng cực nam để thiên triều phải quan tâm trực tiếp Sách
Trang 24Thuy Kinh Chú giải thích: “Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm, sau bỏ chữ Tượng để chỉ còn chữ Lâm” Ngôn ngữ Trung Hoa trong thời kỳ này có nhiều hạn chế trong việc phiên âm các tên ngoại quốc: Lâm Ấp là cách phát âm Việt hóa từ chữ Lin-yi, phiên
âm từ chữ “Hindi” hay “Indi”, tức người Ấn Có người nói đó là cách phiên âm từ chữ Phạn “Indirapura” (đất của người Ấn Độ) Về sau người Champa đặt tên phần đất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên là Inđrapura (đất của Inđra, thần sấm sét) Lâm Ấp cũng
có thể do sự phát âm Việt hóa từ chữ “Krom” hay “Prum” (hai tộc của người Việt cổ)
mà ra Bình dân hơn người ta giải thích: Lâm là rừng, Ấp là thôn nho v.v Nói chung, cho dù diễn giải thế nào Champa là một định chế độc lập với vương triều Trung Hoa tại Giao Chỉ
Về tên gọi Khu Liên cũng thế, có rất nhiều tranh cãi Sử sách Trung Hoa viết tên vị vua đầu tiên của Lâm Ấp là Khu Liên, có sách viết là Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương Nhiều sư gia cho rằng Khu Liên thuộc dòng dõi cua bộ tộc Dừa ơ phía Bắc… Thật ra Khu Liên không là tên của người nào cả, đó chỉ là cách gọi một cách kính trọng một người có ngôi vị cao trong một định chế tập thể (làng, xã, huyện…) Đối với dân chúng địa phương, “Khu” không phải là tên riêng mà là tước vị của một tộc trưởng (lãnh chúa), phiên âm từ chữ “Kurung” (như các vua Hùng) của người Việt
cổ – hay chữ “Varman” của người Champa từ tiếng Phạn, có nghĩa là tước tộc trưởng, lãnh chúa hay vua
Trước đó, năm 137, các quan đô hộ nhà Hán gọi quân phản loạn ở Tây Quyển (Quảng Bình) là “rợ Khu Liên” Như vậy, Khu Liên chỉ là tên gọi chung những người không cùng văn hóa với người Hán ở phía nam Giao Chỉ Tên gọi này không liên quan
gì đến danh xưng Sri Mara (tên một vị vương tôn người Chăm khác cùng thời kỳ, con
bà Lona Lavana ở Panduranga) tìm thấy trên một bi ký bằng đá granít (ngang 1 mét, dày 1 mét, cao 2,5 mét) ở làng Võ Cạnh (nay thuộc xã Vĩnh Trung), Nha Trang
Về địa lý, vương quốc Lâm Ấp ở đâu, rộng hẹp như thế nào? Còn rất nhiều điểm tối, không ai rõ Theo sử cổ Trung Hoa thì lãnh thổ vương quốc này là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, phía nam huyện Lô Dung (Thừa Thiên ngày nay) Đường Thư nói Lâm Ấp từ huyện Tây Quyển (Quảng Bình) trở xuống Đại Nam Nhất Thống Chí nói Tượng Lâm là Bình Định và Phú Yên Thủy Kinh Chú cho biết thủ phủ Lâm Ấp lúc đầu không biết ở đâu, sau được biết đặt tại Khu Lật (Huế, Thừa Thiên), phía Nam có sông Lô Dung (sông Hương) chay qua Một cách tóm lược, dựa vào sử sách xưa, lãnh thổ Lâm Ấp có thể đã trải dài từ Quảng Bình đến Quảng Nam Một số chuyên gia Champa cho rằng Lâm Ấp là lãnh thổ Inđrapura (đất của thần Inđra), từ mũi Hoành Sơn đến đèo Hải Vân, do vương triều Gangaraja, tức những người Ấn Độ đến từ sông Gange, khai sinh ra Sự kiện này cần được ghi nhận với tất cả dè dặt vì cho đến nay chưa một dấu tích bi ký nào giải thích sự kiện này
1.3 Sự phát triển và suy vong của vương quốc Champa thống nhất
1.3.1 Những vương triều tiêu biểu (Gangaragia, Panđuranga, Inđrapura, Vijaya)
Về lịch sử của vương quốc Champa giai đoạn từ khi mới thành lập đến thế kỷ
XV, trên đại thể, có 4 vương triều kế tiếp nhau:
Trang 25- Vương triều Gangaragia (cuối thế kỷ II- đầu thế kỷ VIII) đặt kinh đô ở Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam)
- Vương triều Panđuranga (giữa thế kỷ VIII- giữa thế kỷ IX), kinh đô thường đặt chủ yếu tại Phan Rang (Ninh Thuận), nhưng Nha Trang (Khánh Hoà) là nơi thờ cúng chính
- Vương triều Đồng Dương (Inđrapura ), giữa thế kỷ IX- cuối thế kỷ X, đặt kinh
đô ở làng Đồng Dương (huyện Thăng Bình, Quảng Nam)
- Vương triều Vijaya: từ thế kỷ X đến thế kỷ XV
1.3.1.1 Vương triều Gangaragia (192-750)
Phổ hệ vương triều Sinhapura hay (Gangaragia được biết chủ yếu qua 2 bia: Mỹ Sơn III và Mỹ Sơn IV, có thể là khá đầy đủ nhưng cũng không ít rắc rối
Đầu tiên là ông vua mà người ta không biết gì về ông:
1 Monarathavarman, nhưng cũng được biết ông có một người chắt
2 X, là con?
3 Có lẽ là cháu, Bhadravarman, tác giả bia Mỹ Sơn I, thế kỷ IV(?);
4 Rudravarman, có lẽ chính là chắt của vua I, người “rực rỡ như Mặt trời;
5 Sambhuvarman “người con trai” của vua 4, có “ánh sáng rực rỡ”, người có
dựng bia, lập đền thực tế (khoảng 630 - 640)(?)
6 Kandarpadharma, con vua thứ 5, “người như một dharma thứ hai tái sinh”
mà tên gọi đã cho thấy như thế (khoảng 630 - 640);
7 Prabhasadharma là “con trai của người (vua 6) mà “tình yêu quý của mọi thần dân đều hướng về” (khoảng 640 - 650) Nhưng đến ông này thì bắt đầu có sự rắc rối Ông có người em gái út lấy chồng là một giáo sĩ (có lẽ là người Bàlamôn) tên là Chandasya Satya Kausika Svamin, sinh hạ được 3 người con trai; văn bia kể tên của cả
3 người là Bhadresvaravarman, Anangarupa và Visvarupa Theo tên gọi có tác giả tưởng người anh cả Bhadresvaravarman đã làm vua kê ngôi, tuy nhiên không thể xếp ông này vào chỗ nào cho hợp với thứ tự vương triều Ông vua thứ 7 này, ngoài người
em gái út có 3 cháu trai, thì còn một người nữa, không rõ là con hay cháu, tên là Jagadharma “nổi tiếng vì sự quả cảm lớn lao”, chẳng hiểu vì lý do gì mà lại phải đi đến Bhavapura (nước Chân Lạp), rồi kết hôn với công chúa nước này tên là Sarvani, con gái của vua Isanavarman (khoảng 615 - 655) sinh được người con trai tên là Prakasadharma, đoán là vào năm 630, đến khoảng 650 thì trở về làm vua Champa
8 Prakasadharma (650 - 687) có “phẩm chất vương giả và khí phách anh hùng”, rồi cũng không hiểu sự tình như thê nào mà do “những chiến thắng mà người giành được” (hiểu là không phải do truyền ngôi bình thường) để lên làm đại vương toàn Champa (Maharaja Campapura - Paramesvara), mang tôn hiệu Vikrantavarman,
kể lại lai lịch và tôn sùng vua 7 (ông của mình) là vị “tôn sư của mọi thế giới (bia Mỹ Sơn III, niên điểm 657), sau đó làm lễ tế thần, cúng một kosa và cả mukuta như “Mặt trời mọc không tì vết bởi đức vua Vikrantavarman năm 687 (bia Mỹ Sơn IV)…Có tác giả tưởng nhầm có 2 ông Vikrantavarman và kéo dài niên đại của ông này ra để lấp chỗ trông Thực sự từ khoảng năm 650 đến 687, gần 40 năm chỉ có 1 ông này, tác giả
Trang 26của ít nhất 7 minh văn từ Quảng Nam tới Khánh Hòa3
Sự cống hiến của vương triều này với vương quốc Champa trong một thời gian chừng 5 thế kỷ có vẻ là không nhiều, nhưng rất căn bản: với sự thống nhất bước đầu, gồm miền Bắc, miền Trung và một phần Nam Chăm, Nam đèo cả, tức là đất Khánh Hòa; sự sáng tạo chữ Chăm cổ, sự sáng tạo một kiểu kiến trúc, một nền nghệ thuật, tiêu biểu là nghệ thuật El, còn để dấu ấn ảnh hưởng về sau đến Nam Chăm và đến cả Chân Lạp - Campuchia Đó là sự mở đầu và sự đặt nền móng cho cả Champa Vương triều này, có tác giả gọi theo tên ông vua huyền thoại, mở đầu là vua Hằng Hà (Gangaraja), ở đây, để thống nhất với các giai đoạn sau, được gọi theo tên kinh đô -
