Biện pháp ngăn chặn là một trong số những biện pháp cưỡng chế được pháp luật tố tụng hình sự cho phép áp dụng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo , người bị truy nã, hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I – Khái quát chung về biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự : 2
1 Khái niệm : 2
2 Vai trò, ý nghĩa của biện pháp bắt người : 3
II – Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp : 3
1 Khái niệm : 3
2 Những trường hợp khẩn cấp : 3
3 Đối tượng áp dụng : 6
4 Thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp : 7
5 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp : 7
III – Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp : 8
1 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp : 8
2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp : 13
KẾT LUẬN 15
PHỤ LỤC 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Biện pháp ngăn chặn là một trong số những biện pháp cưỡng chế được pháp luật tố tụng hình sự cho phép áp dụng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo , người bị truy nã, hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS
năm 2003 là “bắt người trong trường hợp khẩn cấp”, đây là một biện pháp
thường xuyên được áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử án hình sự
Để làm rõ hơn các quy định của BLTTHS 2003 về vấn đề này, em xin chọn cho
mình đề bài số 6 : “Quy định của BLTTHS về bắt người trong trường hợp khẩn cấp và việc hoàn thiện quy định này.” làm nội dung bài tập học kỳ
NỘI DUNG
I – Khái quát chung về biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự :
1 Khái niệm :
Theo từ điển Tiếng Việt(1) , “bắt” có nghĩa là “nắm lấy, giữ lại, không để cho hoạt động tự do” Như vậy có thể hiểu “bắt người” chính là việc giữ người, không để cho họ thực hiện các hoạt động tự do “Khẩn cấp” được hiểu là tình trạng cấp bách, không thể trì hoãn Như vậy, “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” có thể hiểu là biện pháp bắt người được áp dụng trong tình thế cấp bách, không thể bị trì hoãn
Trong tố tụng hình sự, bắt người là một biện pháp ngăn chặn được áp dụng với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm
1 Theo từ điển tiếng Việt online Soha.vn
Trang 3ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự
2 Vai trò, ý nghĩa của biện pháp bắt người :
Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án của người phạm tội, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi Trái lại, việc bắt người không đúng pháp luật sẽ gây tác hại nhiều mặc như xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận, dễ bị các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước lợi dụng để xuyên tạc nói xấu chế độ, chống lại Nhà nước
Chính vì vậy, có thể nói việc bắt người trong TTHS có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn
II – Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp :
1 Khái niệm :
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm
2 Những trường hợp khẩn cấp :
Theo khoản 1 điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định những trường hợp khẩn cấp sau đây :
Trường hợp khẩn cấp thứ nhất : Khi có căn cứ cho rằng người đó đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trang 4Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi, kiểm tra, xác minh các tin tức thu được và có đủ cơ sở để khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng nên cần bắt ngay, để ngăn chặn kịp thời việc người đó gây thiệt hại cho xã hội
Muốn xác định được trường hợp khẩn cấp này phải đảm bảo được hai điều kiện sau đây:
- Thứ nhất : Phải có căn cứ để khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa rất nghiệm trọng Vì vậy, yêu cầu của cuộc đấu tranh đặt ra hết sức cấp bách, cần ngăn chặn ngay, không để tội phạm xảy ra
- Thứ hai: Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Chuẩn bị thực hiện tội phạm còn một khoảng cách nhất định với việc thực hiện tội phạm nên không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định chỉ người nào chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự Bộ luật tố tụng hình sự không cho phép bắt khẩn cấp đối với người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, vì theo quy định người chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự Do đó, đối với người chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể áp dụng các biện pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa, không được phép áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam…