Có lẽ kinh đô đã phải được xây dựng từ thời này, nhưng tên gọi thì người ta lại biết khá muộn Có lẽ lần đầu tiên được nhắc tới là ở bia Mỹ Sơn XII, ký hiệu Bảo tàng
là B.2-5, dựng trước đền G1 Từ trước, kinh đô và đền thờ bị phá Đến năm 1080, vua Harivarman (vương triều trung ương - Vijaya) mới sai phó vương (Yuvaraja) ra lệnh
“cho dân chúng Sinhapura dựng lại nơi cúng lễ, từ đó đường sá, tất cả như trước” Đồng thời, nhấn mạnh tôn thờ thần chủ của cả nước, là thần Srisana Bhadresvara Đến bia Mỹ Sơn XX của vua Jaya Harivarman, niên điểm 1157, lại nói về việc cúng thần chủ Srisana Bhadresvara và hiến cho đền nhiều ruộng, trong đó có ruộng Salamvan, từ sông Sinhapura đến rừng Lak Bia Mỹ Sơn XXIV, niên điểm 1114, lại cho biết cúng một số “vật quý, như sadmukha, kanap ỏ Sinhapura cho Srisana Bhadresvara” Việc tìm tòi, phát hiện dấu tích thành đất, phế tích đền tháp, đài thờ ở Trà Kiệu (làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), nằm trên bờ nam sông Thu Bồn (sông Sinhapura), khiến nhiều tác giả đoán định Sinhapura (thành phố Sư Tử) chính là Trà Kiệu; lại thấy bi ký nói đến việc xây nhà lập đền, sửa đường, trong khi vua vẫn ở Vijaya (gần Quy Nhơn) dựng bia ở Mỹ Sơn, lại đến khi năm 1927, J.Y.Claeys khai quật di tích Trà Kiệu, thì có nhiều căn cứ để tin rằng kinh đô thời sơ
kỳ chính là ở Trà Kiệu Như thế, có thể ở giai đoạn đầu của thời sơ kỳ, kinh đô có tên gọi là Sinhapura và cũng có thể là nằm trên địa điểm Trà Kiệu ngày nay Khảo cổ học trong gần một thế kỷ qua đã phát hiện ra nhiều dấu vết của một kinh thành cổ dọc theo
bờ phía Nam của dòng Ba Rền và xung quanh đồi Bửu Châu (nằm chắn giữa nhánh Ba Rền và dòng Thu Bồn) Vào những năm 1918 - 1930, H.Parmentier, G.Coedes và Claeys J.Y đã giám định và khai quật một số di tích ở chân đồi phía Đông và đã phát hiện ra nhiều tượng đá, chân bệ thờ, Linga và Yoni bằng đá, các trang trí kiến trúc đả, gồm và một số di vật nhỏ khác Trong bộ sưu tập gốm của Cha sứ Antôn ở Trà Kiệu
có tới 70 hiện vật là vật liệu kiến trúc, chủ yếu là ngói đủ loại rất phong phú - dấu vết của mái nhà, cung điện đã suy đô của một kinh đô cũ Gần đây, năm 1993 khảo cổ học còn tìm thấy một số lượng lớn đồ gốm, gạch ngói, đá trang trí kiến trúc và những tảng
đá cuội lớn được sắp xếp một hàng dài từ Tây sang Đông năm ở độ sâu 2,5 m so với lớp măt I.Glover và Mariko Yamagata dè dặt đưa ra phỏng đoán, có khả năng đó là dấu vết di chỉ cư trú của dân cư, họ sử dụng làm bậc ngăn độ dốc để trồng trọt hay xây dựng
Nhưng điều được chú ý nhắc tới ở đây không phải chủ yếu là vấn đề kinh đô, cũng không phải là vấn đề Sinhapura, Trà Kiệu Vì Sinhapura bị phá 2 lần bởi các
3 Lương Ninh (2004), Lịch sử vương quốc Champa, NXBĐHQG HN, Tr.21-22
Trang 27tướng Trung Hoa là Đàn Hòa Chi (năm 446) và Lưu Phương (năm 605), tức là đã lâu
và chính Sinhapura mất vai trò cũng đã lâu Trừ phế tích El đã nói trên, những di tích
và di vật nghệ thuật rất đặc sắc, gắn với địa danh Trà Kiệu lại xuất hiện sau thời Sinhapura hơn 2 thế kỷ và kinh đô đã chuyển đi nơi khác rồi Cho nên vấn đề ở đây là vùng dân cư, một vùng dân cư phía bắc có trình độ kinh tế và văn hóa phát triển từ lâu đời
Giai đoạn Sinhapura - giai đoạn đầu tiên của Lâm Ấp - Champa cùng chứa đựng khá nhiều vấn đề khúc mắc Bên trên khi trình bày về sự chuyển từ Tiền sử, từ thời kỳ bộ lạc (còn bị nhà Hán đô hộ) sang thời kỳ lập nước, chúng tôi đã nói một cách thuận chiều, nêu xu hướng chuyển từ văn hóa Sa Huỳnh đến việc lập nước, đến Lâm
Ấp và vương quốc Champa, theo cách nghĩ thông thường hiện nay Tuy nhiên, thực tế phức tạp hơn Sau vài lần khai quật ở Trà Kiệu và vùng Quảng Nam, một số tác giả vẫn cho là chưa thể chứng minh sự nối tiếp trên địa tầng văn hóa khảo cổ Yamagata Mariko, giảng viên của Đại học Rikkyo (Tokyo - Nhật Bản, 2001), có lần khai quật với giáo sư Ian Glover, có lần khai quật với Nguyễn Kim Dung, vẫn cho rằng trên một
di chỉ, có dấu vết bên dưới là văn hóa Sa Huỳnh muộn khoảng nửa sau thế kỷ I TCN, rồi đến lớp trên là mảnh gốm có văn in ca rô của văn hóa Hán có niên đại cuối thế kỷ I
- giữa thế kỷ II Có một khoảng đứt đoạn, hoặc một khoảng cách, nên không thể mặc nhiên nói có sự phát triển tiếp nốỉ, liên tục từ Sa Huỳnh đến Champa, vì thế mà “thích gọi là Lâm Ấp hơn là Champa” Nói một cách khác, các nhà khảo cổ học vẫn tỏ ra thận trọng khi chưa thấy trong cùng một tầng văn hóa dấu vết của sự kết thúc Sa Huỳnh và của sự bắt đầu của văn hóa Champa Từ năm 2000 đến 2002, Nguyễn Mạnh Cường và cộng sự, rồi đến Bùi Văn Liêm và cộng sự đào khảo cổ Hòa Diêm (Khánh Hòa), sau cuộc khai quật xóm cồn của Vũ Quốc Hiền, các nhà khảo cổ học cho rằng thậm chí tìm thấy bằng chứng của một sự phát triển liên tục từ văn hóa Sa Huỳnh đến Champa Song lại có những tác giả vẫn hoài nghi sự đánh giá đặc điểm và tính chất của các dấu tích văn hóa đó Tuy nhiên, tất cả các nhà nghiên cứu đều tin chắc rằng không có con đường nào khác ngoài đường chuyển từ văn hóa Sa Huỳnh đến Lâm Ấp rồi Champa Một số tác giả chưa tin vì chưa thấy bằng cứ trực tiếp của khảo cổ học, của sự diễn tiến từ Sa Huỳnh từ sớm đến muộn, chưa thấy sự nối liền của Chăm - Champa Từ đó, một vấn đề đặt ra là yếu tố văn hóa Champa sớm là gì? Nếu đòi hỏi phải có một móng gạch của kiến trúc, một mảnh phù điêu đá là một điều không tưởng Dường như gốm Chăm lúc đầu và cả gốm cao nguyên hiện nay vẫn được chế tác bằng tay (không dùng bàn xoay), để mộc (không có áo gốm, men) trong một thời gian dài, trông khá thô và khó phân biệt Một yếu tố văn hóa nào đó trước Hán hoặc rất
ít ảnh hưởng của văn hóa Hán trong vài thế kỷ đầu Công nguyên cũng khó tìm không kém gì Tuy vẫn có thể hỏi, thế thì những cư dân nặn gốm Sa Huỳnh đẹp đến như thế
đã đi đâu mà không làm tiếp, hay có những cư dân khác đến thế chỗ Đây là một vấn
đề khá phức tạp
Một vấn đề đáng lưu ý trong giai đoạn của vương triều Shinhapura là mối quan
hệ với bên ngoài như: Trung Hoa, Ấn Độ…
Quan hệ Champa - Trung Hoa:
Trung Hoa là một nước có quan hệ với Champa ngay trong thời kỳ đầu của vương triều Sinhapura Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì ngoài việc người Chăm giành được độc lập từ trong tay người Hán, Trung Hoa còn rất gần với Champa về mặt
Trang 28đường biển, chỉ cách vịnh Bắc bộ của Việt Nam ngày nay, nhưng trước thế kỷ X, vùng bờ biển này cũng bị Trung Hoa chiếm đóng Mối quan hệ giữa Champa và Trung Hoa trong giai đoạn này khá đa dạng, cả về kinh tế, ngoại giao và chiến tranh
Kinh đô Sinhapura ít nhất có hai lần bị tàn phá nặng nề vào các năm 446 và
605 Nhưng mặc dù vậy vẫn có những sứ bộ Champa được cử sang Trung Hoa “triều cống” Tất cả những sự kiện đều được thư tịch cổ Trung Hoa ghi chép lại Đặc biệt, Trung Quốc là một nước có mối quan hệ trao đổi hàng hóa thông qua biển với Champa ngay từ khi người Chăm bắt đầu lịch sử của họ
Tuy nhiên có lẽ sự trao đổi này còn rất thưa thớt và không mang tính thương mại Những thuyền buôn của Trung Hoa rẽ qua bờ biển Champa để tiếp thêm lương thực, nước ngọt cho những chuyến đi dài ngày, hoặc cao hơn là đổi lấy trầm hương
mà thôi Dấu vết của mối quan hệ giữa Champa và Trung Hoa hết sức mờ nhạt và chỉ còn có thể tìm thấy trong gốm Gốm Hán với đặc trưng văn in ô vuông, thường có màu đỏ gạch non và màu xám trắng, xương gốm khá mịn đã được tìm thấy ở một số nơi như đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Trà Kiệu với một vài mảnh gốm văn in có độ nung cao và một loại ngói có một đầu được tạo hình bằng khuôn trang trí kiểu mặt người Ian Glover (1995) nhận thấy những hiện vật này “tương tự như ngói tìm thấy ở lò gốm Tam Thọ gần thị xã Thanh Hóa và đều thuộc vào loại hình ngói Hán (Trung Quốc)”
Có lẽ việc trao đổi sản phẩm qua lại vẫn được tiếp tục trong giai đoạn vương triều Sinhapura Tài liệu vẫn chưa đủ để chứng minh nhưng sự hiện diện của gốm Trung Quốc thế kỷ VII- VIII ở Đồng Dương, một khu vực cư trú của dân cư cách kinh
đô Trà Kiệu 40 km, lại là một bằng chứng cho thấy sự tiếp nối này Dù sao sự trao đổi kinh tế cũng như văn hóa giữa Champa và Trung Hoa vào giai đoạn vương triều Sinhapura chính thống cũng rất mờ nhạt Đáng kể là những xung đột về chính trị lãnh thổ Trung Hoa muốn thiết lập ảnh hưởng của mình ở Champa theo kiểu đô hộ trực tiếp nhưng đã không thành Và ở nơi nào trong khu vực Đông Nam Á mà người Hán không xâm chiếm và đặt ách đô hộ được thì ở nơi đó văn hóa Trung Hoa khó được chấp nhận và lựa chọn Champa là một trường hợp Họ đã tiếp nhận văn hóa Ấn trên
cơ sở hội nhập với văn hóa Nam Chăm Và ngay trong giai đoạn đầu lập quốc, văn hóa
Ấn Độ đã lan tỏa và ảnh hưởng một cách sâu sắc
Quan hệ Champa - Ấn Độ: G Coedes (1944) cho rằng những thuyền buôn của
Ấn Độ xuất phát từ bờ biển Coromandel Nếu vậy, muốn vào được vùng vịnh Thái Lan và bờ biển Nam Việt Nam, những con thuyền đó phải đi qua hai tuyến đường chính: hoặc đi qua eo biển Malacca hay Sunda, Lombok; hoặc băng qua bán đảo Malaya từ Melaka, Kedah hay từ Tennasserim Và như vậy hẳn rằng vùng bán đảo Malaya và các đảo Indonesia là những nơi có sự hiện diện sớm nhất của văn hóa Ấn
Độ, nhưng ở đây trước thế kỷ IV lại thấy rất mờ nhạt Trong khi đó lại thấy rất sớm và rất phổ biến ở Phù Nam, Champa, những quốc gia cỗ đại đầu tiên ở phía Nam Việt Nam, và cũng là những quốc gia cổ đại sớm nhất ở Đông Nam Á Vương triều Sinhapura mang nhiều yếu tố Hindu trong quá trình phát triển của mình
Ngay tên nước - Champa và tên những miền, vùng, thành phố của Champa đều phóng theo tên địa danh Ấn Chữ Phạn vẫn là ngôn ngữ chính của triều đình Sinhapura, rồi trên cơ sở chữ Phạn mà chữ Chàm cổ ra đời và được sử dụng song song với chữ Phạn Văn bia cũng đồng thời ghi nhận sự ảnh hưởng của văn chương Phạn Bia Trà
Trang 29Kiệu của Prakasahharma (Vikrantavarman I trị vì từ 653 đến 679), vị vua thứ 8 của vương triêu Sinhapura cho biết về việc dựng đền thờ nhà thơ Ấn Độ Valmiki, tác giả bộ
sử thi nổi tiếng Ramayana Có lẽ từ đó mà Lương Ninh (1991) giải thích về nguồn gốc tên nước “Hồ Tôn Tinh” để chỉ Champa trong sử sách Đại Việt Những khái niệm về vương quyền, hệ thống vũ trụ mà người Chăm sử dụng, Lafont (1987) đặt trong dòng ảnh hưởng của Phù Nam, thì bản thân nó đã mang sẵn tinh thần Hindu Theo bi kí thánh địa Hindu giáo Mĩ Sơn có từ thế kỷ IV Có thể bắt đầu từ Bhadravarman I với bia Mĩ Sơn I Bia Sambhuvarman (Mĩ Sơn III) là vào đầu thế kỷ VII
Nhưng có lẽ, thời kỳ này, đền xây bằng vật liệu nhẹ, F Stem nêu nhận xét “thời
kỳ nảy sinh nghệ thuật Ấn Độ hóa ở Đông Dương diễn ra hơi muộn: thế kỷ VII- VIII Trước thời kỳ này, kiến trúc bằng gỗ mà nay không còn dấu tích gì, chỉ còn mấy pho tượng đồng thuộc phong cách Amaravati và Srilanca; nếu loại bỏ một vài mảnh kiến trúc bị hư hại nặng thì nghệ thuật Champa còn lại không thể lùi xa hơn Mĩ Sơn E1, tức theo chúng tôi là thế kỷ VIII”4 Cùng với “mấy pho tượng đồng” đó, J Bosselier (1963) thống kê thêm một số pho tượng bằng đá rải rác từ Nam đến Bắc Chăm và xếp vào hai nhóm tượng có trước Mĩ Sơn E1 là “nhóm tượng Ấn Độ giáo” và “nhóm tượng Phật Giáo”5
Nhóm “tượng Phật giáo” gợi ra nhiều vấn đề khá thú vị Trước hết phải kể đến pho tượng Phật đứng (Buddhapad) tìm thấy ở Đồng Dương, cao 1,08 m, áo cà sa hở vai phải, xếp nếp “nếu không phải là tác phẩm nhập khẩu thì ít nhất cũng là những tác phẩm quan hệ sâu sắc biết bao với truyền thống Ấn Độ, đến nỗi không thể nào phát hiện được vết tích của một truyền thống bản địa”6 Nhóm tượng Phật ở Quảng Khê có
cả Buddhapad trong trang phục xếp nếp, Pierre Dupont nhận xét “đặc biệt giống một pho tượng đồng thau nhỏ ở Pong Tuk” Sau đó J Boisselier quan sát và rút ra kết luận
về quan hệ mật thiết giữa những pho tượng Phật sớm ở Champa với nghệ thuật Môn - Dvaravati, đặc biệt là về kiểu y phục xếp nếp Dựa trên kết quả cuộc khai quật ở Chaya (cực Nam Thái Lan), Laibnt (1987) còn nêu ý kiến “Mối quan hệ giữa Champa và bán đảo Malay được xác nhận từ đầu thế kỷ VII, và nó được biết đến ở hoạt động thương mại biển quan trọng giữa hai bờ biển: những quan hệ không chỉ là thương mại mà còn
là văn hóa nghệ thuật”7
Quan hệ Champa – Phù Nam: Kết quả khảo cổ học 10 năm trở lại đây ở Đồng
bằng sông Cửu Long lại cho ta những kết luận thú vị hơn Cùng một kiểu tượng Phật đứng chỉ riêng ở Đồng bằng sông cửu Long và vùng biên giới Việt Nam- Campuchia,
số lượng tìm thấy ít nhất là hơn 20 pho và hơn thế nữa, bằng các chất liệu khác nhau, thể hiện rõ những đặc điểm tiếu tượng học của tượng Phật đứng trong phong cách Hậu Gupta (Post Gupta), nhưng đồng thời cũng thể hiện rõ tính bản địa từ chất liệu cho đến
4 Ph Stern, Nghệ thuật Champa (xứ An Nam cũ ) và tiến trình của nó, Toulouse 1942 Bản dịch của
Viện Khảo cổ học, tr.7-8
5 Jean Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng
học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà Nội, tr.47-58
6 Jean Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng
học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà Nội, tr.24
7 B Lafont, On the relation between Champa and Southeast Asia, in Proceeding of the Seminar on
Champa, University of Copenhagen South -east Asia Community Resourse Center, 1994, 65 - 76
Trang 30cách thể hiện Sự có mặt phổ biến của tượng Phật đứng ở Phù Nam cho thấy Phù Nam