Trường hợp khẩn cấp thứ hai : Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Trang 5Đây là trường hợp hành vi phạm tội đã được thực hiện, người phạm tội không bị bắt ngay lúc đó, nhưng người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội và trực tiếp xác định đúng là người đã thực hiện tội phạm, xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn Muốn bắt khẩn cấp trong trường hợp này, cần bảo đảm hai điều kiện sau:
- Phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Người này chỉ có thể là người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm đã trực tiếp chứng kiến lúc tội phạm đang xảy ra Có như vậy mới bảo đảm tính xác thực và giá trị của lời tố giác tội phạm Trường hợp người bị hại hoặc người khác đã xác nhận về kẻ thực hiện tội phạm nhưng họ không phải là người trực tiếp chứng kiến lúc tội phạm đang diễn ra mà nghe người khác kể lại, mô tả lại đặc điểm nhận dạng của người phạm tội, thì không được bắt khẩn cấp
- Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn Điều kiện này cho thấy yêu cầu ngăn chặn đặt ra rất cấp bách, nếu không bắt ngay kẻ phạm tội sẽ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm
Những căn cứ để xét và đi đến quyết định cần bắt để ngăn chặn ngay việc người phạm tội trốn gồm các trường hợp sau đây : đang có hành động bỏ trốn hoặc đang chuẩn bị bỏ trốn; không có nơi cư trú rõ ràng; có nơi cư trú nhưng ở quá xa; là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn; chưa xác định được thân nhân người đó (căn cước lý lịch không rõ ràng)
Để có quyết định đúng đắn trong việc bắt khẩn cấp theo trường hợp thứ hai này, cơ quan điều tra cần thẩm tra, xác minh kịp thời lời xác nhận, tố giác của người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm, đồng thời phải kiểm tra căn cước lai lịch và lấy lời khai của người bị tố cáo là kẻ phạm tội Chú ý đề phòng sự nhầm lẫn của người phát hiện, tố giác hoặc sự vu khống Nếu người nào lợi dụng quyền phát hiện, tố giác tội phạm để vu khống cho người khác (bịa đặt là người khác phạm tội rồi báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền) sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 6Trường hợp khẩn cấp thứ ba : Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Trong trường hợp này, cơ quan điều tra chưa có đủ tài liệu, chứng cứ xác định một người phạm tội, mới phát hiện được những dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người đó và từ những dấu vết ấy mà người đó bị nghi thực hiện một tội phạm Nếu xét thấy cần bắt ngay để ngăn chặn việc họ trố hoặc tiêu hủy chứng cứ, thì phải ra lệnh bắt khẩn cấp
Trong trường hợp khẩn cấp này đòi hỏi phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:
- Tìm thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm
- Cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
Điều kiện này đòi hỏi phải có căn cứ để cho rằng nếu không bắt ngay, người bị nghi thực hiện tội phạm nói trên rất có thể sẽ trốn hoặc có hành động tiêu hủy tài liệu, chứng cứ Các tình tiết được coi là căn cứ để ngăn chặn việc người bị nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn cũng tương tự như các tình tiết được trình bày trong trường hợp khẩn cấp thứ hai Nếu người bị nghi thực hiện tội phạm không
có biểu hiện bỏ trốn nhưng lại có hành động chuẩn bị tiêu hủy chứng cứ hoặc đang tiêu hủy chứng cứ thì cũng cần quyết định bắt khẩn cấp ngay
3 Đối tượng áp dụng :
Đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp chỉ có thể là người chưa bị khởi tố về mặt hình sự đối với tội phạm mà họ chuẩn bị thực hiện hoặc đã thực hiện hay nói cách khác, họ chưa phải là bị can, bị cáo
Điều này xuất phát từ tính khẩn cấp của việc ngăn chặn tội phạm cho nên không cần phải đợi đến khi có quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra mới có thể tiến hành việc bắt người, mà khi đã xác định được bất kì đối tượng nào thuộc
Trang 7một trong ba trường hợp nêu trên thì có thể tiến hành bắt khẩn cấp theo quy định của pháp luật
4 Thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp :
Khoản 2 Điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định
“Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
a Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp;
b Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
c Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.”