là một trung tâm Phật giáo quan trọng ở Đông Nam Á vào những thế kỷ đầu công nguyên Champa là quốc gia láng giềng lại có quan hệ gân gũi về mặt đường biển với Phù Nam Sự có mặt của văn hóa Ấn Độ ở Champa không chỉ trực tiếp qua những nhà buôn, nhà truyền giáo Ấn Đáng kể thêm có lẽ là con đường từ Phù Nam qua Nam
Chăm rồi vào Bắc Chăm Những tượng Phật sớm tìm thấy ở Champa hẳn ít nhiều chịu
sự ảnh hưởng của Phù Nam bên cạnh dòng ảnh hưởng của Ấn Độ - như là kết quả của
một quá trình tiếp xúc, tương tác văn hóa trong khu vực
Sự có mặt của tượng Phật ở Champa trong giai đoạn Sinhapura còn gợi mở thêm mối quan tâm ngoài ý nghĩa giao lưu văn hóa Khu vực Trong nhóm “tượng Phật giáo”, J Bosselier (1963) còn kể đến những phù điêu Phật ngồi trên rắn Nagar giữa hai Stupa ở Phước Tịnh - Phú Yên mà Pierre Dupont (1959) cho là có liên quan đến nghệ thuật Dvaravati Cũng trên địa bàn Phú Yên, gần đây lại mới phát hiện thêm một số pho tượng Phật bằng đất rất khó xếp vào giai đoạn muộn Phát hiện này làm ta liên tưởng tới di tích Phật giáo gồm các tượng Phật và dấu vết một đài thờ được các nhà khoa học Pháp phát hiện ở động Phong Nha, Quảng Bình vào đầu thế kỷ XX Do đó, rất có thể có một giai đoạn nghệ thuật trước Mĩ Sơn E1 (trước nửa sau thế kỷ VIII) nhưng khá tản mạn để định phong cách Có thể nghĩ tới một giai đoạn mà Phật giáo chiếm ưu thế vào đầu vương triều Sinhapura mặc dù vẫn có tín ngưỡng Hindu Giai đoạn “Phật sớm” này, con đường ảnh hưởng có lẽ chủ yếu từ Ấn Độ thông qua Phù Nam Kết luận này phù hợp với một điểm chỉ dẫn hết sức quan trọng trong thư tịch cổ Trung Hoa tường thuật cuộc viễn chinh của Lưu Phương (nhà Tùy) năm 605 vào Champa, Trong chiến lợi phẩm mà cuộc viễn chinh này đem về Trung Hoa bao gồm 1.350 tác phẩm Phật Giáo, tập hợp thành 564 bó viết bằng chữ Côn Lôn (Kun Lun)
Như vậy trong bối cảnh giao lưu khu vực những thế kỷ đầu công nguyên, Champa có những mối quan hệ đến từ biên với nhiều nơi trong và ngoài khu vực, đặc biệt với Phù Nam và vùng cực Nam của bán đảo Malaya, đó cũng là những vùng quần
cư có trình độ văn minh cao trong khu vực lúc bây giờ Dĩ nhiên những mối giao lưu này năm trong cùng một không gian và thời gian văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng xuống toàn khu vực
Mối quan hệ giữa Champa với Phù Nam biến mất cùng với sự diệt vong của vương quốc cổ Phù Nam Trong vòng nửa đầu thế kỷ VII, người Khmer đã tiến chiếm
và hoàn thành việc chinh phục Phù Nam Nhưng dường như không thích hợp mấy với đời sống sông nước và trên biển của người Phù Nam nên họ rời bỏ cảng biển và vùng biển, quần cư chủ yếu ở vùng tây bắc biển hồ Tonlesap Một thế kỷ sau đó, Champa hầu như chuyển mối quan tâm sang vùng đất ở bên kia biên giới Tây Nam của mình: vương quốc Campuchia hay Chân Lạp - như cách gọi của người Trung Hoa Champa vẫn giữ mối quan hệ thường xuyên với Ấn Độ về mặt văn hóa nhưng gần như không
có quan hệ nào đáng kể với vùng lãnh thổ trên biên giới phía Bắc Chăm, lúc bấy giờ vẫn còn là xứ Giao Châu thuộc Nhà Đường (Trung Quốc)
Quan hệ Champa – Chân Lạp: Mối quan hệ giữa Champa và Chân Lạp diễn ra
từ nửa đầu thế kỷ VII đến nửa đầu thế kỷ VIII Cũng như Champa, Campuchia đang ở trong giai đoạn ổn định xứ sở, bước đầu định hình quốc gia Song song với việc tiến
chiếm Phù Nam được tiến hành từ khoảng năm 600 và kết thúc vào khoảng năm 655 dưới đời vua Isanavarman, người Khmer dần dần tách khỏi địa bàn cư trú ban đầu ở
Trang 31lưu vực sông Semun và vùng bình nguyên Korat mênh mông, xuống phía Nam, rồi tập
trung xung quanh biển hồ, phát triển nhanh ở phía Tây và Tây Bắc Trong giai đoạn
đầu mới lập quốc, cả Champa và Campuchia đều phải lo xác định địa bàn cư trú, ổn định tộc người, định đô và xây dựng bộ máy cai quản đất nước Trong hoàn cảnh lịch
sử đó, một quan hệ hữu nghị, theo con đường giao lưu tự nhiên giữa những bộ phận dân cư ở gần nhau, lại cùng nằm trong vùng ảnh hưởng văn hóa Ấn, được bắt đầu
trong lịch sử bang giao giữa hai quốc gia
Con đường đi lại giữa Champa và Chân Lạp có lẽ ngay từ thời kỳ này không mấy khó khăn và chủ yếu là bằng đường thủy, bởi vì những trung tâm quần cư quan trọng của người chân Lạp như Isanapura (kinh đô của vua Isanavarman trị vì trong khoảng từ 615 đến 655), hay muộn hơn như Sambhupura (kinh đô của Thủy Chân Lạp, khoảng đầu thế kỷ VIII) đều nằm không xa dòng Mekong
Bia Ang Chumnik của người Khmer cho biết: Vua Chân Lạp là Mahendravarman (khoảng 600 - 615) đã cử quan thượng thư là Sunhadeva đi sứ sang Champa Vài năm sau đó, khoảng năm 650, có một hoàng thân Chăm đến kinh đô Isanapura ở Sambor Prei Kuk, cưới công chúa Chân Lạp là Sarvani, trở thành con rể của thành Isanapura Đứa con của cuộc hôn nhân này sau đó trở về Champa và lên ngôi vua Phỏng đoán theo bi ký Chăm thì vị vương này chắc không ai khác là Prakasadharma, tri vì Champa từ năm 653 đến năm 679, là vị vua thứ 9 trong gia hệ vương triều Sinhapura mà bia Mĩ Sơn 3 cho biết Prakasadharma dựng bia (Mĩ Sơn 3) nhắc lại truyền thuyết Kandynnia và Soma, phỏng theo truyền thuyết Hỗn Điền-Liễu Diệp mà người Khmer tiếp nhận lại của Phù Nam Bia Mĩ Sơn 3 của ông còn nhắc tới phả hệ các vua Chân Lạp dường như để giải thích mối quan hệ giữa ông với dòng họ Isanavarman của Campuchia Mối quan hệ tốt đẹp về chính trị giữa Champa và Chân Lạp vào cuối vương triều Sinhapura là cơ sở để nghệ thuật Chàm tiếp xúc với nghệ
thuật Khmer giai đoạn Tiền Angkor
Bosselier (1963) đã phân tích khá tỉ mỉ, công phu một số hiện vật kiến trúc còn sót lại của đền mĩ Sơn El để chỉ ra những dấu ấn của nghệ thuật Tiền Angkor trong phong cách Mĩ Sơn El Từ mi cửa (lintean) với trang trí hình cung bẹt ảnh hưởng vòng cung mi cửa Prei Khmeng (đầu thế kỷ VIII) mà bản thân nó được biến chuyển từ vòng hoa lá trang trí trên mi cửa Tuol Baset (640 CN) và Vat Eng Khna (620 CN), đến hình tượng Visnu nằm trên rắn, một chủ đề rất được ưa thích trong nghệ thuật Tiền Angkor; từ trang phục Sampot hay Mukuta hình chóp nón ôm chụp lấy đầu và kết lại thành tầng bậc mà các nhân vật ở mi cửa và bệ thờ Mĩ Sơn E1 thể hiện lại của Prei Khmeng, cho đến những họa tiết trang trí ở Mĩ Sơn E1 trước đó có thể thấy ở Ajanta, Badami, Ellora (Ấn Độ), rồi biến nhanh qua Tiền Angkor và đọng lại ở Mĩ Sơn E1
Sự tiếp xúc của những trường phái nghệ thuật cũng như sự ảnh hưởng của chủ
đề tiếu tượng học đã giúp Bosselier đưa ra nhận định: “Sự có mặt của những chi tiết riêng biệt như thế này càng tăng cường dự đoán có một ảnh hưởng của Ấn Độ trực tiếp đối với nền nghệ thuật của triều vua Isanavarman I (Campuchia) và có một mối quan hệ cha con của nền nghệ thuật Chăm thời Prakasadharma với nền nghệ thuật của các phong cách Sambor (700 -750) và Prei Khmeng”8 Nhưng có lẽ ông đã vội vàng
8 Jean Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng
học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà Nội, tr.43
Trang 32khi nhận xét kiến trúc duy nhất được coi dường như đồng thời với Prakasadharma là thánh đường E1 của nhóm E và cho Mĩ sơn E1 một khung niên đại chặt cứng vào cuối thế kỷ VII Thực ra, cần phải thấy rằng đứng về mặt lịch sử thì quan hệ Champa - Chân Lạp bắt đầu từ thế kỷ VII, rõ nhất với Prakasadharma (cuối thế kỷ VII) và điều này được thể hiện rất rõ trong bia Mĩ Sơn 3 của ông Những đặc điểm nghệ thuật mà
Mĩ Sơn E1 ảnh hưởng nghệ thuật tiền Angkor chủ yếu trong giai đoạn cuối thế kỷ VII đầu thế kỷ VIII Luận điểm của F Stern tỏ ra khá thuyết phục khi định niên đại cho phong cách Mĩ Sơn E1 vào nửa đầu thế kỷ VIII Đã có sự giao lưu, tiếp xúc khá thường xuyên giữa hai bộ phận dân cư Chàm - Khmer trong khoảng thời gian này Quan hệ giữa Chân Lạp- Champa vẫn tiến triển tốt đẹp sau Prakasadharma Đời vua Chàm sau đó - Vikrantavarman III (khoảng 686 -738) có lẽ mới đúng là thời kỳ nở rộ của ảnh hưởng “tiền Angkor” trong nghệ thuật Champa Ngay sau đó, Campuchia rơi vào tình trạng phân liệt gần một thế kỷ, bản thân Champa có lẽ cũng có những biến động lớn về chính trị dẫn đến việc chuyển dời đô
1.3.1.2 Vương triều Panduranga (750-850)
Sau Vikarantavarman II, dường như đã xảy ra một biến động lớn về chính trị Tân Đường thư (Q 222 ha, 1b) cho biết: “Sau niên hiệu Chí Đức (tức Đường Minh Hoàng khoảng năm 756 - 758) [Lâm Ấp] đổi tên Hoàn Vương” Nhưng Lâm Ấp hay Hoàn Vương đều cũng là để chỉ Champa Trên thực tế người Chăm vẫn luôn tự gọi mình là Champa (Trong văn bia), các vua Chăm vẫn tự nhận mình là vua Champa Bia của Indravarman I còn khẳng định ông “cai quản toàn bộ Champa “(Campan ca sakalam bhuktva) Vương triều thứ hai của Champa đóng đô ở miền Nam, tên kinh đô được biết qua bi ký là Virapura (nằm trong vùng Paduranga, tên chỉ vùng Nam Chăm, xuất hiện trong bia Po Nagar thế kỷ VIII) Cũng trong bia của Indravarman I kể trên còn cung cấp cho ta biết phổ hệ của vương triều này, có 6 đời vua bắt đầu từ năm 749
và kết thúc vào năm 854 Kauthara là nơi có thánh địa Po Nagar và là trung tâm quần
cư quan trọng nhất của miền Nam Chăm ít ra cho đến đầu vương triều II Suốt giai đoạn Virapura và giai đoạn Vijaya sau này, Po Nagar vẫn giữ một vai trò rất quan trọng - nếu không phải là trung tâm về mặt hành chính thì cũng là trung tâm lâu đời về mặt tôn giáo của Nam Chăm và của cả Champa
Virapura được biết đến trong bia Giai Lamau và Yang Tikuk của vua Indravarman I (trước 787 - sau 801) được tìm thấy trên địa điểm của Phan Rang ngày nay Bia cho biết vào năm 799 có việc phục hồi một Linga “từ đất mà ra ở phía tây thành phố” và xác nhận rằng trước đó đã có việc xây dựng một Indrabhogesvara ở Virapura và “xây dựng trên vị trí của trụ sở lộng lẫy của Satyavarman thánh nhân Indraparamesva'ra” (mặt A Giai Lamau) Vị trí của tấm bia này không phải ở nơi người ta tìm thấy nó, vì thế cũng thật khó xác định vị trí cung điện của Satyavarman (trước 774 - sau 784)
Trong vòng một thế kỷ (khoảng giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX), vương triều miền Nam Panduranga là vương triều chính thức duy nhất trên toàn lãnh thổ Champa như chính Indravarman I khẳng định - về quyền lực của mình “cai quản toàn
bộ Champa” Nhiều công trình kiến trúc có cùng một phong cách nghệ thuật, cùng niên đại vẫn còn tồn tại đến ngày nay được xây dựng ở cả Nam Chăm và Bắc Chăm ví
Trang 33dụ như kiến trúc F3, A2, C7 ở thánh địa Mĩ Sơn thuộc Bắc Chăm, được xây từ các triều vua đầu tiên của vương triều Sinhapura
Vương triều Virapura chỉ đến đời Vikrantavarman III (829 - 854) là kết thúc và chuyển sang một vương triều khác, trả lại ưu thế chính trị cho nhóm quý tộc miền Bắc Trong vòng một thế kỷ tồn tại, vương triều Virapura vẫn tiếp tục duy trì và phát triển những mối quan hệ với thế giới bên ngoài Dĩ nhiên, trong một giai đoạn mới, những mối quan hệ này đã thay đổi Nội tình của Champa đã khác giai đoạn trước và khu vực cũng đã có lắm sự đổi thay
Cùng với sự kiện Chân Lạp tiến chiếm Phù Nam, Óc Eo bị tàn phá vì nhiều lý
do và đô thị cảng lớn nhất Đông Nam Á trong suốt 7 thế kỷ đầu công nguyên đã vĩnh viễn biến mất khỏi lịch sử Lúc bấy giờ, dọc theo bờ biển phía Đông bán đảo Đông Dương, cảng Paduranga càng có vị trí quan trọng hơn vì là cảng cuối cùng để thuyền
bè đi vào vịnh Thái Lan hay qua eo Malacca, Sunda để đi vào Ấn Độ Dương Thư tịch
cổ Trung Hoa (Cựu Đường Thư) lần đầu tiên nhắc đến Panduranga vào đầu thế kỉ VIII
là nhắc đến một địa danh, nơi đỗ bắt buộc cho những con thuyền muốn đi qua vùng biển Đông Nam Á
Thế kỷ VIII cũng là lúc những quốc gia hải đảo trở nên hùng mạnh Dựa vào sức mạnh thủy quân truyền thống của người Nam Đảo, Java đã đem quân liên tục tấn công các nước lục địa Năm 774, họ đã tấn công Champa Những người Java này được ghi lại trong văn bia dưới hình ảnh “những kẻ đột nhập da đen, tàn nhẫn, dữ tợn” Lần này, ngoài những của báu bị mất, đền Po Nagar bị phá hủy Đến năm 784, vua Champa Satyavarman mới xây lại Mười ba năm sau, vào đời vua thứ tư của vương triều Panduranga -Indravarman I, người Java lại đến cướp bóc và phá hủy một ngôi đền ở phía Tây kinh đô (Virapura) K Hall cho rằng đó chỉ là những cướp biển trong vùng Điều này thật khó thuyết phục Bởi vì, ngay sau đó, người Java đã tấn công và cướp bóc vịnh Bắc Bộ, rồi vào tận kinh đô Chân Lạp giết và bắt nhiều người trong hoàng tộc về Java làm con tin
Xung đột quân sự xảy ra trong thời kì vương triều Miền Nam giữa Java - Champa là lần đầu và cũng là lần duy nhất trong lịch sử quan hệ của hai nước này Giai đoạn cuối và những thế kỷ sau đó, mối quan hệ này càng ngày càng trở nên thân thiện Bi ký Java đã lưu ý đến sự có mặt của người Chàm vào những năm 762 - 831 Saka (840-902 Công lịch) trong hoàng cung của Kuti ở Đông Java Bi ký cũng cho biêt
về những nhà buôn người Champa, Mon, Guilaka (?) và Ấn Độ cũng đã từng có mặt ở Kaladi (Java)9
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ X, sau sự suy vong của Phù Nam, Palembang thay thế vai trò và trở thành một trung tâm Phật giáo lớn của khu vực Sự ảnh hưởng có lẽ
đã lan đến cả Champa Những pho tượng Avalokitesvara bằng đồng ở Phan Thiết và một số ở Thủy Cam (Bắc Huế) cùng phong cách Hòa Lai là xuất hiện trong thời kỳ này J Boisselier (1963) còn cho rằng quá trình truyền bá Đạo Phật vào Champa từ cuối thế kỷ VII và “dường như qua Sri Vijaya” Vương quốc Sri Vijaya mà trung tâm
là Palembang trên đảo Sumatra, thời kỳ bành trướng mạnh nhất là vào thế kỷ VII -
9 Abdul Rahman AI - Ahmadi Champa in Malay Literature, in pro -ceedings of the seminar on
Champa University of Copenhangen 1987, Southeast Asia Community, Resource Center, 1994, tr.103.