5 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp :
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp về cơ bản cũng được BLTTHS quy định tại khoản 3,4 Điều 81 và áp dụng tương tự như thủ tục bắt bị can, bị cáo
để tạm giam nhưng có một số điểm khác
Thứ nhất : Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê
chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành Quy định như vậy nhằm đảm bảo cho việc bắt đạt hiệu quả và kịp thời, đúng như tên gọi “khẩn cấp” của trường hợp bắt người này, nếu trì hoãn không tiến hành ngay thì sẽ mất cơ hội ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc điều tra khám phá tội phạm
Thứ hai : Sau khi đã bắt người, việc bắt khẩn cấp phải báo ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp bằng văn bản cùng các tài liệu liên quan để xét và phê chuẩn Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt (thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp quy định cho viện kiểm sát là 12 giờ
kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp)
Trang 8Thứ ba : Trong trường hợp khẩn cấp được bắt người vào bất kỳ lúc nào,
không kể ban ngày hay ban đêm
III – Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp :
1 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp :
Theo số liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng thì tình hình tội phạm ở nước
ta có diễn biến rất phức tạp, cụ thể theo số liệu thống kê do Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Vụ Thống kê – Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao, trên phạm vi cả nước(2):
- Năm 2010 có khoảng 55221 vụ;
- Năm 2011 có khoảng 60925 vụ;
- Năm 2012 có khoảng 67369 vụ;
- Năm 2013 có khoảng 68751 vụ
Tuy đã được kiềm chế, số các vụ phạm tội vẫn còn tăng giảm không theo quy luật chung, có diễn biến ngày càng phức tạp và nghiêm trọng
Trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong 6 tháng đầu năm 2016, TAND hai cấp
TP Hà Nội đã thụ lý 16.501 vụ án; giải quyết 12.082 vụ, đạt tỷ lệ 73,2% So với
6 tháng đầu năm 2015, số thụ lý tăng 1.381 vụ (bằng 8,3%), số giải quyết tăng
956 vụ (8,6%) Về chất lượng xét xử : Án bị hủy 84 vụ (giảm 26 vụ so với 6 tháng đầu năm 2015); án sửa 342 vụ (giảm 61 vụ) Tòa án hai cấp còn 109 vụ án quá hạn và 624 vụ án tạm đình chỉ Số án quá hạn tăng 3 vụ và án tạm đình chỉ tăng 108 vụ so với 6 tháng đầu năm 2015.(3)
Tình hình trên phần nào đã phản ánh được yêu cầu cấp bách cần phải quan tâm đúng mức vấn đề phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm
2 Kết quả thống kê của Tòa án nhân dân tối cao
3 Báo điện tử Xã hội & Pháp luật ngày 01/08/2016
Trang 9Việc áp dụng các biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng góp phần quan trọng trong công tác ngăn chặn tội phạm, tuy nhiên bên cạnh những
ưu điểm, các biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn một số hạn chế, cụ thể :
Đối với trường hợp bắt người khẩn cấp khi có căn cứ để cho rằng một
người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng :
Trường hợp bắt khẩn cấp thứ nhất này thường được áp dụng sau khi cơ quan
có thẩm quyền thực hiện một thời gian quá trình theo dõi, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ phòng, chống tội phạm hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin báo rằng một hay một số người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng chính xác quy định này còn gặp nhiều khó khăn Cụ thể là lúc mới phát hiện hành vi chuẩn bị phạm tội thường rất khó xác định ngay được tội phạm đang được chuẩn bị đó thuộc tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng(4) Bên cạnh đó, tính cấp bách của biện pháp ngăn chặn này cùng với yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội không cho phép việc cơ quan có thẩm quyền xem xét hay do dự đợi tội phạm xảy ra rồi mới tiến hành xử lí Do vậy, trên thực tế việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp này thường không đảm bảo yêu cầu thứ hai mà pháp luật đã quy định cụ thể đối với trường hợp bắt người này Từ đó, ta có thể thấy điểm bất cập của quy định này ở chỗ quy định