Trang 34VIII Sau đó vị trí bá chủ vùng Hải đảo được nhường lại cho vương quốc Kalinga trên đảo Java Phật giáo Đại Thừa có thể được truyên vào Champa từ những vùng Hải Đảo nhưng từ Sri vijaya hay từ Kalinga thì còn là một vấn đề Nhưng nhìn chung, thời kỳ vương triều Miền Nam, Phật giáo Đại Thừa nếu được truyền đến Champa thì hẳn vẫn chưa phổ biến Truyền thống xây tháp Hindu và đúc tượng thờ vẫn chiếm ưu thế Vào nửa sau thế kỷ IX, giai đoạn đầu của vương triều Đồng Dương, văn hóa Phật giáo mới phát triển mạnh mẽ ở Champa
Hầu như trong suốt thế kỷ VIII, Đông Nam Á lục địa trong đó có cả Champa và Chân Lạp phải lo đối phó với những cuộc cướp phá của người Java Chân Lạp còn chịu sự chia rẽ nội bộ sâu sắc khi đất nước bị phân làm hai vùng Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp Có lẽ vì thế, quan hệ giữa Champa và Chân Lạp bị đẩy lùi xuống hàng thứ yêu mà chính xác hơn là bị đứt đoạn một thời gian dài Tuy nhiên Java cũng mới chỉ là một quốc gia trên biển mới được khẳng định, lợi dụng ưu thế sức mạnh thủy quân trên biển để khống chế cả lục địa nhưng lại chưa có thói quen chiếm đóng Tình hình lắng dịu dần vào cuối thế kỷ VIII và có lẽ cũng là thời điểm mà Champa và Chân Lạp nối lại quan hệ
Mối quan hệ này ban đầu là sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp đã có từ cuối vương triều Sinhapura Vào đời vua Indravarman I (trước 787 - 801), bi kí Chàm đặc biệt nhấn mạnh về “tính chất trong sáng của chủng tộc” (bia Yang Tikuk, mặt A và bia Glailamau, mặt A), “sinh ra từ chủng tộc nhà vua của mặt trăng” (Sasiravamsa) (Glailamau, mặt A) Và tự đề cao vị trí của mình (IndravarmanI) “Như mặt trăng chói lọi trong một khung trời không có dấu vết nào” (Yang Tikuk, Mặt A) Từ thế kỷ VII Prakasadharma của vương triều miền Bắc đã từng nhấn mạnh về việc mẹ ông là một công chúa của nước Chân Lạp, sinh ra trong tộc Mặt trăng (bia Mĩ Sơn 3) Có thể Indravarman I cũng muốn tự hào về quyền hành và dòng dõi của mình sánh ngang được với các Hoàng Tử miền Bắc Nhưng đồng thời, nội dung văn bia cũng gợi nhớ đến truyền thống quan hệ tốt đẹp với Chân Lạp đã có từ thể kỷ VII mà Indravarman I được kế thừa và muốn tiếp tục phát triển Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi ngay sau
đó Indravarman I qua đời năm 801, để ngôi cho em rể là Harivarmanl (801 - sau 817) Harivarman I ngay trong những năm đầu mới lên ngôi có lẽ để khẳng định sức mạnh
và chủ quyền có thực của mình trên toàn vương quốc đã tiến hành chiến tranh đồng thời cả ở biên giới phía Bắc và phía Tây Nam Tấn công phủ An Nam hai lần vào các năm 802, 809 và đem quân tiến đánh Campuchia
Vua Campuchia lúc bấy giờ là Jayavarman II, vừa đánh đuổi được quân đồn trú Java ra khỏi lãnh thổ năm 802 đã phải vất vả bình định các thế lực chống đối trong nước và đẩy lùi quân Champa Sau khi lên ngôi, Jayavarman II bền bỉ tìm kiếm địa điểm xây dựng kinh đô Một trong những địa điểm mà ông lựa chọn làm kinh đô là Phnom Kulên, cách Angkor (Siêm Riệp) khoảng gần 50 km Cũng chính vào những
năm tháng này, ở Phnom Kulên “đột ngột” xuất hiện Prasat Damrey Kráp mang đậm
phong cách Chàm, vẫn được coi là “đền tháp Champa trên đất Campuchia”.10 Niên đại sớm nhất của những tháp này được xác định một cách khá chắc chắn vào năm 802, tương ứng với việc khởi nghiệp của Jayavarman II ở Phnom Kulên Prasat Damrey
10 Ph Stern, Nghệ thuật Champa (xứ An Nam cũ ) và tiến trình của nó, Toulouse 1942 Bản dịch của
Viện Khảo cổ học, tr.30
Trang 35Krap trừ mi cửa, trụ con bằng sa thạch là của Khmer, còn lại tất cả đều mang những
đặc điểm của một Kalan Chàm - đến mức có người nghĩ rằng Prasat Damrey Krap do chính những kiến trúc sư người Chàm xây dựng trên đất Campuchia Con mắt nhạy cảm của F Stern còn nhận thấy sự tiến triển tiếp nối của vòm cửa Mĩ Sơn E1 trong vòm cửa của Damrey Krap và từ Damrey Krap lại trở về kiến trúc Chàm ở Hòa Lai, Phố Hài Đó là những tháp “nửa Chàm, nửa Khmer” trên đất Panduranga - như theo quan niệm của người Chăm sống ở vùng này từ xưa lưu truyền lại đến ngày nay Mối
quan hệ này quả thật là thú vị; phong cách Tiền Angkor (thế kỷ VII, VIII) ảnh hưởng
đến phong cách Mĩ Sơn E1 về đồ án trang trí - sự giống nhau đổi chỗ đến lạ lùng giữa vòm cửa Mĩ Sơn E1 với mi cửa Khmer thuộc phong cách Prey Khmeng- hoa văn trang trí mang âm hưởng của Tuol baset, Vat Eng Khna hay chủ đề ưa thích Visnu năm trên sóng ở mi cửa Tuol Baset Mĩ Sơn E1 lại mang ảnh hưởng đến kiến trúc gạch sớm ở
Prasat Damrey Krap trong phong cách Kulên (đầu thế kỷ IX) Có ý kiến còn cho rằng
mô típ Makara khạc ra con nai trong phong cách Kulên là sự vay mượn từ Champa
Rồi sau đó, chính những kiến trúc Chăm sớm nhất còn đứng vững được ở Phan Rang lại nhận sự tiếp nối về kiến trúc của Mĩ Sơn E1 qua Damrey Krap và chịu ảnh hưởng lại của phong cách Kulên Đó thật sự là những dấu ấn bền vững nhất thể hiện mối quan hệ mật thiết đã có giữa những bộ phận dân cư ở gần nhau, vốn đã có từ những thế kỷ trước và được tiếp tục kế thừa dưới vương triều Virapura
Năm 829, ông vua được coi là cuối cùng của vương triều Panduranga lên ngôi
là Vikrantavarman III Đây cũng là thời kỳ khá bình yên sau những xung đột quân sự trên cả hai đầu biên giới Bắc - Nam ở triều vua trước Và chắc hẳn đây cũng là thời kỳ vương triều miền Nam cho xây dựng tháp Hòa Lai, Phố Hài ở Phan Rang mà đến nay vẫn còn Năm 824, Vikrantavarman III cho dựng bia ở Po Nagar, cũng là bia cuối cùng của triều Panduranga
Sau đó, một địa điểm ở phía Bắc được xây dựng và phát triển, trong khi Po Nagar và Virapura mờ nhạt hẳn đi Bi ký và những công trình kiến trúc cũng tập trung
về miền Bắc Một vương triều mới xuất hiện Lại một lần di chuyển kinh đô
1.3.1.3 Vương triều Inđrapura (850-982)
Một trung tâm mới ở phía Bắc nổi lên từ giữa thế kỷ IX - niên đại chắc chắn là năm 875 được ghi nhận trong bia của vua Inđravarman II (L Finot ký hiệu là Đông Dương I trong hệ thông bi ký Chăm mà ông thống kê) Bia cũng cho biết kinh đô mới
có tên gọi là “Inđrapura” Thời kỳ này nội tình Champa có những thay đôi đáng kể Nhiều mối quan hệ mới cũng xuất hiện Những mối quan hệ cũ vẫn được duy trì nhưng mức độ và tính chất đã khác đi rất nhiều Vị thế của Inđrapura cũng khác nhiều
so với Sinhapura và Virapura nên đã đem đến những thay đổi đáng kể về mặt quan hệ với bên ngoài
Trước hết đó là sự thay đôi địa điểm kinh đô Inđrapura không đóng tại địa điểm kinh đô cũ Simhapura - Trà Kiệu Trà Kiệu chắc đã trải qua ít nhất hai lần bị đốt phá và cướp bóc (năm 446 và 605), không thể không bị hủy hoại điêu tàn và cũng không thể không lo còn tiếp tục bị uy hiếp tiếp Có lẽ vì thế, các vua Chăm đã tìm kiếm, đặt đô ở một địa điểm mới Kinh đô Inđrapura được khảo cổ học đoán định là ở làng Đồng Dương, nay thuộc xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nằm trên bờ sông Ly Ly, một nhánh của sông Thu Bồn
Trang 36Đồng Dương vốn là một vùng dân cư hình thành từ rất sớm và phát triển liên
tục qua nhiều thời kỳ Tháng 9 năm 1996, một nhóm các nhà nghiên cứu khảo cổ đã
tiến hành khảo sát khu vực Đồng Dương Kết quả đào thám sát di chỉ Thửa Vương (thuộc thôn 3 Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, Quảng Nam) cho thấy:
- Ở độ sâu 0,70 - 1m chủ yếu là gốm thô pha cát, độ nung thấp rất dễ bở, không
một mảnh gốm nào có hoa văn in ô vuông hoặc hình thoi như đã gặp trong các di chỉ được coi thuộc văn hóa Sa Huỳnh muộn có niên đại ở vào những thế kỷ đầu công nguyên Do đó có thể xác định lớp văn hóa sớm nhất của di chỉ Thửa Vườn phải có niên đại TCN
- Tiếp đến là lớp văn hóa có độ sâu từ 0,40 - 0,60m Đồ gốm thô trong lớp này có
hai đặc điểm đáng lưu ý: tỉ lệ gốm cứng, mịn nhiều hơn gốm pha cát và sự có mặt của gốm trang trí văn ô vuông và ô trám đang được xem như là những chứng cứ cơ bản để định niên đại cho di chỉ vào những thế kỷ đầu công nguyên Ngoài ra còn có gốm men Trung Hoa thế kỷ VII - VIII
- Lớp trên cùng với sự hiện diện của gốm Trung Hoa thế kỷ IX, X cho đến tận thế
kỷ XV 11
Ngoài ra Đông Dương còn đáp ứng được những yêu cầu chiến lược đối với một kinh đô Là một thung lũng, ba bề là núi (núi Đá Chồng phía Tây, núi Hòn Tàu nối liên, kéo dài từ phía Tây lên Tây - Bắc), cách biển không xa (khoảng 20km), vẫn liên lạc được với cảng Đại Chiêm dù không thuận lợi bằng Trà Kiệu, lùi xa Trà Kiệu hơn về phía Nam, nhưng lại không quá xa (đường bộ khoảng 40 km, nhưng đường chim bay chỉ 20 km) Đồng Dương khuất nẻo vàcách trở hơn so với Trà Kiệu nhưng vẫn tiện đường liên hệ với phía Bắc và phía Nam
Ở đây, Inđravarman II dựng bia nói rõ “Thành phố được chiếu đầy hào quang là Inđrapura”- Inđra là vị thần đứng đầu trong hệ thống các thần linh của Veda giáo được chọn đặt tên cho kinh đô mới Nhưng đồng thời ta lại thấy tầm quan trọng của Phật giáo Đại thừa được thể hiện khá rõ trong văn bia và trong cả nghệ thuật rồi sau đó đột ngột biến mất ngay chính trong vương triều Đồng Dương
Nội dung Phật giáo được thể hiện trong các bia: Bia Đồng Dương I (875), Phú Quý, Phan Rang (889), An Thái, Quảng Nam (920), Đại hữu, Quảng Bình (903 - 905), Nhan Biểu, Quảng Trị (908 - 911) J.Boisselier (1963) đặc biệt lưu ý đến bia Kon Klor
ở Kontum “Dường như tài liệu cuối cùng của phái Đại Thừa trong nhiều thế kỷ” có niên đại 914 của một Hoàng thân địa phương có miếu hiệu là Mahinđra - Lokesvara Ngoài thánh địa Phật giáo Đồng Dương ra, còn có ít nhất hai thánh đường khác cũng được xây dựng vào đầu vương triều Đồng Dương Đó là thánh đường Đại Hữu, Quảng Bình mà bi ký cho biết thuộc về triều vua Jaya Simhavarman, niên đại chính xác ghi trong văn bia là 893 - 903; thánh đường Mĩ Đức cùng ở Quảng Bình, không có niên đại nhưng cùng một phong cách giống Đại Hữu và Đồng Dương
Phật giáo hẳn đã ảnh hưởng mạnh đến văn hóa Champa trong thời kỳ này Văn bia nói nhiều đến nỗi đau khổ của con người và sự luân hồi, tới “Niết bàn”, tới “đấng
11 Viện Khảo cổ học, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, tr.674-676
Trang 37tối cao Lokesvara - là người kế tục Đức Phật” Vua Đồng Dương là Inđravarman II đã lấy hiệu Phật ước định làm miếu hiệu của mình - Paramabuddhaloka Bia Đồng Dương 1 còn cho biết, năm 875 Inđravarman II đã cho xây một khu thánh đường Theo mô tả của H Parmentier (1901), thánh đường nằm trên một thửa đất dài 1330m theo hướng Tây -Đông Một vành đai (tường thành) gạch dài 326 m 155 m bao quanh một phức hợp đền tháp, gồm một ngôi đền chính, 6 ngôi đền phụ, 1 tịnh xá lớn hơn bất
cứ đền tháp Champa nào Có vẻ đây là nơi đặt những pho tượng Phật “cao lớn khác thường” trong nghệ thuật Champa Trong đó, cần phải kể đến pho tượng “Phật Đồng Dương” nổi tiếng cao 1,80 m, đầu tượng rất vừa vặn và hài hòa với thân tượng, nhưng đây là sự lắp ráp từ hai pho tượng khác nhau J Boisselier cho rằng đó là những pho tượng thờ ở điện thờ chính Ngoài ra còn phải kể đến 18 am thờ không thể là của kiến trúc Hindu giáo Ian Mabbett và cả J Bosselier còn nhấn mạnh cả đến những Stambha lớn và nhỏ, hình trụ hay hình chóp nón vây quanh Gopura “gợi ra một cách kỳ lạ những tháp - Stupa của Trung Quốc và Việt Nam”
Sự khác lạ của đền tháp Đông Dương, những pho tượng Phật tìm thấy ở đây cùng với những văn bia thấm đượm tinh thần Phật Giáo trong giai đoạn này, đã đưa đến ý nghĩ về Đồng Dương chỉ là một thánh địa Phật Giáo Và có lẽ cũng vì thế có nhiều người nghĩ đến một “vương triều Phật giáo Đồng Dương” Tất cả những điều này lại thể hiện sự phong phú trong quan hệ văn hóa mà Champa tiếp nhận từ thế giới bên ngoài
Đồng Dương là thánh địa mới của vương triều mới mà Phật giáo chỉ thịnh ở một vài triều vua đầu Ngay chính Inđravarman II, người có bia Đồng Dương I ngợi ca Laksmindra Lokêxvara, nhưng lại vẫn ngỏ lòng ngưỡng mộ và tôn trọng Shiva (mặt
A, XII - XIII- XIV và mặt b, VII) Còn Shinhavarman, người kế nghiệp Inđravarman
II thì đã hoàn toàn hiến dâng lòng sùng kính đối với Shiva bia Đồng Dương II)
Đầu thế kỷ X, tức là cả hơn nửa thế kỷ trước khi vương triều Đồng Dương kết thúc, di tích Phật giáo gần như không thấy xuất hiện Không chắc Đồng Dương còn giữ được vai trò là một trung tâm tôn giáo - chính trị của cả nước Trong khi đó đền tháp Hindu giáo lại xuất hiện nhiều ở Mĩ Sơn, Trà Kiệu và nhiều vùng khác Trà Kiệu vốn vẫn là đất kinh đô, nghệ nhân không thiếu, lại thêm vị trí gần cảng biển nên vào thế kỷ X phát triển trội hơn Đông Dương về cả kinh tế và văn hóa là điều dễ hiểu Nhưng mặt khác cũng không thấy có bia được tạo dựng ở Đồng Dương, tức tại vị trí kinh đô mà Inđravarman II đã nhắc đến trong bia Đông Dương I Bharavarman III có bia ở An Thái (Quảng Nam - Đà Nẵng) mà qua đó ta biết được ông làm vua từ khoảng năm 902 đến 918 thì truyền ngôi lại cho con là Inđravarman III Dưới triều đại Bhadravarman III, ta còn biết đến minh văn của một Hoàng thân hay một vị vua khác
là Mahindravarman, được tìm thấy ở Kon Klor (Kon Tum), ngợi ca Lokesvara Trường hợp Indravarman III mới khá lạ Không có bia ở chính kinh đô Đồng Dương nhưng lại có bia ở Hà Trung và Nhan Biểu (Quảng Trị), Lai Trung (thừa Thiên) và Po Nagar (Nha Trang) Những cứ liệu đó dẫn đến ý nghĩ Đồng Dương có thể không còn
là kinh đô duy nhất của vương quốc cổ Champa từ đầu thế kỷ X Sự phân liệt trong nội
bộ Champa đã xảy ra
Vương triều Đồng Dương trải qua 9 đời vua Không rõ về hai triều vua trước Inđravarman II, tức là từ năm 874 khi vương triều Panduranga kết thúc đến năm 875
Trang 38khi Inđravarman II đăng quang ở kinh đô Đồng Dương Văn bia cho biết việc Inđravarman II lên ngôi là do “dày công tu luyện, do sức mạnh của trí tuệ trong sáng chứ không phải do được thừa kế “ (Bia Đồng Dương I, mặt A, XXI - XXII) Có thể khoảng 21 năm đầu của vương triều đã xảy ra những cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng tản quyền cát cứ và xu hướng thống nhất
Trung tâm quyền lực di chuyển khi xuất hiện vương triều mới - hay nói một cách khác - cứ mỗi khi vương triều mới xuất hiện thì trung tâm lại thay đổi Việc chuyển dời kinh đô về Đồng Dương và cả việc Đồng Dương mất dần vai trò là một trung tâm quyền lực từ đầu thế kỷ X đều là kết quả của tình trạng phân tán quyền lực - một vấn đề luôn thường trực trong lịch sử phát triển của vương quốc cổ Champa
Tuy vậy, xu hướng thống nhất vẫn hoàn toàn có ưu thế ở những triều đại hưng thịnh Và Đồng Dương là một triều đại như thế Không phải ngẫu nhiên mà chính sử Trung Hoa và sau đó cả chính sử Việt Nam, bắt đầu từ thời kỳ này dùng tên gọi
“Chiêm Thành” - phiên âm đúng của tên nước (Campapura) đã có trong văn bia từ thế
kỷ VII Inđravarman II tự nhận là “Đại Vương, vua tối cao” (Maharaja adhiraja - bia Đồng Dương I), còn người nối ngôi ông là Sinhavarman lại xưng là “lãnh chúa tối cao của các đô thị Champa “ (Campapura Paramesvara - bia Đông Dương II) Mặc dù vẫn chưa có một danh hiệu chung thống nhất cho tất cả các vua - Maha-raja- như ở Campuchia, để có thể nghĩ đến một tổ chức phong kiến chặt chẽ, nhưng nhìn chung, nhiều triều đại của Đông Dương đã khẳng định được quyền lực trên toàn vương quốc thống nhất
Bia Đồng Dương I của Inđravarman II còn ca tụng công đức của các vị vua sáng lập ra vương triều I và II để tự coi mình là người thừa kế cả vương triều miền Nam và vương triều miền Bắc Ngoài ra bi ký Đồng Dương còn nhiều lần đề cập đến một hình thức tổ tiên chung của cả quốc gia được gọi là Uroja
Rất nhiều đền tháp được xây dựng dưới vương triều Đồng Dương Những đền tháp này hầu hết đều gắn với những vùng quần cư phát triển bên lưu vực các dòng sông lớn ở phía Bắc Điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của cư dân Bắc Chăm Đồng Dương, Trà Kiệu gắn với sông Thu Bồn và cảng Đại Chiêm Vùng Chánh Lộ gắn với đồng băng sông Trà Và cả vùng đồng bằng sông Côn (Bình Định) mà một thế