cả hành vi và hậu quả là hai điều kiện cần và đủ để áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người khẩn cấp Rất khó để biết hậu quả của hành vi này là rất nghiệm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khi ta đã ngăn chặn hành vi thực hiện Một hành vi
đã bị ngăn chặn thì hậu quả của hành vi đó cũng không thể xảy ra được Vì vậy cũng không thể nhận biết được hậu quả đó là gì, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra cho xã hội nghiêm trọng như thế nào
Mặt khác, mặc dù các căn cứ bắt người trong các trường hợp quả tang và khẩn cấp được quy định cụ thể trong Luật như trên, nhưng trong thực tế có Cơ
Trang 10quan điều tra (CQĐT) vẫn còn có sự nhầm lẫn nhất định giữa bắt khẩn cấp và bắt bắt người phạm tội quả tang, có thể xem xét ví dụ như sau(5) :
Vũ Công H và Đặng Xuân K học cùng nhau tại trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm thuộc TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Sáng ngày 07/7/2014, H chuẩn bị 01 vam phá khóa tự chế hình rồi rủ K vào huyện B trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền, K đồng ý và điều khiển xe mô tô của Kchở H đi vào huyện B Khoảng
10 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường liên thôn Khe Trong, xã Thanh Sơn, huyện B thì cả hai nhìn thấy đường đất dẫn vào đồi có vết bánh lốp xe mô tô, nên đoán biết có xe để trộm cắp K điều khiển xe chở H đi vào đường đất, đi được một đoạn thì K dừng lạicảnh giới, còn H tiếp tục đi bộ vào khoảng hơn 100m thì phát hiện có khoảng 4-5 xe mô tô của người dân đi làm rừng, dựng sát nhau tại chân đồi Khe Sung thuộc thôn Khe Trong Quan sát thấy không có người trông coi, H đi đến gần xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu sơn đen – đỏ, BKS 14R1-003.83 của anh Lục Văn Ốn (trú tại thôn Khe Pụt, xã Thanh Sơn, huyện B) rồi dùng vam tự chế chọc phá ổ khóa điện Sau đó, H khởi động và điều khiển xe đi
ra chỗ K đang đứng chờ và thông báo cho K biết đã lấy được xe K điều khiển xe của K đi trước, H điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi sau theo đường thôn Lang Cang, xã Đồn Đạc về thị trấn B Khoảng 30 phút sau, anh Ốn đi xuống chân đồi thì phát hiện bị mất xe, anh Ốn đã cùng mọi người đi xe máy đuổi theo hướng dấu vết bánh xe, đồng thời gọi điện thông báo đặc điểm xe cho anh Sùng cùng các anh Vạn, Toàn và Đại (đang có mặt tại thị trấn B) cùng truy bắt đối tượng trộm cắp Tại thị trấn B, thấy H đang điều khiển xe mô tô giống đặc điểm
xe anh Ốn, nên mọi người đuổi theo H thấy bị nhiều người đuổi đã điều khiển
xe bỏ chạy Khi điều khiển xe đến khu 6, thị trấn B thì bị ngã, nên H bỏ xe lại, chạy lên đồi cây ẩn nấp Sau khi phát hiện H trốn trên đồi, các anh Ốn, Sùng, Toàn, Vạn, Đại tiếp tục truy bắt H, đến 13 giờ cùng ngày thì cùng quần chúng nhân dân và Công an thị trấn B bắt giữ được H, thu giữ chiếc vam phá khóa trong người H và chiếc xe mô tô do H cùng K trộm cắp Đối với K, khi phát hiện thấy H bị truy đuổi thì đã điều khiển xe đi về khu ký túc xá trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm, đến ngày 08/7/2014, K đến Công an huyện B đầu thú Cơ
5 Tham khảo tại cổng thông tin Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.