kỷ sau trở thành kinh đô, hẳn thời kỳ này đã là một vùng quần cư đông đúc
Sự phát triển còn tập trung ở hai đầu cực Nam và cực Bắc của đất nước Di tích Đại Hữu, Trung Quán, động Phong Nha, ít nhiều cho thấy sự phát triển của vùng đất cực Bắc Chăm trong khuôn khổ vương triều Đồng Dương Vùng duyên hải miền Nam với trung tâm là thánh địa Po Nagar và cảng thị Panduranga vẫn tiếp tục phát triển và phát triển mạnh mẽ dưới vương triều Đồng Dương Năm 918, vua Inđravarman III (927 - 960) cho tạo dựng bia ở cả cực Bắc (Lai Trung, Bình Trị Thiên) và cực Nam (Po Nagar) Tuy nhiên, tất cả những vùng ngoài kinh đô, xa kinh đô, trong đó có cả vùng kinh đô cũ miền Nam di tích ít, hiếm hoi và không thể sánh được với những vùng kinh đô ở Bắc Chăm
Đồng Dương là một vương triều hưng thịnh, trong đó xu hướng thống nhất tỏ
ra là chiếm ưu thế Đó là một điều kiện thuận lợi để Champa mở rộng và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực Dĩ nhiên không phải tất cả những mối quan hệ diễn ra dưới vương triều này đều dựa trên cơ sở quan hệ hòa bình Mặt khác, sự có
Trang 39mặt phổ biến của cả Phật giáo và Hindu giáo, nhìn dưới góc độ quan hệ cho thấy sự giao lưu hay tiếp nhận văn hóa của Champa trong thời kỳ này là từ nhiều nguồn khác nhau, từ nhiều nơi đến
Nghiên cứu tài liệu văn bia, thư tịch cổ Trung Hoa kết hợp với những kết quả khảo cổ học gần đây, chúng ta biết thêm được về sự phát triển tiếp tục của các cảng thị lớn ở cả Bắc Chăm và Nam Chăm Thông qua sự phát triển của những cảng thị này, Champa thiết lập những quan hệ kinh tế với các nước có tuyến đường buôn bán đi ngang qua vùng biển của họ Từ năm 758, cảng Quảng Đông - Nam Trung Hoa bi tàn phá vì cuộc nỗi loạn của An Lộc Sơn Những nhà buôn nước ngoài ở Quảng Đông, tham gia tuyến đường buôn bán trên biển Nam Trung Hoa, đặc biệt là người Ba Tư và người Arab đã di chuyển làm ăn xuống các cảng ở Đông Nam Á Các cảng của Champa do gần Quảng Đông hơn cả, trở nên nhộn nhịp Nổi lên trong số đó là cảng Miền Nam Panduranga, lúc bấy giờ đang gắn với kinh đô Virapuara -như là một trạm trung chuyển giữa thế giới Melayu với Trung Hoa Nhưng có lẽ cũng chỉ dừng lại ở mức độ thu thuế, cung cấp thực phẩm, nước ngọt và đổi chác sản vật Cảng thị Panduranga tiếp tục phát triển Sự phát triển của nó trong thời kỳ Đồng Dương có thể cho phép chúng ta nghĩ đến sự hình thành tự nhiên của nền kinh tế ngoại thương Panduranga nằm trong hệ thống thương mại biển ở Đông Nam Á thời bây giờ Những thông tin từ hai dòng chữ Ả rập tìm thấy ở Panduranga (Phan Rang) có niên đại khoảng 1029 - 1035 cho thấy hoạt động thương mại có tổ chức ở cảng này Một nhóm thương nhân khá lớn tập hợp buôn bán bán ở “bazaar” (từ chỉ chợ của người Hồi Giáo) Họ đã lựa chọn từ cộng đồng một người Muslim là một trong những thành viên của “bazaar” Người này có nhiệm vụ đại diện cho những nhà buôn địa phương và bảo
vệ quyền lợi của họ trong các mối quan hệ với nhà cầm quyền Chăm ở Panduranga Những thương nhân này có lẽ được tiếp xúc thường xuyên với vua Chăm và được vua Chăm trọng dụng Những bằng chứng mà P.Y.Mauguin (1979) đã đưa ra cho thấy, trong những người thuộc đoàn sứ giả của Champa sang Trung Hoa vào năm 951 và những năm sau đó, có người mang tên bắt đầu bằng chữ Pu hay Bu biến âm từ chữ Ảrập Abu Năm 958, người đại diện chính thức của vua Chăm là một người Hồi Giáo
có tên là Abu Hasan (P'u Ho San) Ông đã thay mặt vua Chăm là Inđravarman III (917
- 960) tặng Hoàng đế Trung Hoa nước hoa hồng, cây đèn “ngọn lửa Hy Lạp” và những viên đá qúi Vào năm 961, Abu Hasan trở lại Trung Hoa mang theo thư của vị vua mới
là Jaya Inđravarman I, kèm theo những tặng phẩm qúi được liệt kê ra như gỗ trầm, ngà voi, vải lụa đặc biệt có 20 hũ Ả rập (đựng những món hàng Ả rập)12 Tất cả những tặng phẩm trên có những thứ là của Champa, nhưng “nước hoa hồng”, “đèn Hy Lạp”, hàng của Ả rập thì có thể là sản phẩm thương mại được các thương nhân Hồi Giáo Arab đem đến trao đổi ở các cảng Chăm
Việc làm ăn buôn bán của người Hồi Arab ở Champa dường như càng được khẳng định hơn khi khảo cổ học cung cấp thêm những kết quả khá trùng hợp Nhiều hiện vật gốm sứ Islam có men màu xanh biếc, xương trắng, xốp, dày, mềm, men bên trong màu nâu, có niên đại vào khoảng thế kỷ IX - X, đã tìm thấy khá phổ biến ở cảng
12 Ian Mabbett, Buddhism in Champa, in Marr and Miler 1986, 289 - 313
Trang 40Đại Chiêm phía Bắc và những vùng quần cư quanh kinh đô Đồng Dương, như Cù lao Chàm, Trà Kiệu, Trảng Sỏi (Hội An)13 Rất tiếc là Khảo cổ học chưa có điều kiện khai quật những vùng cảng biển miền Nam Chăm Và vì thế, vẫn còn một mảng trống lớn về mặt tư liệu khi muốn nghiên cứu về ngoại thương của Champa Tuy nhiên, vấn
đề là đã có những thương nhân người Arap với những sản phẩm của họ buôn bán và đôi chác ở Champa trong thời kỳ vương triều Đông Dương Hồi giáo đã có thể cùng với thương nhân Arap có mặt ở Champa từ thế kỷ IX - X Nhưng điều này không có nghĩa là cùng với họ, Hồi giáo đã được du nhập vào Champa
Mặt khác, chúng ta thấy rằng các vua Chăm tỏ ra rất có ý thức buôn bán với người nước ngoài, tạo điều kiện, lợi dụng và trọng dụng họ Sau khi Quảng Đông bị phá hủy (758), việc làm ăn với thương nhân người Hoa gặp khó khăn Và trên thực tế,
từ 877 đến 951, Champa không có quan hệ bang giao gì với Trung Quốc vì sự hỗn loạn cuối đời Đường Trong thời gian đó, họ kịp mở cửa làm ăn với thương nhân Hồi Arab đang ngang dọc khắp thế giới Đông- Tây Khi Quảng Đông được mở lại dưới thời nhà Hậu Chu (951 -959) (Ngũ Đại thập quốc) và sau đó là triều Tống (960 - 1279), vua Đồng Dương liền xúc tiến lại mối quan hệ giữa hai nước thông qua những nhà buôn Hồi Giáo ở Panduranga
Tài liệu Trung Hoa còn xác định thêm rằng, từ thời nhà Tống trở đi (từ giữa thế
kỷ X), tàu người Hoa đến cảng Champa đều được một phái viên của vua đến kiểm tra Sau khi đăng ký tất cả hàng hóa chuyên chở và hàng hóa được dỡ xuống, họ phải nộp 1/5 số lượng mỗi loại hàng, rồi mới được phép trao đổi (bán?) những hàng còn lại Hàng hóa giấu giếm đều bị tịch thu14 Vào cuối vương triều Đồng Dương, việc buôn bán với người Hoa có vẻ nhộn nhịp hẳn lên Kết quả khảo cỗ học những năm gần đây cho thấy, dấu vết gốm thương mại thế kỷ IX - X của Trung Quốc tìm thấy khá phổ biến ở những di chỉ đã được khai quật ở Đồng Dương, Trà Kiệu, cảng Đại Chiêm và quanh đó Và không chỉ mở cửa cho thương nhân nước ngoài làm ăn buôn bán, các vua Đồng Dương còn tỏ ra dễ dãi với cả tôn giáo, văn hóa đi theo những con tàu buôn thâm nhập vào bờ biển Champa Đạo Hồi hẳn chưa ảnh hưởng đến tín ngưỡng của người Chăm nhưng đã được chấp nhận ở Panduranga mà không gặp bất cứ một sự kỳ thị nào, hay một khó khăn nào từ phía triều đình Đồng Dương vốn đã có thừa sự dung hợp giữa Phật giáo và Hindu giáo Đâu đó trong thánh địa Đồng Dương, những pho tượng Phật khổng lồ lại mang dáng dấp tượng Phật Trung Hoa qua trang phục
uttarasanga và antaravasaka mà “cách mặc này chẳng gợi lại điểm gì quen thuộc
ngoài nền nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản từ thế kỷ VI trở đi”, và “ đem lại sự suy đoán đầu tiên về việc có một ảnh hưởng của Trung Quốc”15
Trong khi đó, bờ biển ở Champa vẫn luôn rộng mở với những con thuyền đến
từ vùng hải đảo Những bi ký ở Java có niên đại từ 840 - 909 đã lưu ý đến mối quan hệ tốt đẹp này từ cuối vương triều miền Nam Virapura Một tấm bia khá nỗi tiếng của Champa là bia Nhan Biểu có niên đại 908 - 911 đã cho biết thêm về mối quan hệ thân
13 Viện Khảo cổ học, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
1998, tr.641
14 G Maspero, Vương quốc cổ Champa, 1928, Bản dịch của Lê Tư Lành, tr.25
15 Jean Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu
tượng học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà Nội, tr.271